Tải bản đầy đủ (.docx) (40 trang)

Tiểu luận Chủ nghĩa xã hội khoa học - Nội dung của liên minh giai cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (222.26 KB, 40 trang )

TIỂU LUẬN

MÔN: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Đề tài:

CÂU 24: NỘI DUNG CỦA LIÊN MINH GIAI CẤP
TRONG CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CNXH DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CMXHCN
GCCN Chủ nghĩa xã hội
Cách mạng chủ nghĩa xã hội
Giai cấp công nhân

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.......................................3

1.1. Liên minh giai cấp..............................................................................3
1.2 Quan niệm chủ nghĩa Mác-Lênin về liên minh giai cấp, tầng lớp......7
1.3 Ý nghĩa của nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
liên minh giai cấp, tầng lớp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa đối với
Việt Nam hiện nay..................................................................................16
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA LIÊN MINH GIAI CẤP TRONG CÁCH
MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY......................18
2.1. Nội dung của liên minh giai cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay..................................................................................18
2.2. Thực trạng việc thực hiện liên minh giai cấp ở Việt Nam thời gian


qua...........................................................................................................24
2.3 Phương hướng củng cố liên minh giai cấp ở Việt Nam hiện nay.....28
KẾT LUẬN....................................................................................................33
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................34

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Những nguyên lý của chủ nghĩa Mac – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
thực tiễn cuộc đấu tranh giai cấp đã cho thấy tính tất yếu của liên minh giai
cấp, tầng lớp. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thì sự ra
đời và phát triển của vấn đề này với những thuận lợi và khó khăn đan xen
trong sự nghiệp của cách mạng Liên minh này có vai trị vơ cùng to lớn và
quan trọng trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa hiện đại hóa cũng như việc hội
nhập quốc tế của nước ta và làm cơ sở cho khối đại đoàn kết cũng như xây
dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, liên minh giai cấp cơng nhân, nơng dân và
đội ngũ trí thức là sự cố kết của các giai cấp, tầng lớp trong một chỉnh thể
thống nhất, nhằm giúp đỡ lẫn nhau phát triển. Mỗi thành tố có vị trí, vai trị
đặc thù do bản chất, vai trò của mỗi giai cấp và tầng lớptrong cách mạng vàxã
hội quy định. Sức mạnh và chất lượng của khối liên minh phụ thuộc vào chất
lượng của từng thành tố trong đó. Vì thế, củng cố, tăng cường khối liên minh
giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức gắn liền chặt chẽ với q
trình xây dựng, phát triển của mỗi giai cấp, tầng lớp do Đảng lãnh đạo, tạo
thành nhân tố bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Ở Việt Nam hiện nay, thực chất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
là một thời kỳ cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội để tạo ra những tiền đề vật chất, tinh thần cần thiết cho
chủ nghĩa xã hội. Đây là sự nghiệp khó khăn, lâu dài và phức tạp, địi hỏi có
sự tham gia của tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động, mà trước hết

là giai cấp công nhân, giai cấp nơng dân và đội ngũ trí thức. Thậm chí, hiện
nay các thế lực thù địch tìm mọi cách lơi kéo quần chúng nhân dân nhằm làm
rạn nứt khối liên minh và chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phá hoại sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

1

Ngày nay, liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ
trí thức là lực lượng cơ bản đóng vai trị quan trọng về chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội. Khi sản xuất càng phát triển hiện đại thì giai cấp cơng nhân, giai
cấp nơng dân càng cần gắn bó chặt chẽ với đội ngũ trí thức để tạo thành nền
tảng vững chắc của chế độ và là cơ sở chính trị - xã hội bảo đảm sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản đối với toàn xã hội và khối liên minh.

Vì vậy, tơi lựa chọn đề tài “Nội dung của liên minh giai cấp trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận kết thúc
học phần Chủ nghĩa xã hội khoa học để đi phân tích sâu nội dung của liên
minh giai cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, từ đó
đề xuất ra các giải pháp tăng cường liên minh giai cấp trong cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

2. Mục tiêu
Khi lựa chọn đề tải này, tôi muốn tìm hiểu nội dung của liên minh giai
cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời góp
phần đề xuất ra các giải pháp tăng cường liên minh giai cấp trong cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
3. Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm liên quan đến đề tài
- Đi sâu nghiên cứu nội dung liên minh giai cấp trong cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

- Đưa ra một số vấn đề, đề xuất, góp phần nâng cao chất lượng liên minh
giai cấp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
4. Kết cấu:
Tiều luận này gồm 02 chương, 5 tiết.

