Tải bản đầy đủ (.docx) (42 trang)

Tiểu luận môn lịch sử thế giới chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 1918)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (229.65 KB, 42 trang )

TIỂU LUẬN
MÔN: LỊCH SỬ THẾ GIỚI

ĐỀ TÀI:

CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (19141918)


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
CHƯƠNG I. CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1914-1918).............2
1.1. Đặc trưng của chủ nghĩa đế quốc..............................................................2
1.2. Sơ lược về chiến tranh thế giới thứ nhất....................................................2
CHƯƠNG II. NGUYÊN NHÂN VÀ TÍNH CHẤT CỦA CHIẾN TRANH
THẾ GIỚI THỨ NHẤT......................................................................................5
2.1. Nguyên nhân dẫn tới bùng nổ chiến tranh.................................................5
2.2. Quy mô và tính chất của chiến tranh...........................................................7
CHƯƠNG III. DIỄN BIẾN CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT.........9
3.1. Giai đoạn thứ nhất (1914 - 1916).................................................................9
3.2. Giai đoạn thứ hai (1917 - 1918).................................................................17
CHƯƠNG IV. HẬU QUẢ VÀ BÀI HỌC CỦA CHIẾN TRANH THẾ
GIỚI THỨ NHẤT..............................................................................................22
4.1. Hậu quả sau chiến tranh.............................................................................22
4.2. Bài học và kinh nghiệm sau chiến tranh....................................................24
CHƯƠNG V. THIẾT LẬP TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI THEO HỆ
THỐNG VÉC XAI - OA SINH TƠN...............................................................26
5.1. Bối cảnh và sự thiết lập..............................................................................26
5.2. Hệ thống hòa ước Véc xai đối với các nước bại trận.................................28
KẾT LUẬN.........................................................................................................33
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................37



MỞ ĐẦU
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn
chủ nghĩa đế quốc, do nhu cầu về thị trường thuộc địa và bắt nguồn từ mâu
thuẫn lợi ích giữa các đế quốc lớn ở châu Âu dẫn đến năm 1914, thế giới nổ
ra một cuộc chiến tranh phi nghĩa bao trùm khắp châu Âu và ảnh hưởng ra
toàn thế giới.
Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) là một trong những cuộc tàn
sát kinh hồng nhất mà thế giới từng chứng kiến, nó đã để lại hậu quả nặng nề
cho các nước tham chiến và các nước thuộc địa bị áp bức và bóc lột. Thế
chiến thứ nhất nổ ra làm cho với hơn 16 triệu quân nhân và người dân thiệt
mạng. Cùng với đó là hàng chục nghìn thành phố bị phá hủy, nó đã làm thay
đổi hồn tồn bản đồ chính trị thế giới dẫn đến sự sụp đổ của các đế quốc như
Áo-Hung, Ottoman và Nga, vốn đã tồn tại trong nhiều thế kỷ. Sau khi Thế
chiến thứ nhất kết thúc, không một quốc gia nào thực sự chiến thắng sau trận
chiến, tất cả đều phải chịu hậu quả nặng nề kéo theo tình trạng tình trạng hỗn
loạn chính trị và biến động xã hội vẫn tiếp diễn, dẫn đến một cuộc xung đột
tồn cầu khác sau này.
Mục đích của bài tiểu luận là tìm hiểu sâu về nguyên nhân và diễn biến
của Thế chiến lần thứ nhất. Từ tính chất, quy mô và hậu quả để lại sau chiến
tranh thế giới thứ nhất – một cuộc chiến tranh phi nghĩa, chúng ta có thể có
cái nhìn khách quan và tổng quát hơn về thế chiến thứ nhất. Đồng thời rút ra
được bài học chính trị, kinh nghiệm quý giá sau cuộc đại chiến thế giới lần
thứ nhất cho công cuộc giữ vững chủ quyền, bảo vệ Tổ Quốc ngày nay.
Bài làm được nghiên cứu và khai thác dựa trên các tài liệu lịch sử, sách
báo có nguồn gốc chính thống cùng với giáo trình mơn lịch sử thế giới của
khoa Lịch Sử Đảng – chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Kết

1



hợp với phương pháp nghiên cứu tài liệu, thu thập tài liệu, phân tích và sắp
xếp.

CHƯƠNG I. CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (19141918).
1.1.

Đặc trưng của chủ nghĩa đế quốc.

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, do sự phát triển của lực lượng sản xuất,
quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa cso sự cải biến: Chủ nghĩa đế quốc giai
đoạn phát triển cao nhất và cuối cùng của chủ nghĩa tư bản ra đời. Sự ra đời
của nó là nguyên nhân kinh tế của sự xuất hiện chủ nghĩa cơ hội dưới mọi
màu sắc. Những thứ lý thuyết đủ loại đó, ngay từ đầu, đã ra sức bào chữa, tô
vẽ cho chủ nghĩa đế quốc, lớn tiếng ủng hộ những chính sách phản động của
nó. Những nọc độc của nó khơng phải khơng ảnh hưởng đến phong trào cách
mạng có thể làm lạc hướng đấu tranh của giai cấp cơng nhân và các dân tộc bị
áp bức bóc lột chống chủ nghĩa đế quốc. Thực tế lịch sử đó địi hỏi phải có sự
phân tích hết sức khoa học về chủ nghĩa đế quốc để từ đó đề ra chiến lược,
sách lược cách mạng đúng đắn. Là nhà hoạt động thực tiển kiệt xuất và là nhà
lý luận thiên tài, V.I.Lênin đã dầy công nghiên cứu, sáng tạo nên học thuyết
về chủ nghĩa đế quốc, về cách mạng vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc,
đáp ứng yêu cầu nóng bỏng của thời đại.Theo Lênin, Chủ nghĩa đế quốc là
giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản. Giai đoạn này bao gồm 5 đặc điểm
kinh tế cơ bản: Tích tụ sản xuất và sự hình thành các tổ chức độc quyền (Tơ
rớt, Cácten, Xanhđica, Côngxoocxiom), sự kết hợp giữa tư bản công nghiệp
và tư bản ngân hàng thành tư bản tài chính, xuất khẩu tư bản (trực tiếp và gián
tiếp), sự hình thành các tổ chức độc quyền quốc tế, sự xâm lược và phân chia
thuộc địa. Chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn phát triển tất yếu của chủ nghĩa tư
bản. Trong tình hình mới, chủ nghĩa tư bản không chỉ thể hiện ở dạng chủ

