Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

Luận văn tổ chức hoạt động nghệ thuật cho sinh viên trường đại học sài gòn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.02 MB, 109 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu .................................................................. 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................ 9
5. Câu hỏi nghiên cứu ..................................................................................... 10
6. Giả thuyết nghiên cứu ................................................................................. 10
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 11
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn..................................................................... 14
9. Bố cục luận văn ........................................................................................... 15
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI
GÒN ..................................................................................................................... 16
1.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................. 16
1.1.1.Các khái niệm liên quan ....................................................................... 16
1.1.3. Đặc điểm hoạt động nghệ thuật và nội dung đánh giá công tác tổ chức
hoạt động nghệ thuật cho sinh viên ............................................................... 23
1.2.Tổng quan về trường Đại học Sài Gòn và Hội Sinh viên Trường .......... 27
1.2.1. Tổng quan về trường Đại học Sài Gòn ............................................... 27
1.2.2.Giới thiệu chung về Hội Sinh viên trường Đại học Sài Gòn ................ 29
Tiểu kết ............................................................................................................. 35
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
NGHỆ THUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN............ 36
2.1. Cách thức tổ chức triển khai thực hiện các chương trình nghệ thuật được
nghiên cứu ....................................................................................................... 36
2.1.1.Công tác huy động và quản lý các nguồn lực để thực hiện chương trình36
2.1.2.Cơng tác tổ chức và quản lý hoạt động truyền thơng của chương trình57
2.1.3.Cơng tác quản lý tiến độ thực hiện các chương trình .......................... 63


2.1.4.Công tác an ninh trật tự, vệ sinh môi trường ....................................... 67


2.1.5.Công tác đánh giá, rút kinh nghiệm sau khi kết thúc chương trình của đơn
vị tổ chức ....................................................................................................... 72
2.2. Đánh giá chung ........................................................................................ 74
2.2.1.Đánh giá sự phù hợp về nội dung và hình thức của các chương trình được
nghiên cứu đối với nhu cầu của sinh viên ..................................................... 74
2.2.2.Ưu điểm ................................................................................................ 78
2.2.3.Nhược điểm .......................................................................................... 79
2.2.4.Nguyên nhân ......................................................................................... 80
Tiểu kết ............................................................................................................. 81
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NGHỆ THUẬT CHO SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN ........................................................................ 82
3.1.Định hướng phát triển các chương trình nghệ thuật cho sinh viên trường
Đại học Sài Gòn ............................................................................................... 82
3.1.1.Những yếu tố tác động đến việc định hướng phát triển các chương trình
nghệ thuật cho sinh viên trường Đại học Sài Gòn ........................................ 82
3.1.2.Định hướng tổ chức hoạt động nghệ thuật cho sinh viên trong tương lai84
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác tổ chức hoạt động nghệ thuật 85
3.2.1.Nhóm giải pháp đối với Ban Tổ chức................................................... 85
3.2.2.Giải pháp về nội dung, hình thức chương trình ................................... 95
3.2.3.Giải pháp về thu hút sinh viên tham dự chương trình.......................... 96
3.3.Khuyến nghị ............................................................................................... 98
Tiểu kết ............................................................................................................. 99
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 102
PHỤ LỤC .......................................................................................................... 107


1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Các hoạt động nghệ thuật có một vị trí quan trọng đối với cơng chúng,
xã hội. Không dừng lại ở mức độ biểu diễn phục vụ cho các buổi lễ, ngày kỉ
niệm, mà việc tổ chức các chương trình nghệ thuật cịn là hoạt động phong
trào thiết thực cho sinh viên tại các trường đại học nói chung, Trường Đại Sài
Gịn (SGU) nói riêng.
Trong những năm qua, cùng với việc tăng cường chất lượng giảng dạy,
lãnh đạo Trường SGU không ngừng đầu tư tổ chức nhiều hoạt động nghệ
thuật cho sinh viên trong trường, trong đó có sự hỗ trợ quan trọng của Hội
Sinh viên của Nhà trường. Hội Sinh viên Trường SGU là tổ chức chính trị xã hội chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy Trường SGU. Sau nhiều năm
hoạt động, Hội Sinh viên Trường SGU được các cấp Ủy đảng, Hội Sinh viên
cấp trên, hội viên, sinh viên đánh giá là một trong những đơn vị xuất sắc và
hiệu quả trong phong trào, có tính sáng tạo. Điều này được thể hiện qua
những thành quả về hoạt động nghệ thuật mà sinh viên Trường SGU đạt được
như: Huy chương đồng toàn đoàn Liên hoan tiếng hát sinh viên toàn quốc –
khu vực phía Nam (năm 2013), Huy chương vàng tồn đồn múa độc lập tiết
mục “Giữ Sóng” (năm 2013), Chương trình nghệ thuật đón Đồn sinh viên
Châu Á (năm 2014), Chương trình Golden Voice SGU (năm 2014, 2015);
Huy chương vàng toàn đoàn Hội diễn văn nghệ Đảng ủy khối các trường Đại
học – Cao đẳng – Trung cấp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (năm
2015),… Đây thật sự là những hoạt động nghệ thuật bổ ích để sinh viên có
sân chơi, giải trí lành mạnh sau những giờ học căng thẳng. Bên cạnh đó, các
chương trình này còn là dịp để sinh viên Trường SGU thể hiện tài năng, đam
mê nghệ thuật của mình.


2

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công gặt hái ban đầu như trên, là một

người gắn bó khá nhiều với Nhà trường trong các chương trình nghệ thuật với
tư cách là đạo diễn, là biên đạo múa, tác giả luận văn nhận thấy rằng cơng tác
tổ chức các chương trình nghệ thuật của sinh viên Trường SGU còn gặp một
số khó khăn, hạn chế. Điển hình như trong hoạt động quản lý nhân lực; quản
lý tiến độ thực hiện chương trình; cơng tác vệ sinh mơi trường; cơng tác đánh
giá, rút kinh nghiệm sau khi kết thúc chương trình của Ban tổ chức.
Điều đó làm ảnh hưởng đến chất lượng nghệ thuật của các chương
trình, cũng như sự hứng thú của sinh viên khi tham dự chương trình. Từ
những nhận thức ban đầu đó, để có những cơ sở khoa học trong việc đề xuất
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức các chương trình nghệ thuật,
tác giả luận văn chọn đề tài “Tổ chức hoạt động nghệ thuật cho sinh viên
trường Đại học Sài Gòn” để làm luận văn chun ngành Quản lý văn hóa.
2. Mục đích nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu để làm rõ thực trạng công tác tổ chức
các hoạt động nghệ thuật (chỉ nghiên cứu các hoạt động nghệ thuật ngoài giờ
lên lớp) cho sinh viên Trường SGU từ năm 2017 – 2018.
- Từ kết quả nghiên cứu đó, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng về cơng tác tổ chức hoạt động nghệ thuật (ngồi giờ lên
lớp) cho sinh viên Trường SGU.
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp nói chung và tổ chức
hoạt động nghệ thuật của sinh viên nói riêng được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm và được nghiên cứu ở một số cơng trình điển hình như:
Năm 2005, luận án tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Nguyễn Thị Thành
nghiên cứu về “Biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học
sinh trung học phổ thông”. Luận án đã khẳng định vai trò quan trọng của hoạt


