Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.55 MB, 26 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂNKHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH</b>
<i><b>Sinh viên thực hiện:</b></i>
Nguyễn Thị Hải Yến - 27202139739 Nguyễn Thị Thùy Mỵ - 27202138100
Trần Văn Nhật Thái - 26211334744 Nguyễn Minh Huân - 27212140124 Nguyễn Hữu Thế Khanh
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>Đà Nẵng, ngày 19 tháng 09 năm 2022</small>
1.2 Lịch sử quan hệ Mỹ - Nga sau 1991... ………..5
2.1 Những chính sách kinh tế của Mỹ đối với Nga trước thời Tổng thống
Chính sách đối ngoại của một quốc gia, còn được gọi là chính sách ngoại giao, bao gồm các chiến lược do nhà nước lựa chọn để bảo vệ lợi ích của quốc gia mình và đạt được các mục tiêu trong môi trường quan hệ quốc tế, trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, qn sự, văn hóa - xã hội. Các phương pháp được sử dụng một cách chiến lược để tương tác với các quốc gia khác. Thành tựu lợi ích của một quốc gia có thể xảy ra do kết quả hợp tác hịa bình với các quốc gia khác. Vì lợi ích quốc gia là yếu tố quan trọng, các chính sách ngoại giao được chính phủ thiết kế thơng qua các quy trình để đưa ra quyết định từ cấp cao.
Chính sách ngoại giao kinh tế là một lĩnh vực quan trọng trong chính sách đối ngoại của mọi quốc gia. Nó đóng vai trị là một cơng cụ hữu hiệu đưa một đất nước phát triển nhanh và bền vững, xác lập vị thế trong kinh tế thế giới và cộng đồng quốc tế. Vì vậy, ngoại giao kinh tế bắt đầu phát triển theo dịng chảy của tồn cầu hố và dần có vị trí quan trọng trong quan hệ quốc tế như ngày nay.
Dưới đây, nhóm chúng tơi tìm hiểu, phân tích về: “Những chính sách ngoại giao, kinh tế giữa Mỹ và Nga”.
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b> 1.1.1 Quan hệ trước Thế Chiến Thứ II ( 1917–1932 ): </b>
Năm 1921, sau khi phe Bolshevik nắm quyền kiểm soát nước Nga, giành chiến thắng trong cuộc Nội chiến, tiêu diệt hoàng tộc, từ chối trả khoản nợ thời Sa hoàng, và kêu gọi một cuộc cách mạng giai cấp lao động trên toàn thế giới, Nga trở thành một quốc gia bị cô lập. Sau khi Lê Nin lên nắm quyền trong cuộc Cách mạng Tháng Mười, ông rút nước Nga khỏi Chiến tranh thế giới thứ nhất, tạo cơ hội cho Đức tổ chức lại quân để đối mặt với lực lượng Đồng minh ở Mặt trận phía Tây. Tổng thống Woodrow Wilson khi đó đang phải đối mặt với nhiều vấn đề và ông không muốn can thiệp quá sâu vào nước Nga do lo sợ dư luận Nga và ông tin rằng nhiều người Nga không tham gia vào Hồng Quân, với hy vọng cuộc cách mạng sẽ dần đi theo hướng dân chủ hơn. Một cuộc xâm lược quy mơ lớn sẽ khiến người Nga đồn kết hơn và tạo ra hình ảnh nước Mỹ như một quốc gia bành trướng xâm lược.
Ngoài cuộc Nội chiến Nga, quan hệ hai nước cũng bị cản trở do nhiều đề nghị địi bồi thường của các cơng ty Mỹ sau khi các khoản đầu tư của họ tại Nga bị quốc hữu hóa. Những người đứng đầu chính sách ngoại giao Mỹ kiên quyết cho rằng Liên Xô là một mối đe dọa tới những giá trị của nước Mỹ. Kelley tin rằng Kremlin đã lên kế hoạch kêu gọi công nhân khắp thế giới nổi dậy chống lại chủ nghĩa tư bản. Trong lúc đó, Anh và các quốc gia châu Âu khác nối lại quan hệ với Moskva, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại, mặc dù các nước này vẫn nghi ngờ về một cuộc lật đổ của những người cộng sản và tức giận trước việc Kremlin từ chối trả các khoản nợ trước đó.