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Nội dung của liên minh giai cấp trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam hiện nay

2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Liên minh giai cấp

1.1.1 Định nghĩa liên minh giai cấp

Liên minh giai cấp trong các cuộc cách mạng xã hội là một hình thức
liên kết giữa một bên là giai cấp cách mạng, có sứ mệnh lịch sử... với một bên
là các giai cấp, tầng lớp bị áp bức, bị thống trị trong xã hội, nhằm mục tiêu
chung đấu tranh thủ tiêu bộ máy của giai cấp thống trị, thiết lập quyền thống
trị của chế độ xã hội mới phù hợp với lợi ích của giai cấp là trung tâm, hạt
nhân của khối liên kết đó.

Liên minh giai cấp được thiết lập trên cơ sở các giai cấp, tầng lớp có
chung mục tiêu đấu tranh xóa bỏ một chế độ xã hội cũ, xác lập một chế độ xã
hội mới phù hợp với các quy luật phát triển của lịch sử. Các giai cấp có sứ
mệnh lịch sử trong mỗi cuộc cách mạng xã hội đều có nhu cầu và lợi ích liên
kết với các giai cấp, tầng lớp bị thống trị khác, hợp thành động lực xã hội căn
bản của cách mạng.


Liên minh của giai cấp công nhân trong cách mạng xã hội chu nghĩa là
một hình thức liên kết, hợp tác giữa giai cấp công nhân với các giai cấp và
tầng lớp nhân dân lao động trong cơ cấu xã hội - giai cấp của một quốc gia
dân tộc cụ thể, trong những giai đoạn cụ thể của tiến trình cách mạng xã hội
chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội

Do địa vị kinh tế - xã hội và địa vị chính trị - xã hội của mình, giai cấp
cơng nhân là giai cấp có sứ mệnh lịch sử đi tiên phong trong cuộc đấu tranh
thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa cộng sản. Nhưng để thực hiện
thắng lợi sứ mệnh lịch sử ấy, giai cấp công nhân cần phải và có thể thực hiện
liên minh với các giai cấp và tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội... Liên

3

minh của giai cấp công nhân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa với các giai
cấp, các tầng lớp nhân dân... là một quy luật chính trị - xã hội của cách mạng
xã hội chủ nghĩa.

1.1.2. Đặc điểm của giai cấp công nhân, nơng dân và tầng lớp trí
thức Việt Nam.

– Đặc điểm của giai cấp công nhân Việt Nam:

Ngồi những đặc điểm chung của giai cấp cơng nhân quốc tế, giai cấp
cơng nhân Việt Nam cịn có những đặc điểm riêng:

+ Giai cấp công nhân Việt Nam tuy ra đời chậm và chiếm tỷ lệ thấp
trong thành phần dân cư, nhưng do kế thừa truyền thống đấu tranh anh dũng
kiên cường của dân tộc mà giai cấp công nhân nước ta luôn tỏ rõ là một giai

cấp kiên cường, bất khuất.

+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trong nỗi nhục mất nước cộng
với nỗi khổ vì ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản đế quốc làm cho lợi ích
giai cấp và lợi dân tộc kết hợp làm một, khiến động cơ cách mạng, nghị lực
cách mạng và tính triệt để cách mạng của giai cấp công nhân được nhân lên
gấp bội.

+ Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam,
lại có Đảng lãnh đạo nên ln giữ được sự đoàn kết thống nhất và giữ vững
vai trị lãnh đạo của mình.

+ Giai cấp công nhân Việt Nam đa số xuất thân từ nơng dân, có mối
liên hệ máu thịt với nhân dân. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi để thực hiện
sự liên minh giai cấp, trước hết là đối với giai cấp nông dân. Ngày nay, trong
quá trình cơng nghiệp hóa hiện đại hóa nơng thơn, sẽ có nhiều nhiều người

4

nông dân vào làm việc ở các cơ sở công nghiệp và trở thành cơng nhân ở
ngay chính trên q hương mình…..

Tuy vậy, số lượng cơng nhân nước ta cịn ít, trình độ văn hóa, tay nghề,
khoa học kỹ thuật cịn thấp, cách thức làm việc có nơi, có chỗ cịn tỏ ra tùy
tiện, manh mún. Do vậy, để đảm đương được sứ mệnh lịch sử của mình, một
trong những điều kiện quan trọng là giai cấp công nhân Việt Nam phải liên
minh được với giai cấp nơng dân. Tầng lớp trí thức và tầng lớp nhân dân lao
động khác.

– Đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam:


+ Giai cấp nông dân là giai cấp của những người lao động trong lĩnh
vực sản xuất nông nghiệp bao gồm: Trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư
nghiệp….

