Tải bản đầy đủ (.pdf) (93 trang)

Các yếu tố tác động đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.44 MB, 93 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH</b>

<b>KHỐ LUẬN </b>

<b>TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC </b>

<b>CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM </b>

Ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã ngành: 7 34 02 01

<b>LÊ PHÚC ĐẠT </b>

<b>TP. HỒ CHÍ MINH, NĂM 2023 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH </b>

<b>KHỐ LUẬN </b>

<b>TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC </b>

<b>CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THANH KHOẢN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

TÓM TẮT

Nghiên cứu về các biến ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản là trọng tâm chính của đề tài “Các yếu tố tác động đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam”. Dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến 2022 từ các báo cáo hàng năm và tài chính của 15 ngân hàng. Các biến được xem xét bao gồm quy mô ngân hàng (SIZE), VCSH trên tổng TS (CAP), dư nợ vay trên tổng TS (TLA), nợ xấu (NPL), khả năng sinh lợi (ROE), lạm phát (INF), dự phịng rủi ro tín dụng (LLR), tăng trưởng kinh tế (GDP), tiền gửi khách hàng (DEP)

Để đánh giá rủi ro thanh khoản trong q trình nghiên cứu, tơi đã sử dụng chỉ số khả năng thanh khoản và các mơ hình hồi quy như Pooled OLS, FEM và REM. Tuy nhiên, kết quả đã cho thấy vấn đề về không đồng nhất và tự tương quan. Vì vậy, tơi đã tiến hành áp dụng FGLS.

Kết quả của mơ hình hồi quy cuối cùng FGLS cho thấy các biến độc lập CAP, NPL, ROE, LLR, GDP khơng có ý nghĩa thống kê. Biến SIZE, TLA, INF có ý nghĩa thống kê mức 1%; biến DEP có ý nghĩa thống kê mức 5%

Tôi đã đánh giá các tác động của các yếu tố được nghiên cứu đối với 15 ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2012 đến 2022 dựa trên các kết quả từ mơ hình FGLS. Cuối cùng, chúng tôi đưa ra một số đề xuất để giúp các ngân hàng cải thiện khả năng thanh khoản.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>ABSTRACT </b>

The topic of this research focuses on studying the factors influencing liquidity risk in commercial banks in Vietnam. Data was collected from the financial reports and annual reports of 15 domestic banks over the period from 2012 to 2022. The examined factors include bank size (SIZE), the ratio of equity capital to total assets (CAP), the ratio of loans to total assets (TLA), non-performing loan ratio (NPL), return on equity (ROE), and inflation rate (INF), Loan-loss reserve (LLR), economic growth rate (GDP), deposit (DEP).

The author used regression models including (Pooled OLS) Pooled Ordinary Least Square, (FEM) Fixed Effects Model and (REM) Random Effects Model during the study process to quantify liquidity (LIQ). However, the findings suggested problems with error term heteroscedasticity and autocorrelation. In order to solve these issues, we next applied the Feasible Generalized Least Squares (FGLS) model.

The study's findings indicate that a number of variables, including CAP, NPL, ROE, LLR, GDP have a favourable effect on banks' liquidity. However, other factors including SIZE, TLA, INF, DEP have significant impact on banks' liquidity.

Based on the results obtained from the FGLS model, we discussed the impact of the studied factors on liquidity in commercial banks in Vietnam during the period from 2012 to 2022. In conclusion, we proposed some recommendations for banks to improve liquidity.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>LỜI CAM ĐOAN </b>

Tôi xin cam đoan khóa luận này là cơng trình nghiên cứu riêng của tơi, kết quả nghiên cứu là hồn tồn dựa trên những đánh giá khách quan, trung thực và chưa từng được công bố trước đây. Các nội dung tham khảo mà tác giả sử dụng đều đã trích dẫn nguồn đầy đủ trong bài làm.

Tác giả

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<b>LỜI CẢM ƠN </b>

Lời đầu tiên, em xin được bày tỏ lịng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với Ban Giám hiệu trường Đại học Ngân hàng TP.HCM cùng với phòng đào tạo và khoa Tài chính của trường đã ln đồng hành và tạo điều kiện giúp em hoàn thành bài khóa luận.

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Dương Thị Thùy An đã trực tiếp hướng dẫn em tận tình và gắn bó. Cơ đã truyền đạt những kinh nghiệm và kiến thức cần thiết để em có thể làm bài một cách tốt nhất.

Tuy nhiên, do thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức của bản thân còn hạn chế, dẫn đến khi thực hiện luận văn khơng thể tránh khỏi những sai sót, em rất hy vọng sẽ nhận được sự góp ý của thầy cô nhằm cải thiện bài bài luận văn một cách hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn.

Tác giả

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

<b>1.3 Câu hỏi nghiên cứu ... 2 </b>

<b>1.4 Đối tượng và phạm vi được thực hiện nghiên cứu ... 3 </b>

<b>1.4.1 Đối tượng thực hiện nghiên cứu của khóa luận ... 3 </b>

<b>1.4.2 Phạm vi thực hiện nghiên cứu của khóa luận ... 3 </b>

<b>1.5 Các phương pháp được khóa luận sử dụng để nghiên cứu ... 3 </b>

<b>1.6 Nội dung nghiên cứu ... 4 </b>

<b>2.1 Cơ sở lý thuyết về thanh khoản ... 7 </b>

<b>2.1.1 Khái niệm về thanh khoản ... 7 </b>

<b>2.1.2 Nguồn cung thanh khoản, Nguồn cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng ... 8 </b>

<b>2.1.3 Các phương pháp đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng ... 9 </b>

<b>2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại</b> ... 11

<b>2.2.1 Nhóm các yếu tố bên trong ngân hàng ... 11 </b>

<b>2.2.2 Nhóm các yếu tố ngoài ngân hàng ... 14 </b>

<b>2.3 Tổng quan các nghiên cứu ... 15 </b>

<b>TÓM TẮT CHƯƠNG 2 ... 18 </b>

<b>CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MƠ HÌNH NGHIÊN CỨU ... 19 </b>

<b>3.1 Quy trình nghiên cứu ... 19 </b>

<b>3.2 Mẫu và dữ liệu nghiên cứu ... 21 </b>

<b>3.2.1 Mẫu nghiên cứu ... 21 </b>

<b>3.2.2 Dữ liệu nghiên cứu ... 21 </b>

<b>3.2.3 Công cụ nghiên cứu ... 22 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>3.3 Phương pháp nghiên cứu ... 22 </b>

<b>3.3.1 Phương pháp định tính ... 22 </b>

<b>3.3.2 Phương pháp định lượng ... 22 </b>

<b>3.4 Mơ hình nghiên cứu ... 25 </b>

<b>3.5 Giả thuyết nghiên cứu ... 28 </b>

<b>3.5.1 Quy mô ngân hàng (SIZE) ... 28 </b>

<b>4.3 Kiểm định đa cộng tuyến ... 48 </b>

<b>4.4 Kiểm định lựa chọn mơ hình ... 49 </b>

<b>4.5 Kiểm định các khuyết tật ... 51 </b>

<b>4.6 Khắc phục khuyết tật mô hình ... 52 </b>

<b>4.7 Thảo luận kết quả nghiên cứu... 53 </b>

<b>4.7.1 Tác động của quy mô ngân hàng (SIZE) đến khả năng thanh khoản ... 54 </b>

<b>4.7.2 Tác động của dư nợ vay trên tổng TS (TLA) đến khả năng thanh khoản</b> 54 <b>4.7.3 Tác động của lạm phát (INF) đến khả năng thanh khoản ... 55 </b>

<b>4.7.4 Tác động của tiền gửi khách hàng (DEP) đến khả năng thanh khoản .. 55 </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

<b>Từ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa Tiếng Việt </b>

Pooled OLS Pooled Ordinary Least Square Phương pháp bình phương tối thiểu

REM Ramdom effects model Mơ hình tác động ngẫu nhiên

FGLS Feasible Generalised Least Squares Phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi

<b>DANH MỤC BẢNG </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b>STT Tên Bảng </b>

1 Bảng hoạt động cung cầu thanh khoản 2 Bảng đo lường các biến

3 Kỳ vọng biến

4 Thống kê mơ tả các biến trong mơ hình 4.1 Mối quan hệ giữa biến SIZE và LIQ 4.2 Mối quan hệ giữa biến CAP và LIQ 4.3 Mối quan hệ giữa biến TLA và LIQ 4.4 Mối quan hệ giữa biến NTL và LIQ 4.5 Mối quan hệ giữa biến ROE và LIQ 4.6 Mối quan hệ giữa biến INF và LIQ 4.7 Mối quan hệ giữa biến LLR và LIQ 4.8 Mối quan hệ giữa biến GDP và LIQ 4.9 Mối quan hệ giữa biến DEP và LIQ

5 Ma trận tương quan giữa các biến 6 Hệ số phóng đại phương sai VIF

7 Kết quả mơ hình hồi quy Pooled OLS, FEM 8 Kết quả lựa chọn mơ hình Pooled OLS và FEM 9 Kết quả mơ hình hồi quy FEM, REM

10 Kết quả kiểm định Hausman

11 Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi 12 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan

13 Kết quả hồi quy FGLS

14 Tóm tắt giả thuyết nghiên cứu và kết quả nghiên cứu

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<b>CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU </b>

<b>1.1 Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài </b>

Đối với ngành ngân hàng thì thanh khoản ln ln là một trong những yếu tố quyết định đến sự an toàn trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng nói riêng và của tồn hệ thống ngân hàng nói chung. Đảm bảo khả năng thanh khoản hợp lý là vấn đề rất quan trọng đối với các ban lãnh đạo ngân hàng nhằm mục tiêu duy nhất là đảm bảo rủi ro thanh khoản luôn ở mức thấp vào những thời điểm cần thiết để ngân hàng có đủ nguồn vốn khả dụng để đáp ứng các nhu cầu, ngược lại nếu khả năng đáp ứng về tính thanh khoản của ngân hàng nếu khơng được quản lý hiệu quả sẽ khiến q trình hoạt động của ngân hàng không đủ nguồn vốn để đáp ứng các nhu cầu vào giai đoạn cần thiết sẽ gây ra sự ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của ngân hàng đó, hơn thế nữa có thể là tồn bộ hệ thống, điều đó sẽ dẫn đến Ngân hàng mất thanh khoản, kéo theo là uy tín giảm sút và hoạt động của ngân hàng sẽ bị đình trệ, thậm chí nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống.