3


động giáo dục ngồi giờ lên lớp trong việc hình thành nhân cách, phẩm chất, kỹ
năng sống cho học sinh trong thực tiễn ngày nay. Bên cạnh đó, tác giả quan tâm
đến các yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến quá trình tổ chức hoạt
động giáo dục ngồi giờ lên lớp tại trường trung học phổ thơng. Ngồi những
biện pháp được phân tích, tác giả đã lựa chọn biện pháp trong từng dạng hoạt
động giáo dục ngoài giờ lên lớp nhằm nâng cao chất lượng và phù hợp với
những mục tiêu đổi mới giáo dục trung học phổ thông.
Năm 2010, tác giả Hà Mỹ Hạnh với đề tài “Thực hiện chương trình hoạt
động giáo dục ngồi giờ lên lớp ở trường trung học cơ sở Tuyên Quang” làm
luận văn thạc sỹ chuyên ngành Giáo dục học. Nội dung luận văn đề cập đến
các vấn đề như: Cơ sở lý luận của việc thực hiện chương trình hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các khái niệm về hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp và các biện pháp thực hiện chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp cho học sinh trung học cơ sở. Đồng thời, tác giả nhấn mạnh đến các
yếu tố ảnh hưởng đến chương trình tổ chức hoạt động, mỗi quan hệ của giáo
dục ngoài giờ lên lớp với các hoạt động khác. Qua đó, luận văn đưa ra những
nguyên tắc và các biện pháp thực hiện chương trình hoạt động giáo dục ngoài
giờ lên lớp tại trường trung học cơ sở Tuyên Quang hiệu quả hơn.
Năm 2010, tác giả Phạm Thành Khánh với cơng trình “Tổ chức phong
trào cho sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình” làm luận văn thạc sỹ
chuyên ngành Giáo dục học. Bên cạnh những nội dung, khái niệm liên quan
đến đề tài nghiên cứu, tác giả đã phân tích thực trạng tổ chức phong trào cho
sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình trên cơ sở làm rõ các nội dung
như: mức độ, quy mơ, tình hình, lực lượng tổ chức các hoạt động phong trào
và tìm hiểu mức độ tham gia của sinh viên vào các hoạt động phong trào do
nhà trường tổ chức. Đồng thời, tác giả tiến hành khảo sát thực trạng biện pháp
tổ chức hoạt động phong trào cho sinh viên tại trường. Căn cứ trên những thực


4


trạng phân tích, chương 3 đề cập đến các nguyên tắc xây dựng các biện pháp
và đề xuất 09 biện pháp cho hoạt động tổ chức phong trào cho sinh viên
trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình mang tính hiệu quả.
Năm 2013, Lê Cao Thắng với luận án tiến sỹ chuyên ngành Văn hóa
học “Hoạt động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên hiện
nay (qua khảo sát một số trường đại học ở Hà Nội)”. Luận án gồm:
chương 1: Những vấn đề lý luận về giá trị và giá trị văn hóa truyền thống của
dân tộc; chương 2: Thực trạng hoạt động giáo dục các giá trị văn hóa truyền
thống cho sinh viên hiện nay; chương 3: Phương hướng và một số giải pháp
nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh
viên. Tác giả phân tích cụ thể các nhân tố tác động đến việc giáo dục giá trị
văn hoá truyền thống cho sinh viên hiện nay như: Tác động của nhân tố kinh
tế - xã hội; Tác động của nhân tố giáo dục – đào tạo; Tác động của xu thế tồn
cầu hóa, hội nhập giao lưu quốc tế. Đồng thời, tác giả phân tích, đánh giá thực
trạng giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên của các trường Đại
học trên địa bàn Hà Nội. Qua đó, tác giả nhận định những ưu điểm, hạn chế
của việc giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên trong giai đoạn
hiện nay. Trong chương 3, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị văn hóa truyền thống cho sinh viên nhằm
xây dựng đội ngũ sinh viên phát triển tồn diện về đức và tài, góp phần phát
triển giáo dục đào tạo và phát triển đất nước.
Năm 2015, Hà Mỹ Hạnh với luận án tiến sỹ Khoa học giáo dục “Phát
triển năng lực hoạt động xã hội cho sinh viên các trường Đại học sư phạm khu
vực miền núi phía Bắc trong đào tạo theo học chế tín chỉ” chuyên ngành Lý
luận và Lịch sử giáo dục. Luận án gồm 04 chương: chương 1:
Cơ sở lý luận về phát triển năng lực hoạt động xã hội cho sinh viên các trường
Đại học sư phạm khu vực miền núi phía Bắc trong đào tạo theo học chế tín chỉ



5

gồm các vấn đề như: đặc điểm tâm lý của sinh viên, môi trường sống, giao
tiếp, học tập và một số hoạt động xã hội đặc thù của khu vực vùng núi phía
Bắc; các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển năng lực hoạt động xã hội
cho sinh viên các trường đại học sư phạm khu vực miền núi phía Bắc trong
đào tạo theo học chế tín chỉ. Chương 2, tác giả phân tích các thực trạng đối với
vấn đề phát triển năng lực hoạt động xã hội cho sinh viên các trường Đại học
sư phạm khu vực miền núi phía Bắc trong đào tạo theo học chế tín chỉ.
Chương 3, tác giả đưa ra các biện pháp phát triển năng lực hoạt động xã hội
cho sinh viên các trường đại học sư phạm khu vực miền núi phía Bắc trong
đào tạo theo học chế tín chỉ. Chương 4, tác giả khái quát chung về thực
nghiệm sư phạm và nhận xét, đánh giá về kết quả thực nghiệm các biện pháp
phát triển năng lực hoạt động xã hội cho sinh viên các trường Đại học sư
phạm khu vực miền núi phía Bắc trong đào tạo theo học chế tín chỉ.
Năm 2016, tác giả Nguyễn Mai Hương có cơng trình nghiên cứu “Nâng
cao năng lực sáng tạo nghệ thuật cho sinh viên các trường nghệ thuật ở Việt
Nam hiện nay” làm luận án tiến sỹ Triết học thuộc Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn. Luận án bao gồm 4 chương như sau: Chương 1: Tổng
quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; Chương 2: Nâng cao
năng lực sáng tạo nghệ thuật cho sinh viên các trường nghệ thuật ở Việt Nam
hiện nay - một số vấn đề lý luận; Chương 3: Nâng cao năng lực sáng tạo nghệ
thuật cho sinh viên các trường nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay - thực trạng và
các vấn đề đặt ra; Chương 4: Quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
năng lực sáng tạo nghệ thuật cho sinh viên các trường nghệ thuật ở Việt Nam
hiện nay. Tác giả đã tập trung nghiên cứu sinh viên các trường Đại học Sân
khấu - Điện ảnh ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh. Các điểm trường được tác giả
chọn đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu trong các lĩnh vực sân khấu, điện
ảnh, nhiếp ảnh, múa, thiết kế mỹ thuật, truyền hình và có trình độ đại học, sau