nghĩa đế quốc mà còn thể hiện ở dạng chủ nghĩa tư bản hiện đại.
2


1.2.

Sơ lược về chiến tranh thế giới thứ nhất.

Thế chiến thứ nhất hay Đệ nhất thế chiến, diễn ra từ tháng 8 năm 1914
đến tháng 11 năm 1918, là một trong những cuộc tàn sát kinh hoàng nhất mà
thế giới từng chứng kiến, với hơn 16 triệu quân nhân và người dân thiệt mạng.
Đây là cuộc chiến tranh quy mô lớn toàn cầu đầu tiên trong lịch sử nhân loại,
về quy mơ và sự khốc liệt nó chỉ đứng sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhằm
giải quyết mâu thuẫn giữa các nước đế quốc. Cuộc chiến tranh để lại nhiều
hậu quả lâu dài, hàng nghìn thành phố và làng mạc, cầu cống, đường sá, nhà
máy bị phá hủy. Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng đã làm suy yếu chủ nghĩa
tư bản, tạo điều kiện cho cuộc cách mạng vô sản bùng nổ và thắng lợi ở khâu
yếu nhất của hệ thống đế quốc. Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 - mở
ra một kỉ nguyên mới trong lịch sử.
Cuộc chiến tranh này là một trong những sự kiện lịch sử có ảnh hưởng
lớn nhất trong lịch sử thế giới. Đây là cuộc chiến tranh có chiến trường chính
bao trùm khắp châu Âu và ảnh hưởng ra toàn thế giới, lôi kéo tất cả các
cường quốc châu Âu và Bắc Mỹ vào vòng chiến với số người chết trên 20
triệu người với sức tàn phá và ảnh hưởng về vật chất tinh thần cho nhân loại
rất sâu sắc và lâu dài.
Đồng thời chiến tranh thế giới thứ nhất làm thay đổi hồn tồn bản đồ
chính trị thế giới, dẫn đến sự sụp đổ 4 đế chế hùng mạnh của châu Âu và thế
giới lúc đó là Đế quốc Nga, Đế chế Đức, Đế quốc Áo-Hung và Đế quốc
Ottoman, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của châu Âu và thế giới, vốn đã tồn tại
trong nhiều thế kỷ và hình thành các quốc gia mới thay thế. Sau khi Thế chiến

thứ nhất kết thúc, tình trạng hỗn loạn chính trị và biến động xã hội vẫn tiếp
diễn, dẫn đến một cuộc xung đột tồn cầu khác, thậm chí cịn lớn và nghiêm
trọng hơn trong 2 thập kỷ sau đó.

3


Chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra giữa 2 khối liên minh quân sự được
hình thành sau thế kỷ XIX, một bên là liên minh ba đế quốc Anh - Pháp Nga, hay được gọi là khối Hiệp ước Entente ba bên (trong tiếng Pháp entente
có nghĩa là sự đồng thuận, hiệp ước) sau này còn thêm Hoa Kỳ và một số
nước khác tham gia; bên kia là phe Liên minh Trung tâm (Central Powers,
hay còn gọi là Liên minh 3 nước) gồm Đức, Áo – Hung và Ottoman.
Tuy nhiên sau đó Ý chiến đấu bên phía Entente ba bên nhưng Liên
minh Trung tâm lại có thêm đồng minh là Đế quốc Ottoman và Bulgaria.
Trong khi vai trò của các đồng minh chính trong Entente ba bên khá đồng đều
trong việc gánh vác sức nặng chiến tranh thì ở bên phía Liên minh Trung tâm
vai trị các đồng minh chính là mờ nhạt hơn, chỉ Đức có vai trị trụ cột vì thực
tế mâu thuẫn chủ yếu gây nên chiến tranh là gắn liền với tham vọng chính trị
kinh tế của đế quốc Đức lúc đó. Lúc bấy giờ, hai cường quốc quân sự hùng
mạnh nhất của châu Âu là Đức và Anh.
Sự kiện gây ra Thế chiến thứ nhất là vụ ám sát người thừa kế của đế
quốc Áo-Hung, Archduke Franz Ferdinand, vào năm 1914. Tuy nhiên, các
nhà sử học nói rằng, Chiến tranh thế giới thứ nhất là đỉnh điểm của một chuỗi
các sự kiện, kéo dài từ cuối những năm 1800. Các sự kiện dẫn đến chiến tranh
bao gồm rất nhiều tính tốn và hành động sai lầm dẫn đến những hậu quả
không lường trước được.

