Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

bai tiểu luận luật đầu tư: Bàn về vấn đề thu hút FDI tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (188.87 KB, 20 trang )

LỜI NÓI ĐẦU
Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ phát triển kinh
tế xã hội ở mức thấp hơn rất nhiều so với nước khác. Với tốc độ phát triển
nhanh chóng của các nước phát triển , thì khoảng cách kinh tế ngày càng giãn
ra. Vì vậy nhiệm vụ phát triển kinh tế của nước ta trong những năm tới là vượt
qua tình trạng của một nước nghèo, nâng cao mức sống của nhân dân và từng
bước hội nhập vào quỹ đạo kinh tế Thế Giới.
Tính tất yếu của kinh tế xã hội với hình thức cao của nó là hình thức đầu tư
trực tiếp nước ngoài là xu thế phát triển của thời đại .Việt nam cũng không nằm
ngoài quy luật đó và những vấn đề đặt ra là thu hút FDI như thế nào ?
Với mục tiêu xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp và tiến hành
công nghiệp hóa và hiện đại hóa với mục tiêu lâu dài là cải bước ta thành một
nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế phù hợp
Muốn thực hiện tốt điều đó cần phải có một lượng vốn lớn. Muốn có lượng vốn
lớn cần phải tăng cường sản xuất và thực hiện tiết kiệm. Nhưng với tình hình
của nước ta thì thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng là một cách tích lũy vốn
nhanh có thể làm được. Đầu tư nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp nói
riêng là một hoạt động kinh tế đối ngoại có vị trí vai trò quan trọng, trở thành xu
thế của thời đại. Đó là kênh chuyển giao công nghệ, thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập, nâng cao tay nghề cho người
lao động , năng lực quản lý, tạo nguồn thu cho ngân sách
Trên cơ sở thực trạng của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, ta cũng cần phải
chú ý tới vấn đề tính cực và tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài . Cũng
không phải là một nước thụ động mất dân vị thế mà xem vốn đầu tư nước ngoài
là quan trọng. Nhận thức đúng vị trí vai trò của nhà đầu tư trong nước trong
tương lai phải là chủ yếu.
Nhận thức đúng đắn vị trí vai trò của đầu tư nước ngoài là hết sức cần thiết.
Chính phủ cũng đã ban hành chính sách đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Đồng
thời tạo mọi điều kiện lợi nhuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài . Chúng ta
bằng những biện pháp mạnh về cải thiện môi trường đầu tư , kinh doanh Để
thu hút đầu tư nước ngoài. Với phương châm của chúng ta là đa dạng hóa, đa


phương hóa hợp tác đầu tư nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi và tôn
trọng lẫn nhau. Bằng những biện pháp cụ thể để huy động vốn và sử dụng có
hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong tổng thể chiến lược phát triển và
tăng trưởng kinh tế la một thành công mà ta mong đợi.
Khái quát chung về FDI.
Khái niệm.
FDI là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Foreign Direct Investmen” và được
dịch sang tiếng Việt là đầu tư trực tiếp nước ngoài. Có nhiều khái niệm về FDI
như sau:
- Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF(1997): FDI là một hoạt động
đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh
nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ
đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
- Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Đầu tư trực tiếp là
hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài
với một doanh nghiệp, mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý
doanh nghiệp. Có các mục đầu tư như:
+ Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn
quyền quản lý của chủ đầu tư.
+ Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có.
+ Tham gia vào một doanh nghiệp mới.
+ Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm).
- Theo Tổ chức tương mại thế giới WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy
ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một
nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
- Theo luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam:
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia
quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa
vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt
động đầu tư theo quy định của luật này.

Từ các khái niệm trên, ta có thể hiểu FDI là sự di chuyển vốn quốc tế dưới
hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một
nước khác để đầu tư, thiết lập cơ sở sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ
công nghệ, kinh nghiệm quản lý,… nhằm mục đích thu lợi nhuận và chi phối
hoặc toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Nếu xét trên khía cạnh về quyền sở hữu thì về bản chất, FDI được thực hiện
với quyền sở hữu về tài sản đầu tư của chủ đầu tư nước ngoài. Nếu xét trên khía
cạnh cán cân thanh toán, FDI thường được định nghĩa là phần tăng thêm giá trị
sổ sách của lượng đầu tư ròng ở một quốc gia được thực hiện bởi nhà đầu tư
nước ngoài, đồng thời nhà đầu tư này cũng chính là chủ sở hữu chính và nắm
quyền kiểm soát quá trình đầu tư đó.
Đặc điểm
Từ khái niệm và bản chất của FDI, ta có thể thấy FDI có các đặc điểm chính
sau đây:
- FDI là hình thức đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận.
- Đây là hình thức đầu tư bằng vốn tư nhân nên mang tính khả thi và hiệu quả
kinh tế cao, không có ràng buộc về chính trị, không để lại gánh nặng nợ nần cho
nền kinh tế tiếp nhận.
- Quyền và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia, lợi nhuận và rủi ro được phân
chia theo tỷ lệ vốn góp đầu tư.
- FDI giúp ích cho quá trình toàn cầu hóa.
FDI gắn trực tiếp với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công
lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự hoạt động của các
công ty đa quốc gia.
-Cơ cấu và hình thức FDI ngày càng trở nên đa dạng hơn.
Điều này liên quan đến sự hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế
ngày càng sâu rộng và sự thay đổi của môi trường kinh tế thương mại toàn cầu.
Ở các nước công nghiệp phát triển, cơ cấu FDI đã có sự thay đổi mạnh mẽ.
Xu hướng đầu tư hiện nay của nguồn vốn FDI là vào các ngành có hàm lượng
khoa học cao, đặc biệt là các ngành: Điện tử, chất dẻo, hóa chất và chế tạo máy.

