Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

đề án đề tài nguồn vốn và quản lý nguồn vốn của ngân hàng thương mại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (475.53 KB, 53 trang )

Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
ĐỀ TÀI: NGUỒN VỐN VÀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng thương mại (NHTM) là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong
lĩnh vực tiền tệ, tín dụng - Một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền
kinh tế. Việc tạo lập, tổ chức và quản lý vốn của NHTM là một trong những vấn
đề được quan tâm hàng đầu không chỉ vì lợi ích riêng của bản thân các NHTM mà
còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế.
Thực tiễn thị trường tài chính Việt Nam trong những năm gần đây đang
chứng kiến bước phát triển vượt bậc của các NHTM. Các NHTM không ngừng
tăng vốn, tăng dư nợ tín dụng, mở rộng mạng lưới chi nhánh hoạt động nỗ lực
cải thiện tình hình hoạt động của bản thân để có thể đứng vững trước yêu cầu cấp
bách của đời sống kinh tế xã hội đất nước, trước sự cạnh tranh gay gắt của thị
trường trong nước và quốc tế. Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết đó, đặt ra cho
các NHTM là phải xây dựng các chiến lược tìm kiếm , huy động vốn đồng thời
phải quản lý chặt chẽ tình hình nguồn vốn nhằm tiếp tục duy trì củng cố và mở
rộng thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh và tiềm năng của ngân hàng.
Trong khuôn khổ đề tài “Nguồn vốn và quản lý nguồn vốn của Ngân hàng
thương mại ” xin giải quyết 3 vấn đề cơ bản. Chương thứ nhất trình bày lý luận về
Nguồn vốn và quản lý nguồn vốn trong hệ thống NHTM trên phương diện chung.
Chương thứ hai xem xét tình hình nguồn vốn của NHTM Việt Nam trong những năm gần
đây và chương thứ ba dựa trên cơ sở thực trạng đã phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm tạo lập vốn và quản lý vốn cho NHTM một cách hiệu quả.
Trong quá trình viết, chắc chắn em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em
rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn nhằm giúp cho
đề án của em được hoàn thiện hơn.
-1-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
CHƯƠNG 1
NGUỒN VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN CỦA NGÂN HÀNG


THƯƠNG MẠI
1.1. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng
tạo lập, huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng. Nguồn vốn
của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu , Vốn huy động, Vốn đi vay và một số vốn khác.
1.1.1. Vốn chủ sở hữu
* Khái niệm: Vốn chủ sở hữu (VCSH) hay còn gọi là vốn tự có là số vốn thuộc quyền sở
hữu của NHTM. Đó là nguồn tiền đóng góp chủ yếu bởi những người chủ ngân hàng và
nó còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại. Vốn chủ sở
hữu của NH bao gồm nhiều loại khác nhau và được phân thành vốn cấp 1 (vốn cơ bản)
được xem là sức mạnh và tiềm lực thực sự của ngân hàng ; Vốn cấp 2 (vốn bổ sung) được
giới hạn tối đa bằng 100% vốn cấp 1.
1.1.1.1.Thành phần vốn chủ sở hữu
a) Vốn cấp 1
Vốn cấp 1 bao gồm:
 Vốn điều lệ (Satutory Capital)
- Đây là số vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Vốn điều lệ của mỗi
ngân hàng được hình thành do tính chất sở hữu của ngân hàng quyết định, tức là
nguồn vốn này có thể do Nhà nước cấp hoặc huy động từ các cá nhân trong xã hội.
+ Nếu là NHTM Nhà nước, vốn điều lệ do ngân sách nhà nước cấp khi thành lập.
+ Nếu là NHTM Cổ phần, vốn điều lệ do sự đóng góp của các cổ đông dưới hình
thức phát hành cổ phiếu (Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi vĩnh viễn)
+ Nếu là NH Liên doanh, vốn điều lệ là vốn đóng góp cổ phần của các ngân hàng
tham gia liên doanh.
+ Nếu là Chi nhánh NH nước ngoài hoạt động ở Việt Nam, vốn điều lệ là do NH
mẹ ở nước ngoài cấp.
- Không tính vào chỉ tiêu này số vốn đã được các chủ sở hữu cam kết nhưng chưa
cấp đủ, góp đủ.
- Vốn điều lệ nhiều hay ít phụ thuộc vào khả năng tài chính của các chủ sở hữu và
ý đồ thành lập NH với quy mô, phạm vi hoạt động khác nhau. Vốn điều lệ của mỗi

NH ít nhất phải bằng mức vốn pháp định, là số vốn do Chính phủ quy định trong
từng thời kỳ cho từng loại hình NH. Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng có
thể tăng thêm vốn điều lệ nhưng phải công bố công khai vốn điều lệ mới. Cụ thể
NHTM Cổ phần có thể phát hành thêm cổ phần, NHTM Nhà nước có thể xin cấp
thêm vốn Ngân sách để mở rộng quy mô hoạt động, chống đỡ rủi ro.
- Vốn điều lệ chủ yếu được dùng để mua sắm bất động sản, động sản, trang thiết
bị cho hoạt động ngân hàng, ngoài ra còn được dùng để góp vốn liên doanh, cho
vay, mua cổ phần của công ty khác. Không được dùng vốn điều lệ đế chia lợi tức,
-2-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
lập quỹ phúc lợi khen thưởng. Như vậy, đến khi ngân hàng hoạt động, vốn điều lệ
có thể đã nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi, xe cộ, trang thiết bị, dự trữ
hay kí quỹ tại NHTW hoặc đầu tư vào một thương vụ nào đó
 Các quỹ dự trữ (Reserve funds)
-Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm của
NHTM theo một tỷ lệ nhất định tùy theo luật lệ NH của mình nhằm mục đích tăng
cường vốn chủ sở hữu ban đầu.
-Quỹ dự phòng tài chính: để dự phòng bù đắp rủi ro trong quá trình hoạt động kinh
doanh của ngân hàng nhằm bảo toàn vốn điều lệ.
-Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ: dùng để nghiên cứu , đào tạo và triển khai các
dịch vụ mới.
Quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ được trích lập từ lợi
nhuận sau thuế. Việc trích lập và sử dụng các quỹ này được thực hiện theo quy
định của Pháp luật trong từng thời kỳ.
 Lợi nhuận không chia
- Đối với các NHTM Cổ phần, lợi nhuận sau thuế sau khi bù đắp các khoản chi phí
đặc biệt, thường được chia làm hai phần: một phần chia cho các cổ đông theo giá
trị các cổ phần và một phần bổ sung vào vốn chủ sở hữu dưới tên gọi “Lợi nhuận
tích lũy lại”- Lợi nhuận không chia. Phần này bản chất thuộc sở hữu của các cổ
đông, song được vốn hóa nhằm mở rộng quy mô vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận không

chia của tổ chức tín dụng cổ phần phải được Đại hội cổ đông thông qua.
- Đối với các NHTM Nhà nước, lợi nhuận sau thuế sau khi trừ thua lỗ (năm trước)
và các chi phí đặc biệt được trích bổ sung VCSH theo quy định của Nhà nước.
 Thặng dư Vốn cổ phần (Đ/v các NHTM Cổ phần)
Trong quá trình hoạt động, có thể thị giá cổ phiếu của ngân hàng lớn hơn mệnh
giá. Khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới, phần chênh lệch giữa thị giá và mệnh
giá được ghi lại dưới tên gọi thăng dư của vốn.
*Giới hạn khi xác định vốn tự có cấp 1: Vốn tự có cấp 1 phải trừ đi giá trị lợi thế
thương mại.
Lợi thế thương mại là phần chênh lệch lớn hơn giữa số tiền mua một tài sản tài chính và
giá trị sổ sách kế toán của tài sản tài chính đó. Tài sản tài chính này được phản ánh đầy
đủ trên bảng cân đối của tổ chức tín dụng.
Vốn cấp 1 được dùng làm căn cứ để xác định giới hạn mua cổ phiếu, đầu tư vào tài
sản cố định của Tổ chức Tín dụng.
b) Vốn cấp 2
Vốn cấp 2 bao gồm:
 Giá trị tăng thêm của tài sản cố định và giá trị tăng thêm của các loại chứng
khoán đầu tư (kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp) được định giá lại theo quy định của
Pháp luật
- Được tập hợp vào quỹ đánh giá lại.
-3-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
- Do giá trị thị trường của Tài sản có thể thay đổi theo thời gian nên vốn do đánh giá lại
tài sản thường không ổn định, vì vậy các ngân hàng chỉ được tính vào vốn cấp 2 một phần
giá trị tăng thêm của tài sản. Cụ thể là chỉ lấy 50% phần giá trị tăng thêm của TSCĐ
và 40% phần giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu tư được định giá lại
theo quy định của pháp luật.
 Dự phòng chung
- Kinh doanh của NH luôn gắn liền với rủi ro. Do vậy, các ngân hàng đều trích lập
các khoản dự trữ nhằm bù đắp tổn thất. Dự phòng chung là khoản tiền được trích

lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại
nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của
NH khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Việc trích lập và sử dụng dự phòng
chung được thực hiện theo quy định của pháp luật. Theo quy định hiện hành thì số
tiền dự phòng chung được tính vào vốn cấp 2 tối đa bằng 1,25% tổng tài sản “Có”
rủi ro.
- Nếu tổn thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập thì vốn chủ sở hữu sẽ tăng
và ngược lại. Một số ngân hàng không hạch toán quỹ này vào vốn chủ sở hữu mà
vào các khoản nợ do nguồn gốc của quỹ là trích từ thu nhập trước thuế như một
khoản chi phí và khi cần sẽ được chi ra để bù đắp tổn thất.
 Cổ phiếu ưu đãi có thời hạn, các trái phiếu có khả năng chuyển đổi thành
cổ phiếu và một số công cụ nợ khác thỏa mãn yêu cầu do NHNN quy định.
- Đây thực chất là khoản nợ vốn dài hạn do các nhà đầu tư bên ngoài đóng góp. Vì
vậy các nhà quản lý ngân hàng chỉ được tính vào vốn cấp 2 khi các công cụ này
thỏa mãn các điều kiện do NHNN quy định về thời hạn, về đảm bảo của ngân hàng
phát hành, về điều chỉnh tăng lãi suất, về thanh toán nợ gốc và lãi.Cụ thể :
+ Trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do tổ chức tín dụng phát hành
thỏa mãn những điều kiện sau:
• Có kỳ hạn ban đầu, thời hạn còn lại trước khi chuyển đổi thành cổ phiếu
phổ thông tối thiểu là 5 năm.
• Không được đảm bảo bằng tài sản của chính tổ chức tín dụng.
• Tổ chức tín dụng không được mua lại theo đề nghị của người sở hữu
hoặc mua lại trên thị trường thứ cấp, hoặc tổ chức tín dụng chỉ được mua lại sau
khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
• Tổ chức tín dụng được ngừng trả lãi và chuyển lãi lũy kế sang năm tiếp
theo nếu việc trả lãi dẫn đến kết quả kinh doanh trong năm bị lỗ.
• Trong trường hợp thanh lý tổ chức tín dụng, người sở hữu trái phiếu
chuyển đổi chỉ được thanh toán sau khi tổ chức tín dụng đã thanh toán cho tất cả
các chủ nợ có bảo đảm và không có bảo đảm khác.
• Việc điều chỉnh tăng lãi suất chỉ được thực hiện sau 5 năm kể từ ngày

phát hành và được điều chỉnh một lần trong suốt thời hạn trước khi chuyển đổi
thành cổ phiếu phổ thông.
-4-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
+ Các công cụ nợ khác thỏa mãn những điều kiện sau:
• Là khoản nợ mà chủ nợ là thứ cấp so với các chủ nợ khác: trong mọi
trường hợp, chủ nợ chỉ được thanh toán sau khi tổ chức tín dụng đã thanh toán cho
tất cả các chủ nợ có bảo đảm và không bảo đảm khác.
• Có kỳ hạn ban đầu tối thiểu trên 10 năm.
• Không được đảm bảo bằng tài sản của chính tổ chức tín dụng.
• Tổ chức tín dụng được ngừng trả lãi và chuyển lãi lũy kế sang năm tiếp
theo nếu việc trả lãi dẫn đến kết quả kinh doanh trong năm bị lỗ.
• Chủ nợ chỉ được tổ chức tín dụng trả nợ trước hạn sau khi được Ngân
hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản.
• Việc điều chỉnh tăng lãi suất chỉ được thực hiện sau 5 năm kể từ ngày
ký kết hợp đồng và được điều chỉnh một lần trong suốt thời hạn của khoản vay.
- Việc gia tăng loại vốn này có nhiều ưu điểm đối với quản lý ngân hàng như
không làm thay đổi quyền kiểm soát, hạn chế giảm cổ tức
* Tuy nhiên khi xác định tổng vốn tự có để tính tỷ lệ an toàn tối thiểu, các NHTM
phải khấu trừ khỏi vốn cấp 1 và vốn cấp 2 một số khoản mục như sau:
• Toàn bộ phần giá trị giảm đi của tài sản cố định
• Toàn bộ phần giá trị giảm đi của các loại chứng khoán đầu tư (kể cả cổ
phiếu đầu tư, vốn góp)
• Tổng số vốn của TCTD đầu tư vào TCTD khác dưới hình thức góp vốn,
mua cổ phần và tổng các khoản đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần nhằm
nắm quyền kiểm soát vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm,
chứng khoán
• Phần vượt mức vốn tự có của TCTD đối với khoản góp vốn, mua cổ
phần (Phần vượt mức 15% vốn tự có của TCTD đối với khoản góp vốn, mua cổ
phần của TCTD vào một doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư và phần vượt

mức 40% vốn tự có của TCTD đối với tổng các khoản góp vốn, mua cổ phần của
TCTD vào các doanh nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, ngoại trừ phần vượt mức
15% đã trừ khỏi vốn tự có nêu trên)
• Khoản lỗ kinh doanh (bao gồm cả những khoản lỗ luỹ kế).
1.1.1.2. Vai trò của vốn chủ sở hữu và các nhân tố ảnh hưởng vốn chủ sở hữu
a) Vai trò
Do tính chất đặc thù trong kinh doanh nên vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một tỷ
trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM (khoảng < 10%). Song vốn
chủ sở hữu của ngân hàng lại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân
hàng.
- VCSH tạo lập tư cách pháp nhân và duy trì hoạt động của ngân hàng.
+ Nó cung cấp nguồn lực ban đầu giúp NH mới thành lập hoạt động. Số
vốn này trước hết để mua sắm (thuê) trang thiết bị, văn phòng cần thiết cho quá
-5-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
trình kinh doanh, phần còn lại tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng
như cho vay hoặc mua chứng khoán.
+ Nó cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các
hình thức dịch vụ mới, cho những chương trình, công nghệ mới, trang thiết bị mới.
Khi NH phát triển, nó cần vốn bổ sung để thúc đẩy tăng trưởng và cạnh tranh tốt
với các ngân hàng khác thông qua dịch vụ mới và trang thiết bị mới.
- VCSH đóng vai trò là một tấm đệm giúp NHTM chống lại rủi ro trong quá trình
hoạt động. Khi cơ quan bảo hiểm tiền gửi thành lập, VCSH góp phần giảm bớt rủi
ro cho cơ quan bảo hiểm.
- VCSH tạo niềm tin cho công chúng và là sự đảm bảo đối với người gửi tiền, chủ
nợ về sức mạnh tài chính của ngân hàng.
- VCSH là một trong những căn cứ góp phần điều chỉnh các hoạt động của NHTM
Rất nhiều quy định về hoạt động của NHTM của các nhà chức trách tiền tệ có liên
quan chặt chẽ với VCSH. Ví dụ như để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh
doanh, các NHTM phải duy trì tỷ lệ an toàn tối thiểu là 8% giữa VCSH với tổng

tài sản có rủi ro ; những quy định khác như quy mô nguồn tiền gửi được tính theo
tỷ lệ VCSH , mức dư nợ cho vay tối đa đối với một khách hàng (theo quy định
hiện hành là 15 % VCSH của NH), nắm giữ cổ phiếu của công ty khác, mở chi
nhánh, mua sắm TSCĐ, thành lập công ty con đều tính theo tỷ lệ VCSH. Như
vậy quy mô và cấu trúc hoạt động của NHTM được điều chỉnh theo VCSH .
b) Các nhân tố ảnh hưởng
- Chính sách của Chính phủ tác động trực tiếp đến quy mô và cấu trúc của nguồn
VCSH
Các NHTM phải điều chỉnh VCSH trong từng thời kỳ theo các quy định của
Chính phủ về vốn pháp định, các tỷ lệ trích quỹ dự trữ, lợi nhuận không chia
- Chính sách và kết quả kinh doanh của NHTM
Nếu ngân hàng làm ăn phát đạt và có chính sách gia tăng sức mạnh thì có thể sẽ
tăng VCSH thông qua phát hành thêm cổ phiếu hoặc tự tích lũy. Những ngân hàng
nhỏ, khả năng sinh lời thấp thì khả năng mở rộng VCSH cũng bị hạn chế.
1.1.2. Vốn huy động (Mobilized Capital)
1.1.2.1. Thành phần vốn huy động
Vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và ngoại tệ) và
bằng vàng được hình thành từ hai bộ phận: Vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy
động thông qua phát hành chứng từ có giá.
a)Vốn huy động từ tiền gửi
Các khoản tiền gủi là những giá trị tiền tệ mà NH nhận được từ các tổ chức
kinh tế-xã hội và các cá nhân trong nền kinh tế thông qua quá trình thực hiện các
nghiệp vụ huy động, thanh toán và các nghiệp vụ khác và được dùng để kinh
doanh. Bản chất của tiền gửi là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau mà ngân
hàng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu.
Để huy động vốn, các NHTM đã cung cấp rất nhiều loại tiền gửi khác nhau
cho khách hàng lựa chọn. Mỗi công cụ huy động tiền gửi mà NH đưa ra đều có
-6-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
những điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với nhu cầu của khách hàng

trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Vốn tiền gửi của NHTM có thể huy
động từ các tổ chức kinh tế-xã hội, dân cư, ngân hàng và các tổ chức tín dụng
khác Trong đó, nguồn tiền gửi từ các doạn nghiệp và dân cư là nguồn quan trọng
nhất vì nó là nguồn chủ yếu và mang tính chất lâu dài.
Thông thường tiền gửi NHTM được chia thành các loại sau:
 Tiền gửi không kỳ hạn
Ở Việt Nam, tiền gửi không kỳ hạn được hiểu là loại tiền gửi mà khách
hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thực hiện theo yêu cầu này.
Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi không kỳ hạn
thuần túy
• Tiền gửi thanh toán
Là loại tiền gửi được ký thác vào NH để thực hiện các khoản chi trả trong
hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Đây là một bộ phận tiền đang chờ
thanh toán mà không phải là tiền để dành, do vậy khách hàng gửi tiền không mất
quyền sử dụng số tiền này. Họ có thể rút ra, chuyển nhượng hoặc chi trả trong
thanh toán bất kỳ lúc nào. Trong việc sử dụng tiền gửi thanh toán, khách hàng
thường dùng các công cụ thanh toán để chi trả như sec, lệnh chuyển tiền
 Tài khoản tiền gửi thanh toán (Tài khoản giao dịch hoặc tài khoản sec)
Tài khoản này dư có, khách hàng chỉ được sử dụng trong phạm vi tiền
gửi của mình. Tài khoản sec hay tài khoản giao dịch hiện nay ở Việt Nam có hai
loại:
+ Tài khoản thanh toán dùng cho các tổ chức kinh tế-xã hội
+ Tài khoản thanh toán dùng cho cá nhân
 Tài khoản vãng lai
Tài khoản này có thể dư có hoặc dư nợ, nghĩa là khách hàng ngoài việc
sử dụng số tiền gửi của mình còn được dùng khoản tiền do ngân hàng cho vay
theo sự thỏa thuận trước giữa ngân hàng và khách hàng.
Nhìn chung, lãi suất của loại tiền gửi thanh toán rất thấp thậm chí có
những tiền gửi ngân hàng không phải trả lãi. Do đó, nguồn vốn này giúp cho ngân
hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư.

• Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy
Đây là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng,
họ gửi tiền vào ngân hàng không mang tính chất để thanh toán mà nhằm mục đích
an toàn tài sản, khi cần khách hàng đến ngân hàng rút tiền để chi tiêu.
Cũng giống như tiển gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn thuần túy có mức
lãi suất rất thấp
* Đối với tiền gửi không kỳ hạn, mặc dù việc gửi và rút tiền có thể thực hiện bất
kỳ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước nhưng trên thực tế luôn có sự chênh lệch
về thời gian và số lượng giữa việc gửi và rút tiền, cho nên tại mỗi ngân hàng luôn
-7-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
tồn tại một số dư tiền gửi không kỳ hạn và ngân hàng có thể sử dụng để cho vay
(chủ yếu vay ngắn hạn).
 Tiền gửi có kỳ hạn
Đây là những khoản tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội có
thỏa thuận về thời gian rút tiền. Về nguyên tắc, người gửi chỉ có thể rút tiền theo
thời hạn đã thỏa thuận. Nhưng trên thực tế, để thu hút loại tiền gửi này với kỳ hạn
dài, các NHTM thường cho phép rút tiền trước thời hạn nhưng khách hàng chỉ
được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc hưởng mức lãi suất tương ứng theo loại kỳ
hạn nhất định do NHTM quy định. Tuy không thuận lợi cho người tiêu dùng bằng
hình thức tiền gửi thanh toán, song lãi suất của nó cao hơn.
Nguồn vốn này có độ ổn định cao, chiếm khoảng 40% tiền gửi, ngân hàng
chủ động trong quá trình sử dụng. Vì vậy, để có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửi
này các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau, mỗi kỳ hạn có một
mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài , lãi suất càng cao.
 Tiền gửi tiết kiệm
Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của NHTM . Tiền gửi tiết kiệm
thường là khoản thu nhập của dân cư tạm thời chưa có nhu cầu sử dụng ngay gửi
vào ngân hàng. NHTM thường trả lãi cho tiền gửi tiết kiệm cao hơn lãi suất của
tiền gửi không kỳ hạn. Người gửi được giao cho một sổ tiết kiệm phục vụ cho việc

ghi ghi chép gửi và rút tiền. Sổ tiết kiệm này không dùng để thanh toán tiền hàng
và dịch vụ, song có thể dùng làm vật cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốn
ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết
kiệm có kỳ hạn với các kỳ hạn khác nhau.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn gồm hai loại:
• Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được hưởng lãi: Đối với loại này, NHTM
có thể áp dụng hình thức trả lãi trước hoặc trả theo định kỳ hoặc lãi trả cùng nợ
gốc
• Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có lãi và thưởng: Đối với loại này, ngoài lãi
suất được hưởng người gửi còn được thưởng dưới hình thức bằng vàng, tiền hoặc
hiện vật khác nếu trúng thưởng.
Trên thực tế, tiền gửi tiết kiệm chiếm một tỷ trọng khá lớn (khoảng 1/4) trong
tổng vốn huy động của NHTM. Để khai thác nguồn vốn này, các ngân hàng luôn
chú trọng đến việc đa dạng hoá các hình thức huy động như: huy động bằng vàng,
huy động tiền gửi có đảm bảo vàng, tiết kiệm xây dựng nhà ở, tiết kiệm gửi một
nơi nhưng lĩnh nhiều nơi với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn.
 Tiền gửi khác
Ngoài các loại tiền gửi trên, tại các NHTM còn có một số khoản tiền gửi khác
như:
-8-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
• Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác
• Tiền gửi của kho bạc Nhà nước
• Tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội
b)Vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá
Đây là phần vốn mà NHTM có được qua việc phát hành các giấy tờ có giá như
kỳ phiếu ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi.
Đối tượng mua kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi là các tổ
chức, cá nhân trong nền kinh tế, ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu

nhập tạm thời chưa sử dụng đến để mua, trên thực tế đây còn là một kênh đầu tư
của người có vốn trong xã hội khi họ không có khả năng đầu tư trực tiếp. Các kỳ
phiếu, trái phiếu này có khả năng chuyển đổi dễ dàng ra tiền khi cần thiết bằng
cách mua bán, chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chứng khoán tại NHTM.
Với cách huy động vốn này, NH có thể tập trung một khối lượng vốn lớn trong
thời gian ngắn và NH chủ động sử dụng. Cho nên hình thức này thường được thực
hiện khi ngân hàng đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải
ngân nhanh của khách hàng hay sau khi đã cân đối giữa vốn và sử dụng vốn trong
toàn bộ hệ thống mà vẫn còn thiếu và phải được sự đồng ý của Thống đốc NHNN.
Tuy nhiên các khoản vay này thường không có đảm bảo. Những ngân hàng có
uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn được nhiều hơn. Các NH nhỏ thường khó
vay mượn trực tiếp bằng cách này. Họ thường thông qua các NH đại lý hoặc được
bảo lãnh của NH đầu tư. Đối với khoản vay này, NH cần nghiên cứu kỹ thị trường
để quyết định quy mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay mượn thích hợp. Các vấn
đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ cũng được các NH quan
tâm.
1.1.2.2. Vai trò và các nhân tố ảnh hưởng vốn huy động
a) Vai trò
Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ vốn
kinh doanh (khoảng 80%) của NHTM . Đây là nguồn vốn có ảnh hưởng rất lớn
đến chi phí và khả năng mở rộng kinh doanh của NH. Nguồn vốn này có xu hướng
ngày càng gia tăng phù hợp với xu hướng tăng trưởng nhưng ổn định của nền kinh
tế, với việc gia tăng nhu cầu thanh toán của dân cư và với việc cải tiến nâng cao
chất lượng dịch vụ của NHTM .
b) Các nhân tố ảnh hưởng
 Nhân tố chủ quan
• Chính sách lãi suất của NHTM
Như chúng ta đã biết, yếu tố quan trọng nhất giúp cho khách hàng gửi tiền tại
NH vì họ mong hưởng được một phần thu nhập từ khoản tiền gửi đó. Do đó,
Chính sách lãi suất của NHTM ảnh hưởng rất lớn đến khả năng huy động vốn của

