Tải bản đầy đủ (.pdf) (15 trang)

Vai trò nhân sinh quan Phật giáo trong Văn hóa truyền thống Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (244.65 KB, 15 trang )

Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 1









Tiểu luận


Vai trò nhân sinh quan Phật giáo
trong Văn hóa truyền thống Việt Nam

Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 2

TỔNG QUAN

1. Lý do chọn đề tài:
Thế giới ngày nay, dường như nhỏ lại bởi thông qua lăng kính của Tôn
giáo, học thuyết, môi trường, thông tin và khoa học con người đã xích lại gần
nhau, xoắn quyện vào nhau một cách chặt chẽ. Mặc dù vậy, nhưng không có
nghĩa là khi con người đã xóa lằn ranh biên cương, màu da, sắc tộc là thống nhất,
đặt lợi ích chung cho con người lên hàng đầu, mà dường như ngược lại những
định hướng tư duy cho một thế giới đa nguyên.


Có thể nói đây là một vấn đề thách thức không riêng gì các nhà lãnh đạo
và các Tôn giáo. Triết lý và học thuyết lớn trên thế giới, khi nhìn về tính toàn cầu
và mỗi quốc gia trở thành thành viên của WTO lại tạo thành những đợt sóng ồ ạt
của các xu thế văn hóa và xã hội thời đại.
Đứng trước thách thức và cơ hội của bước ngoặc chuyển biến toàn cầu
như thế, Phật giáo thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng làm gì trước sự nhận
định vượt thời gian của nhà bác học lỗi lạc người Đức ở thế kỷ XX: “Tôn giáo
của tương lai sẽ là một Tôn giáo toàn cầu, vượt trên mọi thần linh, giáo điều và
thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn thiên nhiên, đặt
trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi
phương diện trong cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có đạo Phật đáp ứng đủ các điều
kiện ấy.” Hay câu nhận định riêng về Phật giáo Việt Nam: “Mái chùa che chở
hồn dân tộc, nếp sống muôn đời của tổ tông”. Phật giáo Việt Nam đã, đang và sẽ
làm gì với tinh thần thể nhập tùy duyên mà bất biến… để hóa giải cho việc phát
triển nhưng thiếu tính bền vững, ở nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế và văn
hóa… nhằm đáp ứng cho bước phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất
nước ở thế kỷ XXI.
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 3

2. Nội dung đề tài :
I. Nhân sinh quan Phật giáo: trang 3
1. Tiêu chuẩn quan sát nhân sinh.

trang 3
2. Giá trị nhân sinh theo tiêu chuẩn Phật giáo. trang 4
3. Điểm độc đáo của Phật giáo. trang 5
4. Nhân sinh hoạt động cùng đau khổ. trang 6


II.Giáo lý, giáo điều,tín điều và giới luật trong phật giáo: trang 7
1. Giáo lý trang 7
2. Giáo điều và tín điều trang 7
3. Giới luật trang 8

III. Vai trò nhân sinh quan Phật giáo trong Văn hóa truyền thống Việt Nam:
1. Đặc điểm tư duy người Việt Nam trong Văn hóa truyền thống trang9
2. Đặc điểm tư duy người Việt Nam trong các mối quan hệ trang 10
3. Chiều sâu và ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trang 10

IV. Kết luận trang 12
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 4



3. Ý nghĩa của đề tài :
Trong tình hình phát triển hiện nay, dưới trào lưu giao lưu Văn hóa trên
toàn cầu và việc con người ngày càng tiếp cận với những kiến thức mới mẻ,
những thông tin được du nhập một cách dễ dàng thông qua các phương tiện
truyền thông đại chúng có thể nói nôm na đây là thời đại của truyền thông di
động và Internet Vì vậy, giới trẻ hiện nay được du nhập nhiều thông tin mới lạ
từ các nước phương Đông và các nước phương Tây khác.
Có thể nói sự tiếp thu những thông tin một cách nhạy cảm và nhanh chóng
của giới trẻ hiện nay khiến cho nhiều bậc tiền bối thế hệ trước cũng phải giật
mình. Sự non nớt về kinh nghiệm sống cùng với một ý chí muốn khẳng định
mình đã làm cho giới trẻ hiện nay dần đánh mất đi những Văn hóa truyền thống
Việt Nam, hay chăng trong Văn hóa của chúng ta tồn tại nhiều điều bất cập mà
giới trẻ vẫn thường nói đó là nền Văn hóa không theo kịp với sự phát triển của

đất nước và xu hướng của thế giới mà một trong những vấn đề ảnh hưởng đến
suy nghĩ đến tâm thức của giới trẻ cũng như toàn thể người Việt Nam chúng ta
chính là tôn giáo, mà ở đây đề tài tiểu luận muốn nói đến là Vai trò nhân sinh
quan của Phật giáo trong Văn hóa truyền thống Việt Nam.
Tư tưởng nhân sinh quan của Phật giáo hiện nay có phải là nhân sinh quan
đích thực của Phật giáo hay không. Hay nó đã chịu nhiều thay đổi qua một quá
trình phát triển lịch sử rất lâu đời để thích nghi với văn hóa hay phục vụ cho mục
đích nào đó.