Trong khi đó, tỉ trọng đầu tư các ngành công nghiệp dùng nhiều vốn và lao động
thì FDI giảm rõ rệt. Tỉ trọng FDI đi vào các ngành dịch vụ tăng lên, một số lĩnh
vực được ưu tiên là các dịch vụ thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và
giải trí.
-Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giữa FDI với thương mại và chuyển giao công
nghệ.
Thông thường, một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm
vào mục đích tăng tiềm năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty
nước ngoài được lựa chọn ngành và địa điểm đầu tư, cũng dựa trên cơ sở tăng
khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường quốc tế.
FDI đã và đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công
nghệ. Xu hướng này ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau. Đây chính là hình
thức có hiệu quả của việc lưu chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế.
Phân loại FDI
Có thể phân loại FDI theo nhiều cách:
Phân loại theo hình thức thâm nhập:
Đầu tư mới
Đầu tư mới là hoạt động đầu tư trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh
hoàn toàn mới ở nước ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã
tồn tại.
Mua lại và sát nhập qua biên giới
Mua lại và sáp nhập qua biên giới là một hình thức FDI liên quan đến việc
mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động.
Các hình thức của sáp nhập bao gồm:
- Sáp nhập theo chiều ngang: là hình thức sáp nhập diễn ra giữa các công ty
trong cùng một ngành kinh doanh (hay có thể nói là giữa các đối thủ cạnh
tranh).
- Sáp nhập theo chiều dọc: là hình thức sáp nhập của các công ty khác nhau
trong cùng một dây chuyền sản xuất ra sản phẩm cuối cùng. Có 2 dạng sáp nhập
theo chiều dọc là: Liên kết giữa nhà cung cấp và công ty sản xuất, sáp nhập

theo chiều ngang là: Liên kết giữa công ty sản xuất và nhà phân phối. Sáp nhập
theo chiều dọc diễn ra nhiều trong lĩnh vực dầu mỏ.
- Sáp nhập hỗn hợp: là hình thức sáp nhập giữa các công ty kinh doanh trong
các lĩnh vực khác nhau. Mục tiêu của những vụ sáp nhập như vậy là đa dạng
hóa, và chúng thường thu hút sự chú ý của những công ty có lượng tiền mặt lớn.
Phân loại theo quy định của Luật Đầu tư Việt Nam:
Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp trong nước liên doanh với nước ngoài gọi tắt là liên doanh là
hình thức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế
giới từ trước đến nay. Nó công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một
cách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Loại hình doanh nghiệp này hoạt động theo sự điều hành quản lý của chủ đầu
tư nước ngoài, nhưng vẫn phải tùy thuộc vào các điều kiện về môi trường kinh
doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về: chính trị,kinh tế, luật pháp, văn
hóa, mức độ cạnh tranh, …
Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh
Đây là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm và phân chia thành
quả kinh doanh cho mỗi bên, từ đó tiến hành đầu tư, kinh doanh mà không
thành lập pháp nhân mới.
Hình thức này không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro mà phân chia kết
quả kinh doanh chung theo tỉ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận từ đầu của hai
bên.
Đầu tư theo hợp đồng BTO, BT, BOT
BOT dùng chỉ các mô hình sử dụng đầu tư tư nhân để thực hiện xây dựng cơ
sở hạ tầng trực thuộc khu vực nhà nước, sau đó nhà đầu tư sẽ kinh doanh trong
một thời gian nhất đinh để thu hồi vốn và đạt được một mức lợi nhuận hợp lý.
Vào cuối giai đoạn vận hành, dự án sẽ được chuyển giao quyền sở hữu cho
chính phủ nước sở tại.
Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư sẽ

chuyển giao lại cho nước sở tại và nhận được thanh toán bằng tiền hoặc tài sản
nào đó tương xứng với vốn bỏ ra ban đầu và một tỉ lệ lợi nhuận hợp lí.
Đối với hợp đồng BTO, sau khi xây dựng xong công trình, nhà đầu tư nước
ngoài chuyển giao lại cho nước sở tại và được chính phủ nước này dành cho
quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong một khoảng thời
gian đủ để hoàn vốn và có lợi nhuận thích hợp.
3 hình thức hợp đồng này diễn ra ở lĩnh vực hẹp hơn các doanh nghiệp FDI
khác, chủ yếu cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, được hưởng các ưu đãi
đầu tư hơn các doanh nghiệp FDI khác.
Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và công ty con
Mô hình công ty này là một trong những mô hình tổ chức quản lý được thừa
nhận rộng rãi nhất ở hầu hết các nước.
Mô hình này được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giới hạn hoạt
động của mình trong việc sở hữu vốn, qu yết định chiến lược và giám sát hoạt
động quản lý của các công ty con. Tuy nhiên, các công ty con vẫn duy trì quyền
kiểm soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập.
Phân loại theo tính chất nguồn vốn:
Vốn chứng khoán
Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do
một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào
các quyết định quản lý của công ty.
Vốn tái đầu tư
Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh
doanh trong quá khứ để đầu tư thêm.
Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ
Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có
thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau.
Phân theo động cơ của nhà đầu tư
Vốn tìm kiếm tài nguyên
Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi

dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng
giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này
còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận
(như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ
của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các
nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh.
Vốn tìm kiếm hiệu quả
Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước
tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như
điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh
doanh rẻ, thuế suất ưu đãi,điều kiện pháp lí v.v
Vốn tìm kiếm thị trường
Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị
đối thủ cạnh tranh dành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng
các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác,
lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và
toàn cầu.
Những nhân tố thúc đẩy FDI
- Nhu cầu chu chuyển vốn:
Thông thường, chi phí sản xuất ở các nước thừa vốn là lớn hơn ở các nước
thiếu vốn, dẫn đến sự chênh lệch năng suất. Vì sự chênh lệch này mà hình thành
dòng chảy của vốn đâu tư từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt nhằm tối đa hóa lợi
nhuận.
- Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất
cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do dùng
thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất) của vốn giữa các nước. Một nước thừa
vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có
năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ
nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất

của các nước thừa vốn thường cao hơn các nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy
không có nghĩa là tất cả những hoạt động nào có năng suất cận biên cao mới
được các Doanh nghiệp đầu tư sản xuất mà cũng có những hoạt động quan
trọng, là sống còn của Doanh nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó
cho năng suất cận biên thấp.
- Chu kỳ sản phẩm
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ
sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản phẩm
mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa. Akamatsu
Kaname cho rằng đối với sản phẩm mới, ban đầu được phát minh và sản xuất ở
nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại
nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường bản địa
tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập
khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài. Khi nhu cầu
thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất
khẩu lại xuất hiện. Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình
thành FDI.
Raymond Vernon lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai đoạn
chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này
có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh
tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết
định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản
xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn.
- Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia.
Stephen H. Hymes, John H. Dunning, Rugman A. A. và một số người khác
cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực
cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên
họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những
công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính
trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc

gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn
nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng ta dễ
dàng nhận ra lợi ích của việc này.
- Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại.
Việc một nước bị thâm hụt thương mại quá lớn từ nước đối tác sẽ dễ dàng
dẫn đến những xung đột thương mại song phương. Vì thế, việc tăng cường đầu
tư trực tiếp vào nước bị thâm hụt, sản xuất và bán các sản phẩm này ngay tại
nước bị thâm hụt sẽ làm giảm tình trạng nhập khẩu từ nước thặng dư. Ví dụ,
Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư
thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song
phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường
đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất
khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước
thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.
- Khai thác chuyển giao và công nghệ.
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém
phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là
nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Ví
dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử
dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy.
Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng
có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung
Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc
gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận
công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc)
trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs,
việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu
lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.
- Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào
những nước có nguồn tài nguyên phong phú, giá rẻ.
Tác động của FDI đối với nền kinh tế.
Tác động tích cực.
FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế .
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế,
giúp cho nước tiếp nhận đầu tư huy động mọi nguồn lực sản xuất (vốn, lao
động, tài nguyên, công nghệ…).Hoạt động FDI đã trực tiếp đóng góp vào GDP
của các nước tiếp nhận đầu tư, tăng thu nhập của người lao động.
Hoạt động FDI thông qua các hoạt động di chuyển vốn; công nghệ; kỹ năng
đã góp phần nâng cao năng suất lao động của nước tiếp nhận đầu tư.
FDI bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế.
Nguồn vốn đầu tư cho phát triển được lấy từ 2 nguồn là nguồn vốn trong
nước và nguồn vốn nước ngoài. Nguồn vốn trong nước được hình thành từ tiết
kiệm và đầu tư. Nguồn vốn nước ngoài được hình thành thông qua vay; đầu tư
gián tiếp; đầu tư trực tiếp. Nhưng đối với các nước nghèo và đang phát triển thì
luôn lâm vào tình trạng thiếu vốn. Theo Paul A. Samuelson, thì các hoạt động
sản xuất và đầu tư ở các nước này lâm vào một vòng luẩn quẩn:
Thu nhập thấp => tiết kiệm và đầu tư thấp => khả năng phát triển của vốn và
tích tụ vốn thấp => không đủ vốn cho đầu tư => năng suất thấp và lại quay trở
lại chu kỳ bàn đầu.
Do vậy để phá vỡ được vòng luẩn quẩn kia thì nguồn vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài là một phương án rất thích hợp và đầu tư trực tiếp nước ngoài có ưu
thế hơn so với các nguồn vốn khác:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài không tạo ra khoản nợ.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài có tính ổn định cao và không thuận lợi cho việc
rút vốn như các khoản vay hoặc đầu tư gián tiếp.
- Lợi nhuận chỉ được chuyển về nước khi dự án tạo ra lợi nhuận và một phần
lợi nhuận được các chủ đầu tư sử dụng để tái đầu tư.
FDI góp phần vào quá trình phát triển công nghệ.

Công nghệ có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, giúp các nước
đang phát triển theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các nước công nghiệp phát
triển dựa vào lợi thế của nước đi sau (kế thừa những thành tựu khoa học kỹ
thuật của nhân loại). Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò đặc biệt
quan trọng đối với quá trình phát triển khoa học - công nghệ nâng cao năng lực
sản xuất và nâng cao năng suất lao động tại nước tiếp nhận đầu tư.
Tác động tích cực của FDI đối với phát triển công nghệ qua:
- Chuyển giao công nghệ: để công nghệ mới và tiên tiến phục vụ hoạt động
sản xuất thì cần phải chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các
nước đang phát triển. Do hoạt động chuyển giao công nghệ ngày càng phức tạp
do vậy chuyển giao công nghệ thông qua FDI là một kênh chuyển giao hiệu quả
và chi phí thấp. Chuyển giao công nghệ thông qua FDI đã làm cho khoảng cách
công nghệ giữa nước đi đầu và nước tiếp nhận đầu tư bị thu hẹp. Hình thức
chuyển giao được thực hiện thông qua: Chuyển giao bên trong là hình thức
chuyển giao giữa công ty mẹ và công ty con (nước tiếp nhận đầu tư). Chuyển
giao bên ngoài được thực hiện giữa các công ty khác nhau liên doanh với doanh
nghiệp trong nước; hỗ trợ công nghệ…
- Hoạt động phổ biến công nghệ: Hoạt động FDI tạo ra hiệu ứng tích cực đối
với các doanh nghiệp của nước tiếp nhận đầu tư (i) thông qua cạnh tranh sẽ thúc
đẩy việc cải thiện và nâng cao công nghệ trong nước; (ii) di chuyển lao động từ
nơi có trình độ công nghệ cao đến các nước đang phát triển góp phần chuyển
giao công nghệ).
Nâng cao chất lượng lao động .
Chất lượng lao động có ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ tăng trưởng kinh tế
của một quốc gia. FDI tác động đến vấn đề lao động của nước tiếp nhận đầu tư
cả về số lượng lẫn chất lượng. Số lượng là việc giải quyết việc làm cho người
lao động. Còn chất lượng lao động, FDI làm thay đổi cơ bản nâng cao năng lực
và kỹ năng lao động thông qua: đào tạo trực tiếp và gián tiếp nâng cao trình độ
lao động.
- Trực tiếp đào tạo: Do các công ty nước ngoài hoặc có doanh nghiệp có vốn