+ Giai cấp nơng dân có nhiều ưu điểm như: Lao động rất cần cù, chịu
khó, tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người, cung cấp nguyên liệu
cho công nghiệp và hàng xuất khẩu. Là lực lượng chiếm số đơng trong xã hội,
và gắn bó lâu đời với cội nguồn của dân tộc nên có nhiều cơng lao đóng góp
trong sự nghiệp to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong xã
hội cũ, nơng dân bị áp bức, bóc lột nặng nề nhất nên họ có tinh thần phản
kháng chống áp bức, bóc lột và bất cơng.

Về hạn chế: Giai cấp nông dân là những người tư hữu nhỏ, tuy nhiên tư
hữu của nông dân không đồng nhất với tư hữu của giai cấp bóc lột. Do
phương thức sản xuất phân tán nên nơng dân khơng có sự liên kết chặt chẽ cả
về kinh tế, tư tưởng và tổ chức. Giai cấp nông dân khơng có hệ tư tưởng độc
lập mà tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã
hội. Nên nơng dân khơng thể tự mình giải phóng mình. Muốn được giải

5

phóng, nơng dân phải tham gia vào khối liên minh và chịu sự lãnh đạo của
giai cấp nông dân.

– Đặc điểm của tầng lớp trí thức:

+ Trí thức là một tầng lớp xã hội đặc biệt của một bộ phận lao động trí
óc, phức tạp và sáng tạo. Sản phẩm lao động trực tiếp của họ là những tri thức
khoa học, những giá trị về tinh thần, được tạo ra trong quá trình nghiên cứu,

sáng tạo, phát minh, giảng dạy, quản lý có tác dụng định hướng cho nhận thức
và hành động thực tiễn trên mọi lĩnh vực.

+ Trí thức là những người có trình độ học vấn cao, am hiểu sâu trong
lĩnh vực cơng việc của mình. Các sản phẩm do trí thức tao ra được áp dụng
vào mọi mặt của dời sống xã hội, nhất là trong sản xuất làm tăng năng suất,
chất lượng và hiểu quả. Ngày nay, cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ
hiện đại đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì Trí thức ngày
càng có vai trị quan trọng trong quá trình xây dựng CNXH và hội nhập khu
vực, quốc tế. Trong các chế độ xã hội cũ, phần lớn trí thức là những người lao
động, họ cũng bị áp bức, bóc lột, bất cơng nên họ cũng có tinh thần đấu tranh
chống áp bức, bóc lột, địi hịa bình độc lập dân tộc và tự chủ. Trí thức khơng
có phương thức sản xuất riêng và địa vị kinh tế, xã hội độc lập nên trí thức
cũng khơng có hệ tư tưởng độc lập. Mặc dù vậy, trí thức ln giúp giai cấp
thống trị khái qt về lý luận để hình thành hệ tư tưởng của giai cấp thống trị
xã hội. Trí thức tuy có tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột nhưng lại
thiếu kiên quyết, triệt để. Vì vậy, Trí thức muốn được giải phóng phải chịu sự
lãnh đạo của giai cấp cơng nhân và tham gia vào khối liên minh.

1.1.3 Đặc trưng cơ bản của liên minh giai cấp công nhân trong cách
mạng xã hội chủ nghĩa

6

- Liên minh của giai cấp công nhân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
là liên minh giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội cơ lợi ích chính trị thống nhất
về cơ bản và lâu dài

- Liên minh của giai cấp công nhân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
là liên minh trên lập trường của giai cấp công nhân, do đảng cộng sản – đội

tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo

- Liên minh của giai cấp công nhân trong cách mạng xã hội chủ nghĩa
là hình thức liên minh rộng rãi nhất và là liên minh giai cấp cuối cùng trong
lịch sử

1.1.4 Tính tất yếu của liên minh công – nông – tri thức trong xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

– Xuất phát từ những quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về
tính tất yếu của liên minh cơng – nơng – trí thức trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội, và xuất phát từ đặc điểm của nước ta là từ một nước nông nghiệp, đại đa
số dân cư là nơng dân, trong q trình cách mạng, đòi hỏi Đảng ta phải đặc
biệt quan tâm đến vấn đề liên minh giai cấp. Liên minh giai cấp ở nước ta
cũng là một tất yếu khách quan, bởi cả ba giai tầng đều cùng cùng cảnh ngộ
mất nước, đều bị áp bức, bóc lột và cùng chung một mục tiêu giải phóng.
Quan điểm, đường lối của Đảng ta về tính tất yếu của liên minh cơng – nơng
–trí thức được thể hiện từ văn kiện đại hội II của Đảng Lao động Việt Nam
(1951): “ Chính quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hịa là chính quyền
dân chủ của nhân dân…Lấy liên minh công nhân, nông dân và lao động trí
thức làm nền tảng do giai cấp công nhân lãnh đạo” (Đảng cộng sản Việt Nam:
Văn kiện Đảng tồn tập, NXB. Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2001, tập 12, tr.
437).