NỘI DUNG
I. NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO :
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 5

Bất cứ trong một tôn giáo, một triết học nào thì phần nhân sinh quan vẫn
là quan trọng. Chúng ta theo một tôn giáo mà không biết quan niệm nhân sinh
trong tôn giáo ấy là như thế nào thì thực là một khuyết điểm lớn lao. Ở đây,
chúng ta chỉ riêng bàn về phần nhân sinh quan Phật giáo để tìm hiểu Phật giáo
quan niệm về đời sống con người như thế nào?

Cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, người Đại Sĩ núi Tuyết đã trình bày
rốt ráo quan niệm của Ngài đối với kiếp sống con người, quan niệm ấy do Người
thực nghiệm và đã thấu đạt một cách cứu kính. Vì thế, trong ba tạng Thánh Điển,
đức Phật lấy con người làm tiêu chuẩn để giải quyết. Cho nên, có thể nói rằng

khi đề cập đến Phật giáo là đề cập đến con người qua quá khư, hiện tại và vị lai;
Phật giáo còn nói rõ con người do đâu phát sanh, tại sao sanh ra đây và sau khi
chết sẽ về đâu?

Với vấn đề mênh mông ấy, chúng ta không có đủ thời giờ để bàn giải
tường tận. HIện nay trong đời sống hiện tại, chúng ta chỉ xét đoán về con người.

1. Tiêu chuẩn quán sát nhân sinh

Mỗi người chúng ta đều mang sẵn trong người một vũ trụ quan riêng biệt.
Bởi chỗ riêng biệt đó, mỗi người có một nhận xét về cuộc sống khác nhau. Tuy
sự nhận xét có trăm ngàn cách, nhưng không ngoài hai điểm căn bản “đời người
khổ hay lạc”. Và khổ lạc là tiêu chuẩn để quán sát con người.

Nói đến kiếp người là chúng ta nói đến khổ và vui. Đối với những ai nhận
thức cuộc đời tươi đẹp hạnh phúc là chủ nghĩa lạc quan. Trái lại, những ai thấy
đau khổ chán chường thì sanh chủ thuyết bi quan. Thế rồi mỗi người mỗi nẻo
tranh luận nhau. Đa số người ghép Phật giáo thuộc về chủ nghĩa bi quan yếm thế.
Bởi trong kinh, đức Phật thường dạy: “Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước bể
cả”. Hoặc Ngài mạt sát thân này là ô uế, bất tịnh, là giả trá, tạm bợ như làn chớp,
hòn bọt Như vậy, người ta tưởng tượng những nhà tu Phật giáo trên gương mặt
hằng biểu hiện những nét khổ đau, sầu não, chán nản, ê chề. Nhưng ngược lại,
nếu chúng ta được gần những nhà sư chân chính, nhìn gương mặt họ lúc nào
cũng vui tươi điềm đạm, cặp mắt sáng suốt đầy cương quyết, lời nói hiền hòa vui
vẻ, nụ cười lúc nào cũng chực nở trên môi.

Tại sao lại có sự mâu thuẩn lạ lùng ấy ? Không lý những nhà sư kia không
thâm hiểu Phật giáo. Sự thật họ đã thâm hiểu Phật giáo hơn ai hết. Do chỗ thâm
hiểu đó, họ mới có đủ đức tính điềm đạm, vui tươi và đầy cương nghị.


Tuy nhiên, Phật giáo nhìn nhận thân phận con người là bèo bọt, là bất
tịnh, kiếp sống con người luôn luôn khổ đau bởi kiếp sống vô thường phá hoại.
Nhưng đức Phật chỉ chỉ cho ta biết nhìn thẳng vào đau khổ để có sức chịu đựng,
để tìm lối thoát ly xiềng xích khổ đau đang vây quanh chúng ta.

Trên con đường cơ hiểm ấy, nếu những khách bộ hành nhắm mắt đi liều
lĩnh thì sớm muộn gì cũng phải rơi xuống hầm hố. M uốn tránh khỏi nguy hiểm
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 6

ấy, người dẫn đường có bổn phận đánh thức họ và bắt buộc họ phải nhìn kỹ
chung quanh mà đi. Đức Phật cũng thế, Ngài là vị Đạo Sư của chúng sinh. Ngài
không nỡ để cho chúng sinh cứ đi liều trong đêm tối hiểm nghèo, nên Ngài kêu
gọi “các ngươi hãy tự thấp đuốc lên mà đi, thắp đuốc lên với chánh pháp”.

2. Giá trị nhân sinh theo quan điểm Phật giáo

Phật giáo thừa nhận “Nhân sinh đa khổ”. Dù người sinh trong giai cấp
nào, ở địa vị nào, ở hoàn cảnh nào cũng đều đau khổ. Cái đau khổ căn bản không
ai có thể tránh được.

Có một số người cho rằng quan niệm Phật giáo như vậy là thái quá. Ví dụ
như khi người ta đói là khổ, nhưng được ăn là vui, khi lạnh là khổ, được mặc ấm
là vui. Như vậy đời người vừa có khổ cũng vừa có vui.