FDI phải tuyển dụng lao động địa phương. Để lao động địa phương có thể sử
dụng thành thạo những công nghệ tiên tiến đã được chuyển giao, phương thức
đào tạo có thể là: đào tạo trực tiếp thông qua các khóa học do các chuyên gia
của công ty giảng dạy hoặc kết hợp với các cơ sở đào tạo trong nước tiếp nhận
đầu tư.
- Gián tiếp nâng cao chất lượng lao động của nước tiếp nhận đầu tư. Các
nước đầu tư FDI yêu cầu đầu tư vào nước có chất lượng lao động cao để không
mất nhiều thời gian và chi phí đào tạo. Do vậy, với chính sách thu hút đầu tư
nước ngoài các nước tiếp nhận đầu tư phải có chiến lược phát triển nguồn nhân
lực có hiệu quả để đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng.
FDI góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho
người lao động.
Giải quyết việc làm tại các nước tiếp nhận đầu tư: hoạt động đầu tư đã góp
phần làm giảm tỉ lệ thất nghiệp ở những quốc gia này. Thứ nhất: trực tiếp tạo
việc làm bằng cách tuyển dụng lao động địa phương vào các doanh nghiệp có
vốn FDI. Thứ hai, FDI gián tiếp tạo ra việc làm thông qua các doanh nghiệp
cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các doanh nghiệp có vốn FDI.
Vấn đề nâng cao thu nhập, người lao động làm việc trong các công ty có vốn
FDI thường cao hơn so với làm tại các doanh nghiệp trong nước. Nguyên nhân
là sản lượng sản xuất tại các doanh nghiệp FDI thường cao hơn với các doanh
nghiệp trong nước; lao động có chất lượng cao hơn; công ty GDI có thị trường
rộng lớn và quy mô lớn.
FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận đầu tư.
Cơ cấu đầu tư của một quốc gia là cấu trúc của nền kinh tế hay nói các khác
là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế.
Ba yếu tố cơ bản cấu thành nên cơ cấu kinh tế của một quốc gia là: cơ cấu
thành phần kinh tế; cơ cấu ngành kinh tế; cơ cấu vùng kinh tế. Trong số ba yếu
tố đó, cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng nhất quyết định hình thức
của những cơ cấu kinh tế khác. Do vậy, việc thay đổi cơ cấu ngành kinh tế sẽ
làm thay đổi cơ cấu kinh tế của một quốc gia. Một cơ cấu kinh tế hợp lý ở nước

tiếp nhận đầu tư sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài đi kèm với vốn, kỹ năng và trình độ quản lý có tác động mạnh đến
cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến làm thay đổi và dịch chuyển cơ bản cơ cấu kinh tế
của nước tiếp nhận đầu tư.
Việc nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp của nước ngoài cho thấy một đặc
điểm là nguồn đầu tư đó chủ yếu nhằm vào các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Đối với ngành nông nghiệp, tỷ lệ của nguồn vốn đầu tư đó là tương đối thấp
hoặc nếu có thì chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến. Như vậy,
nhìn chung hoạt động FDI sẽ góp phần làm cho cơ cấu kinh tế của nước tiếp
nhận đầu tư chuyển dịch theo hướng tương đối ngành công nghiệp và dịch vụ so
với ngành nông nghiệp.
Nguồn thu ngân sách lớn.
Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do
các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng.
Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50
phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.
Tác động tiêu cực.
Vấn đề về bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế.
Thứ nhất, vốn do hoạt động FDI cung cấp có chi phí vốn cao hơn so với các
nguồn vốn khác từ nước ngoài (vay thương mại hoặc vay giữa các chính phủ).
Thứ hai, vốn do hoạt động FDI có thể ảnh hưởng đến chính sách tiền tệ của
quốc gia tiếp nhận đầu tư. Nếu vốn FDI được cung cấp là lớn sẽ giảm cầu tiền,
làm tăng lạm phát và ảnh hưởng đến kế hoạch điều chỉnh chính sách tiền tệ.
Về môi trường, chuyển giao công nghệ về hiệu quả sản xuất.
Về vấn đề môi trường: tốc độ tăng trưởng cao sẽ phải sử dụng nhiều tài
nguyên thiên nhiên và chất thải từ hoạt động sản xuất là nguyên nhân chính gây
tình trạng ô nhiễm môi trường. Hoạt động đầu tư trực tiếp chủ yếu được tiến
hành trong công nghiệp và những chất thải nếu không xử lí tốt sẽ gây ô nhiễm
môi trường. Ngoài nguyên nhân trên còn có việc chuyển giao công nghệ lạc hậu
từ nước đi đầu tư sang nước nhận đầu tư cũng là một nguyên nhân gây ô nhiễm

môi trường. Vì chuyển giao công nghệ mang lại lợi ích cho nhà đầu tư và mang
lại hậu quả cho nước nhận đầu tư. Thứ nhất: thải công nghệ lạc hậu để đổi mới
công nghệ nước mình. Thứ hai, việc chuyển giao mang lại nguồn thu cho nước
đi đầu tư.
Về chuyển giao công nghệ và hiệu quả sản xuất: Chuyển giao công nghệ lạc
hậu làm giảm hiệu quả sản xuất tại các nước tiếp nhận đầu tư, công nghệ hóa
học sẽ kìm hàm sự phát triển kinh tế của các nước tiếp nhận đầu tư.
Những thách thức, hạn chế của FDI.
- FDI làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo của các nước tiếp nhận đầu tư
Hoạt động FDI một mặt làm tăng thu nhập cho địa phương. Mặt khác nó chỉ
ưa thích những vùng, những địa phương có điều kiện thuận lợi, đó cũng thường
là những nơi khá giả. Bởi vậy, FDI sẽ làm cho những nơi giàu thì giàu nhanh
hơn, còn những vùng khó khăn nơi khó mời gọi FDI thì thay đổi một cách chậm
chạp.
Tác động khác.
Về cạnh tranh.
Những công ty FDI thường sở hữu công nghệ hiện đại, trình độ tổ chức sản
xuất tiên tiến, vốn lớn so với các doanh nghiệp trong nước. Đó là những đối thủ
cạnh tranh đáng sợ đối với các doanh nghiệp trong nước. Không ít trường hợp
hàng hoá và dịch vụ của các công ty đa quốc gia chiếm dần thị trường của các
doanh nghiệp bản địa, thậm chí khiến các doanh nghiệp này đi đến phá sản hoặc
bị thôn tính.
Về lao động.
Người lao động làm trong doanh nghiệp FDI thường đòi hỏi phải có trình độ
lao động cao nếu không đáp ứng thường bị xa thải. Một trong những nguyên
nhân khác dẫn đến tình trạng người lao động bị sa thải đó là sự hợp nhất, sáp
nhập và giải thể của các công ty, tập đoàn kinh tế mạnh trên thế giới ngày càng
tăng lên.
Thực trạng và giải pháp.
Gần 25 năm đã qua kể từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời vào