Năm 2007 – 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu cùng với sự sụp đổ liên tiếp của các tổ chức tài chính trên thế giới đã cho thấy những khiếm khuyết trong quản lý thanh khoản của các tổ chức tài chính, cảnh báo cho tình trạng thiếu hụt thanh khoản tại các NHTM. Tại Việt Nam, Việc các NHTM phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt thanh khoản khơng phải mới, ví dụ điển hình là, HNTMCP nơng thơn Ninh Bình năm 2005, NHTMCP Á Châu năm 2003, NHTMCP Phương Nam năm 2005,…

Gần đây nhất là sự phát sinh trường hợp rút tiền hàng loạt ở các NHTM tại Mỹ như First Republic Bank, Signature Bank, Silicon Valley Bank 2 quý đầu năm 2023. Ở nước ta, gần đây tình trạng này cũng xuất hiện tương tự tại ở NHTMCP SCB vào tháng 10 – 2022. Qua đó cho ta thấy mức độ quan trọng của thanh khoản đối với NHTM ở thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Do đó việc nghiên cứu và tìm ra các yếu tố có khả năng gây ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam là vô cùng cần thiết và cần được quan tâm, đặc biệt đối với nền kinh tế như Việt Nam hiện nay đang đứng trên đà hội nhập và tăng trưởng với nền kinh tế thế giới, việc đảm bảo thanh khoản sẽ tạo cơ hội cho hệ thống các ngân hàng thương mại trong việc mở rộng và phát triển các sản phẩm, dịch vụ

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

thì vấn đề thanh khoản càng trở nên quan trọng hơn. Nhận thấy được tình hình cũng như mức độ quan trọng của yếu tố gây ảnh hưởng đến tính thanh khoản đối với các NHTM tại Việt Nam nên tác giả đã quyết định lấy đề tài nghiên cứu: "Các yếu tố tác động đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam" để làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận của mình.

<b>1.2 Mục tiêu đề tài </b>

<b>1.2.1 Mục tiêu mang tính tổng quát </b>

Mục tiêu tổng quát được đặt ra cho đề tài là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản tại các NHTM Việt Nam để có thể mà từ đó đưa ra một số ý đề xuất nhằm cải thiện khả năng thanh khoản của NHTM tại Việt Nam trong tương lai sắp tới.

<b>1.2.2 Mục tiêu mang tính cụ thể </b>

Các mục tiêu cụ thể mà đề tài nghiên cứu cần đạt được là:

 Nhận diện các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

 Xây dựng mơ hình nghiên cứu đối với các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam.

 Thực hiện Phân tích và đánh giá các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam.

 Kiểm chứng chiều hướng ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam.

<b>1.3 Câu hỏi nghiên cứu </b>

Dựa vào các mục tiêu chính đã được nêu ra ở phía trên, khóa luận sẽ tiếp tục tiến hành xác định những câu hỏi nghiên cứu đặt ra để sau khi hồn thành bài khóa luận có thể đưa ra các nhận xét và giải pháp hữu hiệu, chi tiết:

 Các yếu tố nào ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam?

 Mức độ tác động của các yếu tố đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam?

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

 Dựa vào kết quả nghiên cứu đạt được, có thể đưa ra những khuyến nghị nào nhằm nâng cao khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam?

<b>1.4 Đối tượng và phạm vi được thực hiện nghiên cứu 1.4.1 Đối tượng thực hiện nghiên cứu của khóa luận </b>

Luận án xem xét đến việc lựa chọn đề tài nghiên cứu là nghiên cứu các yếu tố nào có tác động đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam.

<b>1.4.2 Phạm vi thực hiện nghiên cứu của khóa luận </b>

Đối với không gian thực hiện nghiên cứu:

Đề tài sử dụng bộ dữ liệu thứ cấp từ 2012 – 2022 của các NHTM Việt Nam có báo cáo tài chính kết hợp với báo cáo thường niên đã kiểm toán được. Tác giả thu nhập ở các trang thông tin của các Ngân hàng thương mại, để tăng độ uy tín và trung thực của số liệu Tác giả chỉ ưu tiên chọn lọc những báo cáo tài chính đã được kiểm tốn. Tiêu chí để đưa ra quyết định lựa chọn là các ngân hàng này phải hoạt động trong khoản thời gian mà đề tài thực hiện nghiên cứu, các số liệu phải rõ ràng, được công bố một một cách công khai và đầy đủ trên báo cáo tài chính đối với từng ngân hàng.

Đối với thời gian thực hiện nghiên cứu:

Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp từ ngân hàng thương mại Việt Nam và các số liệu kinh tế khác trong giai đoạn từ 2012 đến 2022

<b>1.5 Các phương pháp được khóa luận sử dụng để nghiên cứu </b>

Phương pháp định tính:

Phân tích, so sách, tổng hợp số liệu thống kê với dữ liệu vi mô được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên đã kiểm tốn được cơng bố trên website của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2022;Dữ liệu vĩ mô được thu thập từ báo cáo của NHNN, Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (World Bank), các bài tạp chí liên quan đến chủ đề nghiên cứu, các trang mạng điện tử. Phương pháp này nhằm trả lời câu hỏi các nhân tố nào tác động đến khả năng thanh khoản của NHTM hoạt động tại Việt Nam.

Phương pháp định lượng:

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng để phân tích tác động của các yếu tố đến thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam, phương pháp ước lượng bình phương bé nhất (OLS) được sử dụng thông qua hiệu ứng Fixed Effects và Random Effects. Sau đó sử dụng kiểm định Hausman Test để kiếm tra xem mơ hình phù hợp với hiệu ứng của mơ hình Fixed Effects hay của mơ hình Random Effects hơn. Trong trường mơ hình khuyết tật sảy ra, tác sẽ thực hiện phương pháp thống kê FGLS thông qua phần mềm Stata. Bài nghiên cứu dựa vào kết quả hồi quy nhằm đưa ra ý kiến thảo luận.

Kết quả hồi quy sẽ chỉ ra chiều hướng tác động của các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản. Qua kết quả nhận được Từ đó đề ra một số ý đề xuất nhằm cải thiện khả năng thanh khoản của NHTM tại Việt Nam trong thời gian tới.

<b>1.6 Nội dung nghiên cứu </b>

Đề tài tập trung làm rõ tác động của các yếu tố nội tại bên trong các ngân hàng cũng như các yếu tố vĩ mô tác động đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Từ những kết quả đề tài đạt được, tác giả đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm cải thiện khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam, sau đó rút ra những hạn chế của đề tài, đồng thời đưa ra những đề xuất hướng nghiên cứu đối với các nghiên cứu tiếp theo.

<b>1.7 Đóng góp của đề tài </b>

Thanh khoản là một phần quan trọng của lĩnh vực tài chính và kinh tế vì nó đóng vai trị quan trọng trong hiểu và quản lý rủi ro tài chính, đánh giá giá trị tài sản và thị trường tài chính. Đã có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề thanh khoản tuy nhiên vấn đề thanh khoản của các ngân hàng chưa bao giờ hạ nhiệt, đặt biệt trong thời gian hiện tại lạm phát và rủi ro thanh khoản có xu hướng tăng cao. Chưa kể đến các yếu tố thay đổi theo thời gian đẫn đến các số liệu trong quá khứ khơng cịn phù hợp. Vì vậy, nghiên cứu “ Yếu tố tác động đến thanh khoản của các Ngân hàng thương mại Việt Nam” sẽ kế thừa và mở rộng các nghiên cứu trước, từ đó sẽ đưa ra các đề xuất và khuyến nghị nhằm tối ưu thanh khoản.

<b>1.8 Kết cấu của khóa luận </b>

Nội dung nghiên cứu gồm 5 chương:

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

<b>Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu </b>

Chương 1 sẽ trình bày các nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của đề tài, cũng như đưa ra những đóng góp của đề tài

<b>Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tóm tắt các nghiên cứu thực nghiệm về yếu tố tác động </b>

đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam

Chương này, tác giả thực hiện trình bày nội dung cơ sở lý thuyết về tác động của các yếu tố đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam. Chương tổng kết các mơ hình nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM nhằm tạo tiền đề cho tác giả thực hiện việc xây dựng mơ hình nghiên cứu ở chương tiếp theo.

