Tải bản đầy đủ (.pdf) (4 trang)

Nghiên cứu khoa học " Vùng núi ở các nước nhiệt đới sự thách thức của rừng Hội nghị Thượng đỉnh về trái đất " doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (57.77 KB, 4 trang )

Vùng núi ở các nước nhiệt đới sự thách thức của rừng
Hội nghị Thượng đỉnh về trái đất (CNUED, 1992, Rio de Janeiro) và năm quốc tế
vùng núi (2002) đã mang lại cho hệ sinh thái vùng núi và cư dân sống ở đó một sự
hiểu biết rộng về môi trường và phát triển.
Tổ chức FAO (tổ chức nông lương quốc tế của liên hợp quốc) giữ vai trò “người
đứng đầu” các vấn đề được khởi xướng này
1. Rừng miền núi là trung tâm các chức năng sống còn của vùng thượng lưu và hạ
lưu. Tính không bền vững tự nhiên của nó gia tăng bởi một sự quản lý đa chức
năng. Vấn đề này liên quan đến cả hai lĩnh vực: cải thiện dân trí và gia tăng phát
triển mọi mặt đời sống kinh tế.
2. Việc trang bị các kiến thức khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm truyền thống là
cần thiết, cũng như việc xây dựng các chính sách và biện pháp hiệu quả sát với
cuộc sống thực tế của người dân vùng núi.
Những công việc khởi đầu và kinh nghiệm thu được ở các mức độ khác nhau đã
chứng tỏ cuộc sống tinh thần và vật chất của người dân vùng núi ngày càng được
quan tâm hơn.
Vùng núi là nơi có những hệ sinh thái không bền vững, nó giữ một vai trò quan
trọng trên hành tinh này, là một tháp nước thật sự, là nơi lưu giữ một nguồn tài
nguyên đa dạng sinh học phong phú, những di sản văn hoá đặc thù, những khu
nghỉ mát sang trọng.
Chiếm gần 1/5 diện tích toàn cầu, vùng núi đóng góp trực tiếp vào việc nuôi sống
khoảng 1/10 nhân loại, đồng thời cung cấp của cải và nhân lực cho hơn 1/2 dân số
thế giới.
Hội nghị Thượng đỉnh về trái đất (1992-Rio de Janeiro) đã thông qua “Chương
trình hành động 21” gồm 40 chương với chữ ký của 181 nước thành viên Liên hợp
quốc về việc “Quản lý các hệ sinh thái không bền vững – Phát triển kinh tế miền
núi” (chương 13) nêu rõ:
“ Vùng núi là một bồn chứa nước quan trọng, nơi lưu giữ một nguồn tài nguyên đa
dạng sinh học” có những nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu như: quặng, nông
lâm sản, các danh lam thắng cảnh và dịch vụ giải trí là hệ sinh thái lớn nằm trong
hệ sinh thái phức hợp của hành tinh chúng ta, hệ sinh thái vùng núi là cần thiết đối


với sự sống còn của hệ sinh thái trái đất.
Tuy nhiên, các hệ sinh thái vùng núi tự điều chỉnh nhanh, mặc dù nó bộc lộ những
nhược điểm như sự xói mòn đất gia tăng, sự trượt đất, sự biến mất nhanh thổ ngôi
và đa dạng di truyền.
Về lĩnh vực con người, sự nghèo đói là phổ biến ở người dân vùng núi và nền văn
hoá truyền thống bản địa mất dần đi. Kết quả là phần lớn các vùng núi trên hành
tinh đều chịu sự suy thoái về môi trường. Vì vậy, việc quản lý các nguồn tài
nguyên vùng núi và việc phát triển kinh tế xã hội miền núi là công việc cần làm
ngay.
Chương 13 của “Chương trình hành động 21” là kế hoạch phát triển kinh tế miền
núi lâu dài, nhấn mạnh tính cấp thiết và xác định hai lĩnh vực hoạt động.
- Đạt được và tăng cường những kiến thức về sinh thái và phát triển bền vững
những hệ sinh thái vùng núi.
- Gia tăng phát triển tổng thể hệ thống thuỷ lợi và các nguồn nước khác một cách
có lợi
Những năm tiếp theo, công việc chủ yếu là phải chuyển được thông điệp này tới
những vùng núi quan trọng trên thế giới.
Một số quá trình vận động và hoạt động liên quan tới những vấn đề miền núi được
thực hiện. Tuy nhiên, vào thời điểm này, những việc khởi đầu chắc chắn là thiết
thực, vấn đề chính sách phù hợp, việc soạn thảo và thực hiện các chương trình mới
có hiệu quả bảo tồn, quy hoạch và phát triển kinh tế miền núi.
Rừng tạo ra nhiều nguồn thu nhập về kinh tế trong đời sống người dân vùng núi
nên nó giữ vai trò then chốt trong vùng.
Những năm vừa qua IUFRO và OEFM đã có những bước tiến lớn trong việc xây
dựng ý thức về tầm quan trọng của rừng miền núi.
Vấn đề chủ yếu ở đây là rừng miền núi đã thu hút được sự quan tâm xứng đáng
với vị trí và chức năng của nó. Các nguồn tài nguyên còn chưa được đánh giá mà
rừng miền núi chứa đựng trong nó, các quá trình sinh thái sản sinh trong lòng nó là
cần thiết cho một nền kinh tế bền vững của từng quốc gia, từng vùng và toàn cầu.
Một trong những đặc thù của các hệ sinh thái vùng núi là ảnh hưởng có lợi của nó

đối với vùng hạ lưu, là nhân tố điều tiết cấu trúc và chức năng các lưu vực đầu
nguồn, rừng, thực vật đi kèm với nó, đồng thời thể hiện rõ hiệu quả thiết thực của
nó đối với chất lượng, khối lượng nước, đối với sự ổn định và chất lượng đất, đối
với sự phong phú của những mối quan hệ trong cuộc sống và những vùng sinh thái
khác nhau.
Rừng trên những triền núi vùng núi nhiệt đới hay ôn đới là cần thiết mặc dù bản
thân nó chưa đủ đảm bảo được những hiệu quả có lợi của nó. Hơn nữa, hệ sinh
thái và nhân dân vùng núi lại phụ thuộc lẫn nhau. Cây cối, rừng và đồng cỏ cùng
kết hợp với đất và nước là nền tảng của các hệ thống sản xuất nông – lâm sản.
Cuộc sống lao động của người dân vùng cao là cuộc sống của các cộng dồng
người và cộng đồng văn hoá địa phương nhiều màu sắc và nhất là khi được giao
lưu với các giá trị văn hoá của đồng bằng và thành phố (Pratt, Preston, 1998).


×