4



CHƯƠNG II. NGUYÊN NHÂN VÀ TÍNH CHẤT CỦA
CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT
2.1.

Nguyên nhân dẫn tới bùng nổ chiến tranh.

Nguyên nhân sâu xa của chiến tranh: là do quy luật phát triển khơng
đều về kinh tế và chính trị giữa các nước đế quốc. Từ đó, mẫu thuẫn giữa các
nước đế quốc trong tranh giành thuộc địa và ảnh hưởng quốc tế ngày càng
gay gẳt.
Trong những năm cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, các nước đế quốc
đẩy mạnh cơng cuộc xâm lược thuộc địa, hồn thành việc phân chia thế giới.
Việc thay đổi tương quan lực lượng trong hàng ngũ các nước đế quốc khiến
cho mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc trở nên cực kì sâu sắc, nổi bật là mâu
thuẫn giữa các nước đế quốc “già” Anh, Pháp có nền kinh tế kém phát triển
nhưng có nhiều thuộc địa với đế quốc “trẻ” có nền kinh tế phát triển nhanh
nhưng lại có ít thuộc địa như Đức, Mỹ, Nhật Bản... Xu hướng chạy đua vũ
trang chuẩn bị chiến tranh chia lại thuộc địa lan rộng ở nhiều nước đế quốc.
Năm 1913, tổng diện tích các thuộc địa của Đức chỉ có 2,9 triệu km2, trong
khi Anh có tới 34 triệu km2, Pháp có gần 13 triệu km2. Do quy mô thuộc địa
không tương xứng với tiềm lực cơng nghiệp (ít thuộc địa đồng nghĩa hạn chế
thị trường tiêu thụ, tài nguyên hạn chế) nên Đức trở thành quốc gia hiếu chiến
nhất trong thời kì này. Nhưng tham vọng của Đức đã gặp phải cản trở của các
đế quốc “già” Anh, Pháp. Về cơ bản các quốc gia này không muốn “chia
phần” cho những thế lực mới nổi như Đức đồng thời muốn duy trì quyền lực,
quyền thống trị của mình đối với thuộc địa đang chiếm giữ.
Để thực hiện tham vọng bá chủ thế giới, các cường quốc tư bản châu
Âu đã kí kết đồng minh, hình thành hai khối qn sự, chính trị đối nghịch
nhau, đẩy mạnh việc chạy đua vũ trang, chuẩn bị cho chiến tranh. Do đó,
quan hệ quốc tế ln ln ở trong tình trạng căng thẳng; Đức tìm cách cướp


5


những thuộc địa giàu có của Anh, Pháp, nơ dịch phần lớn các nước châu Âu
và Trung Cận Đông; Áo - Hung muốn chiếm toàn bộ bán đảo Bancăng; Anh
duy trì, mở rộng hệ thống thuộc địa của mình, làm suy yếu Đức; Nga gạt bỏ
ảnh hưởng của Đức và Áo - Hung ra khỏi Bancăng và Thổ Nhĩ Kì, mở đường
ra Địa Trung Hải; Pháp muốn lấy lại hai tỉnh Andat và Lơren: Nhật và Mĩ tìm
cách kiếm lợi khi chiến tranh xảy ra.
Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Châu Âu cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
làm cho mẫu thuẫn giữa các nước đế quốc càng thêm gay gắt. Các cuộc chiến
tranh cục bộ giữa Mỹ và Tây Ban Nha (1898), giữa Anh và bôơ (1899-1902),
giữa Nga và Nhật Bản (1904-1905)… đã châm ngòi, đẩy nguy cơ chiến tranh
thế giới đến gần.
Nguyên nhân trực tiếp của chiến tranh thế giới thứ nhất được bắt đầu
từ sự kiện xảy ra tại bán đảo Bancăng. Ngày 28 tháng 6 năm 1914, đế quốc
Áo - Hung tổ chức một cuộc tập trận tại Xarajevô (Bôxnia - Hecxêgôvina).
Vợ chồng Thái tử kế vị Áo - Hung, Đại công tước Phranxơ Phécđinăng, cũng
tới tham dự. Đây là sự khiêu khích của Áo - Hung đối với Xecbia, vì ngày 28
tháng 6 năm 1389 là ngày Xecbia bị Thổ Nhĩ Kì đánh bại tại Kôsôvô. Trên
đường trở về nhà, vợ chồng Thái tử Phécđinăng bị một sinh viên cực hữu
người Xecbia ám sát.
Các phần tử quân phiệt Đức và Áo - Hung nhanh chóng nắm lấy cơ hội
mà chúng chờ đợi bấy lâu để gây chiến. Áo - Hung muốn đánh Xecbia, loại
bỏ ảnh hưởng của Nga tại Bancăng, nhưng sợ đụng chạm đến Nga và cả phe
Hiệp ước nên tranh thủ sự ủng hộ của Đức.
Ngày 23 tháng 7 năm 1914, chính phủ Áo - Hung gửi tối hậu thư cho
Xecbia, hạn trong 48 giờ phải trả lời. Do Nga chưa sẵn sàng cho cuộc chiến
nên khuyên Xecbia hãy nhân nhượng. Chính phủ Xecbia tuy chấp nhận phần