tháng 12 năm 1987. Thành tựu nhiều, nhưng không phải là không có những hạn
chế trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Giờ là lúc cần phải dựa
trên hệ tiêu chí khoa học để đánh giá khách quan, toàn diện kết quả, tác động
của FDI, phát hiện những vấn đề cần giải quyết làm căn cứ để đề ra định hướng
mới, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dòng vốn FDI trong thời gian tới.
Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam.
Cuối năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông
qua, khi nước ta còn trong vòng xoáy cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, lạm
phát phi mã, sản xuất và lưu thông chậm phát triển, làm không đủ ăn, buộc phải
dùng tem phiếu “phân phối sự thiếu thốn”; khi các nước “phương Tây” cấm vận
đối với Việt Nam, quan hệ kinh tế đối ngoại hầu như chỉ bó hẹp trong khung
khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế với 12 nước xã hội chủ nghĩa (cũ).
Luật Đầu tư nước ngoài 1987 được dư luận quốc tế đánh giá cao. Hoạt động
FDI là khâu đột phá trong hội nhập kinh tế quốc tế nhờ thị trường đầy tiềm năng
của Việt Nam có sức hấp dẫn hàng trăm nhà đầu tư quốc tế, trong đó có các
nước đang thi hành chính sách cấm vận đối với nước ta, điển hình là Mỹ. Mặc
dù cuối năm 1994, Tổng thống Bill Clinton mới bỏ lệnh cấm vận đối với Việt
Nam, nhưng một số nhà đầu tư nước này thông qua nước thứ ba đã thực hiện
nhiều dự án FDI ở nước ta từ năm 1989.
Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài ra đời, ba năm đầu 1988 - 1990, FDI chưa
tác động rõ rệt đến tình hình kinh tế - xã hội nước ta. Nhưng từ năm 1991 đến
năm 1997 đã diễn ra làn sóng FDI thứ nhất, với 2.230 dự án và vốn đăng ký
16,244 tỷ USD, vốn thực hiện 12,98 tỷ USD. Trong đó, chỉ riêng năm 1997, vốn
thực hiện đã đạt 3,115 tỷ USD, gấp 9,5 lần năm 1991.
Tuy nhiên, từ năm 1998 đến năm 2004, do tác động tiêu cực của cuộc khủng
hoảng kinh tế khu vực, nên trong số 3.968 dự án mới, phần lớn có quy mô nhỏ,
vốn đăng ký năm 1998 chỉ là 5,099 tỷ USD, năm 2000 là 2,838 tỷ USD, năm
2004 là 4,547 tỷ USD. Trong khi đó, vốn thực hiện trong giai đoạn này là 17,66
tỷ USD, chỉ tăng 36% so với giai đoạn 1991-1997.
Nhưng năm 2005 lại mở đầu làn sóng FDI thứ hai vào Việt Nam, với vốn

đăng ký 6,839 tỷ USD và vốn thực hiện 3,3 tỷ USD. Từ năm 2006 tới nay,
Việt Nam đã thu hút được một lượng lớn vốn FDI.
Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy, tính chung, từ năm 1988 đến
năm 2011, tổng vốn đăng ký còn hiệu lực của 13.496 dự án FDI là 195,9 tỷ
USD, vốn thực hiện là 88,2 tỷ USD, chiếm 43,2% vốn đăng ký.
Những đóng góp của FDI đối với Việt Nam.
Sau 25 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài với việc
ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 (một trong những đạo luật đầu tiên
của thời kỳ đổi mới) và Luật sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996,
2000 và năm 2005, cùng với các văn bản dưới luật, Việt Nam đã xây dựng được
một khung pháp lý đồng bộ, thông thoáng, phù hợp với thông lệ quốc tế và tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài (FDI).
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực phát triển năng động,
ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự
phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, điều này thể hiện trên các mặt sau:
Thứ nhất, FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư phát triển,
đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh tích lũy không đáp ứng
nhu cầu về đầu tư, nguồn vốn FDI đã thực sự là nguồn vốn bổ sung quan trọng
cho đầu tư phát triển. Trong giai đoạn 2001 – 2005, FDI đã đóng góp 16% tổng
vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ trọng này tăng lên 24,8% trong thời kỳ 2006 –
2011.
Thứ hai, FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản
xuất công nghiệp. Cơ cấu kinh tế cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng
tích cực. Tỷ trọng ngành nông nghiệp từ chỗ chiếm 80% trong năm 1988, đến
năm 2011 chỉ còn chiếm 22%, công nghiệp – dịch vụ chiếm 78%. Tốc độ tăng
trưởng công nghiệp của khu vực có vốn FDI luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng
công nghiệp chung của cả nước. Năm 1996, tốc độ tăng trưởng công nghiệp của
khu vực FDI là 21,7% trong khi tốc độ tăng trưởng công nghiệp cả nước là
14,2%. Năm 2000 tốc độ này tương ứng là 21,8% và 17,5%. Năm 2005 là
21,2% và 17,1%, năm 2010 là 17,2% và 14,7%.

Thứ ba, FDI đóng góp đáng kể vào thu ngân sách và các cân đối vĩ mô.
Trong 5 năm 2006 - 2010, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp FDI đạt hơn
10,5 tỷ USD, tăng bình quân trên 20%/năm. Trong năm 2011, thu nộp ngân
sách của khu vực FDI (không kể thu từ dầu thô) đạt 3,5 tỉ USD.
Thứ tư, FDI đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt
Nam. Khu vực FDI chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam. Nếu như năm 1995, khu vực FDI, kể cả dầu thô, chỉ chiếm
27% tổng xuất khẩu cả nước, thì đến năm 2011 đã chiếm 59%.
Thứ năm, FDI đóng vai trò nổi bật trong đổi mới và chuyển giao công nghệ ở
Việt Nam. FDI đã tác động trực tiếp và gián tiếp đến hoạt động đổi mới công
nghệ, chuyển giao công nghệ ở Việt Nam và góp phần vào việc tăng cường cơ
sở vật chất cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Thứ sáu, FDI góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao
động, góp phần đào tạo và cải thiện nguồn nhân lực. Tính đến nay, khu vực có
vốn FDI đã tạo việc làm cho khoảng 2 triệu lao động trực tiếp và một số lượng
lớn lao động gián tiếp khác.
Thứ bảy, FDI đã đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc
tế và mở rộng quan hệ đối ngoại. Cùng với các nhân tố khác, FDI đã góp phần
nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ tám, bên cạnh những yếu tố có thể lượng hóa được nêu trên, vai trò của
FDI còn thể hiện thông qua những yếu tố không lượng hóa được. Đó là, FDI đã
mang đến một phương thức đầu tư kinh doanh mới, từ đó có tác động lan tỏa
đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, khơi dậy các nguồn lực đầu tư
trong nước. Thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn FDI với các doanh
nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực quản lý, kinh doanh được chuyển
giao từ doanh nghiệp FDI sang các doanh nghiệp trong nước.
Mặt khác, các doanh nghiệp FDI cũng tạo động lực cạnh tranh cho các doanh
nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa, qua đó nâng cao
được năng lực của các doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, FDI đã mở rộng quy
mô thị trường trong nước, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nhiều ngành,