7

Trong “cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội” và trong chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta đặc biệt quan trọng mối liên
minh này và coi đó là nền tảng của nhà nước của dân, do dân và vì dân.


Đến đại hội lần thứ IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định tính tất yếu và cịn
đặc biệt coi trọng vấn đề này khi đẩy mạng cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Đại hội chỉ rõ: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết
toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nơng dân và tầng lớp trí
thức do Đảng lãnh đạo” (Đảng cộng sản Việt Nam : Văn kiện đại hội đại biểu
tồn quốc lần thứ IX, NXB.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.86)

1.2 Quan niệm chủ nghĩa Mác-Lênin về liên minh giai cấp, tầng lớp

Quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về liên minh công - nông

C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận bàn đến liên minh công - nông và đi đến
kết luận rằng, những cuộc cách mạng sắp tới chỉ có thể thu được những thắng
lợi nếu giai cấp nông dân ủng hộ những cuộc đấu tranh của giai cấp vơ sản,
nếu khơng thì bài “đơn ca” cách mạng của giai cấp vô sản sẽ trở thành bài “ai
điếu”.

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nói
đến khả năng và sự cần thiết phải đồn kết giai cấp vơ sản với các tầng lớp
trung gian. Sau cách mạng 1848 - 1852 ở Tây Âu, các ông thấy rõ, vấn đề liên
minh giữa giai cấp công nhân và các tầng lớp lao động khác trong xã hội, nhất
là giai cấp nơng dân trở thành vấn đề có tính sống cịn đối với cuộc đấu tranh
cách mạng của giai cấp công nhân. Một trong những nguyên nhân dẫn đến
thất bại của Công xã Pa-ri (năm 1871) cũng là do giai cấp công nhân không
liên minh được với giai cấp nông dân. Từ thực tiễn lịch sử sinh động của
Công xã Pa-ri, C.Mác đã bổ sung cho lý luận của mình về liên minh cơng -
nơng: đó là vai trị hết sức quan trọng của giai cấp nông dân không chỉ trong
việc giành chính quyền mà cịn cả trong việc giữ chính quyền.

8


Tuy nhiên, sự cần thiết của liên minh công - nông không chỉ từ phía
giai cấp cơng nhân, mà cịn từ phía giai cấp nông dân. Giai cấp nông dân và
các tầng lớp nhân dân lao động khác cũng khơng thể thốt khỏi ách áp bức
bóc lột của giai cấp tư sản, khơng thể được giải phóng một cách thực sự và
triệt để nếu không liên minh với giai cấp công nhân, không trở thành người
bạn đồng minh của giai cấp công nhân. C.Mác khẳng định: “Đứng trước giai
cấp tư sản phản cách mạng đã liên minh lại thì dĩ nhiên là những phần tử đã
được cách mạng hóa của giai cấp tiểu tư sản và của nông dân, phải liên minh
với người đại biểu chủ yếu cho những lợi ích cách mạng, tức là giai cấp vơ
sản cách mạng”1. Vì “... người nông dân thấy rằng giai cấp vô sản thành thị,
giai cấp có sứ mệnh lật đổ chế độ tư sản là người bạn đồng minh, người lãnh
đạo tự nhiên của mình”2. Tuy vậy, để có thể liên minh được với giai cấp nông
dân, cần phải thấy rõ đặc điểm, vai trị của giai cấp nơng dân trong tiến trình
cách mạng.

Trong giai cấp nông dân, có một bộ phận cốt lõi là tiểu nơng. Về kinh
tế, mỗi gia đình nơng dân là một đơn vị kinh tế gần như tự túc hoàn toàn, cho
thấy tính liên kết giữa họ rất ít. Về xã hội, quan hệ xã hội của họ có tính chất
dịng họ, địa phương, làng xã, khiến tầm nhìn, suy nghĩ của người nơng dân
rất hạn chế. Về văn hóa - tư tưởng, sống trong những điều kiện kinh tế - xã
hội như vậy, nên trình độ học vấn của nơng dân rất thấp kém, tư tưởng bảo
thủ và họ khơng có hệ tư tưởng riêng. Chính đặc điểm kinh tế - xã hội, văn
hóa - tư tưởng đã quy định vị trí, vai trị của giai cấp nơng dân trong xã hội tư
bản là tầng lớp trung gian, họ có thể ngả theo giai cấp cơng nhân và cũng có
thể ngả theo giai cấp tư sản. Vấn đề là, trên thực tế ai đem lại và bảo vệ lợi
ích cho họ.

Về nội dung của liên minh công - nông, không chỉ dừng ở sự liên minh
về chính trị, C.Mác và Ph.Ăngghen cịn chỉ rõ sự liên minh về kinh tế giữa

giai cấp công nhân và giai cấp nông dân. Trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa

9

xã hội thì liên minh về kinh tế là liên minh cơ bản, thường xuyên và lâu dài, là
cơ sở cho liên minh trên các lĩnh vực khác.