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Bên ngoài Washington, một số người Mỹ ủng hộ nối lại các mối quan hệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ. Henry Ford, người cho rằng thương mại quốc tế là cách tốt nhất để tránh các cuộc giao tranh, đã sử dụng thương hiệu Ford của mình để xây dựng một ngành cơng nghiệp xe tải giới thiệu những chiếc máy kéo tại Nga. Kiến trúc sư Albert Kahn trở thành người tư vấn cho tất cả các cơng trình xây dựng cơng nghiệp tại Liên Xô năm 1930. Những người cộng sản đã đóng vai trị quan trọng trong CIO cho tới khi tất cả họ bị thanh trừng trong khoảng thời gian 1946-1947, và các tổ chức lao động về sau đi theo quan điểm chống Xơ viết mạnh mẽ.
• <b>Cơng nhận năm 1933: </b>
Tới năm 1933, những nỗi sợ cũ về mối đe dọa cộng sản đã tan dần, và cộng đồng doanh nghiệp Mỹ, cùng với báo chí, đã kêu gọi công nhận ngoại giao với Liên Xô. Cộng đồng doanh nghiệp mong muốn được giao thương quy mô lớn với Liên Xô. Tổng thống Franklin D. Roosevelt là người mở đầu, với sự hỗ trợ từ người bạn thân của mình, cố vấn Henry Morgenthau, Jr. và chuyên gia về Nga William Bullitt, bỏ qua Bộ Ngoại giao. Roosevelt gặp riêng với các nhà lãnh đạo Công giáo để thuyết phục họ.
Ông và Roosevelt đồng thuận về các vấn đề tự do tôn giáo cho người Mỹ làm việc tại Liên Xơ. Phía Liên Xơ cam kết khơng can thiệp vào công việc nội bộ của Mỹ, và đảm bảo không có tổ chức nào tại Liên Xơ đang hoạt động nhằm phá hoại Hoa Kỳ hay lật đổ chính quyền Hoa Kỳ. Roosevelt sau đó cơng bố một thỏa thuận nhằm bình thường hóa quan hệ trở lại. Roosevelt bổ nhiệm William Bullitt làm đại sứ từ 1933 tới 1936.
Tới cuối nhiệm kỳ của mình, Bullitt cơng khai thể hiện thái độ thù địch với chính quyền Xơ viết.
<b> 1.1.2 Quan hệ Thế Chiến Thứ II ( 1939–1945 ) : </b>
Trước khi Đức quyết định xâm lược Liên Xô vào 6/1941, mối quan hệ Xô– Mỹ vẫn còn căng thẳng, do những nguyên nhân như cuộc xâm lược của
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">Liên Xô vào Phần Lan, Hiệp ước Molotov–Ribbentrop, Liên Xơ chiếm đóng các nước Baltic và việc Đức cùng Liên Xô tấn công Ba Lan, khiến cho Liên Xô bị khai trừ khỏi Hội Quốc liên. Trước cuộc xâm lược năm 1941, Liên Xô tham gia ký kết một Hiệp ước Hỗ trợ Lẫn nhau với Anh Quốc, và nhận viện trợ từ chương trình Lend-Lease của Mỹ, làm dịu căng thẳng Xô–Mỹ, và đưa những kẻ thù trước đây gần nhau để cùng chống lại Đức Quốc xã và phe Trục. Mặc dù các hoạt động hợp tác giữa Hoa Kỳ và Liên Xô là ít hơn đáng kể so với các nước thuộc khối Đồng Minh khác, Hoa Kỳ vẫn cung cấp cho Liên Xơ một số lượng lớn vũ khí, tàu chiến, máy bay, toa xe, tư liệu chiến lược và lương thực thông qua chương trình Lend-Lease. Trong cuộc chiến, Tổng thống Truman đã nói rằng ơng khơng quan tâm lính Đức hay lính Nga chết, miễn là một trong hai bên thua trận.