lĩnh vực dịch vụ cũng như sản phẩm mới. Đồng thời, FDI cũng đóng vai trò
quan trọng trong việc giới thiệu, đưa các sản phẩm hàng hóa có xuất xứ từ Việt
Nam vào thị trường quốc tế; tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam;
đẩy nhanh tốc độ mở cửa thương mại; tăng khả năng ổn định cán cân thương
mại của đất nước.
Có thể nói, FDI đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã
hội 1991 - 2000 là 30%, 2001 - 2005 là 16%, 2006 - 2011 là 28%. Các doanh
nghiệp FDI đóng góp vào GDP thời kỳ 2001 - 2005 là 14,5%, tăng lên 20%
năm 2010; nộp ngân sách nhà nước năm 2010 là 3,1 tỷ USD gần bằng cả 5 năm
2001 - 2005 (3,5 tỷ USD). FDI tạo ra khoảng 40% giá trị sản lượng công
nghiệp, có tốc độ tăng khá cao, 2001- 2010 tăng 17,4%/năm trong khi toàn
ngành công nghiệp tăng 16,3%/năm. Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI
tăng nhanh, 2001 - 2005 là 57,8 tỷ USD, 2006 - 2010 là 154,9 tỷ USD, bằng
2,67 lần, chiếm 55% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (kể cả dầu thô).
Bên cạnh đó, FDI đã góp phần quan trọng hình thành nhiều ngành kinh tế,
như khai thác, lọc hóa dầu, ô tô, xe máy, điện tử, xi măng, sắt thép, thực phẩm,
thức ăn gia súc; cũng như góp phần hình thành một số khu đô thị hiện đại như
Phú Mỹ Hưng, Nam Thăng Long, nhiều khách sạn 4- 5 sao, khu nghỉ dưỡng cao
cấp, văn phòng cho thuê Lĩnh vực dịch vụ tài chính, bảo hiểm, ngân hàng, bán
buôn, bán lẻ đã du nhập phương thức kinh doanh hiện đại, công nghệ tiên tiến,
thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của các tầng lớp dân cư.
Một thành tựu khác, tính đến cuối năm 2011, khu vực FDI tạo ra hơn 2,3
triệu việc làm trực tiếp và hàng triệu việc làm gián tiếp, trong đó có hàng vạn kỹ
sư, nhà quản lý trình độ cao, đội ngũ công nhân lành nghề, với thu nhập ngày
càng tăng, du nhập phương thức lao động, kinh doanh và quản lý tiên tiến.
Tác động tiêu cực của FDI đối với Việt Nam.
Mặc dù đã đạt được những kết quả cơ bản quan trọng nêu trên, song việc thu
hút, sử dụng và quản lý FDI thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Đó
là khả năng hấp thụ nguồn vốn còn khiêm tốn, đồng nghĩa với việc chưa tận

dụng một cách có hiệu quả nguồn vốn này trong khi Việt Nam đang có nhu cầu
lớn về vốn; chất lượng của nguồn vốn chưa cao; việc thu hút các dự án đầu tư
công nghệ cao còn hạn chế; chuyển giao công nghệ còn chậm; còn có doanh
nghiệp FDI sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi
trường; việc sử dụng tài nguyên đất đai, khoáng sản chưa thực sự hiệu quả; mối
liên kết ngang và dọc giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước
chưa cao; tình trạng tranh chấp lao động và đình công còn diễn ra ở một số nơi,
ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư.
Cùng với đó, cũng đã xảy ra “cuộc chiến giữa các tỉnh, thành phố chào mời
nhà đầu tư quốc tế” bằng những ưu đãi quá mức thuế, tiền thuê đất, ảnh hưởng
tiêu cực đến phúc lợi chung của cộng đồng. Đã xảy ra tranh chấp lao động trong
một số doanh nghiệp FDI. Gần đây, việc “chuyển giá” của một số doanh nghiệp
FDI, gây ra tình trạng “lỗ giả lãi thật” nổi lên như vấn đề thời sự:
Những tồn tại, hạn chế nêu trên của khu vực FDI có nguyên nhân từ sự yếu
kém nội tại của nền kinh tế cũng như những hạn chế trong việc hoạch định và
thực thi chính sách, pháp luật về đầu tư nước ngoài. Các nguyên nhân chủ yếu
là:
(i) Hệ thống, pháp luật chính sách liên quan đến đầu tư chưa đồng bộ và
thiếu nhất quán.
Trong 25 năm qua, hệ thống pháp luật về đầu tư nói chung và đầu tư nước
ngoài nói riêng không ngừng được hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển. Tuy
nhiên, trên thực tế, các văn bản pháp luật hiện hành về hoạt động FDI chưa thực
sự đồng bộ, rõ ràng, các văn bản pháp luật còn chồng chéo, tạo ra các cách hiểu
khác nhau trong quá trình áp dụng ở các cấp.
(ii) Chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn.
Tuy các chính sách ưu đãi của ta thường xuyên được rà soát sửa đổi, bổ sung
nhưng còn dàn trải, chưa tập trung đúng mức vào những ngành, lĩnh vực và địa
bàn cần thu hút đầu tư. Ví dụ: chính sách ưu đãi đối với đầu tư trong lĩnh vực
công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ chưa có sự khác biệt, đủ sức hấp dẫn so với
các ngành khác; chính sách ưu đãi vào những địa bàn cần thu hút đầu tư còn dàn