lớn các yêu sách mà Áo - Hung đòi hỏi (cấm mọi sự tuyên truyền chống Áo,
6


trừng phạt những người bài xích Áo), song cương quyết khước từ việc để cho
quan chức Áo điều tra hung thủ, vì cho rằng việc đó sẽ làm tổn hại chủ quyền
quốc gia của Xecbia.
Áo - Hung tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao, và ngày 28 tháng 7 ra
lời tuyên chiến với Xecbia. Cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ.
2.2. Quy mơ và tính chất của chiến tranh.
Nga ủng hộ Xecbia, ra lệnh động viên. Đức tuyên chiến với Nga ngày
1/8/1914, rồi với Pháp ngày 3/8. Ngày 4 tháng 8, Anh tuyên chiến với Đức;
ngày 6/8, Áo - Hung tuyên chiến với Nga.
Chỉ một thời gian ngắn, chiến tranh đã vượt ra khỏi phạm vi châu Âu,
lan rộng ra khắp thế giới. Trong tiến trình chiến tranh, phe Đức - Áo - Hung
cịn lơi kéo thêm Thổ Nhĩ Kì (29/10/ 1914), Bungari (14/10/1915), cịn về
phía phe Hiệp ước có thêm Nhật Bản (23/8/1914), Italia (13/5/1915). Rumani
(27/8/1916), Mĩ (6/4/1917). Có đến 33 nước và 150 triệu người bị lôi cuốn
vào cuộc chiến tranh. Tuy nhiên, vận mệnh của cuộc chiến lại được quyết
định ở chiến trường châu Âu.
Chiến tranh thế giới thứ nhất là cuộc chiến tranh có tính chất đế quốc.
Bên cạnh mục tiêu xâm chiếm đất đai và chinh phục các dân tộc khác, tiêu
diệt các nước cạnh tranh với mình, bọn đế quốc cịn muốn lợi dụng chiến
tranh để đàn áp phong trào cách mạng của giai cấp vô sản trong nước và
phong trào giải phóng dân tộc đang phát triển mạnh ở các nước thuộc địa.
Trong số các nước tham chiến, chỉ có Xecbia là tiến hành một cuộc chiến
tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ nền độc lập của mình.
Về khía cạnh chính trị – quân sự đây là lần đầu tiên thế giới biết đến 1
kiểu chiến tranh tổng lực, chiến tranh tồn diện. Chiến tranh diễn ra khơng
những ác liệt trên bộ, trên không, trên biển mà các bên thực hiện bao vây bóp


7


nghẹt kinh tế của nhau, đánh vào ý chí và bản lĩnh chịu đựng của dân tộc, thử
thách tiềm lực kinh tế và sức mạnh tinh thần của đối phương.
Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra theo một kiểu chiến lược chiến
tranh hiện đại. Trước đây châu Âu đã từng có các cuộc chiến theo liên minh
nhiều nước như Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, Chiến tranh Kế vị Áo, Chiến
tranh Bảy năm, Chiến tranh Napoleon, v.v... Nhưng những cuộc chiến đó có
kết quả chiến tranh phụ thuộc vào 1 hoặc vài trận đánh lớn có tính quyết định
diễn ra trong 1-2 ngày tại 1 điểm quyết chiến hoặc một vài chiến dịch trong
vài tuần hoặc một vài tháng, các hoạt động chiến sự xen kẽ với hoà bình. Kết
cục chiến tranh khơng triệt để: thua trận thì ký hoà ước nhượng bộ, chờ vài
năm hồi phục tiềm lực rồi lại tham chiến tiếp (điển hình như các cuộc chiến
thời Napoléon I). Các cuộc chiến đó phụ thuộc rất nhiều, nếu khơng nói là
phần lớn, vào tài thao lược của nhà cầm quân. Còn từ nay, kể từ Thế chiến I,
lần đầu tiên nhân loại chứng kiến một kiểu chiến tranh lâu dài, quy mô, huỷ
diệt. Chiến sự dàn trải trên khắp chiến trường, khắp cả châu lục. Vai trị cá
nhân của thống sối trong chiến tranh bị hạn chế mà tiềm lực kinh tế và ý chí,
sức mạnh tinh thần của quốc gia nổi lên là yếu tố quyết định.
Trên chiến trường về khía cạnh thuần tuý quân sự đây là một cuộc
chiến tranh đã có các đặc trưng hiện đại: quân đội là quân đội đông đảo. Lần
đầu tiên trên thế giới chiến tranh theo chiến thuật đội hình tản mác khơng cịn
các khối qn lực xếp hàng tấn cơng và phịng thủ theo đội hình ô vuông dày
đặc rất đặc trưng của mọi cuộc chiến tranh trước đây. Cuộc chiến tranh này
đặc trưng áp đảo bởi hình thức chiến tranh trận địa mà điển hình nhất là hệ
thống chiến hào trở thành phương tiện phòng thủ chính yếu, thành qch pháo
đài đã khơng cịn vai trò phòng ngự quan trọng nữa. Các bên phòng thủ trong
chiến hào với hệ thống súng máy, dây thép gai, bãi mìn và trận địa pháo dày

đặc với chiến tuyến ngăn đơi giữa 2 phía đối địch. Chiến tranh trận địa hay
chiến tranh chiến hào ở thời kỳ đó thường có tính chất là rất khó tấn cơng và
8


rất dễ phịng thủ nên chiến tranh có diễn biến chậm chạp ít năng động, ít có
các chiến thắng qn sự dứt khoát. Kết cục chiến tranh phụ thuộc vào sự chịu
đựng dẻo dai của các bên đối kháng đối với gánh nặng chiến tranh tiêu hao
tổng lực.