6

đại học. Đồng thời, nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo tốt, đáp ứng được
nhu cầu thực tiễn. Tác giả đã tiếp cận vấn đề từ góc độ triết học nghệ thuật
nghiên cứu năng lực sáng tạo nghệ thuật của sinh viên, qua đó phân tích các
thực trạng đang gặp phải trong hoạt động này. Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra
các quan điểm và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao năng lực sáng tạo
nghệ thuật cho sinh viên các trường nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay.
Bài báo “Hoạt động văn hóa phải phù hợp với nhu cầu của học sinh,
nâng cao chất lượng giáo dục tồn diện” của Vụ Giáo dục chính trị và Cơng
tác học sinh sinh viên, đăng trên website của Phịng Giáo dục thành phố
Sa Đéc ngày 30/11/2017 có nhấn mạnh đến Thông tư số 26/2017/TT-BGDĐT
ngày 18/10/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy định về tổ chức
hoạt động văn hóa của học sinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục”. Thơng tư
số 26 nhằm góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, giá trị văn hóa và chuẩn
mực đạo đức; hình thành thói quen, ý thức tốt, hoàn thiện nhân cách học sinh,
sinh viên,... Đồng thời, Thông tư số 26 đề cập đến các yêu cầu, nguyên tắc,
nội dung và các hình thức tổ chức các hoạt động văn hóa trong các cơ sở giáo
dục về vấn đề tổ chức các câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, nghệ thuật, sáng tạo
thẩm mỹ như: văn học, âm nhạc, hội họa, sân khấu, điện ảnh và các lĩnh vực
nghệ thuật khác; hoạt động thể thao, trò chơi giải trí,... Tổ chức các hoạt động
biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, chiếu phim định kỳ cho học sinh,
sinh viên; tổ chức lồng ghép các hoạt động văn hóa, văn nghệ gắn với các sự
kiện, ngày hội, ngày lễ, ngày truyền thống của cơ sở giáo dục, địa phương nơi
học sinh, sinh viên sinh sống.
Bài viết “Sinh viên Đại học Văn hóa làm mới nghệ thuật truyền thống”
của tác giả Đinh Tuấn đăng trên trang điện tử của Báo Mới ngày 12/4/2018
với nội dung đề cập đến một số chương trình nghệ thuật truyền thống như
chương trình “Xẩm vọng hương” theo dấu tìm về chốn cũ và múa rối nước



7

của các nghệ nhân Đồng Ngư (Thuận Thành, Bắc Ninh). Các chương trình
nghệ thuật truyền thống này được sinh viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội
tổ chức với mục đích lan tỏa tình u dành cho các mơn nghệ thuật truyền
thống ra cộng đồng.
Bài viết “Hoạt động văn hóa văn nghệ của sinh viên” với nội dung
nhấn mạnh vai trò của hoạt động VHNT đối với sinh viên trong thời đại mới.
Bên cạnh những kiến thức chuyên môn, mỗi sinh viên cần chuẩn bị cho mình
những kỹ năng mềm cần thiết để hồn thiện bản thân và hịa nhập tốt với xã
hội. Do đó, sinh viên cần trang bị kỹ năng mềm thơng qua các hoạt động văn
hóa văn nghệ và đi đôi với việc trang bị kiến thức chun mơn. Từ đó, các
hoạt động VHNT sẽ tạo động lực tích cực đến ý thức và kết quả học tập của
sinh viên, là những nhân tố hội tụ hình thành nên đội ngũ tri thức có văn hóa.
Bài viết “Tổ chức hoạt động văn hóa của học sinh, sinh viên” của tác
giả có bút danh viết tắt “ĐT”, đăng trên trang online của Báo Bình Phước
ngày 01/11/2017 cũng đề cập một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức các
hoạt động văn hóa nghệ thuật cho học sinh, sinh viên như: nội dung của các
chương trình thường tập trung: Tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về văn hóa; ca ngợi các thành tựu của
cách mạng Việt Nam; giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giá trị văn
hóa, chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo lý làm người; ý thức trách nhiệm, nghĩa
vụ cơng dân; lịng u nước, tinh thần tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống văn
hóa của người Việt Nam; các hình thức tổ chức: Phát triển văn hóa đọc; tổ
chức hoạt động tại thư viện nhà trường, phòng đọc, phòng tra cứu; trang bị tủ
sách tại các lớp học; tìm hiểu tri thức văn hóa thơng qua hệ thống sách, báo,
tạp chí và các phương tiện thơng tin, truyền thơng khác. Tổ chức nói chuyện
chun đề về văn hóa - xã hội; tổ chức tìm hiểu về các lĩnh vực lịch sử, văn

hóa truyền thống dân tộc. Tổ chức các câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, nghệ