<b>Chương 3: Phương pháp thực hiện nghiên cứu </b>

Dựa vào cở sở lý thuyết được trình bày ở chương trước, chương này sẽ đề cập về mơ hình của bài nghiên cứu cùng với các biến của bài nghiên cứu, đồng thời đưa ra dữ liệu của bài nghiên cứu và phương pháp thực hiện nghiên cứu, cũng như quy trình của bài nghiên cứu đã sử dụng trong khóa luận nhằm thu được kết quả phù hợp với mục tiêu đề ra.

<b>Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu </b>

Chương này thực hiện thống kê mô tả các biến trong mơ hình, thực hiện các kiểm định mơ hình nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến trong mơ hình và phân tích tác động của các nhân tố tác động đến tăng trưởng tín dụng. Từ kết quả có được tác giả đưa ra mơ hình hồi quy phù hợp nhằm thể hiện mối quan hệ giữa các biến thể hiện yếu tố nội tại ngân hàng, các biến thể hiện yếu tố kinh tế vĩ môđối với khả năng thanh khoản khoản của các NHTM tại Việt Nam.

<b>Chương 5: Kết luận và khuyến nghị </b>

Chương 5 đánh giá kết quả nghiên cứu của bài viết, nêu lên hạn chế và hướng phát triển tiếp theo. Từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện thanh khoản và gia tăng hiệu quả hoạt động của các NHTM.

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

<b>TÓM TẮT CHƯƠNG 1 </b>

Đối với chương 1 Tác giả nêu ra tầm quan trọng cũng như tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu “Yếu tố tác động đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam”và hơn thế nữa là giá trị thu được từ bài nghiên cứu sẽ giúp được gì cho các bài nghiên cứu sau này cũng như xa hơn nữa cũng là một nền tảng cho các nhà quản trị ngân hàng thương mai có thể xem xét và tìm ra những điểm mới để cải thiện thanh khoản. Khóa luận đã đưa ra 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể từ mục tiêu nghiên cứu tổng quát và sẽ được giải quyết thông qua 3 câu hỏi nghiên cứu được tác giả đề ra tương ứng. Tiếp theo đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng song song đó là phối hợp cùng phương pháp định tính dựa trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa và mở rộng các nghiên cứu trước trên cơ sở dữ liệu từ NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2022. Ở Cuối cùng của chương, tác giả trình bày cấu trúc của bài nghiên cứu, bao gồm 5 phần và nêu lên nội dung chính đối với từng chương.

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

<b>CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC </b>

<b>2.1 Cơ sở lý thuyết về thanh khoản 2.1.1 Khái niệm về thanh khoản </b>

Đã có rất nhiều định nghĩa về thanh khoản được nhiều nhà nghiên cứu phát biểu như sau:

“Theo nghĩa hẹp, thanh khoản là khả năng biến đổi một tài sản nào đó ra tiền mặt một cách nhanh chóng với một chi phí thấp nhất có thể. Một cách đầy đủ hơn dựa vào cả hai tiếp cận từ tài sản và nguồn vốn, thanh khoản là khả năng tiếp cận các tài sản và nguồn vốn với một chi phí hợp lý để phục vụ các nhu cầu hoạt động khác nhau của ngân hàng. Một tài sản có tính thanh khoản cao khi chi phí chuyển đổi thành tiền thấp và thời gian chuyển đổi thành tiền nhanh, trong khi đó, nguồn vốn có tính thanh khoản cao khi chi phí” (Trương Quang Thông, 2013)

“Thanh khoản là một khái niệm mang tính chuyên ngành về khả năng đáp ứng các nhu cầu về sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và giao dịch vốn của ngân hàng” (BIS, 2009).

Theo bộ quy tắc về “Nguyên tắc quản lý và giám sát rủi ro thanh khoản” của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) (Basel Committee on Bank Supervision,2008) thì “Thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể tài trợ việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”.

Từ các định nghĩa trên, có thể rút ra khái niệm thanh khoản với cách hiểu đơn giản như sau: “Xét trong ngắn hạn, thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể thực hiện thanh toán ngay tại thời điểm nghĩa vụ phát sinh. Trong dài hạn, thanh khoản cho thấy khả năng vay đủ vốn dài hạn cùng với lãi suất hợp lý nhằm đảm bảo khả năng thanh toán dài hạn và hỗ trợ việc tăng tài sản. Nhìn chung, thanh khoản thể hiện là khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định” (Duttweiler, R., 2011). Từ đó cho thấy sẽ gặp khó khăn, trở ngại như thế nào nếu tài sản hàng hóa khơng thể chuyển đổi thành tiền mặt khi cần thanh toán tiền gửi, kiều hối, khoản vay, thanh toán, giao dịch vốn và các khoản nợ khác, Ngân hàng sẽ

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

nhanh chóng rơi vào tình trạng vỡ nợ. Do đó, Ngân hàng phải đảm bảo rằng mình có đủ tài sản trong tay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt của khách hàng, ngân hàng cần đảm bảo nắm giữ một lượng tài sản đủ để đáp ứng các nhu cầu về tiền mặt của khách hàng nhằm tránh gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động cũng như ảnh hưởng đến uy tín, niềm tin của khách hàng, đối tác vào hệ thống ngân hàng nếu như có sự cố xảy ra.

<b>2.1.2 Nguồn cung thanh khoản, Nguồn cầu thanh khoản và trạng thái thanh khoản ròng </b>

Khả năng cung ứng tiền mặt của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thanh toán kịp thời của khách hàng được gọi là khả năng cung thanh khoản của ngân hàng. Tính thanh khoản của ngân hàng sẽ tăng lên khi có nguồn cung tài sản thanh khoản dồi dào. Việc cung cấp thanh khoản bắt nguồn từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm tiền mặt có sẵn hoặc có thể được huy động nhanh chóng.

Nhu cầu thanh khoản được phản ánh qua nhu cầu thanh toán và giải ngân tức thì hoặc trong thời gian ngắn của khách hàng mà ngân hàng có nghĩa vụ phải đáp ứng. Từ đó làm giảm lượng quỹ tiền mặt của ngân hàng.

<i>Bảng 1 Hoạt động cung cầu thanh khoản </i>

<b>Cung thanh khoản Cầu thanh khoản </b>

Các khoản tiền ký thác Chi trả tiền gửi cho khách hàng Các khoản tín dụng phải trả Cấp tín dụng cho khách hàng Các khoản thu từ dịch vụ Hoàn trả các khoản đi vay

Các khoản vay từ thị trường tiền tệ Chi phí quản lý điều hành & dịch vụ Các khoản bán tài sản Chi phí lãi vay

Phát hành cổ phiếu ra thị trường Chi phí trả cổ tức và mua lại cổ phiếu

<b>2.1.2.2 Trạng thái thanh khoản ròng </b>

Sự kết hợp giữa cung và cầu thanh khoản của một ngân hàng sẽ tạo nên Trạng thái thanh khoản rịng (NLP) của ngân hàng đó, được tính tốn theo Nguyễn Văn Tiến (2015) như sau:

NLP= Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Nếu

Khi NLP > 0, ngân hàng có nguồn cung thanh khoản vượt quá so với cầu thanh khoản, ngân hàng xuất hiện hiện tượng thặng dư về thanh khoản. Trong trường hợp này,

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

khả năng thanh khoản hiện tại của ngân hàng có vẻ tích cực, nhưng đồng thời cũng có dấu hiệu cho thấy khả năng sinh lời của ngân hàng vẫn chưa được tận dụng đầy đủ. Nguyên nhân gây thặng dư thanh khoản có thể bắt nguồn từ việc ngân hàng tăng cường dự trữ thanh khoản một cách tích cực, đầu tư khơng hiệu quả, hay do nền kinh tế đang trải qua giai đoạn suy thối với ít cơ hội đầu tư, hoặc sự tăng vốn diễn ra quá nhanh chóng.

Khi NLP = 0, ngân hàng có cung và cầu thanh khoản sẽ được cân bằng, lượng tiền mặt và các tài sản có khả năng chuyển đổi nhanh chóng có sẵn đủ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của thị trường. Mục tiêu này là ưu tiên của các nhà quản trị ngân hàng, tuy nhiên, trong thực tế, việc đạt được trạng thái cân bằng thanh khoản là một nhiệm vụ khó có thể thực hiện.