9


CHƯƠNG III. DIỄN BIẾN CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ
NHẤT
Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra trong 4 năm và 4 tháng, chia làm
hai giai đoạn lớn: Giai đoạn thứ nhất (tháng 8 năm 1914 - 1916), với ưu thế
thuộc về phe Đức - Áo - Hung; Giai đoạn thứ hai (1917 - tháng 11 năm 1918)
với ưu thế chuyển sang phe Hiệp ước. Thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng
Mười Nga và sự phát triển của phong trào cách mạng ở trong nưóc đã buộc
các nước đế quốc phải nhanh chóng chấm dứt chiến tranh để có thể đối phó
với cách mạng.
Ngồi ra chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra chủ yếu trên 3 chiến
trường chính: Mặt trận phía Tây, Mặt trận phía Đơng và Mặt trận phía Nam.
Trong đó mặt trận phía Tây giữa liên qn Pháp – Anh chống lại qn Đức có
vai trị chính yếu quyết định số phận chiến tranh vì ở đây tập trung binh lực
lớn nhất có chất lượng cao nhất của cả hai phía. Mặt trận phía Đơng là chiến
trường giữa quân Nga chống Đức và Áo – Hung, mặt trận này có quy mơ và
tầm quan trọng khơng bằng mặt trận phía Tây và quân Nga thường thất bại
trước quân Đức nhưng luôn làm quân đội Đức, Áo - Hung phải chiến đấu trên

hai mặt trận không thể huy động tổng lực lực lượng khả dĩ cho 1 chiến thắng
quyết định trong chiến tranh. Mặt trận phía Nam có tầm quan trọng thấp chủ
yếu với 1 lực lượng quân đội nhỏ bé và chỉ có ý nghĩa khu vực. Mặt trận phía
Nam lại phân nhỏ thành các chiến trường: Mặt trận Ý-Áo – đối chọi của quân
Ý – Áo tại vùng biên giới hai nước; chiến trường Balkan: liên quân Đức, Áo –
Hung, Bulgaria chống Serbia và về sau có trợ giúp của Anh, Pháp cho Serbia;
chiến trường Trung Cận Đông: Liên quân Anh, Pháp chủ yếu là Anh chống
Ottoman; chiến trường Kavkaz: Nga chống Ottoman.
3.1. Giai đoạn thứ nhất (1914 - 1916).
3.1.1. Chiến sự năm 1914.

10


Đức phải chiến đấu trên 2 mặt trận phía Tây và phía Đơng. Ngày 1
tháng 8 năm 1914, Đức tun chiến với Nga, ngày 3 tháng 8 với Pháp; ngày 4
tháng 8 Anh tuyên chiến với Đức và đổ bộ vào lục địa. Chiến tranh đế quốc
đã bùng nổ và nhanh chóng lan rộng thành chiến tranh thế giới.
Trong giai đoạn đầu tiên, cuộc chiến tranh đã diễn ra trên 2 mặt trận
chính (ở phía Tây, quân Đức giao tranh với qn Anh, Pháp, Bỉ; ở phía Đơng,
qn Đức, Áo - Hung đối đầu với quân Nga) và một mặt trận phụ ở Bancăng,
nơi quân Xecbia chống lại sự xâm lược của quân Áo - Hung.
Ngày 2 tháng 8 năm 1914, quân Đức chiếm Luxembourg và 2 ngày sau
tràn vào Bỉ, vi phạm tình trạng trung lập của nước này để lấy đường tiến vào
miền Bắc nước Pháp. Kế hoạch của bộ tổng chỉ huy Đức tính tốn rằng: cuộc
tấn công bất ngờ qua Bỉ đánh thẳng vào Bắc nước Pháp, là khu vực ít bố
phịng, sẽ nhanh chóng loại nước này ra khỏi chiến tranh trong vòng 40 ngày,
trước khi quân đội Nga kịp tổng động viên và tập hợp; sau khi đánh tan quân
Pháp thì Đức sẽ điều qn quay sang mặt trận phía Đơng giải quyết qn Nga
và kết thúc chiến tranh.

Khi quân Đức xâm chiếm Bỉ, vì lo ngại sự kháng cự của người Bỉ, đặc
biệt là từ các tay súng bắn tỉa, quân Đức ngay từ ngày đầu tiên ở Bỉ đã mạnh
mẽ chống lại người dân bản địa. Ngay từ ngày 05/08, người Đức khơng chỉ
bắt đầu bắn giết thường dân mà cịn hành quyết có chủ ý các linh mục người
Bỉ, những người mà Bộ Tuyên truyền Đức khẳng định là đã khuyến khích
hoạt động bắn tỉa. Tư lệnh Đức Helmuth von Moltke viết cho người đồng cấp
ở Áo của ông, Conrad von Hotzendorff, vào ngày 5 tháng 8: “Quá trình tiến
quân của chúng ta ở Bỉ chắc chắn là rất tàn bạo. Nhưng chúng ta đang chiến
đấu cho sinh mạng của mình và tất cả những ai cản đường phải chịu hậu quả.”
Tổng cộng trong gia đoạn tiến công đầu tiên, quân Đức đã giết 5.521 thường