Theo Ph.Ăngghen, nhiệm vụ chủ yếu của chính đảng vơ sản là phải
khơng ngừng giải thích cho nông dân thấy rằng, chừng nào chủ nghĩa tư bản
đang cịn nắm chính quyền thì tình cảnh của họ vẫn là tuyệt vọng mà thôi,
tuyệt đối chắc chắn là nền sản xuất tư bản chủ nghĩa quy mô lớn sẽ đè bẹp sản
xuất quy mô nhỏ, bất lực và lỗi thời của họ. Chỉ cần cho nông dân thấy lợi ích
chân chính của họ là phải chuyển ruộng đất của họ thành tài sản của hợp tác
xã, tức là đưa nông dân đi vào sản xuất hợp tác: “Dù sao thì điều chủ yếu
cũng là phải làm cho nơng dân hiểu rằng chúng ta chỉ có thể cứu vãn và bảo
tồn được tài sản của họ bằng cách biến tài sản đó thành tài sản hợp tác xã và
thành những doanh nghiệp hợp tác xã”3. Ph.Ăngghen cũng cho rằng, đó là
khâu trung gian trong việc chuyển nền sản xuất cá thể của nông dân quá độ
lên chủ nghĩa xã hội, không qua phát triển tư bản chủ nghĩa.

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ nguyên tắc cải tạo xã hội chủ nghĩa
đối với nông nghiệp và nông dân. Nguyên tắc thứ nhất là, không được dùng
bạo lực đối với nông dân, “... mà là bằng những tấm gương và bằng sự giúp
đỡ của xã hội”4. Nguyên tắc thứ hai là, tự nguyện, không được gị ép, bắt
buộc đối với nơng dân: “Chúng ta kiên quyết đứng về phía người tiểu nơng...
để cho họ có thời gian suy nghĩ với tư cách là người sở hữu mảnh đất của họ
nếu họ chưa có thể quyết định như thế”5. Nguyên tắc thứ ba là, tiến dần từ
thấp đến cao: phải phát triển các hợp tác xã từ bậc thấp đến bậc cao, từ quy
mô từng xã đến quy mô liên xã. Các ông cho rằng, để nông dân đi lên chủ
nghĩa xã hội một cách thuận lợi, nhà nước phải có nhiệm vụ giúp đỡ nông dân

trong cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Trong sách lược đối với nông dân, theo
Ph.Ăngghen, trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản không thể coi nông dân là
một khối thống nhất, vì họ khơng ngừng phân hóa, do đó, sách lược của các

10

đảng xã hội chủ nghĩa cần phải khác nhau đối với các thành phần nông dân
khác nhau.

Không chỉ dừng lại ở việc luận giải tính tất yếu, nội dung, và nguyên
tắc của liên minh công - nông, C.Mác phê phán quan điểm của phái Látxan
cho rằng: “Ngồi giai cấp vơ sản ra, hết thảy mọi giai cấp khác chỉ là một
khối phản động”. C.Mác đã nhắc lại “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” có
ghi: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản, thì chỉ có
giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều
suy tàn và tiêu vong với sự phát triển của đại cơng nghiệp, cịn giai cấp vơ sản
thì trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”6.

C.Mác khẳng định: “Látxan thuộc làu cuốn “Tuyên ngôn cộng sản”,
cũng như các tiến đồ của ông ta thuộc những thánh thư do ông ta viết ra. Sở dĩ
ông ta xuyên tạc cuốn “Tuyên ngôn” một cách thô bỉ như thế vì đó chỉ là để
biện hộ cho sự liên minh của ông ta với những kẻ thù chuyên chế và phong
kiến chống giai cấp tư sản”7. C.Mác lý giải phái Látxan cho rằng: “Việc giải
phóng lao động phải là sự nghiệp của giai cấp công nhân, đối với giai cấp
công nhân tất cả các giai cấp khác chỉ gộp thành một khối phản động”8 thì đó
là một điều phi lý. Thực chất quan điểm Látxan đòi phủ định khả năng tham
gia cách mạng của giai cấp nông dân và tiểu tư sản; phủ nhận một vấn đề
chiến lược của cách mạng vô sản là vấn đề bạn đồng minh tạm thời và lâu dài
của giai cấp vô sản, đã đẩy giai cấp vô sản vào thế bị cô lập, điều đó chỉ có lợi
cho giai cấp bóc lột.