Khi NLP < 0, ngân hàng cung thanh khoản không đủ đáp ứng cầu thanh khoản, ngân hàng đang trải qua tình trạng thâm hụt về thanh khoản. Tình trạng thâm hụt thanh khoản được xem như là một trong những yếu tố rủi ro đáng chú ý đối với hoạt động của các ngân hàng thương mại.. Thâm hụt nhẹ gây khó khăn cho hoạt động của ngân hàng. Ngược lại, sự thiếu sót lớn có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng tới việc giữ chân khách hàng, đánh mất cơ hội trong hoạt động kinh doanh, đánh mất thị phần trong thị trường, đồng thời ảnh hưởng xấu đến niềm tin của công chúng... (Trương Quang Thông, 2010). Các biện pháp cần thực hiện để khắc phục tình trạng thiếu hụt thanh khoản có thể kể đến như việc bán các tài sản có tính thanh khoản thấp, sử dụng khoản dự trữ bắt buộc, vay mượn giữa các ngân hàng, và các biện pháp khác…

<b>2.1.3 Các phương pháp đo lường khả năng thanh khoản của ngân hàng </b>

Dựa vào khe hở thanh khoản:

Khe hở thanh khoản= Tổng dư nợ tín dụng trung bình –Tổng nguồn vốn huy động trung bình

Khe hở thanh khoản có thể cho thấy khả năng rủi ro đối với thanh khoản trong tương lai của ngân hàng. Chính vì trung bình tổng dư nợ tín dụng cao hơn trung bình tổng vốn huy động, khi chênh lệch thanh khoản dương hoặc có giá trị đáng kể, điều đó có nghĩa là các ngân hàng hoặc cho vay nhiều hơn hoặc giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt, làm tăng rủi ro tín dụng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

Dựa vào các chỉ số thanh khoản:

Một số nghiên cứu đã chỉ ra các tỷ lệ thanh khoản khác nhau như sau: L1 = Tài sản thanh khoản/ Tổng tài sản

Tỷ lệ này thể hiện tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản cao trong tổng tài sản có của ngân hàng thương mại. Khả năng thanh khoản của ngân hàng đó được đánh giá càng tốt khi tỷ lệ này càng lớn. Tuy nhiên, tỷ số này chỉ đánh giá một chiều khả năng thanh khoản của tài sản có của ngân hàng; nó khơng đánh giá khả năng của ngân hàng trong việc trả nợ hoặc đáp ứng các yêu cầu đi vay của ngân hàng.

L2 = Tài sản thanh khoản/( Tiền gửi + Vốn huy động ngắn hạn)

Tỷ số L2 cho thấy rằng tài sản thanh khoản nếu đưa ra để thực hiện so sánh với các khoản tiền gửi và nguồn vốn huy động ngắn hạn chiếm tỷ lệ bao nhiêu, tỷ số này tập trung nhiều hơn vào mức độ nhạy cảm của ngân hàng đối với các loại tài trợ được chọn ( bao gồm tiền gửi của các hộ gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính khác). Thơng qua đó, có thể nhận ra những tổn thương mà ngân hàng phải đối mặt khi tận dụng các nguồn tài trợ khác nhau.

L3 = Khoản cho vay/ Tổng tài sản

Tỷ số L3 đo lường tỷ trọng các khoản vay trong tổng tài sản. Tỷ số này cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản của ngân hàng bị ràng buộc trong các khoản cho vay kém thanh khoản. Do đó tỷ số này càng lớn thì cho thấy ngân hàng đó hiện tại có khả năng thanh khoản càng kém.

L4 = Khoản cho vay/(Tiền gửi + Nguồn vốn ngắn hạn)

Tỷ số L4 và L3 có thể được sử dụng để đo lường đặc tính kém thanh khoản, các tỷ số này càng cao chứng tỏ tài sản có tính thanh khoản thấp mà ngân hàng đang nắm giữ đồng nghĩa với rủi ro thanh khoản càng cao. Ngược lại tỷ số L1 và L2 được sử dụng để đo lường tài sản có tính thanh khoản trong ngân hàng, tỷ số này càng cao thì tài sản có tính thanh khoản mà ngân hàng đang nắm giữ càng cao, đồng nghĩa với rủi ro thanh khoản càng ít.

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

Hầu hết các tác giả đều sử dụng cả 4 tỷ lệ thanh khoản để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng như Vodova (2011), Aspachs và cộng sự (2005), Vũ Thị Hồng (2015). Tuy nhiên, tác giả chỉ chọn chỉ số L1 để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng vì chỉ số này cho ta cái nhìn tổng quát nhất về khả năng thanh khoản của ngân hàng cả trong ngắn hạn và trung dài hạn. Chỉ số L1 cho biết có bao nhiêu phần trăm tổng tài sản của ngân hàng là tài sản lưu động mà ngân hàng có thể dự trữ để phịng ngừa rủi ro thanh khoản. Trong ngắn hạn, nếu một ngân hàng ở Việt Nam gặp phải tình trạng thiếu thanh khoản đột ngột, ngân hàng đó vẫn có thể vay tiền trên thị trường liên ngân hàng để bù đắp sự thiếu hụt thanh khoản mà không dẫn đến phá sản. Tuy nhiên, chi phí để bù đắp cho sự thiếu thanh khoản này không hề rẻ; nếu tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, buộc ngân hàng này phải đứng trước bờ vực phá sản hoặc Ngân hàng Nhà nước sẽ mua lại với giá 0 đồng Việt Nam. Do đó, chỉ số L1 sẽ vượt trội so với các chỉ số khác khi đánh giá tính thanh khoản trong cả ngắn hạn và dài hạn.

<b>2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng thương mại</b>

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản được khóa luận chia thành 2 nhóm chính: nhóm các yếu tố bên trong và nhóm các yếu tố bên ngồi

<b>2.2.1 Nhóm các yếu tố bên trong ngân hàng </b>

Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): theo lý thuyết ưa thích thanh khoản của Keynes (Keynes Liquidity Preference Theory) thì có kết luận sau: Vì tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nhất nên việc có một số lượng lớn sẽ làm tăng tính thanh khoản nhưng lại hạn chế triển vọng kiếm lời. Các ngân hàng buộc phải bán tài sản lưu động để đầu tư vào những tài sản kém lưu động hơn nhằm sinh lời đáng kể. Thêm nữa là bài nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019) đã cho ta thấy được tác động có tính ngược chiều của tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) tác động trái chiều so với thanh khoản, trong khi đó bài nghiên cứu của Moussa (2015), Choon và cộng sự (2013) lại thu được kết quả khác, cho thấy có tác động cùng chiều .

Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP): hệ số này được tính bằng cách lấy vốn chủ sở hữu chia cho tổng tài sản của ngân hàng, hệ số này thể hiện mức độ vốn của ngân hàng cũng như mức độ an tồn về tài chính. Tỷ số này cao so với trung bình ngành cho thấy ngân hàng có năng lực tài chính tốt để vay vốn, cho vay và duy trì khả năng thanh

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

toán, khả năng chi trả., ngược lại tỷ số này thấp cho thấy ngân hàng hiện tại đang sử dụng địn bẩy tài chính cao, việc sử dụng địn bẩy tài chính quá mức sẽ tiềm ẩn những rủi ro có thể xảy ra và có thể tác động bất lợi đến lợi nhuận của ngân hàng, khi mà chi phí đi vay cao.

Những nghiên cứu của các tác giả Muhammad Farhan Malik và Amir Rafique (2013), Pavla Vodova (2013), Belete Fola (2015) cho thấy kết quả tác động cùng chiều của tỷ lệ vốn chủ sở hữu đến khả năng thanh khoản. Ngược lại các nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019), cùng với bài nghiên cứu của Moussa (2015) cho thấy tỷ lệ này có tác động ngược chiều với khả năng thanh khoản.

Tỷ lệ dư nợ cho vay trên vốn huy động (TLA): bằng cách dùng tổng dư nợ chia cho tổng vốn huy động ta sẽ có được tỷ lệ này, Tỷ lệ TLA càng cao thì khả năng sinh lời càng cao nhưng đồng thời khả năng thanh khoản của ngân hàng cũng bị giảm đi tương ứng, rủi ro thanh khoản tăng lên. Điều này có ý nghĩa là các ngân hàng đã cho vay quá nhiều, vượt quá nguồn huy động đầu vào của họ. Khi gặp trục trặc, các ngân hàng không tự xoay sở được sẽ phải vay tiền từ thị trường liên ngân hàng với chi phí cao, lợi nhuận có thể khơng đủ bù chi phí. Ngồi ra, khi tỷ lệ huy động trên vốn vay tăng lên còn phản ánh độ tin cậy của ngân hàng rất tốt, rủi ro rút tiền đột ngột của khách hàng sẽ giảm đi, giúp hạn chế sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng như nền kinh tế. Các nghiên cứu của Trương Quang Thông (2013), Đặng Văn Dân (2015), Phan Thị Mỹ Hạnh & Tống Lâm Vy (2019) có mối quan hệ cùng chiều đến rủi ro thanh khoản. Do đó, tác giả kỳ vọng tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản có mối quan hệ cùng chiều với rủi ro thanh khoản. Từ đó ảnh hưởng tới tính thanh khoản.

Tỷ lệ nợ xấu (NPL): Nợ xấu là các khoản nợ khó địi khi người vay khơng thể trả nợ khi đến hạn đã thanh toán, tỷ lệ nợ xấu được đo bằng cách chia nợ xấu cho tổng nợ. Nghiên cứu của Vodova (2011) và Vũ Thị Hồng (2015) đều cho kết quả chung là tỷ lệ nợ xấu có tác động tích cực đến thanh khoản, khi nợ xấu tăng lên, ngân hàng thương mại sẽ phải kiểm soát và hạn chế cho vay đồng thời phải tăng lợi nhuận từ các hoạt động khác như huy động vốn và đẩy mạnh dịch vụ … điều này làm cho thanh khoản tốt hơn.

Quy mô ngân hàng (SIZE): Theo lý thuyết thực tế Too big too fail đã cho rằng các ngân hàng thương mại có quy mơ lớn thường sẽ có cái nhìn về tính mạo hiểm cao hơn bởi do tâm lý chung là họ tự tin và hoàn tồn có khả năng chịu đựng tổn thất nếu rủi ro

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

xảy ra nên do đó ít dự trữ thanh khoản hơn dẫn đến thanh khoản giảm sút, các nghiên cứu từ các tác giả Bunda và Desquilbet (2008), Mahmood và cộng sự (2019), Vodova (2013) đều cho ra kết quả giống nhau về mối quan hệ trái chiều của thanh khoản và quy mô ngân hàng.