Nghĩ thế là sai lầm. Cái khổ vui đói no, ấm lạnh bên ngoài là những khổ
vui mong manh cạn cợt không đáng kể. Phật giáo nói khổ vui ở đây là nhắm vào
phần căn bản, là nghĩ đến cuộc đời đen tối, phủ vây bởi sinh, già, bệnh, chết
Khổ mà Phật giáo nói là cái khổ do sự mâu thuẩn tạo thành.


Là con người ai cũng mong mình được sống lâu, trẻ mãi, muốn mình luôn
khỏe mạnh đừng đau ốm. Nhưng thiên nhiên không cho phép, cứ thúc đẩy bắt
buộc chúng ta lại phải đau, phải già, phải chết. Sự mâu thuẩn này khiến con
người khổ đau vô tận.

Một vùng nắng hạn đốt khô lúa mạ hoa màu, bỗng đổ một trận mưa to làm
cho con người rất thỏa mãn. Nhưng nếu mưa cứ đổ mãi, đường sá ngập lụt thì
người ta trở lại ca thán Bởi vì hoàn cảnh ít khi chiều theo ý muốn con người
nên sự mâu thuẫn giữa người với thiên nhiên bao giờ cũng có. Do đó tạo thành
một cuộc xung đột thường xuyên giữa người với ngoại cảnh.

Trong tâm hồn chúng ta tình cảm và lý trí thường xung đột nhau. Khi bị
tình cảm lôi cuốn ta làm sai, nghĩ quấy, kịp đến lý trí sáng lên là mở một cuộc
trừng phạt nặng nề. Cứ thế mãi, giữa tình cảm và lý trí một bên kéo đi, một bên
lôi lại tạo thành một cuộc xung đột, thanh trừng thường xuyên trong nội tâm. Đó
là tình trạng đau khổ trầm trọng trong con người ta với chính ta. Điều đau khổ
này có thể hết, là khi nào lý trí toàn thắng tình cảm.


3. Điểm độc đáo của Phật giáo

Nhận chân cuộc đời, nhìn đau khổ nhưng người Phật tử vẫn sẵn sàng lăn
mình vào dòng đời, vẫn can đảm nhận chịu một cuộc sống dù dẫy đầy tai ách.
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 7

Tuy thấy thực trạng cuộc đời là đau khổ, nhưng họ vẫn hảnh diện vì đã được làm
người.


Phật giáo chỉ rõ những khổ đau của con người. Nhưng Phật giáo vẫn
không quên vạch những ưu điểm nơi con người. Như trong kinh đã dạy: “Con
người có suy tưởng, có quả cảm, có trí tuệ, nên dễ tiến tu”. Hoặc những câu
“Thân người khó được” (Nhân thân nan đắc). “Một phen mất thân này muôn
kiếp khó tái hồi” (Nhất thất nhân thâu, vạn kiếp bất phục), “Ngàn năm cây sắt trổ
bông còn dễ, một phen mất thân này được lại khó hơn.” (Thiên niên thiết thọ
khai hoa dị, nhất thất nhân thân vạn kiếp nan). Hoặc như đoạn kinh này: “ Ví
như quả đất sụp thành biển cả, có một con rùa mù sống vô lượng kiếp, một trăm
năm mới trồi đầu lên một lần.
Trong biển có một bọng cây nổi, chỉ có một lỗ, trôi giạt trên mặt biển,
theo gió sang Đông, Tây. Con rùa mù một trăm năm mới trồi đầu lên một lần tìm
bọng cây, sẽ gặp bọng cây chăng ? A-nan thưa: Bạch Thế Tôn, không thể gặp
được. Vì sao ? - Vì con rùa mù nếu đến biển Đông thì bọng cây đã theo chiều gió
sang biển Tây, Nam, Bắc bốn phía chung quanh cũng vậy, không thể gặp nhau.
Phật bảo A-nan: Con rùa mù tìm bọng cây tuy sai lạc, nhưng còn có khi gặp
nhau, kẻ phàm phu ngu si trôi giạt trong ngũ thú, tạm được thân người, rất khó
hơn con rùa mù tìm bọng cây kia
Qua những lời Phật dạy ở trên, chúng ta tự thấy thân người rất khó được.
Đã được thân người ai nỡ hủy hoại, hoặc buông xuôi để một đời luống qua vô
nghĩa.

Lại nữa, đức Phật đã từng dạy “Đọa địa ngục quá khổ sở, ngạ quỉ thì đói
khát, súc sanh nhiều ngu si, lên cõi trời đầy đủ dục lạc nên không thể tu được, chỉ
có làm người là đủ điều kiện tiến tu hơn cả”. Vì ở cõi người tuy có nhiều đau
khổ, nhưng chúng ta còn có thể chịu nổi. Cho nên, cõi này đức Phật gọi là cõi
Ta-bà (kham nhẫn).

Cõi này tuy uế trược, nhiều đau khổ, nhưng còn chịu đựng nổi nhờ đó mà
tiến tu thêm, nên chúng ta được sanh vào đây đã có một giá trị đặc biệt trên con

đường đạo đức. Đọa trong ba đường ác vì chịu khổ đau không có phút nào rảnh
rổi, hoặc si mê không hiểu biết nên không thể nào tiến bước trên đường đạo đức.
Được sanh lên cõi trời thì sung sướng quá cũng không có phút giây nào nghĩ đến
sự tiến tu. Một bên chịu đựng quá sức, một bên thụ hưởng quá sức, cả hai đều
chung qui một thái độ buông xuôi không tự vươn lên được. Chỉ có cõi người là
chiết trung giữa hai cực đoan ấy, nên đủ sức vươn lên. Đó là giá trị đặc biệt của
con người, Phật giáo đã vạch rõ.