C.Mác phê phán phái Látxan đưa ra yêu sách: Tổ chức những “Hợp tác
xã sản xuất” của công nhân do nhà nước giúp đỡ. C.Mác cho rằng: Đề ra yêu
sách này mục đích làm cho phong trào công nhân quay về hoạt động bè phái,
thay thế đấu tranh giai cấp bằng những hoạt động bè phái, làm cho phong trào
công nhân đi vào thế cô lập trước mặt kẻ thù giai cấp. Theo C.Mác, nói rằng

11

những người lao động muốn xây dựng những điều kiện sản xuất tập thể theo
quy mô xã hội và trước hết theo quy mơ dân tộc, điều đó chỉ có nghĩa là: họ
cố gắng tìm cách lật đổ những điều kiện sản xuất hiện nay và việc đó khơng
liên quan gì tới việc thành lập những hợp tác xã do nhà nước giúp đỡ. Lập
luận của Látxan và quan điểm phủ định liên minh công - nông của bọn cơ hội
chủ nghĩa trong Quốc tế II có mối liên hệ tư tưởng rất rõ ràng, cho nên phê
phán của C.Mác đối với chủ nghĩa Látxan trên vấn đề này đã vạch ra đường
lối cơ bản cho việc phê phán chủ nghĩa cơ hội sau này trong phong trào cộng
sản quốc tế.

Quan điểm của V.I.Lênin về liên minh công - nông

Kế thừa, bổ sung và phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về
vị trí, vai trị của liên minh công - nông, V.I.Lênin cho rằng, liên minh giữa
giai cấp công nhân với giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức là nguyên tắc
tối cao của chun chính vơ sản.

V.I.Lênin chỉ rõ: “Chun chính vơ sản là một hình thức đặc biệt của
liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao
động, với đông đảo những tầng lớp lao động không phải vô sản (tiểu tư sản,
tiểu chủ, nơng dân, trí thức, v.v.) hoặc với phần lớn những tầng lớp đó; liên

minh nhằm chống lại tư bản, liên minh nhằm lật đổ hoàn toàn tư bản, tiêu diệt
hoàn toàn sự chống cự của giai cấp tư sản và những mưu toan khôi phục của
giai cấp ấy, nhằm thiết lập và củng cố vĩnh viễn chủ nghĩa xã hội”9.

Theo luận điểm này, V.I.Lênin chỉ ra: Xét về nguyên tắc tập hợp lực
lượng cách mạng của chuyên chính vơ sản thì khối liên minh này đã tập hợp
được những giai cấp và tầng lớp xã hội đông đảo và mạnh nhất trong các giai
tầng xã hội, trong đó giai cấp công nhân là tiên tiến nhất. Xét về nguyên tắc
lãnh đạo xã hội, thì người lãnh đạo cao nhất và duy nhất chỉ là giai cấp công
nhân thông qua đội tiền phong của nó là Đảng Cộng sản. Tuy nhiên, vai trò

12

đó chỉ được giữ vững khi đảng tổ chức và lãnh đạo được khối liên minh. Xét
về lợi ích cơ bản thì nguyên tắc cao nhất và mục tiêu của chun chính vơ sản
là vì lợi ích tồn thể nhân dân lao động. Như vậy, sức mạnh và độ bền vững
của khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nơng dân và tầng lớp
trí thức là thể hiện sức mạnh của Đảng, Nhà nước và tính hiện thực quyền làm
chủ xã hội của nhân dân lao động, đó là những yếu tố cơ bản của chun
chính vơ sản.

V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh khi chuyển từ giai đoạn giành quyền
sang giai đoạn “chun chính vơ sản”, chính trị đã chuyển sang chính trị trong
lĩnh vực kinh tế, liên minh muốn được phát huy và củng cố hơn phải lấy kinh
tế làm cơ sở. Phải xuất phát từ yêu cầu khách quan về kinh tế - kỹ thuật của
một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, phải gắn công
nghiệp với nông nghiệp và khoa học công nghệ hiện đại. Về tất yếu kinh tế -
kỹ thuật, Lênin chỉ rõ: nếu khơng có kinh tế nơng nghiệp làm cơ sở, thì một
nước nơng nghiệp khơng thể xây dựng được nền công nghiệp.


V.I.Lênin nêu nhiều luận điểm về liên minh công - nơng - trí thức.
Trong đó có luận điểm: “Chun chính vơ sản là một hình thức đặc biệt của
liên minh giai cấp giữa giai cấp vô sản, đội tiên phong của những người lao
động, với đông đảo những tầng lớp không phải vô sản (tiểu tư sản, tiểu chủ,
nông dân, trí thức)”10. Người cịn khẳng định: “Trước sự liên minh của các
đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giữa kỹ thuật, không một thế lực đen tối
nào đứng vững được”11.