Tuy nhiên một vài nghiên cứu của các tác giả khác lại chỉ ra rằng giữa thanh khoản và quy mô của ngân hàng có tác động cùng chiều với nhau. Theo lý thuyết Tín hiệu (Spence,1973) đã đưa ra nhận định cho rằng Quy mô của ngân hàng sẽ có tác động tích cực đến tính thanh khoản; khi ngân hàng phát triển, nó sẽ gửi tín hiệu thành cơng và tạo động lực để huy động thêm tiền từ nhiều nguồn khác nhau, tăng khả năng thanh khoản.

Tiền gửi của khách hàng (DEP): Nguồn tiền gửi huy động được coi là nguồn tài trợ chủ yếu cho hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng sử dụng tiền gửi của khách hàng để thực hiện các hoạt động cấp tín dụng. Trong trường hợp, lượng vốn huy động tăng lên, ngân hàng sẽ nâng cao các giao dịch với mục đích sinh lời, điều này có thể làm giảm dự trữ thanh khoản và đồng thời giảm đi mức thanh khoản của ngân hàng, một số nghiên cứu do Lê Hoàng Vinh và Trần Phi Dũng (2020) cũng đã chỉ ra nguồn tiền gửi của khách hàng có tác động ngược chiều đến thanh khoản của các ngân hàng.

Ngược lại một số các nghiên cứu lại chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa tiền gửi của khách hàng đối với khả năng thanh khoản của ngân hàng, điều này giải thích rằng khi có nguồn tiền dồi dào từ tiền gửi của khách hàng, ngân hàng có thể tạo ra nhiều lợi nhuận, đồng thời tăng cường khả năng thanh khoản của mình, đồng thời nguồn tiền gửi của khách hàng còn hỗ trợ cho ngân hàng đáp ứng khả năng thanh khoản trong ngắn hạn, các nghiên cứ thực nghiệm của Singh, A., & Sharma, A. K. (2016) đã cho thấy mối quan hệ này

Dự phòng rủi ro (LLR): Thiết lập khoản dự phòng rủi ro là một chiến lược quan trọng trong quản lý tài chính nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của rủi ro thanh khoản. Khi dành một phần nguồn lực để chuẩn bị cho những tình huống khơng mong muốn, điều này có thể có ảnh hưởng tích cực đến khả năng thanh khoản. Khoản dự phòng rủi ro giúp các ngân hàng đối mặt với các chi phí khơng dự kiến hoặc thiếu hụt tài chính, giúp giảm áp lực tài chính ngắn hạn và đặc biệt với các khoản cần phải thanh tốn nhanh chóng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Nguyễn Thị Thuỳ Linh (2019) đã sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với mẫu dữ liệu của 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007-2017 cho chúng ta thấy RRTK của ngân hàng luôn tác động cùng chiều với sở hữu nước ngoài. Tác giả đã phân tích thêm các biến tác động đến rủi do thanh khoản: "Các yếu tố tác động tỷ lệ thuận đó là quy mơ, lợi nhuận trên vốn của chủ sở hữu, tỷ lệ vay huy động vốn và tỷ lệ lạm phát". Đồng thời, có các biến tác động tỷ lệ nghịch đó là: "tỷ lệ dự phịng rủi ro tín dụng, tỷ lệ vốn của chủ sở hữu trên tổng tài sản và tốc độ tăng trưởng kinh tế". Tuy nhiên "biến tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát và dự phòng rủi ro tín dụng là khơng có có ý nghĩa trong thống kê ở mơ hình này".

<b>Nguyễn Hồng Chung & cộng sự (2022) cũng với phương pháp hồi quy đã đi sâu </b>

tìm hiểu 26 ngân hàng TMCP thời kỳ 2008-2018 cho thấy các yếu tổ tác động đồng biến với rủi ro thanh khoản: "rủi ro thanh khoản của năm trước, tính thanh khoản, tỷ lệ cho vay vốn trên tổng tài sản, tăng trưởng tín dụng, nguồn tài trợ bên ngồi, dự phịng rủi ro tín dụng có vai trị là nhân tố tác động cho cùng chiều". Tuy nhiên, xét một cách toàn diện, nghiên cứu này lại chưa xác định được các luận điểm để chứng minh yếu tố khủng hoảng kinh tế, tài chính, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản.

<b>2.2.2 Nhóm các yếu tố ngồi ngân hàng </b>

Tăng trưởng kinh tế (GDP): Tăng trưởng kinh tế được phản ánh qua tốc độ tăng trưởng GDP theo thời gian, một yếu tố vĩ mơ có ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản. Khi tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực đến danh mục đầu tư, các ngân hàng sẽ sinh lãi nhiều hơn bằng cách tăng giá trị tài sản và dòng tiền, và ngược lại, khi kinh tế suy thoái kéo theo suy giảm khả năng trả nợ của đối tượng khách hàng mà ngân hàng cho vay dẫn đến tăng rủi ro tín dụng. Do đó, khả năng thanh khoản của ngân hàng bị ảnh hưởng rất lớn bởi tốc độ tăng trưởng kinh tế.

Tỷ lệ lạm phát (INF): Tốc độ lạm phát được thực hiện đo lường bởi tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Lạm phát cao sẽ làm cho nền kinh tế vĩ mô xấu đi ảnh hưởng xấu đến thanh khoản của các ngân hàng, thanh khoản cao sẽ khiến cho nền kinh tế bị suy thối, bên cạnh đó cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng khi lạm phát tăng các ngân hàng sẽ siết chặt quản lý tín dụng dẫn đến lượng cho vay của ngân hàng trở nên ít hơn, kết quả

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

là tài sản thanh khoản của các ngân hàng được gia tăng. (Singh, A., & Sharma, A. K. (2016), Tesfaye (2012))

<b>2.3 Tổng quan các nghiên cứu </b>

Đối với các nghiên cứu về ngân hàng Việt Nam, Trương Quang Thông (2013) với dữ liệu thu thập từ 27 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2002 – 2011, trong đó sử dụng chênh lệch vốn là biến phụ thuộc đại diện cho rủi ro thanh khoản, biến độc lập ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản được chia làm 2 nhóm: nhóm những yếu tố bên trong và nhóm những yếu tố bên ngồi. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong như tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản, quy mô ngân hàng, dự trữ thanh khoản mà cịn phụ thuộc vào các yếu tố vĩ mơ bên ngoài như, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF). Vũ Thị Hồng (2015) dụng mẫu của 37 ngân hàng thương mại tại Việt Nam, bằng phương pháp nghiên cứu định lượng trong giai đoạn các số liệu của Ngân hàng giai đoạn 2006 – 2011, đã đưa ra được phát hiện, tác động của một số yếu tố đối với khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam: tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ lệ lợi nhuận đều có mối liên cùng chiều; Đồng thời cũng đưa ra được biến tỷ lệ cho vay so với tỷ lệ huy động có mối liên quan trái chiều so với khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam. Lê Hoàng Vinh, Trần Phi Dũng (2019) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, mẫu nghiên cứu sử dụng là 23 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2009- 2018 bằng phương pháp phân tích hồi quy theo GLS đã chỉ ra rằng khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động, thu nhập ngoài lãi cận biên, và giá cổ phiếu niêm yết đều có ảnh hưởng tích cực đến thanh khoản. Ngược lại, các yếu tố như tăng trưởng tín dụng, lượng tiền gửi của khách hàng, quy mô ngân hàng, chất lượng tài sản, và quản lý tài sản có tác động trái chiều so với khả năng thanh khoản. Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019) đã nghiên cứu sử dụng mơ hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM) với số quan sát sử dụng là 145 dựa trên nguồn dữ liệu thu thập được từ 29 ngân hàng thương mạiViệt Nam trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018. Kết quả từ bài nghiên cứu đã cho thấy rằng có 6 yếu tố quan trọng mang ý nghĩa thống kê, có khả năng tác động mạnh đến tỷ lệ thanh khoản của các ngân hàng, đó là: Quy mơ ngân hàng, Tỷ lệ dự phịng tín dụng, Tỷ lệ lợi nhuận, Tỷ lệ vốn, và cuối cùng là Tốc độ tăng trưởng kinh tế và Khả năng thanh toán nhanh.