4. Nhân sinh hoạt động cùng đau khổ

Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 8

Lúc khoẻ mạnh, làm ăn bình thường, tư tưởng chúng ta cũng bằng phẳng,
không có gì tiến bộ. Những khi gặp biến cố, buộc tâm trí chúng ta phải làm việc,
phải suy tư, do đó mới nẩy sanh những ý kiến hay, tư tưởng lạ. Vì thế, lắm khi sự
rủi lại hóa thành may. Những thất bại dạy chúng ta thêm nhiều kinh nghiệm để
thành tựu sau này.

Từ bé nếu chỉ thường sống một cuộc đời đầy đủ, được mọi người nuông
chiều, con người đó thì dù được bao nhiêu tuổi cũng chưa được gọi là trưởng
thành. Có vướn phải trở ngại, con người mới chợt tỉnh dừng lại để quán sát, để tư
duy tìm lối thoát. Chính trong lúc ấy tâm mình mới vươn lên khỏi bậc cũ. Chính
sự khổ đau ấy đã điêu luyện tâm linh con người cao đẹp hơn, màu sắc hơn, trầm
tỉnh hơn. Con người tiến bộ nhờ khổ nhiều vui ít.

Những con nhọng hình thù xấu xí, nếu không chịu khổ sở, giam mình
trong lớp kén một thời gian, thì làm sao một sáng mùa xuân lại trở thành những
con bướm xé kén chui ra mang những cánh hoa rực rỡ ? Có thành con bướm rồi,

có bay lượn trên không trung rồi, nhìn lại đồng loại mình đang mang thân
nhọng, mới biết xót thương cho cuộc sống xấu xa.

Sợ khổ đau, con người không thể tiến bộ được. Trong kinh điển Phật giáo
luôn luôn nhắc nhở con người phải nhận thức sự khổ đau và xem sự khổ đau là
những chất liệu cần yếu để xây đắp ngôi đền đạo đức. Thiếu khổ đau ngôi đền
đạo đức phải tan vỡ. Có hiểu được cuộc đời là xấu xa, đau khổ con người mới lo
tìm cách sửa đổi nếp sống và tâm hồn mình cho tươi đẹp, trong sạch hơn lên. Do
đó, bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật tại Lộc Uyển là pháp “Tứ diệu đế”.

“Khổ đế” được Ngài nêu lên trước nhất. Khi người ta hiểu được quả đau
khổ rồi, mới phăng lần đến nguyên nhân gây ra đau khổ là “Tập đế”. Biết rõ
nguyên nhân và kết quả của sự đau khổ, Phật mới dạy phương pháp trừ diệt
những nguyên nhân ấy là “Đạo đế”, khi những nguyên nhân đau khổ đã diệt hết,
tâm được thanh tịnh, an lạc giải thoát là “Diệt đế”.

Cốt lõi của con người đạo đức, động cơ thúc đẩy sự tu hành hầu hết đều
phát nguyên do nhận thức cuộc đời là đau khổ. Đau khổ có một địa vị trọng yếu
trong đời sống con người. Thiếu nó con người sẽ trở thành hư hỏng, đốn hèn.
Người muốn tiến bộ, muốn vươn lên và giải thoát phải nhìn thẳng vào đau khổ.

Tóm lại, đạo Phật quan niệm con người đau khổ bởi sự mâu thuẩn giữa
mình và thiên nhiên, giữa tình cảm và lý trí. Chúng ta có thể xoay chuyển những
mâu thuẩn ấy trở thành thuận hòa thì tất cả mầm đau khổ đều tan vỡ. Nghĩa là
chúng ta phải tận dụng lý trí dẫn tình cảm, bao giờ lý trí hoàn toàn làm chủ tình
cảm là lúc ấy chúng ta sẽ hết khổ đau.

Đức Phật nói khổ đau để chúng ta ý thức được nó, để biết nó ẩn tàng nơi
nào, mà tìm phương pháp diệt trừ nó. Người Phật tử chân chánh can đảm chịu
đựng mọi sự khổ đau và tin mình có đủ trí tuệ, có đủ khả năng rứt bỏ ra ngoài sự

ràng buộc khốc hại của nó.

Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 9

Nói đến Phật giáo là nói đến sức mạnh vô biên của tâm minh do con
người đầy dũng cảm, Phật giáo đã dạy con người dám nhìn thẳng sự thật và nói
thẳng sự thật. Phật giáo nói kiếp người là đau khổ, nhưng phải lợi dụng kiếp
người này vượt ra ngoài vòng đau khổ. Người Phật tử biết mang thân này là ô uế,
giả tạm, nhưng cần phải mượn thân này làm con thuyền qua bờ thanh tịnh, an
lạc. Người Phật tử không thúc thủ trước những khổ đau, vẫn hiên ngang đập tan
bức thành khổ đau và vượt ra ngoài vòng trần lụy.