họ. Tùy thuộc điều kiện hiện có của mỗi NH thì các NH đưa ra từng mức lãi suất
-9-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
đối với từng loại hình tiền gửi làm sao có thể tạo nên tính hấp dẫn cho Khách
hàng, từ đó sẽ huy động nhiều hơn (Nếu các yếu tố khác như nhau).
• Chất lượng cung cấp dịch vụ của NHTM
Đây cũng là nhân tố không kém phần quan trọng, ảnh hưởng đến nguồn vốn
huy động của NHTM. Các tổ chức cũng như các cá nhân ngoài mục đích hưởng
lợi nhuận từ đồng tiền nhàn rỗi của mình, họ cũng muốn được hưởng lợi ích từ các
dịch vụ như dịch vụ thanh toán, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thẻ sec, thẻ tín dụng,
tư vấn Như vậy, những ngân hàng nào cung cấp những dịch vụ tốt hơn, tiện ích
hơn thì ngân hàng đó sẽ thu hút nhiều khách hàng và nhiều vốn hơn.
• VCSH của NHTM , ảnh hưởng tới uy tín của NHTM .
Sự an toàn và uy tín của NHTM cũng là những nhân tố quan trọng tạo lòng
tin đối với khách hàng, thu hút được nhiều lượng tiền gửi hơn.
• Ngoài các nhân tố trên thì còn có một số nhân tố khác ảnh hưởng đến
khả năng tăng trưởng nguồn vốn huy động của NHTM và cũng là yếu tố mà các
NH của các nước đang phát triển phải đặc biệt quan tâm đầu tư để rút ngắn khoảng
cách với các nước phát triển, tạo điều kiện trong việc thu hút vốn cũng như thực
hiện các dịch vụ ngân hàng. Đó là các nhân tố như mạng lưới huy động vốn, trình
độ công nghệ và cơ sở vật chất của NH, trình độ làm việc của cán bộ công nhân
viên ngân hàng.
 Nhân tố khách quan
• Chính sách của NHTW đối với NHTM
Sự kiểm soát chặt chẽ bởi NHTW như chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá,
việc quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động gián tiếp đến nguồn vốn huy động của
NHTM.
+ Việc NHTW quy định khung lãi suất tiền gửi, hoặc là quy định tăng
hoặc hạ lãi suất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hút vốn của NHTM.
+ Chính sách tỷ giá của NHTW cũng ảnh hưởng đến khả năng thu hút

vốn của NHTM vì chính sách tỷ giá liên quan đến tỷ lệ trượt giá của đồng tiền, do
đó sẽ ảnh hưởng đến lãi suất tiền gửi

• Thông tin đại chúng
Đây là phương tiện để chuyển tải những thông tin về NH, thông tin về chính
sách lãi suất hay những tiện ích của NHTM đến mọi người. Tuy nhiên nó có thể
tác động tích cực hoặc cũng có thể tác động tiêu cực đến hoạt động của NH, qua
đó sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nguồn vốn huy động.
• Những nhân tố liên quan đến dân cư: như thói quen chi tiêu của dân
chúng, trình độ văn hóa của dân cư, sự tin tưởng của người dân vào NH
1.1.3.Vốn vay (Borrowed Capital)
Trong quá trình kinh doanh của các NHTM có tình trạng tạm thời thừa vốn
hoặc thiếu vốn. Các NH sử dụng quan hệ vãng lai, vay và cho vay vốn để tận dụng
-10-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
cơ hội kinh doanh hoặc bảo đảm khả năng thanh toán. NHTM có thể vay vốn ở
NHTM khác hoặc vay vốn ở NHTW.
1.1.3.1. Thành phần vốn vay
a) Vốn vay của Tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của ác Tổ chức tín dụng
khác thông qua thị trường liên ngân hàng (Interbank Market). Quá trình vay mượn
phải đảm bảo các nguyên tắc:
• Các NH phải hoạt động hợp pháp
• Thực hiện việc cho vay và đi vay theo đúng hợp đồng tín dụng
• Vốn vay phải được đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố hoặc xin bảo lãnh
của NHTW.
Ngoài ra, NHTM trong nước có thể vay các NHTM nước ngoài.
b) Vốn vay của NHTW
Theo nguyên tắc NHTW là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế, vì vậy
sau khi các NHTM vay vốn từ các nguồn khác mà vẫn chưa đủ thì NHTM có thể

được NHTW cho vay vốn.
Ở Việt Nam hiện nay, NHNN cho các tổ chức tín dụng là ngân hàng vay vốn
ngắn hạn dưới hình thức tái cấp vốn theo các loại sau:
• Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng
• Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn
khác
• Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá
ngắn hạn khác.
Ngoài ra, NHNN còn cho NHTM vay bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toán
bù trừ và trong trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận,
NHNN cho vay đối với NHTM tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất
an toàn cho hệ thống.
1.1.3.2. Vai trò và nhân tố ảnh hưởng vốn vay
a) Vai trò
Vốn vay của Tổ chức tín dụng khác và vay của NHTW thường chiếm tỷ trọng
không lớn trong tổng vốn kinh doanh của NHTM, nhưng nó có vị trí quan trọng
góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Đặc biệt nó còn
có ý nghĩa trong việc đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu
suất sử dụng vốn của NHTM.
b) Các nhân tố ảnh hưởng
• Chính sách tiền tệ từng thời kỳ
Khi mục tiêu của chính sách tiền tệ là mở rộng, việc vay NHNN sẽ trở nên dễ
dàng hơn đối với các NHTM nhờ lãi suất tái chiết khấu thấp. Ngược lại khi chính
sách tiền tệ thắt chặt được triển khai, NHNN sẽ tăng mức lãi suất tái chiết khấu để
hạn chế việc NHTM đến vay tiền
• Uy tín của NHTM
-11-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
1.1.4. Các nguồn vốn khác
1.1.4.1. Vốn trong thanh toán

Vốn trong thanh toán là số vốn có được do ngân hàng làm trung gian thanh
toán trong nền kinh tế. Cụ thể:
- Số vốn trong thời gian đã trích khỏi tài khoản của người trả nhưng chưa chuyển
vào tài khoản của người hưởng do phải luân chuyển, xử lý chứng từ thanh toán.
- Số vốn trong thời gian khách hàng lưu ký tại NH nhưng chưa thanh toán trong
một số hình thức thanh toán như sec bảo chi, sec định mức, thư tín dụng (L/C), thẻ
tín dụng ký quỹ, các khoản tiền phong tỏa do NH chấp nhận hối phiếu thương
mại
Khi công nghệ thanh toán của NH ngày càng hiện đại, quy trình thủ tục thanh
toán được cải thiện thì thời gian của mỗi tài khoản thanh toán cũng giảm. Nhưng
do ngày càng nhiều khách hàng mở tài khoản và khoản thanh toán được thực hiện
ngày càng tăng làm cho số vốn này có điều kiện gia tăng.
1.1.4.2. Vốn ủy thác đầu tư, tài trợ của Chính phủ hoặc của các tổ chức, cá nhân
trong và ngoài nước cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội
Đây là nguồn vốn mà NH có được do làm đại lý nhận ủy thác của các tổ chức
trong và ngoài nước để thực hiện đầu tư cho những chương trình, dự án. NH chỉ
đóng vai trò là trung gian hưởng phí. Trong thời gian vốn được NH tiếp nhận
nhưng chưa giải ngân hết theo kế hoạch, hoặc vốn cho vay đã thu hồi về nhưng
chưa đến hạn chuyển lại cho chủ đầu tư, NH có được nguồn vốn để kinh doanh.
Ngoài ra, NHTM còn làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp
cũng như thu hộ lợi tức từ đầu tư chứng khoán cho khách hàng Những nghiệp
vụ này cũng tạo được thêm vốn cho NHTM.
* Đặc điểm: Nhìn chung, các nguồn vốn khác của NHTM thường không lớn, thời gian
sử dụng đôi khi rất ngắn nhưng điều đáng quan tâm là nguồn vốn này ngân hàng không
phải tốn kém chi phí huy động, lại có điều kiện phát triển các nghiệp vụ và dịch vụ ngân
hàng khác, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của khách hàng.
1.2.Quản lý nguồn vốn
1.2.1. Sự cần thiết phải quản lý nguồn vốn của NHTM
Quản lý nguồn vốn tức là quản lý tài sản nợ, nó cần thiết đối với bất kỳ đơn vị
kinh doanh nào. Quản lý nguồn vốn đối với NHTM nhằm mục đích:

- Khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội từ các tổ chức kinh tế và mọi
tầng lớp dân cư.
- Đảm bảo sự tăng trưởng nguồn vốn ổn định, bền vững, làm tiền đề cho việc nâng
cao thị phần, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu vốn cho khách hàng cả về số lượng, thời
hạn và lãi suất.
- Đảm bảo khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
1.2.2.Các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM
Các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD)
được thực hiện theo quy định của NHNN tại Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN
-12-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
và Quyết định 03/2007/QĐ-NHNN ngày 19/1/2007. Đây là các chỉ tiêu bắt buộc
áp dụng đối với các NHTM Việt Nam. Để quản lý nguồn vốn một cách hiệu quả
các NHTM phải thường xuyên theo dõi, điều chỉnh các tỷ lệ này theo quy định của
pháp luật.
1.2.2.1.Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Tổng số vốn tự có
Hệ số an toàn vốn =
Tổng tài sản có (kể cả các cam kết ngoại bảng)
được điều chỉnh theo mức độ rủi ro
Trong đó:
Tổng tài sản có rủi ro quy đổi = (Tài sản có rủi ro nội bảng X hệ số rủi
ro) + (Tài sản có rủi ro ngoại bảng X hệ số rủi ro)
a)Tài sản "Có" nội bảng được phân nhóm theo các mức độ rủi ro như sau:
 Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 0% gồm:
• Tiền mặt.
• Vàng.
• Tiền gửi bằng Đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng nhà nước đã
duy trì tại Ngân hàng chính sách xã hội theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày
4/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính

sách khác.
• Các khoản cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư theo các hợp đồng
ủy thác trong đó tổ chức tín dụng chỉ hưởng phí ủy thác và không chịu rủi ro.
• Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam đối với Chính phủ Việt
Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
• Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá do chính tổ chức
tín dụng phát hành.
• Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam được bảo đảm bằng giấy tờ
có giá do chính tổ chức tín dụng phát hành; Các khoản phải đòi được bảo đảm
hoàn toàn bằng tiền mặt, sổ tiết kiệm, tiền ký quỹ, giấy tờ có giá do Chính phủ,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành.
• Các khoản phải đòi đối với Chính phủ Trung ương, Ngân hàng
Trương ương các nước thuộc khối OECD.
• Các khoản phải đòi được bảo đảm bằng chứng khoán của Chính phủ
Trung ương các nước thuộc khối OECD hoặc được bảo lãnh bởi Chính phủ Trung
ương các nước thuộc khối OECD.
 Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 20% gồm:
• Các khoản phải đòi đối với tổ chức tín dụng khác ở trong nước và
nước ngoài, đối với từng loại đồng tiền.
• Các khoản phải đòi đối với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương; Các khoản phải đòi bằng ngoại tệ đối với Chính phủ Việt Nam,
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
-13-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
• Các khoản phải đòi được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do tổ chức tín
dụng khác thành lập tại Việt Nam phát hành.
• Các khoản phải đòi đối với tổ chức tài chính nhà nước; các khoản phải
đòi được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do các tổ chức tài chính nhà nước phát hành.
• Kim loại quý (trừ vàng), đá quý.
• Tiền mặt đang trong quá trình thu.

• Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng IBRD, IADB, ADB,
AFDB, EIB, EBRD và Các khoản phải đòi được các được các ngân hàng này bảo
lãnh hoặc được bảo đảm bằng chứng khoán do các ngân hàng này phát hành. Các
khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập ở các nước thuộc khối
OECD và các khoản phải đòi được bảo lãnh bởi các ngân hàng này.
• Các khoản phải đòi đối với các công ty chứng khoán được thành lập ở
các nước thuộc khối OECD có tuân thủ những thỏa thuận quản lý và giám sát về
vốn trên cơ sở rủi ro và những khoản phải đòi được các công ty này bảo lãnh.
• Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập ngoài các
nước thuộc khối OECD, có thời hạn còn lại dưới 1 năm và các khoản phải đòi có
thời hạn còn lại dưới 1 năm được các ngân hàng này bảo lãnh.
 Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 50% gồm:
• Các khoản đầu tư cho dự án theo hợp đồng, quy định tại Nghị định số
79/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của
công ty tài chính.
• Các khoản phải đòi có bảo đảm bằng Bất động sản của bên vay.
 Nhóm tài sản "Có" có hệ số rủi ro 100% gồm:
• Các khoản cấp vốn điều lệ cho các công ty trực thuộc không phải là tổ
chức tín dụng, có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập.
• Các khoản đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần vào các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế khác.
• Các khoản phải đòi đối với các ngân hàng được thành lập ở các nước
không thuộc khối OECD, có thời hạn còn lại từ 1 năm trở lên.
Các khoản phải đòi đối với chính quyền Trung ương của các nước không thuộc
khối OECD, trừ trường hợp cho vay bằng đồng bản tệ và nguồn cho vay cũng
bằng đồng bản tệ của các nước đó.
• Bất động sản, máy móc, thiết bị và tài sản cố định khác.
• Các khoản phải đòi khác
 Nhóm tài sản “Có” có hệ số rủi ro 150% gồm:
• Các khoản cho vay để đầu tư vào chứng khoán;

• Các khoản cho vay các công ty chứng khoán với mục đích kinh doanh,
mua bán chứng khoán.
• Các khoản cho vay các doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm “quyền
kiểm soát.”
b) Tài sản "Có" rủi ro của các cam kết ngoại bảng:
-14-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
 Các cam kết bảo lãnh, tài trợ cho khách hàng:
* Hệ số chuyển đổi
• Hệ số chuyển đổi 100%: Các cam kết không thể hủy ngang, thay thế
hình thức cấp tín dụng trực tiếp, nhưng có mức độ rủi ro như cấp tín dụng trực
tiếp, gồm:
 Bảo lãnh vay.
 Bảo lãnh thanh toán.
 Các khoản xác nhận thư tín dụng; Thư tín dụng dự phòng bảo lãnh
tài chính cho các khoản cho vay, phát hành chứng khoán; Các khoản chấp nhận
thanh toán bao gồm các khoản chấp nhận thanh toán dưới hình thức ký hậu, trừ
các khoản chấp nhận thanh toán hối phiếu.
• Hệ số chuyển đổi 50%: Các cam kết không thể hủy ngang đối với
trách nhiệm trả thay của tổ chức tín dụng, gồm:
 Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
 Bảo lãnh dự thầu.
 Bảo lãnh khác.
 Thư tín dụng dự phòng ngoài thư tín dụng quy định tại mục trên
 Các cam kết khác có thời hạn ban đầu từ 1 năm trở lên.
• Hệ số chuyển đổi 20%: Các cam kết liên quan đến thương mại, gồm:
 Thư tín dụng không hủy ngang.
 Chấp nhận thanh toán hối phiếu thương mại ngắn hạn, có bảo đảm
bằng hàng hóa.
 Bảo lãnh giao hàng.

 Các cam kết khác liên quan đến thương mại.
• Hệ số chuyển đổi 0%:
 Thư tín dụng có thể hủy ngang.
 Các cam kết có thể hủy ngang vô điều kiện khác, có thời hạn ban
đầu dưới 1 năm.
* Hệ số rủi ro
Hệ số rủi ro của giá trị các cam kết ngoại bảng sau khi chuyển đổi như sau:
• Hệ số rủi ro 0%: Các giá trị cam kết ngoại bảng được Chính phủ Việt
Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bảo lãnh hoặc được bảo đảm hoàn toàn bằng
tiền mặt, sổ tiết kiệm, tiền ký quỹ, giấy tờ có giá do Chính phủ, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam phát hành:
• Hệ số rủi ro 50%: Có tài sản bảo đảm bằng Bất động sản của bên vay
• Hệ số rủi ro 100%: Trường hợp khác
 Các hợp đồng giao dịch lãi suất và hợp đồng giao dịch ngoại tệ:
*Hệ số chuyển đổi:
• Hợp đồng giao dịch lãi suất:
 Có kỳ hạn ban đầu dưới 1 năm: 0,5%
 Có kỳ hạn ban đầu từ 1 năm đến dưới 2 năm: 1,0%
-15-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
 Có kỳ hạn ban đầu từ 2 năm trở lên: 1,0% cho phần kỳ hạn dưới 2
năm cộng thêm (+) 1,0% cho mỗi năm tiếp theo.
• Hợp đồng giao dịch ngoại tệ:
 Có kỳ hạn ban đầu dưới 1 năm: 2,0%
 Có kỳ hạn ban đầu từ 1 năm đến dưới 2 năm: 5,0%
 Có kỳ hạn ban đầu từ 2 năm trở lên: 5,0% cho phần kỳ hạn dưới 2
năm cộng thêm (+) 3,0% cho mỗi năm tiếp theo.
*Hệ số rủi ro: Hệ số rủi ro đối với giá trị các hợp đồng giao dịch lãi suất và
hợp đồng giao dịch ngoại tệ sau khi chuyển đổi nêu trên là 100%.
c) Theo quy định của NHNN Việt Nam các tổ chức tín dụng, trừ chi nhánh

ngân hàng nước ngoài, phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài
sản "Có" rủi ro. Hệ số này càng cao thì sức chịu đựng rủi ro của ngân hàng càng
lớn.
1.2.2.2. Giới hạn tín dụng đối với khách hàng .
a) Giới hạn cho vay, bảo lãnh:
 Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không
được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách
hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
 Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng
có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó
mức cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại mục
trên.
Tổng mức cho vay và bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhóm
khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của tổ chức tín
dụng.
 Tổng dư nợ cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với một
khách hàng tối đa không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài.
Tổng mức cho vay và bảo lãnh của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối
với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của ngân hàng nước
ngoài.
Tổng dư nợ cho vay của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với nhóm
khách hàng có liên quan không được vượt quá 50% vốn tự có của ngân hàng nước
ngoài, trong đó mức cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15%
vốn tự có của ngân hàng nước ngoài.
Tổng mức cho vay và bảo lãnh của chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối
với một nhóm khách hàng có liên quan không được vượt quá 60% vốn tự có của
ngân hàng nước ngoài.
b) Giới hạn cho thuê tài chính:
 Tổng mức cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt

quá 30% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính.
-16-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
 Tổng mức cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quan
không được vượt quá 80% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính, trong đó mức
cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại
mục trên.
c) Các giới hạn trên không áp dụng đối với trường hợp sau đây:
 Các khoản cho vay, cho thuê tài chính từ các nguồn vốn ủy thác của
Chính phủ, của các tổ chức khác.
 Các khoản cho vay đối với Chính phủ Việt Nam.
 Các khoản cho vay các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam, có
thời hạn dưới 1 năm.
 Các khoản cho vay có bảo đảm bằng trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu
do Chính phủ các nước thuộc khối OECD phát hành.
 Các khoản cho vay có bảo đảm đầy đủ bằng tiền gửi, kể cả tiền gửi tiết
kiệm, tiền ký quỹ tại tổ chức tín dụng.
 Các khoản cho vay có bảo đảm đầy đủ bằng chứng khoán nhận nợ do
chính tổ chức tín dụng phát hành.
 Các khoản cho vay vượt mức 15% vốn tự có đã được Thủ tướng Chính
phủ quyết định cụ thể; các khoản cho vay và bảo lãnh vượt mức 25% vốn tự có
của tổ chức tín dụng đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận trước bằng văn bản.
1.2.2.3. Tỷ lệ về khả năng chi trả
a) Tổ chức tín dụng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả đối
với từng loại đồng tiền, vàng như sau:
 Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản "Có" có thể thanh toán ngay và
các tài sản "Nợ" sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo.
 Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản "Có" có thể thanh toán ngay trong
khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản Nợ phải thanh toán
trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo.

b) Tài sản "Có" có thể thanh toán ngay bao gồm:
 Tiền mặt.
 Vàng.
 Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước.
 Số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi không kỳ hạn tại tổ chức tín dụng
khác và tiền gửi không kỳ hạn nhận của tổ chức tín dụng đó.
 Tiền gửi có kỳ hạn tại tổ chức tín dụng khác đến hạn thanh toán.
 Các loại chứng khoán do Chính phủ Việt Nam phát hành hoặc được
Chính phủ Việt Nam bảo lãnh
 Các loại chứng khoán do Chính phủ các nước thuộc khối OECD phát
hành
 Các loại chứng khoán do các ngân hàng của các nước thuộc khối OECD
phát hành.
-17-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
 Các hối phiếu của bộ chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu đã được ngân
hàng nước ngoài chấp nhận thanh toán, có thời hạn còn lại từ 01 tháng trở xuống:
100% số tiền ghi trên hối phiếu.
 80% các khoản cho vay có bảo đảm, cho thuê tài chính, sẽ đến hạn thanh
toán (gốc, lãi) trong thời gian 1 tháng.
 75% các khoản cho vay không có bảo đảm, đến hạn thanh toán.
 Các loại chứng khoán khác.
 Các khoản khác đến hạn phải thu.
c) Tài sản "Nợ" phải thanh toán bao gồm:
 Số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi nhận của tổ chức tín dụng khác và
tiền gửi tại tổ chức tín dụng đó đến hạn thanh toán.
 15% tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức (trừ tiền gửi của tổ chức tín dụng
khác), cá nhân.
 Giá trị các cam kết cho vay của tổ chức tín dụng đến hạn thực hiện.
 Tất cả các tài sản "Nợ" khác sẽ đến hạn thanh toán.

1.2.2.4. Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn
và dài hạn
a) Tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn tổ chức tín dụng được sử dụng để cho
vay trung hạn và dài hạn:
 Ngân hàng thương mại: 40%
 Tổ chức tín dụng khác: 30%
b) Nguồn vốn ngắn hạn của tổ chức tín dụng được sử dụng để cho vay trung
hạn và dài hạn bao gồm:
 Tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng của tổ chức (kể cả tổ
chức tín dụng khác), cá nhân.
 Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng của cá nhân.
 Nguồn vốn huy động dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn.
 Phần chênh lệch lớn hơn giữa số tiền vay của tổ chức tín dụng khác và
tiền cho tổ chức tín dụng đó vay có kỳ hạn dưới 12 tháng.
* Nếu Tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn và dài
hạn cao hơn tỷ lệ quy định trên thì phải có văn bản đề nghị Ngân hàng Nhà nước
chấp thuận, trong đó nêu rõ lý do, tỷ lệ tối đa và các biện pháp quản lý đáp ứng
khả năng chi trả. Ngân hàng Nhà nước chỉ có thể xem xét, chấp thuận đề nghị nói
trên của tổ chức tín dụng đã tuân thủ các tỷ lệ khác về bảo đảm an toàn trong hoạt
động ngân hàng, có tỷ lệ nợ xấu (NPL) dưới 3% tổng dư nợ và có hệ thống quản lý
tài sản "Có", tài sản"Nợ" tốt.
1.2.2.5. Giới hạn góp vốn, mua cổ phần
a) Mức đầu tư vào một khoản đầu tư thương mại của tổ chức tín dụng tối đa không
được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh nghiệp, quỹ đầu tư hoặc 11% giá trị dự án đầu
tư.
b) Tổng mức đầu tư trong tất cả các khoản đầu tư thương mại của tổ chức tín dụng
không được vượt quá 40% vốn điều lệ và quỹ dự trữ của tổ chức tín dụng.
-18-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
c) Tổ chức tín dụng đầu tư vào một khoản đầu tư thương mại vượt quá tỷ lệ quy định

ở mục a) thì phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận trước bằng văn bản với điều
kiện khoản đầu tư đó là hợp lý và tổ chức tín dụng đã chấp hành các tỷ lệ an toàn trong
hoạt động ngân hàng, có tỷ lệ nợ xấu (NPL) từ 3% tổng dư nợ trở xuống.
1.2.3.Quản lý vốn chủ sở hữu
Quản lý vốn chủ sở hữu thực chất là xác định qui mô và cấu trúc VCSH sao
cho phù hợp với yêu cầu kinh doanh, qui định của Luật pháp, đồng thời tìm các
biện pháp tăng VCSH một cách có hiệu quả trên quan điểm lợi ích của chủ sở hữu.
1.2.3.1. Xác định quy mô của VCSH (Vốn tự có)
* Ta có công thức xác định vốn tự có
Vốn tự có = Vốn tự có cấp 1 + Vốn tự có cấp 2
* Ta có công thức xác định vốn tự có để tính tỷ lệ an toàn tối thiểu:
Vốn tự có = Vốn tự có cấp 1 + Vốn tự có cấp 2 – Các khoản giảm trừ
Trong đó: Vốn tự có cấp 1, vốn tự có cấp 2 và các khoản giảm trừ đã được trình
bày ở mục 1.1.1.1.
1.2.3.2. Các biện pháp gia tăng VCSH
a) Phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu là biện pháp dành riêng cho các ngân hàng thương mại cổ
phần. Biện pháp được các ngân hàng thương mại cổ phần sử dụng rất phổ biến
trong giai đoạn này để tăng vốn.
Có hai hình thức chủ yếu là phát hành cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông)
hoặc cổ phiếu ưu đãi.

Cổ phiếu thường(CP phổ thông) : Là một loại chứng khoán được phát hành
dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của
cổ đông thường đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần. Cổ phiếu thường cho
phép cổ đông thường được hưởng các quyền lợi đối với công ty như quyền biểu quyết
những vấn đề liên quan đến quản lý công ty, quyền được hưởng cổ tức cao từ lợi nhuận
sau thuế

Cổ phiếu ưu đãi: là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông ưu đãi đối

với phần vốn góp vào công ty cổ phần; đồng thời cho phép cổ đông ưu đãi được hưởng
một số quyền ưu đãi lớn hơn so với các cổ đông thường như: ưu đãi về cổ tức( nhận cổ
tức theo mức cố định không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh,tích luỹ cổ tức ),chuyển
đổi thành cổ phiếu thường (đối với cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi)
-19-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
Các ngân hàng cổ phần tuỳ thuộc vào nhu cầu cụ thể của mình mà có thể phát
hành thêm cổ phiếu thường hay cổ phiếu ưu đãi.
*Ưu điểm của biện pháp tăng vốn bằng cổ phiếu:

Việc phát hành cổ phiếu vừa giúp các ngân hàng tăng quy mô vốn kinh
doanh dài hạn lại vừa giúp các ngân hàng tránh được nghĩa vụ nợ nần, không phải
lo việc trả vốn gốc và lãi.

Khi sử dụng biện pháp này sẽ giúp các ngân hàng thương mại tăng quy
mô vốn chủ sở hữu do đó làm thay đổi kết cấu các loại vốn ( kết cấu giữa vốn chủ
sở hữu / nợ phải trả, vốn thường xuyên(dài hạn) / vốn tạm thời(ngắn hạn) ).Như
vậy, làm tăng độ vững chắc về tài chính của ngân hàng, tăng hệ số đảm bảo nợ,
tăng độ tín nhiệm của ngân hàng từ đó giúp tăng khả năng vay vốn, huy động
vốn của ngân hàng trong tương lai.