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

Ngồi ra, cịn có rất nhiều nghiên cứu về tính thanh khoản của các ngân hàng trên thế giới. Ví dụ, Aspach và cộng sự. (2005) đã nhận định được các nhân tố có sự ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của 57 ngân hàng thương mại có mặt tại nước Anh trong 1985– 2003, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp đo lường bằng tỷ lệ tổng tài sản lưu động trên tổng tài sản có và tỷ lệ tổng tài sản lưu động trên vốn huy động. Kết quả thu về được từ mơ hình tác động cố định thể hiện các nhân tố ảnh hưởng được chia thành hai nhóm bao gồm các nhân tố nội tại và các nhân vĩ mô. Một số yếu tố nội tại chẳng hạn như tỷ suất lợi nhuận đo lường chi phí cơ hội của việc sở hữu tài sản lưu động cũng như đo lường khả năng sinh lời và tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng. Ngoài ra, biến lợi nhuận thể hiện mối tương quan trái chiều với thanh khoản. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng càng cao thì tài sản có tính thanh khoản sẽ càng thấp mà. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các ngân hàng thương mại nhận được nhiều hỗ trợ từ ngân hàng trung ương thường có thanh khoản thấp. Vodova (2011) đã tiến hành nghiên cứu những yếu tố quyết định đến khả năng thanh khoản của các NHTM đang có mặt tại Cộng hịa Séc từ những năm 2001-2009. Nghiên cứu có những ưu điểm là đã đánh giá tính thanh khoản một cách rất khách quan và rất toàn diện khi sử dụng nhiều hệ số khác nhau để xác định khả năng thanh khoản của ngân hàng. Hơn thế nữa, nghiên cứu đã tính đến tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu đối với tính thanh khoản của ngân hàng, vốn là một yếu tố kinh tế quan trọng trong suốt thời gian nghiên cứu. Trong đó tác giả lưu ý các vấn đề vĩ mơ như khủng hoảng tài chính cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và tỷ lệ lạm phát (INF) có tác động bất lợi như thế nào đến thanh khoản ngân hàng. Tác giả cũng chứng minh mối tương quan thuận giữa lãi suất cho vay liên ngân hàng với tỷ lệ thanh khoản và an toàn vốn. Tseganesh Tesfaye (2012) nghiên cứu từ năm 2000 đến 2011 về các biến số ảnh hưởng đến thanh khoản của 8 NHTM ở Ethiopia. Nghiên cứu phân tích 8 tiêu chí gồm mức an tồn vốn, quy mơ của các ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, biên lãi suất, tỷ lệ lạm phát và lãi suất ngắn hạn cho thấy các biến này có tác động dương và có ý nghĩa thống kê đến thanh khoản. Cả tăng trưởng king tế thực và tăng trưởng cho vay đều gây ra ảnh hưởng khơng đáng kể đối với tính thanh khoản. Melsese và Laximikantham (2015) đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Ethiopia từ năm 2007 đến 2013, tập trung vào các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của 10 ngân hàng Ethiopia. Kết quả phân tích hồi quy chứng tỏ rằng khả năng thanh khoản có

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

ảnh hưởng tích cực bởi quy mơ ngân hàng. Tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng tiêu cực bởi mức độ an toàn vốn, được biểu thị 18 bằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và khả năng sinh lời, được biểu thị bằng lợi nhuận trên tổng tài sản. Nợ xấu và gia tăng cho vay ít ảnh hưởng đến thanh khoản.

Khi các nghiên cứu ở trên tập trung vào một quốc gia cụ thể, Bunda và Desquilbet (2008) nghiên cứu cho nhiều quốc gia. Họ xem xét tính thanh khoản của tài sản ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng như thế nào bởi chế độ tỷ giá hối đối của quốc gia đó cho 36 quốc gia có thị trường mới nổi trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm . Kết quả cho thấy các yếu tố như tỷ lệ an toàn vốn,chỉ tiêu công và lãi suất cho vay, so với GDP có tác động tích cực. Tuy nhiên, kết quả thu về lại cho thấy sức ảnh hưởng của biến SIZE (quy mô ngân hàng) đến khả năng thanh khoản là khơng đáng kể.

Có thể thấy giới học thuật trên thế giới trong đó kể cả Việt Nam, rất quan tâm đến tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại, bởi lẽ đó là một trong những nguồn lực quan trọng của Ngân hàng phải quản lí sao cho tốt trong suốt chu kỳ kinh doanh, để từ đó thu về kết quả kinh doanh tốt nhất cũng như quản lí rủi ro hiệu quả nhất. Do đó, bài nghiên cứu lần này chủ yếu tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản không phải là điều đặc biệt mới. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ gần đây, chính sách và chiến lược quản trị của các ngân hàng thương mại – cả ở Việt Nam nói riêng và trên tồn cầu nói chung đã có nhiều sự chuyển biến vơ cùng mạnh mẽ. Từ đó cho một cái nhìn rõ nét về khả năng thanh khoản của ngân hàng sẽ biến động dựa trên góc nhìn của nhà quản lý đối với từng ngân hàng. Do đó, việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay cần phải được thực hiện càng sớm càng tốt.

Nhận thấy được khoảng trống nghiên cứu kể trên khóa luận đã tiến hành chọn chủ đề về thanh khoản để nghiên cứu nhằm đóng góp một phần cơng sức nhằm cải thiện khả năng thanh khoản của các ngân hàng dựa trên vốn hiểu biết của bản thân.

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

<b>TÓM TẮT CHƯƠNG 2 </b>

Để hỗ trợ cho việc xem xét các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động đến thanh khoản, Chương 2 đã xem xét những cơ sở lý thuyết, bao gồm lý thuyết thanh khoản, tỷ lệ thanh khoản và nghiên cứu cơ sở lý thuyết trong nước và quốc tế. Làm cơ sở để khóa luận xây dựng mơ hình nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố đã nêu lên khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ được khóa luận thực hiện ở trong Chương 3.

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

<b>CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU </b>

<b>3.1 Quy trình nghiên cứu </b>

Phương pháp phân tích – tổng hợp: nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng. Cụ thể, sử dụng sự hỗ trợ của hai phần mềm là EXCEL và STATA để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản, từ đó đề xuất mơ hình các yếu tố ảnh hưởng đến thanh khoản của NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2012-2022.

Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng 4 mơ hình ước tính là OLS, FEM, REM, GLS để kiểm tra tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NHTM tại Việt Nam, tính vững của mơ hình, cũng như lựa chọn mơ hình phù hợp cho nghiên cứu.

<b>Bước 1: Tổng quan về lý thuyết và các nghiên cứu trước đây từ trong nước đến quốc tế </b>

sẽ được trình bày trước, tiếp theo đó chúng ta sẽ thảo luận và xác định những khía cạnh chưa được nghiên cứu. Thơng qua đó định hình mơ hình nghiên cứu cho đề tài.

<b>Bước 2: Xây dựng mơ hình nghiên cứu, dự kiến phương trình hồi quy, thiết kế và sử </b>

dụng các biến phù hợp và xây dụng giả thuyết nghiên cứu dựa trên căn cứ cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm.

<b>Bước 3: Xác định mẫu nghiên cứu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm </b>

vi nghiên cứu, theo đó thu thập và xử lý dữ liệu các biến cho phù hợp với mơ hình nghiên cứu tại bước 2.

<b>Bước 4: Trong trường hợp các giả thuyết nêu ra của mơ hình hồi quy tuyến tính cổ điển </b>

bị vi phạm (phương sai thay đổi, tự tương quan, đa cộng tuyến). Khi đó, các ước lượng từ các biến thu được sẽ bị bóp méo và gây ra kết quả sai lệch, ảnh hưởng tới kết quả phân tích. Bên cạnh phương pháp OLS cơ bản, các phương pháp hồi quy theo mơ hình các ảnh

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

hưởng cố định (FEM) hoặc ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) để ước lượng các dữ liệu dạng bảng sẽ được sử dụng. Các kiểm định như F-test, Hausman, Breusch-Pagan được sử dụng để lựa chọn đâu là mơ hình phù hợp nhất cho nghiên cứu và đưa ra kết quả.

<b>Bước 5: Thực hiện kiểm định các giả thuyết nghiên cứu với kiểm định F nhằm xác định </b>

các biến độc lập có ý nghĩa thống kê. Đồng thời so sánh lựa chọn giữa mơ hình Pooled OLS và FEM qua kiểm định F; sử dụng Hausman test để lựa chọn giữa FEM và REM.

<b>Bước 6: Kiểm định đa cộng tuyến, tự tương quan, phương sai sai số thay đổi nếu khơng </b>

có khuyết tật tiến hành Bước 7. Nếu xuất hiện 1 trong các khuyết tật trên thực hiện phương pháp FGLS để tiến hành khắc phục.

<b>Bước 7: Căn cứ kết quả hồi quy, đề nghiên cứu tiến hành thảo luận, đánh giá và đưa ra </b>

kết luận, các gợi ý, khuyến nghị có liên quan nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu, giải quyết mục tiêu nghiên cứu đã đề ra.

<i>Bảng trình tự nghiên cứu </i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

<b>3.2 Mẫu và dữ liệu nghiên cứu 3.2.1 Mẫu nghiên cứu </b>

Nghiên cứu lần này nguồn dữ liệu chính là dữ liệu thứ cấp đã được thu thập từ báo cáo tài chính đã được kiểm tốn của 15 ngân hàng thương mại Việt Nam và các tài liệu liên quan khác trên cơ sở nhất quán giữa năm 2012 và 2022 tại Việt Nam.

<b>3.2.2 Dữ liệu nghiên cứu </b>

Dữ liệu thứ cấp thuộc nhóm yếu tố vi mô để đo lường các biến phụ thuộc và biến độc lập được đề tài sử dụng thuộc báo cáo tài chính đã kiểm toán của 15 ngân hàng thương mại tại Việt Nam từ năm 2012 đến năm 2022. Dữ liệu thứ cấp được sử dụng để đo lường các biến độc lập thuộc nhóm các yếu tố vĩ mô được tác giả thu thập từ Tổng Cục Thống Kê và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank).

<i>Bảng danh sách các NHTM Việt Nam </i>

3 BID Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

5 EIB Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

<b>3.2.3 Công cụ nghiên cứu </b>

Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam được xác định dựa trên sự hỗ trợ của hai phần mềm là Excel, cơ sở dữ liệu bảng (Panel data) cùng với phần mềm Stata 14.