II. GIÁO LÝ, GIÁO ĐIỀU, GIỚI LUẬT VÀ TÍN ĐIỀU TRONG PHẬT
GIÁO:

1. Giáo lý
Bất cứ tôn giáo nào trên thế giới cũng đều bắt nguồn từ một cá nhân xuất
chúng, một bậc siêu nhân phát minh ra được một chân lý hay nguyên lý nào đó.
Rồi vị siêu nhân này đi rao giảng truyền bá lại cho quần chúng, trở thành giáo
chủ và những lời dạy của giáo chủ trở thành “giáo lý” (doctrine).
2. Giáo điều và tín điều
Trong phật giáo Ðức Phật Thích Ca tương đối có đông đệ tử nhất, 1250
vị. Chúa Giê-Su có 12 tông đồ. Mahomet giáo chủ Ðạo Hồi chỉ có 5 đệ tử lúc
đầu. Lão Tử thì chỉ một mình một trâu, còn Khổng Tử thì chỉ vài chục môn đệ.
Những vị giáo chủ này, đương thời họ đâu có muốn trở thành giáo chủ hay vị
thống lãnh nào mà họ chỉ muốn chia xẻ với quần chúng tư tưởng của họ hoặc
truyền bá một thông điệp nào đó mà thôi. Và như thế giáo lý cốt chỉ để chuyên
chở thông điệp (message). Nếu không nhận được thông điệp thì giáo lý trở thành

“triết lý”. Sau đó những môn đệ về sau mỗi người hiểu một ý, sinh ra chống báng
lẫn nhau.
Ðể tránh tình trạng này, họ mới cùng nhau đúc kết lại những điều căn bản
của giáo lý, lấy đó làm nền tảng bất di bất dịch, bất khả xâm phạm, không ai
được quyền sửa đổi nữa. Ðây gọi là “giáo điều” (dogme).
Giáo lý tuy nhiều nhưng không đáng ngại. Giáo điều tuy ít nhưng lại nguy
hiểm vì nó làm cho người ta mắc kẹt, dễ hiểu lầm là chân lý. Giáo điều dạy
chúng ta phải như thế này, phải như thế kia. Ví dụ như Phật giáo người tu hành
phải ăn chay niệm Phật, phải đi chùa cúng kiến, làm công quả, nếu không thì sẽ
bị tội, v.v Hoặc như Thiên Chúa giáo có người cho rằng nếu không đi nhà thờ
ngày chủ nhật thì chết sẽ xuống địa ngục. Hoặc Hồi Giáo, ai mà phạm thượng
đến Allah thì phải bị xử tử, v.v Khi giáo điều được mọi người tin là chân lý thì
giáo điều trở thành “tín điều”. Tóm lại “giáo điều” là một loại “giáo lý” đã bị
đóng khung cứng ngắc.
3. Giới luật
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 10

Giới luật cũng là một loại giáo điều trên phương diện cư xử trong đời
sống hằng ngày. Trong luật Tứ Phần nói 12 năm đầu, đức Phật chưa chế giới luật
vì Tăng chúng thanh tịnh. Ðến năm thứ 13, có những vị xuất gia sau, tu hành
thiếu xót, gây ra nhiều phiền phức, lúc đó Phật mới tùy phương tiện chế ra giới
luật, tùy bệnh cho thuốc. Nhưng lại có những người chấp thuốc thành bệnh. Ví
dụ như trong luật Tỳ Kheo cấm không được leo cây cao quá đầu người, thế rồi
ngày kia có vị Tỳ Kheo đi vào rừng gặp cọp dữ, hoảng sợ bỏ chạy, bám vào cây
nhưng không dám leo lên cao quá đầu vì sợ phạm giới, nên bị cọp nhảy lên vồ
trúng ăn thịt. Các vị Tỳ Kheo khác biết chuyện về thưa lại, đức Phật mới sửa
thêm vào là trừ khi có nạn hay nhân duyên thì khai cho. Trong giới luật có giới
tánh, giới tướng, có sự khai, giá, trì, phạm. Giới luật được chế ra tùy nhân duyên,