8

thuật, sáng tạo thẩm mỹ; trách nhiệm của các cơ sở giáo dục: Đối với các sở
giáo dục và đào tạo, xây dựng kế hoạch, tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương bố trí kinh phí và huy động các nguồn kinh
phí hợp pháp khác để tổ chức hoạt động văn hóa thường xuyên trong các cơ
sở giáo dục trong phạm vi quản lý tại địa phương; đôn đốc, kiểm tra và định
kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện thông tư này.
Bài viết “Sức sống văn hóa nghệ thuật ở một trường đại học tư thục”
của tác giả Dương Trọng Dật, đăng trên trang online của báo Sài Gịn Giải
Phóng ngày 06/6/2019 cũng bàn về hoạt động văn hóa nghệ thuật của sinh
viên trường đại học Văn Lang. Kết nối chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết và thực
tiễn, gắn chương trình đào tạo với hoạt động văn hóa nghệ thuật của xã hội,
lãnh đạo Đại học Văn Lang ấp ủ ước mơ biến giảng đường đại học trở thành
một trung tâm hoạt động văn hóa nghệ thuật, trước mắt là ở TPHCM. Để hiện
thực hóa mục tiêu đó, trường đã cho thành lập Viện Đào tạo văn hóa - nghệ
thuật Văn Lang và Trung tâm Sự kiện xuất bản Văn Lang. Nhiều sự kiện văn
hóa nghệ thuật khởi động được sinh viên các chuyên ngành xã hội nhân văn
háo hức chào đón và được giới văn nghệ, báo chí quan tâm. Nhiều nghệ sĩ tên
tuổi được mời tham gia cố vấn cho trường như: nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn,
NSND Bạch Tuyết, NSND Trung Kiên, GS-TS Trần Thu Hà, Viện trưởng
Viện Văn học Việt Nam - PGS-TS Nguyễn Đăng Điệp…
Từ việc nghiên cứu bước đầu về các cơng trình nghiên cứu trên, có thể
chưa được bao quát, đầy đủ, nhưng ở nhiều chừng mực khác nhau, các cơng
trình trên đã cung cấp cho tác giả luận văn những kiến thức cả lý luận và thực
tiễn để phục vụ cho quá trình nghiên cứu luận văn. Hơn nữa, thơng qua đó,
tác giả cũng cho rằng, nghiên cứu về công tác tổ chức các hoạt động nghệ

thuật của sinh viên trường SGU chưa được thực hiện. Vì vậy, việc họ thực


9

hiện cơng trình này là phù hợp với quy định hiện hành về việc lựa chọn đề tài
nghiên cứu ở mức thạc sỹ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu:
Công tác tổ chức hoạt động nghệ thuật cấp trường ngoài giờ lên lớp
cho sinh viên Trường SGU.
4.2.Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Tại trường Đại học Sài Gòn (SGU).
- Phạm vi nội dung: Họ tập trung nghiên cứu về công tác tổ chức các
hoạt động nghệ thuật do Hội sinh viên Trường SGU tổ chức cho sinh viên
trong trường. Cụ thể:
+ Năng lực tổ chức các chương trình nghệ thuật cho sinh viên của đơn
vị tổ chức – Hội sinh viên Trường SGU;
+ Cách thức tổ chức triển khai thực hiện chương trình của Ban tổ chức
các chương trình nghệ thuật được nghiên cứu;
+ Nội dung, hình thức tổ chức các chương trình nghệ thuật được nghiên
cứu;
Để kết quả nghiên cứu được tập trung, rõ ràng, họ chọn 03 chương trình
nghệ thuật trong năm 2017, 2018 như sau:
- Năm 2017, họ chọn 01 Chương trình Liên hoan tiếng hát sinh viên
“Tiếp bước truyền thống Đại học Sài Gịn”.
- Năm 2018, họ chọn 02 chương trình: Ngày hội Tân sinh viên khóa
2018 “Xin chào K18”; Cuộc thi tìm kiếm tài năng “SGU’s got talent”.
Họ chọn các chương trình trên để nghiên cứu vì:
+ Đây là 03 chương trình cấp trường lớn nhất trong năm 2017, 2018,

thu hút đông đảo sinh viên tham dự nhất.


10

+ Đây là 03 chương trình mà 100% thành viên trong ban tổ chức
chương trình hiện vẫn cịn đang cơng tác, học tập tại trường. Điều này có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình khảo sát, phỏng vấn để phục vụ
nghiên cứu của họ.
+ Đây là 03 chương trình mà họ thu thập được nhiều nhất các dữ liệu sơ
cấp và thứ cấp như các kế hoạch tổ chức, các số liệu thống kê.
+ Phạm vi thời gian: Trong hai năm 2017 - 2018.
Tác giả chọn nghiên cứu trong giai đoạn hai năm này vì nội dung mà họ
cần nghiên cứu, khảo sát là đánh giá công tác tổ chức các chương trình nghệ
thuật dành cho sinh viên. Đây là các sự kiện đã diễn ra và kết quả đánh giá
thông qua phỏng vấn, khảo sát phiếu hỏi phụ thuộc vào trí nhớ của các mẫu là
các thành viên trong Ban tổ chức, sinh viên tham dự các chương trình được
nghiên cứu. Vì vậy, nếu họ chọn khoảng thời gian càng dài, thì sai số của kết
quả khảo sát sẽ càng lớn vì “sự nhớ” của các mẫu khảo sát không đảm bảo.
Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng nhiều đến kết quả nghiên cứu, đánh giá của
đề tài.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Có hai câu hỏi đặt ra trong đề tài này cần giải quyết:
1- Công tác tổ chức các hoạt động nghệ thuật dành cho sinh viên của
Hội sinh viên Trường SGU có những thành cơng và còn tồn tại những hạn chế
nào? Nguyên nhân là gì?
2- Làm thế nào để nâng cao chất lượng trong công tác tổ chức các hoạt
động nghệ thuật cho sinh viên ở Trường SGU?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Các chương trình nghệ thuật được tổ chức trong trường học Đại học là

một dạng hoạt động ngoại khóa, góp phần tạo nên môi trường học đường “vừa
học, vừa chơi”. Những hoạt động này giúp người học có thêm những sân chơi


11

lành mạnh, bổ ích sau những giờ học chính thức căng thẳng. Đối với Trường
SGU, với hàng chục nghìn sinh viên, mơi trường học tập ln sơi động, thậm
chí có phần căng thẳng. Vì vậy, cơng tác tổ chức các hoạt động nghệ thuật cho
sinh viên luôn được sự quan tâm của Ban Giám hiệu, Đảng Ủy, Cơng Đồn,
Đồn Thanh niên, Hội Sinh viên và các khoa chun mơn. Vì vậy, hoạt động
nghệ thuật cho sinh viên Nhà trường rất sơi động, hấp dẫn với nhiều chương
trình lớn nhỏ khác nhau.
Trong quá trình tổ chức các chương trình nghệ thuật cho sinh viên, Ban
tổ chức đã thu được những thành công nhất định như kỹ năng tổ chức ngày
càng được nâng cao, việc huy động và quản lý các nguồn nhân lực, tài chính,
cơ sở vật chất đảm bảo; phần lớn các chương trình hấp dẫn, thu hút được đơng
đảo sinh viên tham dự.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, Ban tổ chức các chương trình nghệ thuật vẫn
cịn tồn tại một số hạn chế như việc phân công nhân sự chưa phù hợp, cơng tác
truyền thơng cho chương trình chưa hiệu quả, vấn đề vệ sinh môi trường, an
ninh trật tự chưa đảm bảo. Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác tổ chức,
cũng như nâng cao chất lượng các hoạt động nghệ thuật cho sinh viên Trường
SGU, Hội Sinh viên SGU cần kiện toàn bộ máy tổ chức nhân sự, nâng cao
chất lượng hoạt động truyền thông, đẩy mạnh công tác quản lý vấn đề an ninh
trật tự và vệ sinh môi trường.
7. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu bằng những phương pháp sau đây:
7.1.Phương pháp khảo sát xã hội học
* Phương pháp điều tra định lượng