<b>3.3 Phương pháp nghiên cứu 3.3.1 Phương pháp định tính </b>

Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính để:

+ Tiếp cận, phân tích và đưa ra những kết luận về lý thuyết cơ bản , các cơ sở lý luận đã có trước đó với đặc điểm tương đồng để từ đó dựa trên cơ sở các nghiên cứu cũ để tạo ra những thành tựu và kết quả mới về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng.

+ Lược khảo, tham khảo và thảo luận những nghiên cứu về các yếu tố làm ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã được thực hiện ở cả trong lẫn ngoài nước.

+ Xây dựng mơ hình nghiên cứu phù hợp và đồng thời xây dựng các giả thuyết nghiên cứu cho từng biến độc lập và biến phụ thuộc (trong khóa luận này biến phụ thuộc được chọn là khả năng thanh khoản).

+ Thảo luận các kết quả nghiên cứu thu được sau rút ra kết luận và đưa ra các gợi ý cũng như khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng thanh khoản.

<b>3.3.2 Phương pháp định lượng </b>

Bao gồm các phương pháp kỹ thuật: Thống kê mơ tả (Descriptive Statistics), phân tích ma trận tương quan (Correlation Analysis), đồng thời tiến hành phân tích hồi quy dữ liệu bảng (Panel Data Regression).

Các phương pháp trên được dùng với mục đích để xác định kết quả nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam.

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

<i>3.3.2.1 Phân tích thống kê mơ tả </i>

Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả nhằm mục đích cung cấp những thơng tin khái qt của các biến trong mơ hình và các chỉ tiêu thống kê mô tả, bao gồm: giá trị lớn nhất đối với từng biến (Maximum), giá trị nhỏ nhất đối với từng biến (Minimum), giá trị trung bình cảu từng biến (Mean), độ lệch chuẩn của từng biến (Standard deviation) và số lượng các quan sát (Observation).

Mơ hình chia bốn khu vực (quadrant) khác nhau, mơ hình được chia thành bốn khu vực (quadrant) khác nhau, thường được sử dụng để phân loại, hiểu và trình bày thơng tin. Tác giả lựa chọn thực hiện mơ hình này với mục đích làm rõ hơn về sự phân bố của các giữ liệu, cụ thể hơn là sự phân bố của các biến độc lập so với biến phụ LIQ.

Để quan sát rõ hơn về sự phân bổ các biến, tác giả sửu dụng giá trị skewess và kurtosis, biểu hiện cho độ lệch phân phối và độ nhọn phân phối.

Giá trị Skewness, thể hiện độ lệch phân phối nhằm đo độ chệch của phân phối xác suất của một biến ngẫu nhiên. Các trường hợp đánh giá độ lệch bao gồm:

Ngoài ra ta cũng thấy được dữ liệu biến LIQ lệch về phía bên phải so với giá trị trung bình với độ lệch là 1,7065>0. Bên cạnh đó biến LIQ có giá trị độ nhọn của dữ liệu là 8.1526>3, đồng nghĩa với dữ liệu LIQ có phần đi của phân phối dữ liệu nặng hơn và đỉnh của phân phối dữ liệu sắc hơn so với lại phân phối chuẩn cộng với nhiều dữ liệu ngoại lai hơn.

- Skewness > 0, lệch về phía bên phải so với giá trị trung bình - Skewness < 0, lệch về phía bên trái so với giá trị trung bình - Skewness gần bằng 0, độ lệch không đáng kể

Giá trị Kurtosis, thể hiện độ nhọn phân phối để đo độ đội của một phân phối xác suất. Nhằm đánh giá độ "đỉnh" hay "đáy" của một phân phối so với phân phối chuẩn. Các trường hợp đánh giá độ nhọn phân phối bao gồm:

- Kurtosis > 3, có phần đuôi của phân phối dữ liệu nặng hơn và đỉnh của phân phối dữ liệu sắc hơn so với lại phân phối chuẩn cộng với nhiều dữ liệu ngoại lai hơn. - Kurtosis < 3, có phần đuôi của phân phối dữ liệu nhẹ hơn và đỉnh tròn hơn so với

phân phối chuẩn cộng với ít dữ liệu ngoại lai hơn

- Kurtosis gần bằng 0, phân phối dữ liệu gần như bình thường

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

<i>3.3.2.2 Phân tích ma trận tương quan </i>

Mối liên hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc, cũng như mối tương quan giữa các biến độc lập, đều được kiểm tra bằng cách sử dụng phân tích ma trận tương quan. Ngồi ra, phân tích tương quan hỗ trợ trong việc chỉ ra liệu nghiên cứu có đa cộng tuyến đáng kể hay khơng. Theo Gujarati, D. N. (2011), có 3 cách tiếp cận có thể được sử dụng khi xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến cao, đó là khi hệ số tương quan của bất kỳ cặp biến độc lập nào có giá trị tuyệt đối lớn hơn 0,8. Phân tích các thành phần chính, loại bỏ biến tương quan cao và không hành động là ba phương pháp xử lý đa cộng tuyến.

<i>3.3.2.3Phân tích hồi quy dữ liệu bảng </i>

Phương pháp nghiên cứu dựa trên Phân tích hồi quy dữ liệu bảng được thực hiện nhằm kiểm định các xu hướng và mức độ tác động của các biến đối với khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam, các mơ hình chính được sử dụng là :Bình phương nhỏ nhất (Pooled Ordinary Least Square, Pooled OLS), mô hình các yếu tố ảnh hưởng cố định (Fixed Effects Model, FEM) và mơ hình các yếu tố ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random Effects Model, REM). Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản ra sao, khóa luận sử dụng kiểm định t-test hoặc F-test tại các mức ý nghĩa 1%, 5%, 10% để từ đó xác định độ tin cậy đối với các biến độc lập và biến kiểm soát, đồng thời giải thích mức độ và xu hướng ảnh hưởng của các biến này đến biến phụ thuộc theo hệ số β.

Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến:

Để đánh giá xem có xuất hiện hiện tượng đa cộng tuyến trong các biến hay không, nghiên cứu này đã thực hiện việc kiểm định các biến thông qua phân tích hồi quy tuyến tính. Theo kết quả kiểm định và tham khảo từ những nghiên cứu đáng tin cậy, khóa luận cho rằng hệ số VIF lớn hơn hoặc nhỏ hơn 10. Nếu thu được giá trị VIF nhỏ hơn 10 chứng tỏ mơ hình không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến.

Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi:

Nếu có hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mơ hình thì kết quả ước lượng thu về của Bình phương nhỏ nhất Pooled OLS khơng chính xác, vì vậy cho nên các ước lượng theo phương pháp Pooled OLS tuy vẫn là các ước lượng tuyến tính nhưng mức độ tin cậy của hệ số hồi thấp. Với giả thiết đặt ra:

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

H0: Khơng có hiện tượng phương sai sai số thay đổi H1: Có hiện tượng phương sai sai số thay đổi

Nếu kết quả p-value < α thì bác bỏ H0, chấp nhận H1 và ngược lại, nếu p-value lớn hơn α thì chấp nhận H0, bác bỏ H1. Xong nhằm thực hiện vuêch khắc phục hiện tượng phương sai sai số, phương pháp được sử dụng là phương pháp bình phương nhỏ nhất chung Generalized Least Squares (GLS).

Kiểm định hiện tượng tự tương quan:

Để xác định có hiện tượng tự tương quan xảy ra trong mơ hình hay khơng, ta phải kiểm định tự tương quan. Khi có hiện tượng tự tương quan xảy ra, các ước lượng của mơ hình OLS vẫn sẽ tuyến tính nhưng sẽ khơng có hiệu quả. Với giả thiết đặt ra:

H0: Khơng có hiện tượng tự tương quan H1: Có hiện tượng tự tương quan

Nếu kết quả p-value nhỏ < α thì bác bỏ H0, chấp nhận H1 và ngược lại, p-value > α thì chấp nhận H0, bác bỏ H1.

Sau khi thực hiện chạy kiểm định Hausman, giữa hai mơ hình FEM và REM sẽ được lựa chọn xem đâu là là mơ hình phù hợp và kiểm định các vi phạm của mơ hình, tiếp theo đó là chạy kiểm định các khuyết tật như phương sai thay đổi và hiện tượng tương quan của phần dư. Do đó, khóa luận sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi easible generalized least squares estimators (FGLS) để xử lý hai vi phạm này nhằm đảm bảo ước lượng hiệu quả.