căn cơ của đệ tử và bối cảnh xã hội đương thời.
Từ lúc thành lập Tăng đoàn cho đến khi nhập diệt, đức Phật đã chế ra 250
giới cho hàng Tỳ Kheo trong 45 năm. Nếu đức Phật còn sống cho đến ngày nay
thì chắc Tỳ Kheo phải có ít nhất là 2500 giới.
4. Nhận thức vấn đề
Việc hiểu rõ các định nghĩa dễ gây nhầm lẫn như giáo lý, giáo điều , giới
luật giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan hơn đánh giá đúng mực hơn về
nhân sinh quan cũng như đường lối của Phật giáo cũng như nhiều tôn giáo
khác.Trong mỗi hoàn cảnh xã hội khác nhau thì việc chấp hành giới pháp trong
Phật giáo “Thọ giới” cần phải thích hợp theo bối cảnh. Việc đó cũng như một
công dân chấp hành luật pháp trong một quốc gia,một lãnh thổ và tất nhiên đã
là luật pháp thì có thể sữa đổi được cho thích hợp với tình hình và bối cảnh của
xã hội.
Phật giáo tại Việt Nam được du nhập vào Việt Nam hơn 1000 năm và
phát triển mạnh mẽ nhất và hưng thịnh nhất vào hai triều đại Lý – Trần và đều
tồn tại khá lâu. Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200
năm (1226 – 1400), xuất sứ từ Phật giáo Trung hoa cổ mang màu sắc của chế
độ phong kiến Trung hoa. Tuy có nhiều thay đổi so với nguồn gốc ban đầu
nhưng vẫn mang nặng hình thức của giai cấp phong kiến Trung hoa.Vì vậy
không tránh khỏi việc hiểu sai về phương thức hoạt động cũng như sinh hoạt
trong Phật giáo.Ví dụ về trường hợp giới Tiếp Hiệu của thầy Nhất Hạnh.
Đây có thể nói là giới hợp thời nhất và hợp lý nhất hiện nay mà mọi người
có thể có một sự nhìn nhận và đánh giá đúng đắn về Phật giáo tại Việt Nam.Ví
dụ như giới thứ nhất: Không được thờ làm thần tượng bất cứ một chủ nghĩa hay
một lý thuyết nào, kể cả chủ nghĩa và lý thuyết Phật Giáo. Những hệ thống giáo
lý trong Ðạo Phật phải được nhận thức như những pháp môn hướng dẫn tu tập
mà không là những chân lý tuyệt đối để bảo vệ và thờ phụng. Hay giới thứ hai:
Không được yên trí rằng những kiến thức mình hiện có là những chân lý bất di
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam


Triết h ọc Trang 11

bất dịch, như thế để tránh sự trở thành cố thủ và hẹp hòi. Phải học thái độ phá
chấp và cởi mở để đón nhận quan điểm của kẻ khác
Cho tới bây giờ, giới luật của các tôn giáo thường có tính cách tiêu cực,
cấm làm cái này cấm làm cái kia, nếu lỡ làm thì phạm tội, gọi chung là giới
cấm. Nếu cần thọ giới, chúng ta hãy đi tìm giới tích cực, đó là những giới
khuyên ta nên làm điều lợi ích.

III. VAI TRÒ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO TRONG VĂN HÓA
TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM

1. Đặc điểm tư duy người Việt Nam trong văn hóa truyền thống:
Đặc điểm tư duy người Việt Nam trong Văn hóa truyền thống là hướng
nội. Điểm này khiến người Việt trong cuộc sống đề cao cái tâm, lối sống tình
cảm. Cách suy nghĩ và lối sống mang nặng màu sắc tình cảm, một mặt giúp nhân
dân ta trong những thời hoạn nạn, thiên tai, địch hoạ nhưng nó cũng làm hạn
chế sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật. Thiền tông của Phật giáo cũng đã đề xuất
chủ trương “dĩ tâm truyền tâm”. Do đạo Phật quan niệm vạn vật đồng nhất thể,
nên bản thể vũ trụ cũng tiềm ẩn trong mỗi con người.
Vì vậy khi làm cho bản thể trong mỗi cá nhân hoà đồng với bản thể vũ
trụ, thì chúng ta và thế giới hoà làm một. Muốn đạt được điều đó thì phải có trí
tuệ hay Phật học gọi là Bát Nhã. Điều này hợp với người Việt với truyền thống
nghiêng về trau dồi tâm tính, đạo đức luân lý hơn là học hỏi trau dồi tri thức hiện
đại.
Tuy nhiên, giới trẻ Việt Nam hiện nay có xu hướng là hướng ngoại và du
nhập với văn hóa ngoại quốc hơn. Điều này có thể phát sinh ra mâu thuẩn khác
nhau giữa các quan niệm sống giữa các thế hệ người Việt.Việc hướng ngoại tức
là thiên về nghiên cứu thế giới vật chất bên ngoài.Và đạo Phật cũng quan niệm
việc hướng ngoại cũng là điều tất yếu trong thế giới quan.

Hướng ngoại giúp con người khai phá trí tuệ, học hỏi từ vạn vật, không gò
bó vào bất cứ một quan niệm thế giới quan cực đoan nào.Tuy nhiên, khi đã dấn
thân vào việc tìm ra những cái mới thì thử thách cũng sẽ càng nhiều thêm. Và
giới trẻ hiện nay cũng đối diện với những thách thức mới.
Tóm lại, đặc điểm hướng ngoại của giới trẻ hiện nay là tất yếu. Nó mang
lại những thành tựu về khoa học kỹ thuật, tri thức và công nghệ. Cũng như
những mâu thuẩn về văn hóa truyền thống và văn hóa hiện đại trong đời sống xã
hội cũng tăng theo.Tích cực và tiệu cực bản chất là hai mặt của một vấn đề trong
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 12