11


dân ở Bỉ, cũng vì thế quân Đức bị người Bỉ thù hận và cịn làm hại hình ảnh
nước Đức trong con mắt của nhiều nhà quan sát nước ngoài.
Đức chủ trương tiến hành chiến tranh với phương châm là “đánh
nhanh, thắng nhanh”. Do phải đối phó với hai mặt trận cùng một lúc nên Đức
tính tốn rằng cần phải phá từng mặt trận; trước tiên ở phía Tây, vì Nga cịn
động viên chậm chạp và khó khăn. Pháp là nước có thể bắt đầu cuộc chiến
nhanh hơn nên nếu đánh bại được Pháp, sẽ ngăn cản được sự can thiệp của
Anh.
Bộ tổng tham mưu của Đức dự tính sẽ cố gắng đánh bại Pháp trong vòng
một tháng hay một tháng rưỡi trước khi Nga có đủ thời gian động viên và tập
trung quân đến biên giới; tiếp theo đó sẽ quay lại hạ xong Nga trong vòng từ 3
đến 4 tháng.
Dự tính như thế nên Đức tập trung phần lớn lực lượng của mình ở phía
Tây để đánh Pháp, cịn phó mặc cho qn Áo - Hung đương đầu với qn
Nga ở phía đơng (Đức dùng tới 70 sư đoàn đánh Pháp và chỉ để 14 sư đoàn
sang hỗ trợ cho Áo - Hung). Ở phía đơng nam thì quân Áo – Hung lại để quân

Nga đánh tan ở trận Lemberg (1914). Quân đội Áo - Hung thất bại nặng nề
với 450.000 thương vong (100.000 chết, 220.000 bị thương và 130.000 bị bắt
làm tù binh), trong khi Nga bị tổn thất khoảng 240.000 người (bao gồm
40.000 bị bắt làm tù binh). Một số người Tiệp Khắc và người Slav không chịu
chiến đấu cho quân đội Áo-Hung nên đã ra đầu hàng hàng loạt. Kết thúc năm
1914 tại chiến trường Đơng Âu, qn Nga chiếm lĩnh tồn bộ vùng phía đông
của Galicia chạy dài tới chân núi Carpathian. Người Nga suýt nữa đã tiến
được đến bình nguyên Hungary vào cuối tháng 9 nhưng họ đã dừng tiến quân
vì hậu cần gặp khó khăn và bị tổn thất nặng.
Thực hiện chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh’’, Đức bất chấp cả luật
pháp quốc tế, đưa quân qua Bỉ (là nước trung lập) để đánh Pháp cho nhanh.
Quân chủ lực Đức tiến như vũ bão, uy hiếp thủ đô Pari của Pháp, buộc chính
12


phủ Pháp phải dời đi Bcđơ. Tuy nhiên, Đức đã không thể giành được thắng
lợi cuối cùng do việc quân Nga đã hành động mau lẹ ở mặt trận phía Đông,
cứu nguy cho nước Pháp qua được cơn hiểm nghèo. Quân đội Nga tổng tấn
công trên 2 hướng: Galicia đối đầu với Áo-Hung và đặc biệt là tấn công rất
nhanh, mạnh vào Đông Phổ thuộc Đức. Ngay từ cuối tháng 8 năm 1914, mặc
dù chưa động viên quân đội xong nhưng Nga vẫn quyết định đánh vào Đông
Phổ. buộc Đức phải điều bớt 25 sư đồn ở phía Tây sang phía Đơng. Như vậy,
sức ép đối với Pháp đã bị giảm sút.
Mùa thu năm 1914, đồng thời xảy ra hai trận chiến lớn: một trận giữa
quân Đức với liên quân Anh - Pháp trên sông Macnơ (Marne), và một trận
giữa quan Nga với quân Đức ở vùng hồ Maxuri (Đông Phổ). Trong trận sông
Marne lần thứ nhất vào tháng 9 năm 1914 quân Đức đánh bất phân thắng bại
với liên quân Pháp - Anh. Quân Đức phải lui binh về cố thủ, quân Pháp quá
kiệt quệ nên không thể truy kích, nên cả hai đồn qn khơng bên nào có thể
giành thế thượng phong. Chiến tranh trên mặt trận phía Tây dần đi vào hình

thức chiến tranh chiến hào, và tình hình cứ thế trong suốt 4 năm chiến tranh.
Từ ngày 6 đến 12 tháng 9 năm 1914, cuộc đối đầu giữa liên quân Anh Pháp với quân Đức diễn ra trên một trận tuyến kéo dài 300 km trên sông
Macnơ (từ Pari đến Vecđoong) với tổng số quân tham chiến của cả hai bên
lên tới gần 2 triệu người. Sự thắng lợi của liên quân Anh - Pháp không chỉ
giải cứu cho Pari mà còn buộc quân Đức phải lui về sông Enbơ.
Trong ba tháng cuối năm 1914, mặt trận lan dần ra tới biển Bắc. Tuy
Đức chiếm được Bỉ và 10 quận giàu có của Pháp, nhưng lại khơng thành cơng
trong việc chiếm hải cảng có vị trí chiến lược là Đoongkéc.
Vào những ngày cuối năm 1914, mặt trận phía Tây dừng lại tại vùng
Bắc Pháp, từ cuộc chiến tranh vận động hai bên tham chiến chuyển sang
chiến tranh trận địa (đào hào, xây dựng công sự kiên cố, cầm cự nhau), trên
một chiến tuyến dài 780 km, suốt từ biển Bắc đến Thụy Sĩ từ đây, chiến tranh
13