Vì cổ phiếu đại diện cho quyền sở hữu của người nắm giữ cổ phiếu
trong ngân hàng và việc phân chia cổ tức cho cổ đông không phải là cố định mà
tuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng nên các ngân hàng thường có độ
chủ động cao hơn trong việc sử dụng vốn thu được do phát hành cổ phiếu.
*Nh ược điểm của biện pháp tăng vốn bằng cổ phiếu:

Việc phát hành cổ phiếu (đặc biệt là cổ phiếu thường) ra công chúng sẽ làm
tăng số cổ đông sở hữu ngân hàng và như vậy dẫn tới việc phân chia quyền kiểm soát và
quyền biểu quyết. Điều này dẫn đến bất lợi cho các cổ đông hiện hành.


Vì cổ phiếu liên quan đến cổ tức nên việc phát hành thêm cổ phiếu mới ra
công chúng đồng nghĩa với việc các cổ đông hiện hành sẽ phải chia sẻ một phần lợi ích
của mình với cổ đông mới. Để giảm thiểu nhược điểm này các ngân hàng cần phải sử
dụng một cách hiệu quả nguồn vốn tăng thêm do phát hành cổ phiếu, tạo ra một tỉ suất lợi
nhuận cao để đảm bảo việc chi trả cổ tức cho các cổ đông.

Khác với các hình thức vay vốn thì lãi phải trả được tính vào chi phí khi tính
thuế thu nhập doanh nghiệp nên giảm được khoản thuế phải nộp cho nhà nước, thì cổ tức
chi trả cho cổ đông lại lấy từ lợi nhuận sau thuế. Đặc điểm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
chi phí sử dụng vốn cổ phiếu - yếu tố quan trọng mà các ngân hàng phải cân nhắc khi lựa
chọn các giải pháp tăng vốn.
b) Phát hành trái phiếu
Trái phiếu ngân hàng là chứng chỉ vay vốn do các ngân hàng phát hành, thể
hiện nghĩa vụ và sự cam kết của ngân hàng về thanh toán số lợi tức tiền vay cho
người nắm giữ trái phiếu vào những thời hạn đã xác định và hoàn trả khoản vay
ban đầu khi trái phiếu đáo hạn.

Tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu dài hạn:
Đây là biện pháp hiệu quả để tăng cường năng lực tài chính của ngân hàng
đáp ứng những nhu cầu trước mắt, nhưng về bản chất đây chỉ là tăng vốn tự có
-20-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
trên danh nghĩa, còn về lâu dài sẽ là một gánh nặng nợ nần, đồng thời chi phí vốn
cao sẽ làm suy giảm mức lợi nhuận của ngân hàng.

Tăng vốn bằng phát hành trái phiếu chuyển đổi:
Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu thường vào
một thời điểm xác định trong tương lai.
Loại trái phiếu này vừa có đặc điểm của trái phiếu là được trả một mức lãi

suất cố định, nhưng mặt khác lại có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu thường
của ngân hàng và đây cũng chính là điểm hấp dẫn của trái phiếu chuyển đổi.
*Một số lợi điểm khi phát hành trái phiếu:

Lãi suất (hay lợi tức) phải trả cho trái phiếu thường được cố định trước
và được tính vào chi phí kinh doanh của ngân hàng nên sẽ giúp các ngân hàng
giảm được một khoản thuế phải nộp đồng thời giúp nâng cao mức doanh lợi vốn
chủ sở hữu.

Vì trái phiếu là chứng khoán nợ nên ngân hàng không phải phân chia
quyền kiểm soát cho các trái chủ ; số lượng cổ phiếu không tăng nên thu nhập trên
mỗi cổ phần được đảm bảo.

Vì là nợ phải trả có kỳ hạn nên ngân hàng có thể thay đổi cơ cấu vốn
kinh doanh một cách linh hoạt, chủ động thông qua việc ngừng phát hành trái
phiếu hoặc mua lại các trái phiếu đang lưu hành.

Khi phát hành trái phiếu chuyển đổi, ngân hàng có thể định một mức lãi
suất cố định thấp hơn của trái phiếu không có khả năng chuyển đổi.
*Một số nhược điểm khi phát hành trái phiếu:

khi tới hạn


Ngân hàng sẽ chịu sức ép về nợ nần, phải thanh toán các khoản nợ gốc và lãi
Hệ số nợ của ngân hàng sẽ tăng lên khi phát hành thêm trái phiếu.
Trái phiếu chuyển đổi cũng sẽ mang đến một số bất lợi có thể có cho ngân
hàng và các cổ đông của ngân hàng khi trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu, vốn
chủ sở hữu bị “pha loãng” do tăng số lượng cổ phiếu lưu hành, từ đó gây ra sự thay đổi
trong việc kiểm soát ngân hàng; nợ của ngân hàng giảm thông qua chuyển đổi sẽ làm mất

đi sự cân bằng của cán cân nợ-vốn.
c) Lợi nhuận giữ lại
Sau mỗi kỳ kinh doanh, số lợi nhuận thu được sau khi nộp thuế cho nhà nước
được phân chia một phần cho các chủ sở hữu dưới dạng cổ tức, một phần được giữ
lại tại ngân hàng để bổ xung vốn kinh doanh.
-21-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
Tỷ lệ phân chia cổ tức cho cổ đông và giữ lại để tăng vốn cho ngân hàng phụ
thuộc vào chính sách phân chia cổ tức của từng ngân hàng thương mại và đây là
một trong những chính sách tài chính quan trọng của các ngân hàng.
Việc giữ lại lợi nhuận để tăng vốn cho ngân hàng là hình thức tích luỹ vốn để
tái đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh được tất cả các ngân hàng thương mại áp
dụng. Tuy nhiên việc giữ lại nhiều hay ít, một phần hay toàn bộ lợi nhuận đòi hỏi
các ngân hàng cần phải có những tính toán sao cho hợp lý, phù hợp với mục tiêu
và kế hoạch của ngân hàng mình.

Khi tỷ lệ lợi nhuận giữ lại ở mức cao sẽ càng đẩy mạnh quá trình tích
luỹ vốn và làm giảm yêu cầu huy động vốn từ bên ngoài; do đó làm giảm mức độ
phụ thuộc vào các nguồn cung cấp từ bên ngoài, dẫn đến giảm rủi ro tài chính cho
ngân hàng. Tuy nhiên, việc này dẫn đến làm giảm thu nhập của cổ đông, nếu kéo
dài sẽ ảnh hưởng tới giá của cổ phiếu cũng như lòng tin của các nhà đầu tư.

Ngược lại, khi tỷ lệ lợi nhuận giữ lại ở mức thấp do tỷ lệ chi trả cổ tức
cao sẽ dẫn đến tăng trưởng vốn chậm chạp, có thể làm giảm khả năng mở rộng tài
sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản.
Vì vậy, nếu một ngân hàng có tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để bổ sung vốn tự có ổn
định qua các năm và tương ứng với tốc độ tăng trưởng tài sản có thì chứng tỏ ngân
hàng đang có một sự phát triển ổn định, thể hiện mức độ ủng hộ cao của các cổ
đông đối với chính sách cổ tức của ban lãnh đạo ngân hàng.
d) Cổ phần hoá

Đây là biện pháp tăng vốn của các ngân hàng thương mại nhà nước. Thực
chất của việc cổ phần hoá là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ sở hữu nhà nước
sang cổ phần bằng biện pháp phát hành cổ phiếu.
Trong thời kỳ kinh tế ngày càng phát triển, vấn đề hội nhập càng ngày càng
trở nên cấp thiết hơn đòi hỏi các ngân hàng cần phải có một tiềm lực tài chính thật
lớn mạnh mà nếu chỉ trông chờ vào phần vốn cấp của nhà nước thì không đủ.
Khi cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước trở thành các ngân
hàng thương mại cổ phần nhà nước sẽ có rất nhiều lợi thế:

Tăng quy mô vốn của ngân hàng lên và đa dạng thêm nhiều nguồn bổ
xung vốn như: Vốn của nhân dân, nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn tài chính