tư duy của mỗi người Việt Nam.Và mỗi người Việt hãy tự tìm cho mình một lối
đi tích cực nhất.
2. Đặc điểm tư duy người Việt Nam trong các mối quan hệ
Để làm rõ các mối quan hệ trong tư duy người Việt Nam, Phật giáo có
luật nhân quả. Nhân quả là chỉ mối quan hệ phổ biến mọi sự vật, hiện tượng.
Không có cái tôi độc lập, không có “thế giới tách rời cái tôi”, không có “cuộc
sống tách rời”. Tất cả những cái đó là những tương tác chặt chẽ và chỉ bị tách
rời nhau trong tưởng tượng.
Người phương Đông, điển hình là người Việt Nam theo đạo Phật thường
để ý nhiều đến các mối quan hệ, chủ yếu cảm tính, đạo đức nên nhiều nhìn nhận
sai lệch, có tính chủ quan duy ý trí. Đây cũng là vấn đề mà nhiều người hiểu sai
và gán ghép Phật giáo dưới cái nhìn bi quan và không tinh tường. Do đó, cuộc
sống người Việt Nam thường chú ý nhiều đến quan hệ họ hàng, làng xóm, xã
hội sao cho khôn khéo, tế nhị.Và đôi lúc không dám nhìn nhận vấn đề, giải
quyết không triệt để.
3. Chiều sâu và Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo
Tư duy người Việt Nam có thêm một loạt khái niệm lấy từ Phật giáo.
Những khái niệm đó góp phần làm tăng những khái niệm mang tính triết lý của

người Việt, khiến tư duy người Việt mang tính khái quát hơn, trừu tượng hơn.
Ngoài ra, ảnh hưởng của Phật giáo lên cách tư duy còn thể hiện ở quan
niệm về sự phát triển của vạn vật qua 4 giai đoạn: sinh (ra đời, xuất hiện) , trụ
(tồn tại, hiện hữu), dị (phát triển, tiến hoá, biến đổi) và diệt (tử, chết, biến mất),
còn ở con người đó là sinh, lão, bệnh, tử. Đó là sự phát triển tự nhiên, tất yếu
của mọi sự vật, hiện tượng, mọi sự sống.
Khái niệm về “vô thường”, “vô ngã” cũng ảnh hưởng nhiều tới hệ tư
tưởng phong kiến Việt Nam. Theo quan niệm Phật giáo thì mọi sự vật, hiện
tượng là sự kết hợp động của những yếu tố “động” , bởi vậy chúng luôn vận
động không ngừng. Phật giáo đóng góp một cách nhìn nhận thế giới động, phù
hợp với sự phát triển sự vật.
Áp dụng triệt để luật vô thường vào việc phân tích con người, Phật giáo
cho rằng người là kết hợp động của 5 yếu tố - ngũ uẩn, bởi vậy con người
không có cái gọi là “bản ngã” mà là “vô ngã”. Cách nhìn này đã khiến con
người sống một cách không sợ và vị tha.
Khi quan sát thế giới bên ngoài, Phật giáo đã nhìn ra một mối quan hệ phổ
biến, cơ bản giữa các sự vật, hiện tượng, đó là mối quan hệ nhân quả. Thuyết
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 13

này là sự phản ánh khái quát rút ra từ thế giới hiện tượng, đặc biệt là khi xem
xét sự phát triển của tự nhiên. Cách nhận thức hợp lý này đã cung cấp cho
người Việt một cách suy nghĩ mang tính chất nhân quả để nhìn con người, cuộc
sống, vạn vật: “nhân nào, quả nấy”,”gieo gió, gặp bão”, “ở hiền gặp lành”
Các học giả đều cho rằng chưa có một học thuyết, một tôn giáo nào phân
tích thế giới nội tâm, trong đó có tư duy sâu sắc như Phật giáo. Theo Phật học
thì tư duy, ý thức của con người tựa như một dòng sông của ý niệm tuôn chảy
không ngừng. Trong một sátna “ thời gian búng ngón tay”, tâm ý ta đã trải qua
960 lần chuyển niệm, trong thời gian một ngày đêm, nó trải qua 13 ức triệu

niệm. Dưới dòng sông tuôn trào này, ở nơi sâu thẳm vô hình đâu đó là A lại da
thức “Tạng thức” nơi tàng trữ mọi mầm mống của vũ trụ. Tuy khó hình dung
nhưng Phật giáo đã cung cấp cho ta một cái nhìn động về tư duy, ý thức. Phật
giáo chỉ cho ta rằng muốn có tư duy, suy nghĩ đúng thì điều kiện cần là phải tập
trung tư tưởng.
Tư tưởng, tư duy, ý thức của con người giống như ngọn đèn. Nếu cứ để
bình thường thì toả sáng 4 phương, nhưng nếu biết tập trung toàn bộ ánh sáng
vào một điểm, hội tụ chúng lại, thì điểm này trở nên rất sáng và mạnh. Vai trò
của Thiền đối với tư duy cũng giống như việc tập trung ánh sáng vậy. Nó là
một phương pháp khoa học.
Phật giáo còn dạy muốn suy nghĩ thật khách quan cần phải có cái tâm
bình tĩnh, tỉnh táo. Tâm nhảy nhót như khỉ vượn, bị thiêu đốt bởi tham lam, hận
thù, si mê, tâm đứng ở nhị kiến, thích và không thích, yêu và ghét, thì nhận thức
không thể nào khách quan được. Tâm như vậy giống như mặt nước hồ qua trận
cuồng phong làm nổi sóng, vẩn đục và không thể nào thấy được những viên
cuội dưới đáy sông.
Muốn cho tâm được yên tĩnh, tỉnh táo thì việc đầu tiên là nên nghĩ và làm
những điều thiện. Đạo Phật hướng người Việt tới việc suy nghĩ về làm những
điều thiện, làm lành lánh giữ. Trong các loại nghiệp của con người có 3 loại
nghiệp quan trọng nhất là thân, khẩu, ý. Trong đó Phật giáo coi nghiệp ý “về tư
duy, suy nghĩ” là quan trọng nhất. “Tổng vệ sinh”, “làm sạch” tư duy vừa là
công việc khẩn thiết vừa là công việc thường xuyên từng giờ, từng phút với mỗi
người Việt Nam. Tư tưởng từ bi bác ái, chủ trương khuyến thiện trừ ác, hỷ xả,
cứu khổ, cứu nạn là những tư tưởng lôi cuốn đông đảo người Việt và trở thành
lòng thương người, tính nhân đạo của họ. Chính vì quan tâm cứu vớt con người
trước bất công đau khổ nên người Việt đã tiếp thu và nhiệt tình ủng hộ đạo
Phật.
IV.KẾT LUẬN
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam


Triết h ọc Trang 14

Đạo Phật cũng đóng góp một khía cạnh phương pháp nhận thức quan
trọng đó là mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, tinh thần và tự nhiên hay tâm
và vật. Một mặt thì tâm và vật không tách rời nhau. Không có vật thì cũng
chẳng có tâm. Ngược lại, không có tâm thì vật như thế nào ta cũng không biết.
Sở dĩ có vật là vật do ta đã quẳng cái tâm vào đó rồi.
Mặt khác, không chỉ có vật chất, giới tự nhiên, vật luôn vận động mà ý
thức, tinh thần, tâm cũng luôn vận động. Hai cái luôn vận động như vậy, cậy
làm thế nào để nắm bắt, nhận thức được cái thứ hai. Đứng trước vấn đề này
Phật giáo đã đưa ra giải pháp như đã trình bày là tập trung tư tưởng, giữa cho
tâm yên tĩnh, tỉnh táo. Như vậy ở đây Phật giáo dùng cái tĩnh trong sáng được
tập trung cao độ để nắm bắt cái động, “dĩ biến bất biến ứng vạn biến”. Đây là
một vấn đề khá lý thú so với nhận thức thông thường của chúng ta.
Bản chất của con người là thích thụ hưởng nên hội nhập mà thiếu cân
nhắc trong thời đại thì người thiếu ý thức sẽ tự đánh mất “con người thật của
mình”, chạy theo cái giả dối, thèm muốn điên đảo, không bao giờ có thể thỏa
mãn. Trong thời đại văn minh như hiện nay, nền văn hóa truyền thống hội nhập
với văn hóa nhân loại, con người có đời sống vật chất rất cao, rất phong phú,
nhưng đời sống tinh thần thì lại bị dao động, thiếu thốn, mất thăng bằng v.v…
Với một tâm lý như vậy rất dễ đưa họ đi vào con đường tôn sùng chủ nghĩa thụ
hưởng trụy lạc, chẳng cần biết ngày mai.
Gia nhập WTO sẽ là điểm son tô thắm thêm cho dòng sử Việt và cũng là
cơ hội tuyệt vời cho ý niệm thể nhập của Phật giáo một cách thiết thực chứ đừng
nghĩ, gia nhập WTO sẽ là phép màu, sau vài năm Việt Nam tự nhiên trở thành
một trong các nước phát triển, nếu không có sự chọn lọc cho hướng đi đúng đắn
và sự chuẩn bị kế hoạch lâu dài bắt đầu từ ngày hôm nay!






V. MỤC LỤC

I. Nhân sinh quan Phật giáo: trang 3
5. Tiêu chuẩn quan sát nhân sinh.

trang 3
6. Giá trị nhân sinh theo tiêu chuẩn Phật giáo. trang 4
7. Điểm độc đáo của Phật giáo. trang 5
Vai trò nhân sinh quan của Phật giáo trong văn hóa truyen thong Việt Nam

Triết h ọc Trang 15

8. Nhân sinh hoạt động cùng đau khổ. trang 6

II.Giáo lý, giáo điều,tín điều và giới luật trong phật giáo: trang 7
4. Giáo lý trang 7
5. Giáo điều và tín điều trang 7
6. Giới luật trang 8

III. Vai trò nhân sinh quan Phật giáo trong Văn hóa truyền thống Việt Nam:
4. Đặc điểm tư duy người Việt Nam trong Văn hóa truyền thống trang9
5. Đặc điểm tư duy người Việt Nam trong các mối quan hệ trang 10
6. Chiều sâu và ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo trang 10

IV. Kết luận trang 12

Tài liệu tham khảo:
1. Lịch sử triết học và triết học Mác – Lênin

2. Nhân sinh quan Phật giáo – HT.Thích Thanh Từ
3. Đạo gì ? – Thích Trí Siêu
4. Sự thể nhập của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XXI – ĐĐ.TS Thích Lệ Thọ
5. Nhân sinh quan phật giáo – Wikipedia.org

×