Trong tác phẩm “Những người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh
chống những người dân chủ - xã hội ra sao?”, V.I.Lênin phê phán quan điểm
phi lịch sử của phái “dân tuý” cho rằng nông dân là lực lượng chủ yếu của
cách mạng. Đồng thời, khẳng định vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân và cho rằng, đã có chủ nghĩa tư bản thì có đấu tranh giai cấp giữa giai

13

cấp tư sản và giai cấp vô sản. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư bản đã tạo ra
những điều kiện vật chất cho chế độ mới, và đồng thời cũng tạo ra một lực
lượng xã hội mới: Giai cấp công nhân công xưởng - nhà máy, giai cấp vô sản
thành thị. Tuy phải chịu cùng một sự bóc lột tư sản, mà xét theo thực chất
kinh tế của nó thì sự bóc lột tồn thể nhân dân lao động ở Nga cũng là một sự
bóc lột như thế, nhưng giai cấp đó lại được đặt trong những điều kiện đặc biệt
có lợi cho sự giải phóng của nó: chẳng có cái gì gắn bó nó với cái xã hội cũ
hồn tồn xây dựng trên sự bóc lột; chính bản thân những điều kiện lao động
của nó và hồn cảnh sinh sống của nó đã tổ chức nó lại, buộc nó phải suy
nghĩ, làm cho nó có khả năng bước lên vũ đài đấu tranh chính trị”12.

Theo V.I.Lênin, đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân chống giai
cấp tư sản, là một tất yếu và đó là cuộc đấu tranh mạnh mẽ nhất, tập trung
nhất và quyết liệt nhất, trong cuộc đấu tranh đó giai cấp cơng nhân phải liên

minh với nơng dân, vì nơng dân là lực lượng của cách mạng. Ơng đề cập tư
tưởng liên minh công - nông và cho rằng, đường lối thì của một giai cấp, cịn
lợi ích thì của sự liên minh giai cấp. Giai cấp cơng nhân lãnh đạo cách mạng,
nhưng không chỉ đem lại lợi ích cho giai cấp công nhân mà cho cả giai cấp
nông dân và các tầng lớp lao động.

Về thái độ đối với nông dân và tư tưởng liên minh công - nông do giai
cấp công nhân lãnh đạo, trong tác phẩm “Những người bạn dân” là thế nào và
họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao?”, V.I.Lênin cho
rằng, do quan niệm không đúng, nên Plêkhanốp đã đoạn tuyệt với nơng dân,
V.I.Lênin đã luận chứng vai trị của nơng dân, đưa ra tư tưởng liên minh công
- nông và yêu cầu cần phải ủng hộ yêu sách của họ. Người chỉ rõ: Phải có thái
độ đúng với nơng dân, tuyên truyền giác ngộ họ, cần phải đoạn tuyệt với tư
tưởng nông dân, nhưng không đoạn tuyệt với nông dân, mà phải có sách lược
với họ. Và cho rằng, những người dân chủ - xã hội có nhiệm vụ thành lập một
đảng cơng nhân mácxít và đề ra tư tưởng liên minh cách mạng giữa giai cấp

14

cơng nhân và nơng dân, coi đó là phương sách chủ yếu để lật đổ chế độ Nga
hoàng, bọn địa chủ và giai cấp tư sản.

Một nguyên tắc trong liên minh giai cấp, tầng lớp theo quan điểm của
V.I.Lênin đó là vấn đề thỏa hiệp cả với giai cấp tư sản. Trong tác phẩm “Bệnh
ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản”, V.I.Lênin đã phê phán:
“Những người cộng sản Đức đã gạt bỏ việc tham gia nghị viện phản động tư
sản và việc tham gia các cơng đồn phản động”13. V.I.Lênin cịn khẳng định:
Đấu tranh cách mạng có lúc phải thoả hiệp. Bởi vì, tiến hành cách mạng
khơng phải hồn tồn thuận lợi và dễ dàng, mà cịn có những lúc cách mạng
gặp khó khăn. Trong những hồn cảnh khó khăn phức tạp đòi hỏi người cách

mạng phải biết lựa chiều, liên minh, thoả hiệp để tránh tổn thất cho cách
mạng. Cách mạng khơng phải chỉ biết có tiến cơng, khoa học tiến công phải
được bổ sung bằng khoa học rút lui khi cần thiết, rút lui là để chuẩn bị tiến
công những thắng lợi lớn hơn. Vì vậy, V.I.Lênin địi hỏi: Những người cộng
sản có nhiệm vụ phải tìm kiếm và tìm ra một hình thức thoả hiệp thích đáng
để có thể, một mặt làm dễ dàng và xúc tiến việc thống nhất hoàn toàn và cần
thiết với cách ấy, mặt khác, khơng làm trở ngại gì đến cuộc đấu tranh tư
tưởng và chính trị của những người cộng sản. Người nhấn mạnh nguyên tắc:
“Không bao giờ được thoả hiệp, không bao giờ được lựa chiều chỉ làm hại
cho sự mở rộng ảnh hưởng của giai cấp vô sản”14.