mang tính chất tiêu hao lực lượng, nó sẽ kéo dài, và bên nào có tiềm lực mạnh
bên đó sẽ thắng. Nhờ hệ thống thuộc địa rộng lớn và giàu có, Anh và Pháp sẽ
dần dần giành được ưu thế trên mặt trận. Mặt khác, sự thất bại thảm hại trong
trận thuỷ chiến tại đảo Hengôlan (biển Bắc) đã buộc hạm đội Đức phải rút lui
về căn cứ, đẩy nước Đức vào tình trạng bị phong tỏa mặt biển, cơ lập với thế
giới.
Tại mặt trận phía Đơng, sự tấn cơng sớm và liên tục của quân Nga đã
làm đảo lộn kế hoạch tác chiến của quân Đức. Đến đầu tháng 10 năm 1914,
Đức mới có thể đẩy được quân Nga ra khỏi Đông Phổ.
Đầu tháng 9 năm 1914, quân Nga đánh mạnh quân Áo - Hung giành
được chiến thắng ở Lembec, chiếm phần lớn đất Galixia và Bucôvina, tiến sát
đến dãy núi Carpat, uy hiếp Bắc Hunggari và Slêdir. (Trung Đức). Tình hình
đó buộc Đức phải điều qn đến cứu viện, còn Áo cũng phải chuyển bớt quân
từ Bancăng sang. Tận dụng cơ hội này, quân Xecbia dốc sức đánh quân Áo và
chiếm lại thủ đô Bêôgrat.

Cuối năm 1914, hai bên tham chiến ở mặt trận phía Đơng chuyển sang
thế giằng co trên các chiến hào.
Như vậy, đến hết năm 1914, tuy Đức chiếm được số lớn đất đai, song
kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” đã bị phá sản, buộc phải đối phó với hai
mặt trận cùng một lúc trong những điều kiện ngày càng bất lợi.
3.1.2. Chiến sự năm 1915: Đức chủ động tấn cơng phía Đơng (Nga).
Nước nước Đức quyết định tập trung lực lượng tấn công để loại Nga
ra khỏi vịng chiến, xố bỏ mặt trận phía Đơng. Qn Đức trên mặt trận phía
Tây chủ động chuyển sang phòng ngự trước liên quân Anh, Pháp và từ tháng
4 đến tháng 8 năm 1915 để dồn binh lực sang mặt trận phía Đơng, đánh địn
tiêu diệt đối với quân đội Nga.

14


Sang năm 1915, Áo - Hung đang đứng trước nguy cơ tan rã sau những
thất bại trước quân Nga và Xecbia, Đức quyết định chuyển trọng tâm chiến
tranh sang mặt trận phía Đơng, hi vọng sẽ đánh bại Nga, ngăn cản Nga hỗ trợ
cho các nước đồng minh phương Tây, buộc Nga phải kí hồ ước riêng rẽ. Mặt
khác Đức còn muốn khống chế vùng Bancăng, nối liền con đường bộ từ Đức,
Áo - Hung sang Thổ Nhĩ Kì.
Sau hơn nửa năm chiến tranh, điểm yếu của Nga lộ rõ: Quân Nga
không chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc chiến tiêu hao lâu dài. Nền cơng nghiệp
Nga khi đó có quy mô nhỏ hơn so với Anh, Pháp và Đức, do vậy sản xuất vũ
khí đạn dược khơng theo kịp nhu cầu của chiến tranh. Quân Nga lâm vào
cảnh thiếu súng đạn (Tháng 12 năm 1914, quân đội Nga có 6.553.000 quân
nhưng chỉ có 4.652.000 khẩu súng trường, đến cuối cuộc chiến thì quân Nga
phải sử dụng tạp nham 10 loại súng trường nhập khẩu khác nhau, mỗi thứ bắn
một loại đạn, trong khi đạn pháo thì liên tục thiếu hụt). Năm 1914. cả qn
đội Nga chỉ có khơng hơn 679 ô tô vận tải và hai xe ô-tô


15


hợp cùng với Bungari đánh Xecbia từ hai phía. Yếu thế hơn, qn đội
Xecbia bị thất bại nhanh chóng, chính phủ Xecbia phải lưu vong sang Hi Lạp.
Từ tháng 3 đến tháng 9, tại mặt trận phía Tây, liên quân Anh, Pháp đã
tố chức nhiều cuộc tấn công ở Sampanhơ và Actoa, song khơng thề chọc
thủng được phịng tuyến cố thủ của quân Đức. Quân đội Italia cũng nhiều lần
tấn công quân Áo - Hung (tháng 6 - tháng 11), nhưng khơng thu được kết quả
gì đáng kể.
Trong năm thứ hai của cuộc chiến tranh (1915), cả hai bên đều đưa ra
những phương tiện chiến tranh mới như xe tăng, sử dụng máy bay để trinh sát
và ném bom, thậm chí dùng cả hơi độc…Vì thế hai bên đều bị thiệt hại khá
nặng nề, nền kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
3.1.3. Chiến sự năm 1916: Đức chủ động tấn cơng phía Tây Âu
(Pháp).
Thất bại trong việc đánh bại hồn tồn Nga trong vịng 3 - 4 tháng như
dự tính, Đức lại đổi hướng tấn cơng sang mặt trận phía Tây trong điều kiện
khơng cịn yếu tố bất ngờ và ưu thế về lực lượng như năm 1914. Đức chọn
Vecđoong làm điểm quyết chiến chiến lược, hòng thu hút phần lớn quân đội
Pháp về đây để tiêu diệt, buộc Pháp phải cầu hoà.
Từ tháng 2 đến tháng 8, chiến sự diễn ra rất ác liệt. Toàn bộ cảnh quan
của khu vực Vecđoong trên thung lũng Mơdơ bị biến dạng bởi sự cày xới của
đạn pháo. Số đạn đã sử dụng ở đây tương đương 1.350.000 tấn thép, số người
chết và bị thương hai bên lên tới 700.000 người. Tuy vậy, Đức vẫn không hạ
được Vecđoong.
Đồng thời với cuộc đối đầu tại Vecđoong, liên quân Anh - Pháp còn
mở các cuộc tấn công lớn trên sông Xôm (tháng 7 - tháng 11). Chiến sự ở đây