- Khảo sát 150 sinh viên (mỗi chương trình 50 sinh viên).
Để đảm bảo việc trả lời các câu hỏi trong phiếu khảo sát chính xác, họ
đặt ra tiêu chí để chọn 150 sinh viên tham gia khảo sát như sau:


12

+ Phải là những sinh viên tham gia, tham dự hầu hết các hoạt động của
03 chương trình nghệ thuật được nghiên cứu;
+ Đó là những sinh viên cịn nhớ rõ các hoạt động và những nội dung
liên quan đến cơng tác tổ chức các chương trình được nghiên cứu.
Trên cơ sở tiêu chí đó, họ nhờ sự hỗ trợ của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh
viên Trường SGU, Ban Cán sự của các chi đoàn giới thiệu cho họ những sinh
viên đạt được các tiêu chí đã đề ra. Từ đó, họ tiến hành khảo sát trực tiếp tại
lớp học của họ. Tỷ lệ sinh viên tham gia khảo sát giữa các Khoa được mô tả
chi tiết tại bảng 3, phụ lục 4.
Họ chọn số lượng 150 sinh viên để khảo sát bởi các lý do sau:
+ Số lượng sinh viên đạt các tiêu chí đặt ra rất giới hạn;
+ Năng lực tài chính của tác giả luận văn có giới hạn.
- Khảo sát thành viên Ban tổ chức và một số cá nhân liên quan: 30
người (mỗi chương trình khảo sát 10 người).
Họ chọn mỗi chương trình khảo sát 10 người gồm:
+ 07 người trong Ban Tổ chức (theo quyết định của Hiệu trưởng
Trường SGU, trong 03 chương trình được nghiên cứu, thì 02 chương trình có
số lượng thành viên Ban tổ chức là 07 người; 01 chương trình là 09 người.
Tuy nhiên, khi họ tiến hành khảo sát thì có 02 người trong Ban tổ chức 09
người này khơng cịn học tập ở Trường. Nên số người tham gia khảo sát trong
Ban tổ chức là 07 người).
+ 03 thành viên trong Ban Kiểm tra Hội Sinh viên Trường SGU.
Để xử lý các phiếu khảo sát, họ nhờ sự hỗ trợ của một kỹ thuật viên am

hiểu về phần mềm SPSS. Kết quả xử lý bằng phần mềm này đã giúp họ có
được những số liệu định lượng cần thiết để phục vụ cho quá trình nghiên cứu
của mình.


13

Do nhiều hoạt động trong công tác tổ chức các chương trình được
nghiên cứu như việc huy động và quản lý nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật
chất,… của chương trình chỉ có những thành viên trong Ban tổ chức chương
trình mới có thể đưa ra những nhận định, đánh giá cụ thể, nên đối với nhóm
mẫu này, họ thực hiện khảo sát những nội dung trên.
* Phương pháp điều tra định tính
Phỏng vấn sâu – nghiên cứu định tính được xem là cách thức để họ có
thêm những thông tin, kết quả nghiên cứu nhằm bổ sung cho những phần nội
dung mà nghiên cứu định lượng không thể hiện được.
- Phỏng vấn thành viên Ban tổ chức chương trình:
+ Số lượng người trả lời phỏng vấn: 03 (Mỗi chương trình phỏng vấn
01 người). Tiêu chí chọn người phỏng vấn như sau:
+ Phải là những người tham gia vào thành viên Ban tổ chức của cả 03
chương trình được nghiên cứu. Yêu cầu này được đưa ra vì các vấn đề về công
tác tổ chức cần được so sánh, đối chiếu, phân tích ở cả 03 chương trình. Vì
vậy, nếu họ không tham gia đầy đủ cả 03 chương trình được chọn nghiên cứu
thì quá trình nghiên cứu của họ sẽ gặp nhiều khó khăn.
+ Phải là những người có thể cung cấp nhiều thơng tin nhất về cơng tác
tổ chức các chương trình được nghiên cứu. Yêu cầu này được đưa ra bởi các
chương trình được nghiên cứu đều đã diễn ra khi họ thực hiện đề tài này. Vì
vậy, địi hỏi người tham gia phỏng vấn phải cịn lưu lại được nhiều thơng tin
về cơng tác tổ chức trong trí nhớ của mình thì mới có thể đưa ra được những ý
kiến, nhận định, đánh giá phù hợp nhất.

Để chọn những người này, họ thông qua sự hỗ trợ của Bí thư Đồn
Thanh niên Trường SGU. Kết quả là họ chọn được 03 người đủ các tiêu chí
trên để thực hiện phỏng vấn.


14

- Phỏng vấn thành viên Ban Chỉ đạo các chương trình
Đối với bộ phận này, họ chỉ thực hiện phỏng vấn được một người, do
thành viên cịn lại khơng có mặt tại trường SGU trong giai đoạn họ thực hiện
nghiên cứu này. Nội dung họ phỏng vấn tập trung về những đánh giá về công
tác huy động và quản lý các nguồn lực để thực hiện các chương trình nghệ
thuật được nghiên cứu.
- Phỏng vấn sinh viên tham gia chương trình, sinh viên tham gia hỗ trợ
cơng tác tổ chức chương trình:
Số lượng người trả lời phỏng vấn: 06 (Mỗi chương trình phỏng vấn 02
người). Tiêu chí chọn người phỏng vấn tương tự những tiêu chí chọn những
người trong Ban tổ chức các chương trình được nghiên cứu.
7.2.Phương pháp thống kế
Phương pháp này được thực hiện trong quá trình họ thu thập các số liệu
về quy mô đào tạo của Trường SGU, số lượng các chương trình nghệ thuật mà
Nhà trường tổ chức trong giai đoạn 2014 - 2018; các số liệu thống kê về kinh
phí tổ chức, số tiền xin tài trợ được, tổng số lượt người tham dự các chương
trình,… Thơng qua các số liệu thống kê này, họ có thể rút ra một số nhận định
về cơng tác tổ chức các chương trình nghệ thuật cho sinh viên trường SGU.
Với những phương pháp nghiên cứu được chọn như trên, họ mong rằng
phù hợp với đề tài, nội dung nghiên cứu và những kết quả nghiên cứu đáp ứng
được u cầu của một cơng trình khoa học.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của cơng trình sẽ cung cấp cho

Hội Sinh viên Trường SGU những cơ sở khoa học về thực trạng cơng tác tổ
chức các chương trình nghệ thuật được nghiên cứu thơng qua việc phân tích
các số liệu định lượng, định tính mà họ thu thập được.