Như vậy, theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, liên minh giữa giai
cấp công nhân với giai cấp nơng dân và tầng lớp trí thức không chỉ là nhu cầu
nội tại của cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà nó cịn xuất phát từ những cơ sở
khách quan khác, cụ thể: Thứ nhất, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và tầng lớp trí thức là điều kiện đảm bảo vai trị lãnh đạo của
giai cấp cơng nhân, là điều kiện quyết định thắng lợi trong cuộc đấu tranh
giành chính quyền và công cuộc cải tạo và xây dựng xã hội mới. Thứ hai, liên
minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nơng dân và tầng lớp trí thức là

15

mối liên hệ tự nhiên gắn bó và sự thống nhất lợi ích cơ bản của tất cả các giai
cấp, tầng lớp. Thứ ba, liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nơng
dân và tầng lớp trí thức là do sự gắn bó thống nhất giữa sản xuất công nghiệp,
nông nghiệp với khoa học kỹ thuật. Nếu không có sự liên minh chặt chẽ của
cả 3 lực lượng này thì các ngành kinh tế sẽ khó phát triển. Đúng như V.I.
Lênin đã khẳng định: “… thực hiện liên minh cơng nơng là một việc khó,
nhưng vơ luận thế nào đó cũng là khối liên minh vơ địch duy nhất để chống
lại bọn tư bản”15.


Hầu hết những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về liên minh giai
cấp, tầng lớp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa như đã trình bày cho đến nay
vẫn cịn ngun giá trị. Tuy nhiên, có những luận điểm đã bị lịch sử vượt qua,
chẳng hạn luận điểm “liên minh công - nông là nguyên tắc tối cao của chun
chính vơ sản”. Bởi vì hiện nay, cơ cấu xã hội - giai cấp ở nhiều quốc gia,
trong đó có Việt Nam đã thay đổi. Nhiều nước tỷ lệ dân cư là nông dân đã
giảm xuống tuyệt đối; hơn nữa, q trình trí thức hóa cơng nhân, cơng nhân
hóa nơng dân cũng đang diễn ra mạnh mẽ. Vậy, phải căn cứ vào điều kiện lịch
sử - cụ thể của từng quốc gia, dân tộc để xác định liên minh giai cấp và các
tầng lớp cho đúng…

Mặt khác, hiện nay trên thế giới, nhất là ở các nước xã hội chủ nghĩa
khơng dùng thuật ngữ “chun chính vơ sản”, thay vào đó sử dụng thuật ngữ
có cùng bản chất là “hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa”. Một trong những
đặc điểm của của hệ thống chính trị đó là một hệ thống tổ chức, hệ thống
chuyên chính của giai cấp thống trị, do giai cấp công nhân thống trị lãnh đạo
nhằm thực hiện và bảo đảm thực hiện quyền lực của giai cấp công nhân; là sự
liên minh giai cấp trong đấu tranh giành, giữ, củng cố và sử dụng quyền lực
chính trị và trên bề mặt xã hội, nó đại diện cho toàn xã hội.

16

Trước những biến đổi của cơ cấu xã hội - giai cấp, dưới sự tác động của
cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, đặc biệt là cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ tư, trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đang điều chỉnh để
thích nghi, nhằm kéo dài sự tồn tại của chúng… thì những nội dung cần bổ
sung, phát triển quanđiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về liên minh giai cấp,
tầng lớp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa tập trung cần quan tâm, đó là: một
là, vị trí, vai trị của các giai cấp, tầng lớp trong khối liên minh; hai là, nội

dung thực chất của liên minh; ba là, nguyên tắc của liên minh, nhất là nguyên
tắc bảo đảm về lợi ích; bốn là, phương thức tập hợp lực lượng…

1.3 Ý nghĩa của nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về liên minh giai cấp, tầng lớp trong cách mạng xã hội chủ nghĩa đối với
Việt Nam hiện nay

* Quá trình nhận thức của Đảng ta về liên minh giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức

Trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin về liên minh giai cấp, tầng lớp trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa,tư tưởng Hồ Chí Minh về liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nơng dân và đội ngũ trí thức vào điều kiện cụ thể cách mạng Việt Nam,
ngay từ văn kiện Đại hội lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam năm 1951,
Đảng ta đã chỉ rõ: “Chính quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hịa là
chính quyền dân chủ của nhân dân… Lấy liên minh công nhân, nông dân và
lao động trí thức làm nền tảng do giai cấp công nhân lãnh đạo”16.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam năm 1991, Đảng ta xác định: xây dựng khối liên minh cơng -
nơng - trí làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

17


×