Khi các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn tài chính lớn trở thành cổ
đông, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước có thể được tiếp xúc với cách
thức quản lý mới, khoa học công nghệ mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
của ngân hàng.
-22-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
Tuy trở thành ngân hàng thương mại cổ phần song lượng cổ phần bán ra tối
đa cho các nhà đầu tư là 49%, tức là nhà nước vẫn chiếm cổ phần cao hơn là 51%,
nên vẫn có thể kiểm soát hoạt động của ngân hàng theo chiến lược của mình.
1.2.3.3. Hiệu quả sử dụng VCSH
a) Đo lường hiệu quả sử dụng VCSH
Hiệu quả sử dụng VCSH = Lợi nhuận sau thuế / VCSH
b) Các tỷ lệ liên quan VCSH
* Các tỷ lệ an toàn: Tiền gửi/VCSH; Dư nợ/VCSH; Dư nợ tối đa/VCSH;
VCSH/Tổng tài sản chuyển đổi theo hệ số rủi ro Đã trình bày ở mục 1.2.2.
1.2.4.Quản lý vốn nợ (quản lý vốn huy động, vốn vay, và các vốn khác)
1.2.4.1.Quản lí qui mô và cơ cấu nợ
* Quản lí qui mô và cơ cấu nhằm đưa ra và thực hiện các biện pháp để gia tăng qui mô và

thay đổi cơ cấu một cách có hiệu quả nhất.
* Gia tăng nguồn theo chuẩn mực nào đó là một chỉ tiêu phản ánh chất lượng hoạt
động của ngân hàng, là điều kiện để ngân hàng mở rộng qui mô hoạt động, nâng
cao tính thanh khoản và tính ổn định của nguồn vốn. Cơ cấu nợ ảnh hưởng tới cơ
cấu tài sản và quyết định chi phí của ngân hàng. Quản lí qui mô và cơ cấu nợ gồm
các nội dung:
+ Thống kê đầy đủ, kịp thời các thay đổi về các loại nguồn, tốc độ quay vòng
của mỗi loại.
+ Phân tích kỹ lưỡng các nhân tố gắn liền với thay đổi đó (các nhân tố ảnh
hưởng và bị ảnh hưởng)
+ Lập kế hoạch nguồn cho từng giai đoạn phù hợp với yêu cầu sử dụng.
Công tác thống kê nguồn sẽ cho các nhà quản lí nghiên cứu mối quan hệ giữa
số lượng, cấu trúc nguồn với các nhân tố ảnh hưởng cũng như thấy được đặc tính
của thị trường nguồn của ngân hàng.
Trong điều kiện cụ thể, các nguồn của một ngân hàng có thể có tốc độ và qui
mô thay đổi khác nhau. Các ngân hàng lớn có qui mô nguồn lớn và tốc độ tăng
trưởng nguồn có thể không cao như các ngân hàng nhỏ. Những ngân hàng ở trung
tâm tiền tệ có cơ cấu nguồn khác với ngân hàng ở xa.
Những nhân tố ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi qui mô và kết cấu của nguồn
tiền thường xuyên thay đổi và cần phải được nghiên cứu kĩ lưỡng. Đây là cơ sở để
ngân hàng đưa ra các quyết định phù hợp để thay đổi qui mô và kết cấu nguồn
tiền. Vào dịp gần Tết, qui mô của tiền gửi tiết kiệm có thể giảm xuống tương đối;
-23-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
hoặc nếu ngân hàng phục vụ chủ yếu các doanh nghiệp xâu lắp, tiền gửi của họ
tăng giảm phụ thuộc nhiều vào mùa xây dựng. Từ đó, ngân hàng cần phân biệt các
loại khách hàng gắn với qui mô và tốc độ gia tăng của mỗi nguồn. Các khách
hàng, hoặc nhóm khách hàng có tiền gửi lớn cần được đặc biệt chú ý, các nhóm
khách hàng truyền thống, các nhóm khách hàng nhạy cảm với những thay đổi về
công nghệ, lãi suất và chất lượng dịch vụ kèm theo cần phải được nghiên cứu cụ

thể. Nhà quản lí cũng cần xem xét thị phần nguồn tiền của các ngân hàng khác trên
địa bàn và khả năng cạnh tranh của họ.
Kế hoạch nguồn cần được xây dựng cho từng giai đoạn, bao gồm kế hoạch gia
tăng qui mô của mỗi nguồn, nhằm đáp ứng nhu cầu cho vay, đầu tư hoặc nhu cầu
chi trả cho các doanh nghiệp và dân chúng, khả năng thay đổi cơ cấu nguồn, hoặc
tìm kiếm nguồn mới. Kế hoạch nguồn được đặt trong kế hoạch sử dụng và lợi
nhuận kỳ vọng, bao gồm kế hoạch về lãi suất, mở chi nhánh hoặc điểm huy động,
loại nguồn, tiếp thị
1.2.4.2.Quản lý lãi suất chi trả
* Quản lý lãi suất của các khoản nợ là xác định các loại và cơ cấu lãi suất trả cho
các nguồn tiền khác nhau nhằm đảm bảo duy trì qui mô và kết cấu nguồn phù hợp
với yêu cầu sinh lợi của ngân hàng.
* Quản lý lãi suất của các khoản nợ là một bộ phận trong quản lí chi phí của ngân
hàng. Lãi suất chi trả càng cao càng có thể huy động được lớn, từ đó mà mở rộng
cho vay và đầu tư. Tuy nhiên, lãi suất cao làm gia tăng chi phí của ngân hàng và
nếu doanh thu không tăng kịp chi phí, lợi nhuận của ngân hàng sẽ giảm tương ứng.
Vì vậy, quản lý lãi suất của nguồn vốn có liên quan chặt chẽ với quản lý lãi suất
cho vay và đầu tư của ngân hàng.
* Nội dung quản lý lãi suất:
+ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất huy động.
+ Đa dạng hóa lãi suất
Lãi suất huy động gắn liền với mỗi loại sản phẩm của ngân hàng và với mỗi
ngân hàng. Lãi suất huy động thay đổi thường xuyên dưới ảnh hưởng của nhiều
nhân tố:
+ Khả năng tiết kiệm và gia tăng tiết kiệm của quốc gia
+ Nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp, Nhà nước và hộ gia đình.
+ Tỷ lệ lạm phát.
+ Tỷ lệ sinh lời của các hoạt động đầu tư khác.
+ Trình độ phát triển của thị trường tài chính.
+ Khả năng sinh lời của ngân hàng.

+ Độ an toàn của các ngân hàng.
Trên cơ sở sự tác động của hàng loạt các yếu tố, hình thành nên lãi suất huy
động của ngân hàng thương mại. Lãi suất huy động tại mỗi ngân hàng được phân
biệt theo nhiều hình thức khác nhau:
-24-
Đề án Tài chính - Tiền tệ Mạc Nguyên Đoan Hạnh
+ Lãi suất phân biệt theo thời gian: Thời gian huy động càng dài thì lãi suất
càng cao.
+ Lãi suất phân biệt theo loại tiền.
+ Lãi suất phân biệt theo mục đích gửi, theo mục đích huy động.
+ Lãi suất phân biệt theo rủi ro của ngân hàng: Các ngân hàng nhỏ, hoặc ngân
hàng tư nhân lãi suất cao hơn các ngân hàng lớn hoặc ngân hàng của Nhà nước.
+ Lãi suất phân biệt theo các dịch vụ đi kèm, ví dụ như tiết kiệm có thưởng,
tiết kiệm bảo hiểm lãi suất thấp hơn tiết kiệm khác.
+ Lãi suất phân biệt theo qui mô
Nhìn chung, tiện ích mà ngân hàng cung cấp cho người gửi tiền và người cho
vay càng cao thì lãi suất càng thấp. Một số nguồn tiền lãi suất ngân hàng trả bằng
không và người gửi phải trả chi phí để được hưởng tiện ích của ngân hàng. Có
nhiều mức lãi suất danh nghĩa khác nhau tuỳ theo tính chất của từng khoản nợ, đó
là các mức lãi suất cá biệt. Trong quá trình cạnh tranh để mở rộng nguồn tiền, các
ngân hàng đều cố gắng tạo ra các ưu thế của riêng m.nh trong đó có ưu thế về lãi
suất cạnh tranh. Một ngân hàng có thể đưa ra lãi suất danh nghĩa cao hơn các ngân
hàng khác, tức là đã tạo ra lãi suất cạnh tranh nhằm thu hút thêm nguồn tiền mới.
Tuy nhiên ngân hàng này cũng có thể tạo lãi suất cạnh tranh bằng các phương
pháp khác như trả lãi làm nhiều lần trong kỳ hoặc trả lãi trước.
Khi trả lãi nhiều lần trong kỳ, lãi suất tương đương (A) sẽ lớn hơn lãi suất
danh nghĩa mà ngân hàng cam kết trả.
A (còn được kí hiệu NEC) = (1+i/n)n – 1
Trong đó: i là lãi suất danh nghĩa trong kỳ; n là số lần trả lãi trong kỳ.
Khi trả lãi trước, lãi suất tương đương với trả lãi sau (B) cũng lớn hơn lãi suất

danh nghĩa trả trước:
B (còn được kí hiệu NEC) = i/(1-i)
Trong đó: i là lãi suất trả trước
Các ngân hàng thường sử dụng phương pháp trên trong điều kiện bị khống chế về
lãi suất tối đa, hoặc để thay đổi tạm thời qui mô của khoản mục chi phí trả lãi
trong kỳ.
Để phục vụ cho việc quản lý chi phí trả lãi và hoạch định các mức lãi suất cạnh
tranh (gồm lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay), các ngân hàng thường tính toán
lãi suất bình quân.
(1) Lãi suất bình quân của một nguồn hay một nhóm nguồn trong kỳ.
(2) Lãi suất bình quân của các nguồn phải trả lãi tại một thời điểm hoặc trong kỳ.
Lãi suất bình quân cho thấy xu hướng thay đổi lãi suất của nguồn, mức độ thay đổi
lãi suất mỗi nguồn, sự kết hợp giữa lãi suất cá biệt và tỷ trọng mỗi nguồn; nó cũng
cho thấy những nguồn đắt tương đối (lãi suất cá biệt > lãi suất bình quân) và các
-25-

×