trải giữa các địa bàn khác trong cả nước hoặc có khác thì cũng chưa nổi trội,
chưa có tính đột phá. Bởi lẽ, trong 63 tỉnh/thành phố thì hầu hết tỉnh/thành phố
nào cũng có địa bàn kinh tế xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.
(iii) Sự phát triển của cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển
của nền kinh tế cũng như chưa tạo điều kiện tốt để dòng vốn FDI phát huy hiệu
quả.
Hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam, mặc dù đã được đầu tư nhiều trong
những năm gần đây, nhưng nhìn chung vẫn còn yếu kém, chưa đáp ứng được
nhu cầu của nhà đầu tư, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông,
cảng biển, hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào khu công nghiệp.
(iv) Hạn chế về nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực của Việt Nam dồi dào nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp,
nguồn nhân lực có trình độ cao còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu về lao
động của các doanh nghiệp nói chung, trong đó có doanh nghiệp FDI. Đây là
hạn chế đã tồn tại từ nhiều năm trước, nhưng trong thời gian gần đây càng trở
nên bức xúc hơn khi thu hút FDI các dự án sử dụng công nghệ cao, hiện đại.
Trong một nghiên cứu mới đây do Cục Đầu tư nước ngoài phối hợp với Tổ chức
Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) tiến hành, thì 32% các nhà đầu
tư nước ngoài cho rằng thiếu công nhân lành nghề là nguyên nhân quan trọng
nhất khiến cho họ không sử dụng hết công suất. Vì vậy, lợi thế về nguồn nhân
lực dồi dào với chi phí thấp của Việt Nam đang giảm dần.
(v) Sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế.
Các ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam phát triển chậm, chưa đáp ứng
được nhu cầu về nguyên liệu đầu vào cho sản xuất của các doanh nghiệp FDI.
Do đó, các doanh nghiệp phải nhập khẩu phần lớn các linh phụ kiện đầu vào,
làm tăng chi phí, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chưa
đáp ứng được yêu cầu về việc hình thành chuỗi giá trị.
(vi) Chưa thực hiện tốt công tác phân cấp quản lý FDI.
Việc phân cấp cho UBND các địa phương và Ban quản lý KCN – KCX trong
quản lý FDI là chủ trương đúng đắn, tạo thế chủ động và nâng cao trách nhiệm

của các cơ quan quản lý địa phương trong công tác quản lý hoạt động FDI. Tuy
nhiên, việc phân cấp phải đi kèm với luật pháp chính sách rõ ràng, hệ thống quy
hoạch đồng bộ; n ăng lực của các cơ quan được phân cấp phải được nâng cao;
công tác báo cáo, cung cấp thông tin của địa phương lên trung ương phải kịp
thời; công tác thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm phải được thực hiện triệt để;
tăng cường sự phối hợp hàng ngang và hàng dọc giữa các cơ quan quản lý
chung và cơ quan quản lý chuyên ngành, giữa cơ quan quản lý ở Trung ương
với cơ quan quản lý ở địa phương.
Nhưng, trên thực tế, những công tác này chưa được thực hiện tốt trong thời
gian qua, đồng thời có hiện tượng một số địa phương trong quá trình xử lý còn
thiên về lợi ích trước mắt mà chưa tính đến lợi ích lâu dài, vì lợi ích địa phương
mà bỏ qua lợi ích tổng thể quốc gia. Điều này, đã có những ảnh hưởng không
tốt đến các cân đối tổng thể của nền kinh tế, ví dụ, có địa phương cấp phép
nhiều dự án thép, xi măng làm mất cân đối nguồn cung cấp điện và gây ô nhiễm
môi trường.
(vii) Công tác kiểm tra, giám sát về việc thực hiện các quy định về bảo về
môi trường của các doanh nghiệp còn nhiều bất cập.
Thời gian qua, công tác này tuy đã được quan tâm hơn nhưng vẫn chưa đáp
ứng được yêu cầu thực tế. Bên cạnh những doanh nghiệp chấp hành tốt các quy
định về bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều doanh nghiệp, dự án FDI chưa chấp
hành tốt các quy định này, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường, sinh thái,
ảnh hưởng lâu dài tới đời sống của người dân và làm xấu hình ảnh của FDI.
(viii) Công tác xúc tiến đầu tư chưa hiệu quả.
Trong thời gian qua, công tác vận động xúc tiến đầu tư đã có nhiều cải tiến,
được tiến hành ở nhiều ngành, nhiều cấp, ở trong nước và nước ngoài bằng các
hình thức đa dạng. Tuy nhiên, hiệu quả của công tác này chưa cao, hoạt động
xúc tiến đầu tư còn giàn trải, phân tán nguồn lực, chưa tập trung vào các đối tác,
lĩnh vực trọng điểm; chưa có sự thống nhất điều phối để đảm bảo sự tập trung
thực hiện đúng mục tiêu thu hút FDI trong từng thời kỳ, từng địa bàn, từng đối
tác.

Tầm nhìn 2012 và sự chuyển hướng chính sách
Năm 2012, tình hình kinh tế quốc tế biến động theo chiều hướng không thuận
lợi, giá cả thị trường thế giới có xu hướng giảm, nợ công ở nhiều nước vẫn là
nguy cơ lớn. Bà Christine Lagarde, Giám đốc quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho
rằng: “Kinh tế thế giới đang ở trong trạng thái hiểm nghèo”.
Tuy vậy, cũng có dự báo về khả năng phục hồi kinh tế của các nước lớn, khu
vực Đông Á vẫn dẫn đầu tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch thành trung
tâm phát triển kinh tế thế giới.
Trong bối cảnh đó, Báo cáo đầu tư quốc tế 2011 của Diễn đàn Thương mại và
Phát triển của Liên hiệp quốc ( UNCTAD) dự báo FDI quốc tế năm 2012 là
1.700 tỷ USD, cao hơn năm 2011 (1.400-1.600 tỷ USD). Trong khi đó, con số
này của năm 2013 là 1.900 tỷ USD, bằng năm cao nhất - 2007. Lần đầu tiên
FDI vào các nước đang phát triển và đang chuyển đổi chiếm gần 50% FDI thế
giới.
Việt Nam được chuyên gia kinh tế đánh giá là quốc gia dễ bị tổn thương nhất
trong các nền kinh tế châu Á trước sự biến động của kinh tế thế giới, vì tình
trạng lạm phát cao, doanh nghiệp chưa đủ mạnh, thâm hụt ngân sách lớn và hoạt
động của hệ thống ngân hàng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Năm 2012, nền kinh tế
nước ta vừa phải khắc phục hậu quả của năm 2011, vừa bắt đầu tái cơ cấu kinh
tế theo mô hình tăng trưởng mới. Việt Nam đồng thời đứng trước thời cơ lớn
khi quan hệ đối ngoại với các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Ấn Độ được
nâng cấp; ASEAN đang tiến tới Cộng đồng chung. Việt Nam không chỉ được
nhiều nhà đầu tư nhận định là có ưu thế về ổn định chính trị, an ninh xã hội, mà
trước tình hình thiên tai, như động đất và sóng thần ở Nhật Bản, lũ lụt kéo dài
nhiều tháng ở Thái Lan, cũng đã được nhiều doanh nghiệp nước ngoài lựa chọn
là địa điểm đầu tư thích hợp để bảo đảm hoạt động sản xuất và kinh doanh lâu
dài.
Cần khẳng định rằng, FDI tiếp tục là nguồn vốn quốc tế quan trọng nhất đối
với Việt Nam, khi viện trợ phát triển (ODA) đang có xu hướng giảm, khi đầu tư
gián tiếp khá bấp bênh. Chính phủ cần đưa ra thông điệp rõ ràng về định hướng