15

- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Thông qua các giải pháp mà họ đề xuất, tùy vào điều kiện thực tế, Hội
Sinh viên Trường SGU có thể điều chỉnh cơng tác tổ chức các hoạt động nghệ
thuật cho sinh viên của mình nhằm nâng cao chất lượng các chương trình nghệ
thuật đó.
+ Đối với các cơ sở đào tạo khác, trong chừng mực nhất định, kết quả
nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo phục vụ trong cơng tác tổ
chức các hoạt động nghệ thuật ngoại khóa của mình.
9. Bố cục luận văn
Ngồi phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn
bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về Trường Đại học Sài Gịn
Chương 2: Thực trạng cơng tác tổ chức hoạt động nghệ thuật cho sinh viên
Trường Đại học Sài Gòn
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác tổ chức
hoạt động nghệ thuật cho sinh viên trường Đại học Sài Gòn


16

Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.Các khái niệm liên quan
- Nghệ thuật
Nghệ thuật là thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến và mỗi
nhà nghiên cứu nhận định theo những cách khác nhau.
Từ góc độ triết học, dẫn theo tác giả Nguyễn Mai Hương thì chủ nghĩa
duy tâm chủ quan mà đại diện là nhà triết học người Đức Cantơ (1724 –
1804) giải thích rằng: “nghệ thuật có nguồn gốc từ các trị chơi tưởng tượng
của con người. Nghệ thuật là sản phẩm của các trò chơi cá nhân. Nó khơng
liên quan gì đến đời sống xã hội” [20]. Như vậy, theo Cantơ, nghệ thuật là
sáng tạo cá nhân của con người, và nó được xem như các dạng “trị chơi” để
đáp ứng nhu cầu giải trí của con người.
Khác với quan niệm của Cantơ, các nhà duy vật từ thời cổ đại đến hiện
đại đều nhận định: “Nghệ thuật là sản phẩm của con người do hoạt động lao
động mà có. Nghệ thuật là hình thức bắt chước hoặc tái hiện cuộc sống của
con người” [20]. Qua đó, các nhà triết học duy vật cho rằng nghệ thuật có
nguồn gốc từ hiện thực khách quan, và người nghệ sỹ giỏi là người có khả
năng bắt chước giống như trong tự nhiên.
Trong khi đó, những nhà triết học duy vật biện chứng thì nhìn nhận
nghệ thuật là một hình thái ý thức phản ánh sinh hoạt và đấu tranh xã hội.
Nghệ thuật khơng phải là trị chơi du hí tự do, khơng phải là các hành vi của
thánh thần, càng không phải là biểu hiện của ý niệm tuyệt đối, mà là một hoạt
động có ý thức do chính cuộc sống lao động của con người tạo ra.


17

Ở một góc độ tiếp cận khác, tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng: “nghệ
thuật (danh từ): 1. Phương thức phản ánh hiện thực và truyền đạt tư tưởng
tình cảm bằng hình tượng: nghệ thuật tạo hình. 2. Phương pháp tiến hành

phân tích sáng tạo: nghệ thuật tổ chức” [35, tr.1110]. Như vậy, theo Nguyễn
Như Ý, nghệ thuật có thể hiểu theo hai góc độ khác nhau. Thứ nhất xem nghệ
thuật là một dạng, một phương thức biểu đạt cảm xúc, tinh thần thơng qua
hình tượng để phản ánh thực tại cuộc sống. Đó là nền tảng để con người sản
sinh ra các loại hình nghệ thuật như điêu khắc, trang trí, sân khấu, điện ảnh,…
Thứ hai là xem nghệ thuật dưới dạng một hoạt động phân tích có nhiều tính
sáng tạo của con người trong một lĩnh vực cụ thể nào đó. “Nghệ thuật tổ
chức” mà Nguyễn Như Ý lấy làm ví dụ là muốn nhấn mạnh tính sáng tạo của
con người trong quá trình tổ chức thực hiện cơng việc, tính sáng tạo trong
việc điều hành nhóm xã hội.
Cũng tương đồng với quan điểm của Nguyễn Như Ý, nhưng các tác giả
trong cuốn Từ điển Tiếng Việt chi tiết hóa hơn về nội hàm của thuật ngữ
“Nghệ thuật” như sau: “Nghệ thuật (dt). Cơng việc làm có đường lối, phương
pháp, để tỏ ý thức, tình cảm hay lý tưởng của mình trên ba chỗ nhằm: chân,
thiện và mỹ: Người ta đã thống nhất ý chí về nghệ thuật và sắp chúng theo thứ
tự: 1) Âm nhạc, 2) Vũ điệu, 3) Hội họa, 4) Điêu khắc, 5) Kiến trúc, 6) Ca
kịch, 7) Điện ảnh; (R) Mánh lới, cách làm có tính tốn kỹ: Nghệ thuật làm
tiền, nghệ thuật nói chuyện trước đám đông” [24]. Như vậy, các tác giả trong
cơng trình này cũng cho rằng, nếu là danh từ, thì “nghệ thuật” chính là các
loại hình nghệ thuật được con người sáng tạo ra và thể hiện các giá trị chân –
thiện – mỹ; và nếu là động từ thì đó là những việc làm mà con người đã tính
tốn kỹ thiệt – hơn trước khi hành động nhằm mang lại hiệu quả của hoạt
động cao nhất.