<b>3.4 Mơ hình nghiên cứu</b>

Trên cơ sở nghiên cứu đã được khóa luận trình bày ở Chương 2 đồng thời sử dụng các yếu tố vi mô ngân hàng và các yếu tố vĩ mô trong các mơ hình nghiên cứu của mình để đánh giá tác động đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại. Từ đó khóa luận đề xuất mơ hình nghiên cứu có phương trình như sau:

<b>LIQ<small>i,t</small> = β<small>0</small>+β<small>1</small> SIZE <small>i,t</small>+β<small>2</small> CAP <small>i,t</small>+β<small>3</small> TLA <small>i,t</small>+β<small>4</small> NPL <small>i,t</small>+β<small>5</small> ROE <small>i,t</small> +β<small>6</small> INF<small>t </small>+β<small>7</small> LLR <small>i,t</small>+β<small>8</small> GDP<small>t</small> + β<small>9</small> DEP<small>i,t</small> + ε<small>i,t</small></b>

<b>Biến phụ thuộc: </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

LIQ : Khả năng thanh khoản DEP : Tiền gửi khách hàng

<b>Diễn giải và đo lường các biến Biến phụ thuộc: </b>

<b>Khả năng thanh khoản (LIQ) </b>

<b>Khả năng thanh khoản của ngân hàng (LIQi,<small>t</small>) là biến phụ thuộc được tính bằng tỷ </b>

lệ tài sản thanh khoản chia cho tổng tài sản cả hai khoản mục này đều được thu thập từ bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, được tính bằng cơng thức sau:

<b>LIQ=Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản Biến độc lập </b>

<b>Quy mô ngân hàng (SIZE) </b>

<b>Quy mô ngân hàng (SIZE<sub> i, t</sub>) là biến độc lập được tính bằng logarit của tổng tài </b>

sản bình quân, dữ liệu tổng tài sản bình qn được tính từ số liệu trung bình cộng tổng tài sản đầu năm và cuối năm của ngân hàng, theo công thức:

<b>SIZE=Ln(Tổng TS) VCSH trên tổng TS (CAP) </b>

<b>Vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP<sub> i, t</sub>) là biến độc lập được tính bằng tỷ lệ vốn </b>

chủ sở hữu chia tổng tài sản, cả hai khoản mục này đều được thu thập từ bảng cân đối kế toán của các ngân hàng, được tính bằng cơng thức sau:

<b>CAP=VCSH/Tổng TS Dư nợ vay trên tổng TS (TLA) </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

<b>Dư nợ vay trên tổng tài sản (TLA <small>i,t) là biến độc lập được tính bằng tỷ lệ nợ vay </small></b>

chia cho tổng tài sản, cả hai dữ liệu đều được thu thập từ bản cân đối kế tốn của các ngân hàng, cơng thức tính như sau:

<b>TLA=Nợ Vay/Tổng TS Nợ xấu (NPL) </b>

<b>Nợ xấu (NPL<sub> i, t-1</sub>) là biến độc lập được tính bằng tỷ lệ tổng nợ xấu năm trước chia </b>

cho tổng dư nợ năm trước. Dữ liệu của nợ xấu năm trước được tính tương tự như biến phụ thuộc NPL. Các khoản nợ nhóm 3, 4 và 5 được lấy từ báo cáo tài chính mỗi năm; tổng dư nọ được lấy từ bảng cân đối kế toán:

<b>NPL=Dư nợ nhóm (3+4+5)/ Dư nợ cho vay Khả năng sinh lợi (ROE) </b>

<b>Khả năng sinh lợi (ROE<sub> i, t</sub>) là biến độc lập được tính bằng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế </b>

chia VCSH, khoản mục lợi nhuận sau thuế được lấy từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, VCSH được lấy từ bảng cân đối kế tốn, cơng thức tính như sau:

<b>ROE=Lợi nhuận sau thuế/VCSH Lạm phát (INF) </b>

<b>Lạm phát (INFt) là biến độc lập được thực hiện tính bởi chỉ số giá (CPI), bằng tỷ </b>

lệ thay đổi chỉ số giá tiêu dùng, Nguồn dữ liệu được thống kê và thu thập từ tổng cục thống kê Việt Nam.

<b>INF=(CPI</b><sub>t</sub> - CPI<sub>t-1</sub>)/ CPI<sub>t-1</sub>

<b>Dự phịng rủi ro tín dụng (LLR) </b>

<b>Dự phịng rủi ro tín dụng (LLR<sub> i, t</sub>) là biến độc lập được đo lường bằng cách sử </b>

dụng tỷ lệ chi phí dự phịng rủi ro tín dụng chia cho tổng dư nợ, số liệu được thu thập và thống kê từ bảng cân đối kế tốn, cơng thức tính như sau:

<b>LLR=Mức dự phịng rủi ro cho vay/Dư nợ nhóm (3+4+5) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) </b>

<b>Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP <sub>t</sub>) là biến độc lập được đo lường bằng tỷ lệ thay </b>

đổi tổng sản phẩm nội địa, nguồn số liệu về tốc độ tăng trưởng kinh tế được thu thập từ Ngân hàng thế giới và báo cáo của tổng cục thống kê.

<b>GDP=(GDP</b><sub>t</sub> - GDP<sub>t-1</sub>)/ GDP<sub>t-1</sub>

<b>Tiền gửi khách hàng (DEP) </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

<b>Tiền gửi khách hàng (DEPi,t</b>) là biến độc lập được đo lường bằng tiền gửi khách hàng chia cho tổng nguồn vốn, dữ liệu về nguồn vốn, tiền gửi khách hàng được thu thập và thống kê từ bảng cân đối kế toán.

<b>DEP=Tiền gửi khách hàng/Tổng nguồn vốn </b>

<i>Bảng 2 Đo lường các biến </i>

<b>TLA </b> Dư nợ vay trên tổng TS Nợ Vay/Tổng TS

<b>ROE </b> Khả năng sinh lợi Lợi nhuận sau thuế/VCSH

<b>INF </b> Lạm phát (CPIt - CPIt-1)/ CPIt-1

<b>LLR </b> Dự phòng rủi ro tín dụng Dự phịng rủi ro cho vay/Dư nợ nhóm (3+4+5)

<b>GDP </b> Tăng trưởng kinh tế (GDPt - GDPt-1)/ GDPt-1

<b>DEP </b> Tiền gửi khách hàng Tiền gửi khách hàng/Tổng nguồn vốn

<b>3.5 Giả thuyết nghiên cứu </b>

<b>3.5.1 Quy mô ngân hàng (SIZE) </b>

Theo Ahmad, F., & Rasool, N. (2017), Luvuno, T. I. (2018), Phạm Quốc Việt và Nguyễn Văn Vinh (2019), cho thấy giữa quy mô ngân hàng và khả năng thanh khoản của ngân hàng mối tương quan cùng chiều, nghĩa là ngân hàng càng mở rộng quy mơ thì khả năng thanh khoản của ngân hàng càng tăng, tạo cơ hội cho ngân hàng tiếp tục huy động nhiều nguồn vốn khác nhau nâng cao khả năng thanh khoản.

Ngược lại, một số nghiên cứu của Bunda và Desquilbot (2008), Vodová (2012), Moussa (2015), Singh và Sharma (2016), Đặng Văn Dân (2015) đã cho ra kết quả ngược lại, điều này cho thấy nếu ngân hàng mở rộng quy mơ có thể làm cho chi phí tăng cao, trong khi đó trình độ quản lý, nguồn nhân lực khơng theo kịp sự phát triển có thể khiến cho thanh khoản của ngân hàng giảm. Trong bài nghiên cứu này, biến SIZE được kỳ vọng

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

sẽ có ảnh hưởng cùng chiều đối với khả năng thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt Nam và được đề xuất như sau:

H1 :Quy mô ngân hàng có tác động cùng chiều đến khả năng thanh khoản của các NHTM tại Việt Nam

<b>3.5.2 VCSH trên tổng TS (CAP) </b>

Thông quan biến VCSH trên tổng TS của ngân hàng (CAP) ta có thể đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng đó. Khi tỷ lệ CAP của ngân hàng cao so với mức bình quân trong ngành, ta có thể đánh giá rằng ngân hàng đó có năng lực tốt hơn về tài chính nhờ các hoạt động như huy động nguồn vốn, cho vay và đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng. Rủi ro ln ln tìm ẩn trong hoạt động của mỗi tổ chức và không thể xem nhẹ, đặt biệt là trong lĩnh vực ngân hàng. Những rủi ro trong ngành ngân hàng khi không được giải quyết một cách kỹ lưỡng sẽ dẫn đến những thiệt hại rất lớn, với tình trạng tệ nhất có thể làm ngân hàng phá sản. Trong trường hợp xuất hiện thiệt hại, nguồn VCSH đóng một vai trị thiết yếu nhất trong vai trò giải quyết và bù đắp. Trong trường hợp ngân hàng có chỉ số CAP thấp thì có thể giải thích rằng ngân hàng đang sử dụng địn bẩy tài chính lớn, điều này mang đến rất nhiều rủi ro.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Nga (2019) và Moussa (2015) đã đưa ra kết luận thể hiện mồi quan hệ giữa biến tỷ lệ VCSH chia tổng TS trái chiều với khả năng thanh khoản. Ngược lại Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2016) và Ahmad, F., & Rasool, N. (2017) đưa ra kết luận thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa biến VCSH chia tổng TS với khả năng thanh khoản

Vốn chủ sở hữu thể hiện khả năng tự chống đỡ của ngân hàng khi xảy ra các rủi ro về thanh khoản, phản ánh thực lực tài chính của ngân hàng. Khi một ngân hàng sở hữu tỷ lệ CAP cao, đồng thời thể hiện năng lực tốt về tài chính qua hoạt động huy động và cung cấp khoản vay cũng như đảm bảo bù đắp tổn thất cho khách hàng gửi tiền của ngân hàng và các đối tác của ngân hàng.

Qua các nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2016), Đặng Quỳnh Anh và Trần Lê Mai Anh (2022) đã cho rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có ảnh hưởng cùng chiều đến khả năng thanh khoản của các ngân hàng.

</div>

×