Qn Xơ viết và Mỹ gặp nhau vào 4/1945, phía Đơng dịng Sơng Elbe. Hiệp hội văn hóa Mỹ Nga được thành lập tại Hoa Kỳ vào năm 1942 nhằm thúc đẩy trao đổi văn hóa giữa Liên Xơ và Hoa Kỳ, với chức danh chủ tịch danh dự được trao cho Nicholas Roerich. Xấp xỉ khoảng 17,5 triệu tấn thiết bị quân sự, phương tiện di chuyển, vật tư công nghiệp và lương thực đã được chuyển từ phương Tây tới Liên Xơ, 94% trong đó tới từ Hoa Kỳ. Để so sánh, đã có tổng cộng 22 triệu tấn hàng được vận chuyển tới châu Âu để cung cấp cho quân đội Mỹ từ tháng 1 năm 1942 tới tháng 5 năm 1945.
Số hàng được Mỹ vận chuyển tới Liên Xô thông qua Hành lang Ba Tư được cho là đủ, theo tiêu chuẩn của Quân đội Hoa Kỳ, để duy trì cho 60 sư đồn chiến đấu. Lượng qn giới được cung cấp chiếm 53% tổng sản phẩm quốc nội. Tiêu biểu nhất là một nhà máy chế tạo lốp được vận chuyển toàn bộ từ Nhà máy River Rouge của công ty Ford sang tận Liên Xô. Trong khi ở Sicily, lực lượng Anh Quốc và Hoa Kỳ đang đối mặt với 2 sư đoàn của Đức, mặt trận Nga đang chịu sự chú ý của khoảng 200 sư đoàn Đức.
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Khơng có Nga trong cuộc chiến, phe Trục không thể bị đánh bại tại châu Âu, và vai trò của Liên Hợp Quốc sẽ trở nên bấp bênh. Tương tự như thế, vai trò hậu chiến của Nga tại châu Âu sẽ trở nên vượt trội. Khi Đức đã thất bại, sẽ khơng cịn thế lực nào tại châu Âu để đối mặt với những lượng quân sự hùng hậu của Nga.
<b>Chiến tranh lạnh ( 1947 – 1991 ): </b>
Liên Xơ thử nghiệm vũ khí hạt nhân đầu tiên của nước này vào năm 1949, kết thúc thế độc nhất của Hoa Kỳ trong lĩnh vực vũ khí hạt nhân. Hoa Kỳ và Liên Xơ tham gia vào một cuộc đua vũ trang kéo dài cho tới khi Liên Xô tan rã. Hoa Kỳ cũng mở rộng Kế hoạch Marshall cho Liên Xô, nhưng với những điều khoản như vậy, người
Mỹ biết Liên Xô sẽ khơng bao giờ chấp nhận cái mà chính quyền Xô Viết coi là một nền dân chủ của giai cấp tư sản, trái với những đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản Stalin.
Với tầm ảnh hưởng đang phát triển của mình ở Đơng Âu, Liên Xô muốn chống lại điều này bằng việc thành lập Hội đồng Tương trợ Kinh tế vào năm 1949, về cơ bản cũng giống như Kế hoạch Marshall của Mỹ, mặc dù đây giống như một thỏa thuận hợp tác kinh tế hơn là một kế hoạch tái thiết rõ ràng. Hoa Kỳ và các đồng minh Tây Âu muốn thắt chặt mối quan hệ với nhau và cản trở Liên Xô. Liên Xô đáp trả bằng việc lập Khối Warszawa, với kết quả tương tự như Khối phía Đơng.
B. Enxin nhậm chức Tổng thống Liên bang Nga ngày 10/7/1991, đến trưa ngày 31/12/1999 tuyên bố từ chức và chuyển giao quyền lực cho người kế nhiệm trước khi hết nhiệm kỳ II gần 6 tháng.