18

Tóm lại, nghệ thuật có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau tùy vào từng
thời kỳ lịch sử, từng góc độ tiếp cận của nhà nghiên cứu. Trong luận văn này,
họ tiếp cận nghệ thuật theo góc độ là một danh từ như cách phân tích của các

nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trong cuốn Từ điển tiếng Việt năm 2014.
- Hoạt động nghệ thuật
Theo khảo cứu của họ thì hiện nay, ở Việt Nam chưa có nhà nghiên cứu,
hay tài liệu nào đưa ra khái niệm, định nghĩa về “hoạt động nghệ thuật”. Tuy
nhiên, trong bài viết “Văn hóa thẩm mỹ và văn hóa nghệ thuật trong đào tạo bậc
sau đại học”, tác giả Tạ Văn Thành cho rằng “hoạt động nghệ thuật” là một thành
tố cấu thành nên hệ giá trị của văn hóa nghệ thuật gồm:
+ Chủ thể nghệ thuật (nghệ sỹ – công chúng nghệ thuật);
+ Hoạt động nghệ thuật (sáng tạo – thụ cảm các tác phẩm nghệ thuật);
+ Giá trị nghệ thuật (tác phẩm thuộc các loại hình, loại thể nghệ thuật);
+ Các thiết chế định hướng, quản lý, phổ biến nghệ thuật và giáo dục
nghệ thuật [26].
Như vậy theo nhà nghiên cứu Đặng Văn Thành thì “hoạt động nghệ
thuật” bao gồm hai khía cạnh sau:
+ Hoạt động sáng tạo nghệ thuật
Hoạt động sáng tạo nghệ thuật này do nhóm người tham gia quá trình
sản xuất, sáng tạo ra một sản phẩm nghệ thuật nào đó. Nếu là nghệ thuật múa
thì đó là đạo diễn, biên đạo, huấn luyện, diễn viên.
+ Hoạt động thụ cảm – hay có thể hiểu đó là hoạt động tiêu dùng,
hưởng thụ các loại hình nghệ thuật của cơng chúng.
Trên thực tế, hai nhóm hoạt động này ln tồn tại biện chứng với nhau,
quyết định sự tồn tại của nhau. Rõ rằng nếu khơng có hoạt động thụ cảm –
hưởng thụ - tiêu dùng của cơng chúng thì hoạt động sáng tạo của người nghệ
sỹ trước sau gì cũng mai một, chấm dứt.


19

Trong luận văn này, họ tiếp cận “hoạt động nghệ thuật” theo nghĩa đó
là những hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Theo đó, để đáp ứng nhu cầu vui chơi

giải trí, nghệ thuật của sinh viên Trường SGU, Hội Sinh viên trường đã tạo ra
những chương trình nghệ thuật.
- Tổ chức, công tác tổ chức, tổ chức hoạt động nghệ thuật
+ Tổ chức
Theo góc độ triết học, tác giả Lê Duẩn định nghĩa “Tổ chức, nói rộng là
cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà khơng có một hình thức
liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của
bản thân các sự vật” [9, tr.28]. Như vậy, tác giả Lê Duẩn cho rằng là thuộc
tính vốn có của mọi sự vật. Đó chính là cơ chế liên kết giữa các yếu tố bên
trong của sự vật đó.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng, tổ chức với ý nghĩa hẹp là “tập
thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc
nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó” [6, tr.25]. Góc độ tiếp cận
này khác với tác giả Lê Duẩn. Tác giả Đặng Quốc Bảo nhấn mạnh đến yếu tố
xã hội của con người khi bàn đến nội hàm của thuật ngữ “tổ chức”. Theo góc
độ đó thì “tổ chức” có thể được xem là một dạng “nhóm xã hội” người được
hình thành khi các nhóm này có chung một nhiệm vụ, một mục tiêu để hướng
đến trong tương lai.
Cùng quan điểm trên, trong cuốn “Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công
tác tổ chức nhà nước”, các tác giả nhận định “Tổ chức là một đơn vị xã hội,
được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động
nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức) [5, tr.8].
Tác giả Nguyễn Như Ý trong cơng trình của mình cũng cho rằng tổ
chức là “Tập hợp những người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt
động vì lợi ích chung: tổ chức thanh niên, tổ chức cơng đồn” [35, tr.1.604].


20

Tuy nhiên, khác với các nhà nghiên cứu trên, Nguyễn Như Ý còn nhấn mạnh

đến nội hàm của thuật ngữ “tổ chức” dưới góc độ là một động từ. Theo đó,
ơng cho rằng thuật ngữ “tổ chức” có thể hiểu theo các nghĩa là “1. Sắp xếp, bố
trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức
năng chung: tổ chức lại các phòng trong cơ quan; tổ chức lại đội ngũ cán bộ;
2. Sắp xếp, bố trí để làm cho có trật tự, nền nếp: tổ chức đời sống gia đình, tổ
chức lại nề nếp sinh hoạt; 3. Tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự
nào: tổ chức hội nghị; tổ chức hơn lễ” [35, tr.1.604].
Tóm lại, thuật ngữ “tổ chức” có thể được hiểu theo 02 góc độ khác
nhau. Trong luận văn này, họ sử dụng thuật ngữ “tổ chức” theo nghĩa thứ 03
của tác giả Nguyễn Như Ý như đã trích dẫn trên. Nghĩa là xem tổ chức là
“Tiến hành một cơng việc theo cách thức, trình tự nào đó”.
+ Cơng tác tổ chức
Sau q trình nghiên cứu các tư liệu khoa học, chúng tơi khơng tìm
được các khái niệm, định nghĩa đối với thuật ngữ “công tác tổ chức”. Tuy
nhiên, tác giả Vũ Anh Tuấn trong bài viết “Công tác tổ chức – một hướng tiếp
cận” đã đề cập đến thuật ngữ này như sau:
+ Thứ nhất, công tác tổ chức là quá trình tổ chức, sắp xếp các hoạt
động theo một trật tự nhất định để thực hiện hiệu quả một công việc nhằm đạt
được mục tiêu đã đặt ra. Ví dụ: tổ chức một hội nghị với một chương trình
nghị sự nhằm quán triệt và thống nhất phương pháp để thực hiện hiệu quả
mục tiêu đã được xác định,…
+ Thứ hai, công tác tổ chức với nghĩa là một bộ phận/một cơ quan thực
hiện chức năng tham mưu, giúp cho các cấp lãnh đạo, quản lý trong hệ thống
chính trị và bộ máy nhà nước. Ví dụ: Ban Tổ chức, Bộ Nội vụ, Vụ Tổ chức,
Phòng Tổ chức,….