16


cũng diễn ra không kém phần ác liệt so với ở Vecđoong. Số đạn pháo mà
quân Anh - Pháp sử dụng trong đầu tháng 7 đã bằng cả số đạn mà quân Nga
dùng trong hai năm 1914 - 1915. Mặc dù số thương vong của cả hai bên tham
chiến rất lớn (Anh mất 420.000 quân, Pháp - 200.000, Đức - 600.000), song
Anh - Pháp khơng phá được tuyến phịng thủ do Đức lập nên.
Ở mặt trận phía Đơng, qn Italia, Nga đã mở các cuộc tấn công quân
Đức, Áo - Hung vào các tháng: 3, 5, và 6 để phối hợp với mặt trận phía Tây.
Quân Nga tổ chức phản công quân Áo - Hung suốt từ Pinxcơ đến biên giới
Rumani, chiếm lại Galixia và Bucôvina, bắt hàng 400.000 tù binh.
Qn Nga cịn đánh qn Thổ Nhĩ Kì ở mặt trận Capcadơ, chiếm được
Acmênia.
Trong hai ngày 31 tháng 5 và 1 tháng 6, xảy ra trận thuỷ chiến eo biển
Giutlan giữa 151 chiến hạm của Anh với 101 chiến hạm Đức. Tuy Anh thiệt
hại nhiều hơn (mất 14 chiếc, Đức mất 11 chiếc), song kể từ khi đó, tàu chiến
Đức khơng cịn dám ra khỏi hải cảng của mình nữa.
Chiến cuộc năm 1916 không đem lại ưu thế cho bên nào mà vẫn duy trì
thế cầm cự. Từ cuối năm 1916 trở đi, Đức, Áo-Hung từ thế chủ động chuyển
sang phịng ngự trên cả hai mặt trận.
Có thể thấy, năm 1916 là năm chiến sự xảy ra rất khốc liệt, cả hai bên
tham chiến đều bị thiệt hại nặng nề về người và của, thế cần bằng lực lượng
được thiết lập. Cùng với thời gian, trong lúc những kho dự trữ của phe Đức bị
cạn kiệt nhanh chóng thì khả năng quốc phòng của phe Hiệp ước ngày càng
mạnh.
Trong giai đoạn thứ nhất của chiến tranh, tình trạng khốn cùng của
nhân dân lao động ngày một thêm trầm trọng; đói rét; bệnh tật và những tai
họa do chiến tranh gây ra ngày càng nhiều. Trong khi đó, bọn trùm cơng
17



nghiệp chiến tranh đã giàu lên nhanh chóng nhờ bn bán vũ khí. Mâu thuẫn
xã hội trong các nước tham chiến trở nên vô cùng gay gắt. Chỉ hơn 2 năm
chiến tranh, đã có gần 6 triệu người chết và hơn 10 triệu người bị thương.
Phong trào công nhân, phong trào quần chúng phản đối chiến tranh phát triển
nhanh chóng. Đến cuối năm 1916, tình thế cách mạng đã xuất hiện ở nhiều
nước châu Âu.
3.2. Giai đoạn thứ hai (1917 - 1918).
3.2.1. Chiến sự năm 1917.
Tháng 2-1917, nhân dân Nga dưới sự lãnh đạo của giai cấp vô sản, với
khẩu hiệu “Đả đảo chiến tranh,” Đả đảo Nga hoàng”, “Biến chiến tranh đế
quốc thành nội chiến cách mạng”, đã tiến hành cuộc cách mạng dân chủ tư
sản thành công. Chế độ Nga hồng bị lật đổ. Chính phủ lâm thời tư sản được
thành lập và tiếp tục theo đuổi chiến tranh.
Lúc này những thất bại ở các mặt trận trên mặt đất vẫn khơng hề làm
phe Đức nhụt chí, Đức lại thay đổi chiến thuật, từ tháng 2 năm 1917 bắt đầu
cuộc “chiến tranh tàu ngầm” không hạn chế (ngay cả tàu buôn của các nước
trung lập đi vào bờ biển của phe Hiệp ưóc cũng đều trở thành mục tiêu tấn
công của tàu ngầm Đức) gây cho Anh nhiều thiệt hại. Mục đích của Đức là
muốn cơ lập Anh, cắt đứt đường tiếp tế của phe Hiệp ước, buộc Anh phải đầu
hàng. Hành động của Đức khiến Anh bối rối, song do số tàu ngầm có hạn (lúc
cao nhất Đức có 114 chiếc), khơng đủ mạnh để Đức đánh bại Anh. Lúc đầu,
Mĩ giữ thái độ “trung lập” trong chiến tranh. Thực ra, Mĩ muốn lợi dụng chiến
tranh để bán vũ khí cho cả hai phe và khi chiến tranh kết thúc, dù thắng hay
bại, các nước tham chiến đều bị suy yếu, còn Mĩ sẽ khẳng định ưu thế của
mình. Nhưng đến năm 1917, phong trào cách mạng ở các nước dâng cao, Mĩ
cần phải kết thúc chiến tranh và đứng về phe Hiệp ước.

18




×