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Về tư tưởng và chính trị B.Enxin đoạn tuyệt hoàn toàn với chủ nghĩa Mác - Lênin. Ông ta phủ định sạch trơn những thành tựu to lớn trong hơn 70 năm CNXH, thậm chí cịn làm mọi cách xóa bỏ tận gốc rễ của CNXH về cơ cấu chính trị, cơ cấu kinh tế và các mối quan hệ xã hội trên quan điểm CNXH. Việc đoạn tuyệt với chủ nghĩa Mác - Lênin và phá tan mọi thành tựu CNXH của người dân Nga và các dân tộc trong cộng đồng Xô Viết tạo dựng nên trong hơn 70 năm, Enxin muốn gián tiếp gửi thông điệp tới Hoa Kỳ và Tây Âu là nước Nga sẽ đi theo Phương Tây, hội nhập với Phương Tây cả chính trị, kinh tế và xã hội, qua đó cầu xin Mỹ và Tây Âu mở hầu bao cứu nước Nga đang cận kề bờ vực. Nhưng giới tinh hoa Mỹ và Phương Tây không tin Enxin - một kẻ đã phản bội lại bạn bè, xuyên tạc và bơi nhọ lịch sử của dân tộc mình.
<b>“Tuần trăng mật” ngắn ngủi 2000 – 2002:</b>
Từ đầu năm 2000, V.Putin trở thành Tổng thống Nga. Oasinhtơn tiếp nhận sự kiện này một cách miễn cưỡng. Đến trước sự kiện 11/9/2001, quan hệ Mỹ - Nga trong trạng thái thăm dò, dè chừng đối với nhau.
Sau sự kiện 11/9/2001, ở Niu Yoóc, Tổng thống V.Putin là nguyên thủ đầu tiên có điện chia buồn đến tổng thống Bush (con) và hứa Nga sẽ hợp tác với Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố. Điều đó đã góp phần đưa quan hệ Mỹ - Nga từ tro tàn lạnh giá đến gần gũi ấm cúng hơn.
Đáp lại việc Nga ủng hộ Mỹ trong cuộc chiến chống khủng bố, Oasinhtơn đã có thái độ ơn hịa và hợp tác hơn với Nga thể hiện qua các sự kiện và việc làm:
1) Tỏ ra hiểu biết và thông cảm với Nga trong vấn đề Trechnia. 2) Cơng nhận Nga có nền kinh tế thị trường và ủng hộ Nga gia nhập WTO.
3) Đồng ý Nga làm Chủ tịch G8.
4) Đồng ý Nga có vị trí bình đẳng hơn trong việc thảo luận các vấn đề Châu Âu với NATO.
5) Giảm chỉ trích Nga trong các vấn để nội bộ (dân chủ, nhân quyền…)
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Trong ba năm từ 2000 đến 2002, quan hệ Mỹ - Nga như những ngày nắng ấm hiếm hoi giữa mùa đông lạnh giá.
“Quan hệ Mỹ - Nga ln mang tính chất chính trị qn sự…, giống như xe trên núi, lúc lên lúc xuống, mà thực chất là không ngừng đếm số lượng đầu đạn hạt nhân của nhau một cách vơ ích”.
<b>Mỹ - Nga “ăn miếng trả miếng” 2003 – 2008: </b>
Mọi việc bắt đầu từ cuộc chiến tranh Mỹ xâm lược Irắc để loại bỏ chính quyền S. Shussein vào tháng 3/2003. Oasinhtơn phân bua với thế giới về lý do họ phát động chiến tranh xâm lược Irắc là:
1) Chính quyền S.Hussein sở hữu vũ khí giết người hàng loạt (vũ khí hóa học vũ khí sinh học).
2) Chính quyền S.Hussein có quan hệ chặt chẽ với tổ chức khủng bố quốc tế AlQeada.
3) Chính quyền S.Husein là chính quyền ‘độc tài”.
Thực tế chính quyền S.Hussein khơng sở hữu vũ khí giết người hàng loạt và khơng có quan hệ với Al Qeada. Cuộc chiến tranh xâm lược Irắc là cuộc chiến phi nghĩa, là vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc, vi phạm thô bạo các nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và tạo ra một tiền lệ trên chính trường thế giới. Nga và các đồng minh truyền thống của Mỹ ở Tây Âu như Pháp, Đức phản đối mạnh cuộc chiến tranh xâm lược Irắc. Ba tháng sau tháng 3 năm 2003 hàng trăm triệu người trên các châu lục đã xuống đường biểu tình phản đối Mỹ.Oasinhtơn cho rằng điện Kremli có vai trò lớn trong việc tập hợp lực lượng, kể cả việc liên hệ với Paris và Berlin, chống Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Irắc.