FDI mới chuyển sang chính sách nâng cấp FDI, coi trọng hơn chất lượng và
hiệu quả kinh tế - xã hội.
Chính sách nâng cấp FDI được hình thành theo các hướng ưu tiên dự án công
nghệ cao, công nghệ thân thiện với môi trường, công nghiệp phụ trợ, dịch vụ
hiện đại, xây dựng khu kinh tế đặc biệt, thiết lập mối liên kết giữa các tập đoàn
xuyên quốc gia (TNCs) hàng đầu thế giới từ các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế (OECD) với doanh nghiệp trong nước nhằm làm cho các
doanh nghiệp Việt Nam được hưởng lợi nhờ vào hợp tác, phân công về công
nghệ và thị trường với TNCs; khuyến khích TNCs hợp tác với các cơ sở đào tạo
bậc đại học và dạy nghề trình độ cao, các tổ chức nghiên cứu khoa học để nâng
cao trình độ và năng lực của các đơn vị đó.
Đổi mới đồng bộ để nâng chất dòng vốn FDI
Trên cơ sở định hướng FDI mới, cần đổi mới đồng bộ về thể chế, luật pháp,
công tác quy hoạch, quản lý nhà nước như xúc tiến đầu tư, thẩm định, cấp phép,
hướng dẫn, triển khai dự án, theo dõi, hỗ trợ, kiểm tra, giám sát hoạt động sản
xuất - kinh doanh, cải tiến phân cấp quản lý, thiết lập hệ thống thu thập và xử lý
thông tin về FDI.
Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 2005 cần được sửa đổi cơ bản bởi vì đã
bộc lộ nhiều nhược điểm đang cản trở hoạt động FDI. Một số chuyên gia kiến
nghị, xây dựng Luật Doanh nghiệp mới với những điều khoản đáp ứng đòi hỏi
đầu tư, kinh doanh và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, đủ chi tiết để điều
chỉnh hành vi của doanh nghiệp. Nghị định của Chính phủ chỉ để hướng dẫn thi
hành luật, không chứa đựng nội dung luật như hiện nay, tốt nhất là không có
thông tư của các bộ.
Đối với Luật Đầu tư năm 2005, nhiều ý kiến nhận xét rằng, nội dung của luật
này trùng lặp với nhiều luật khác, do vậy nên hình thành Chương Đầu tư trong
Luật Doanh nghiệp, bởi vì đầu tư là hoạt động chính của doanh nghiệp. Cũng có
ý kiến cho rằng, trong Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2005 không chú
ý đặc điểm của FDI và doanh nghiệp FDI, nên đã không điều chỉnh được mọi
hành vi liên quan đến FDI, làm giảm hiệu năng quản lý nhà nước đối với khu

vực kinh tế này. Do vậy, Luật Doanh nghiệp mới cần khắc phục nhược điểm đó.
Hơn thế, trước thực trạng nhiều doanh nghiệp FDI đang gặp khó khăn do tác
động từ khủng hoảng kinh tế thế giới và lạm phát cao trong nước, thì Chính phủ
và chính quyền các cấp cần tiếp cận, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua
tình trạng kinh doanh kém hiệu quả. Đó chính là cách xúc tiến đầu tư tốt nhất, vì
chính các doanh nghiệp này sẽ quảng bá rộng rãi chính sách và phương thức
hoạt động của bộ máy nhà nước ra bên ngoài.
Các cuộc vận động đầu tư cần hướng chủ yếu vào 500 TNCs hàng đầu thế
giới đối với dự án công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, nghiên cứu và phát triển,
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thường xuyên cập nhật thông tin về điều
kiện đảm bảo đầu tư theo yêu cầu của từng TNCs thay cho những cuộc hội thảo
đông người kém hiệu quả. Sau khủng hoảng kinh tế thế giới, TNCs điều chỉnh
thị trường đầu tư, có thể Việt Nam không còn được lựa chọn hoặc được đưa vào
diện ưu tiên, do đó cần theo dõi để biết được chiến lược đầu tư mới của TNCs.
Các bộ lập và công bố quy hoạch ngành kinh tế - kỹ thuật đủ chi tiết, gắn với
quy hoạch vùng lãnh thổ, xây dựng tiêu chuẩn, định mức để hướng dẫn chính
quyền địa phương thực hiện, bảo đảm việc phân cấp quản lý vừa phát huy được
tính năng động, sáng kiến của tỉnh, thành phố, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia. Trên
cơ sở đó, chuyển trọng tâm quản lý nhà nước đối với FDI sang hướng dẫn, theo
dõi, kiểm tra doanh nghiệp khi đưa dự án đầu tư vào hoạt động theo đúng quy
định luật pháp.
Hiện nay, Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đang xây dựng
Trung tâm Thông tin được nối mạng với các sở kế hoạch và đầu tư, ban quản lý
KCN, KKT, doanh nghiệp FDI, hải quan, cơ quan thuế, ngân hàng để khắc phục
nhược điểm thiếu thông tin, không cập nhật, nhằm đánh giá đúng thực trạng và
đề ra giải pháp xử lý kịp thời đối với hoạt động FDI trong cả nước. Đây là điều
đáng mừng.
Bài học thành công và thất bại trong kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế,
trong đó có thu hút FDI là tài sản quý giá để người Việt Nam khôn ngoan hơn,
để tiếp nhận vốn đầu tư quốc tế có hiệu quả hơn và phát triển bền vững hơn.

×