21

+ Thứ ba, công tác tổ chức là một tập hợp tạo thành một đơn vị, cơ

quan, một hệ thống (tổ chức bộ máy) với những chức năng và nhiệm vụ nhất
định nhằm thực hiện và đạt được mục tiêu chung đã được xác định. Đó là một
tập hợp người tương thích với một lĩnh vực nhất định trong hệ thống lãnh đạo,
quản lý. Là chức năng - nhờ đó, cơng tác lãnh đạo, quản lý duy trì sự ổn định,
phát triển của một “cơ quan hành chính”, với một tập hợp bao gồm các thành
viên có sự thống nhất cao trong việc thực hiện các nhiệm vụ hướng tới mục
tiêu đã được xác định. Trong cách tiếp cận này, cơng tác tổ chức là sự hình
thành “bộ máy hành chính - có tính nhà nước”, một chỉnh thể có sức mạnh
thông qua sự tác động của nhiều người [42].
So với mục đích nghiên cứu của luận văn, họ xin phép sử dụng nội hàm
của thuật ngữ “công tác tổ chức” theo nghĩa thứ nhất. Nghĩa là họ nghiên cứu
công tác tổ chức các hoạt động nghệ thuật cho sinh viên Trường SGU ở các
nội dung “quá trình tổ chức, sắp xếp các hoạt động theo một trật tự nhất định
để thực hiện hiệu quả một công việc nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra”.
+ Tổ chức hoạt động nghệ thuật
Hiện nay, họ chưa tìm được khái niệm “Tổ chức hoạt động nghệ thuật”
được thiết lập bởi các nhà nghiên cứu. Vì vậy, trong luận văn này, họ ghép
những khái niệm từ thuật ngữ “tổ chức” và “hoạt động nghệ thuật” để trở
thành khái niệm này “Tổ chức hoạt động nghệ thuật” như sau: tổ chức hoạt
động nghệ thuật là quá trình mà đơn vị tổ chức xây dựng kế hoạch, tổ chức
quản lý và triển khai thực hiện các chương trình, hoạt động nghệ thuật phục
vụ cho cơng chúng.
1.1.2.Vai trò của hoạt động nghệ thuật đối với sinh viên
- Góp phần phát triển nhân cách của sinh viên
Bên cạnh các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, các hoạt động
nghệ thuật có mục đích chung là rèn luyện các phẩm chất đạo đức, giúp sinh


22


viên phát triển tồn diện về trí – đức. Thơng qua các hoạt động nghệ thuật,
sinh viên sẽ có điều kiện thuận lợi để phát huy tính tích cực chủ động, sáng
tạo, biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục. Đồng thời, q trình đó sẽ giúp
sinh viên dần hình thành quan niệm và lý tưởng học tập, vui chơi giải trí đúng
đắn; ý thức hơn về vai trị và trách nhiệm của mình với xã hội và với chính
bản thân mình.
Do đó, các trường Đại học, Cao đẳng cần thường xuyên tổ chức và
khuyến khích sinh viên tham gia vào các hoạt động nghệ thuật để góp phần
nâng cao chất lượng đào tạo về cả thể chất, tinh thần và trí tuệ cho sinh viên.
Hoạt động văn hóa, văn nghệ hội tụ được nhiều ưu thế giúp cho sinh viên phát
triển nhân cách sống đáp ứng với nền kinh tế hội nhập.
- Góp phần hồn thiện kỹ năng sống cho sinh viên
Các chương trình nghệ thuật lớn dành cho sinh viên thường là một
chuỗi các sự kiện, hoạt động khác nhau. Vì vậy, thơng qua các hoạt động
nghệ thuật này, sinh viên sẽ củng cố, bổ sung những kỹ năng cần thiết cho
cuộc sống và nghề nghiệp tương lai. Ví dụ: nhóm sinh viên tham gia vào cơng
tác tổ chức chương trình thì sẽ có cơ hội rèn luyện các kỹ năng tổ chức, quản
lý các hoạt động tập thể, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng
quản lý thời gian và tiến độ thực hiện công việc, kỹ năng huy động tài trợ, kỹ
năng truyền thơng, kỹ năng xử lý tình huống,…
Thực tế cho thấy, những sinh viên tích cực tham gia các hoạt động nghệ
thuật của Nhà trường thường trưởng thành và thích nghi nhanh môi trường
sống, học tập và công việc nhanh hơn, dễ dàng hơn. Một phần của kết quả
tích cực đó là nhờ các bạn đã tích lũy được nhiều kỹ năng mềm khi tham gia
các hoạt động nghệ thuật tại trường.
Vì thế, có thể xem các hoạt động nghệ thuật là một trong các phương
thức giáo dục ngoại khóa hữu hiệu dành cho sinh viên. Phương thức này vừa


23


nhẹ nhàng, vừa phù hợp với đặc điểm tâm lý của tuổi trẻ, đồng thời cũng là một
hình thức sử dụng thời gian rỗi của sinh viên một cách hữu ích.
- Tạo không gian vui chơi, giải trí lành mạnh cho sinh viên
Các trường đại học, cao đẳng có chức năng, nhiệm vụ chính là đào tạo
và nghiên cứu khoa học. Cả hai hoạt động này đều thiên về lao động trí óc.
Những người tham gia vào mơi trường này thường có tầng suất lao động và
hoạt động ở cường độ cao. Điều đó dễ dẫn đến trạng thái tinh thần căng thẳng
của cả người học và người dạy. Chính vì lẽ đó, việc tổ chức các hoạt động
nghệ thuật ngồi giờ học trở nên vơ cùng cần thiết. Nó tạo ra những khoảng
không gian, thời gian vui chơi giải trí lành mạnh, tích cực, thơng qua đó giúp
cho sinh viên có cơ hội giải tỏa những căng thẳng tinh thần do việc học mang
lại.
Thực tế dường như cho thấy, những trường Đại học, Cao đẳng càng
lớn, lượng sinh viên càng đông, cường độ học tập và nghiên cứu càng cao thì
càng có nhiều chương trình nghệ thuật được tổ chức dành cho sinh viên. Có
thể kể đến như Đại học Quốc gia Tp.Hồ Chí Minh, Đại học Tơn Đức Thắng,
Đại học Kỹ thuật công nghệ (Hutech), Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp.Hồ Chí
Minh, Đại học Sài Gịn (SGU),… Khi tham gia những sân chơi nghệ thuật
này, sinh viên được thoải mái thể hiện đam mê, sở thích nghệ thuật của mình.
Đó có thể là đam mê ca hát, sở thích thuyết trình, thiết kế thời trang,…
1.1.3. Đặc điểm hoạt động nghệ thuật và nội dung đánh giá công tác
tổ chức hoạt động nghệ thuật cho sinh viên
- Đặc điểm hoạt động nghệ thuật
* Chủ thể tổ chức chương trình
Thực tế cho thấy, trong các trường Đại học, hoạt động nghệ thuật của
sinh viên do nhiều đơn vị khác nhau trong trường tổ chức. Cụ thể:
+ Đoàn Thanh niên;



×