Để trả thù Nga, Mỹ đã phản công lại bằng nhiều hoạt động chống Nga:
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">1) Tiến hành các cuộc "Cách mạng màu" ở sân sau của Nga: cách mạng hoa Hồng ở Grudia năm 2003, Cách mạng Cam ở Ucraina năm 2004, cách mạng hoa Tuylip ở Cưrơgưxtan năm 2005.
2) Kết nạp các nước Đơng Âu và Ban Tích vào NATO.
3) Lôi kéo các nước Trung Á, sân sau của Nga xa rời Nga, ngả theo Mỹ và Phương Tây.
4) Xây dựng lá chắn tên lửa ở Ba Lan và hệ thống rada cảnh báo sớm ở Cộng hòa Séc.
5) Ráo riết can thiệp vào công việc nội bộ của Nga xuyên tạc và vu cáo Nga vi phạm dân chủ, nhân quyền...
<b>Putin đã khôi phục lại nước nga từ đống đổ nát do Enxim để lại và Nga đã có khả năng đáp trả những địn chơi xấu của Mỹ:</b>
Tháng 7/2008 Nga quyết định triển khai tổ hợp tên lửa chiến thuật Iscander tầm bắn 600 km ở Belarus và Kaleningrat có khả năng vơ hiệu hóa NMD (hệ thống phịng thủ chống tên lửa của Mỹ) ở Ba Lan và Cộng hòa Séc. Đồng thời, Nga đưa tổ hợp tên lửa "Topol - M” cơ động đặt dưới tầng hầm vào chế độ trực chiến. Tên lửa "Topol – M” có hai điểm ưu việt:
1) Tốc độ xuất phát cao. 2) Thời gian lấy đà tăng tốc ngắn.
Ngày 8/8/2008 Grudia tấn công Alkhadia. Nga phản công lại Grudia trong cuộc chiến 5 ngày (8 - 12/8/2008) và sau đó cơng nhận nền độc lập của Alkhadia và Nam Oxechia.
Ngày 28/8/2008, Nga thử tên lửa "Topol-M-RS-12M” có khả năng xuyên thủng mọi hệ thống phòng thủ tên lửa.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Ngày 12/10/2008 Nga thử 3 tên lửa đạn đạo RSM - 54 - Sineva mang 10 đần đạn hạt nhân với tầm bắn 11.000 km từ tàu sân bay Admiral Kuznetsov. Ngày 22/9/2008, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Igor Luckin Frolov tuyên bố: “ chúng tôi sẽ tăng cường hiện diện tại Mỹ Latinh”. Tháng 11/2008, Nga phối hợp với Vênê-xuêla tập trận hải quân tại sân
Trong 4 năm nhiệm kỳ I của Tổng thống B.Obama, quan hệ Mỹ - Nga cũng đầy thăng trầm với hai năm đầu như mùa xuân ấm áp thì hai năm cuối lại rơi vào mùa đông lạnh giá. Mặt khác, Nga cũng khơng hề có lợi thậm chí có thể gặp thách thức, thua thiệt lớn khi quan hệ Mỹ - Nga tụt dốc. Vì lợi ích của Nga, bộ đôi Medvedev - Putin đã chủ động phát tín hiệu sẵn sàng hợp tác với Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ trong việc giải quyết những vấn đề quốc tế và khu vực. Cuối tháng 11/2008 Tổng thống D.Medvedev là một trong những nguyên thủ đầu tiên gửi điện chúc mừng B.Obama trúng cử Tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ và nhắn gửi Oasinhtơn là điện Kremli sẵn sàng hợp tác với Mỹ về mọi vấn đề mà hai bên quan tâm.
Sự kiện này báo hiệu một trang mới trong mối quan hệ Mỹ - Nga và được dư luận quốc tế quan tâm. Tại hội nghị này Obama và Medvedev đã thảo luận mở lại vòng đàm phán giải trừ quân bị và khởi động xây dựng hiệp ước Chiến lược STARTII. Đáp lại thiện chí của Mỹ, Nga cho Mỹ và NATO sử dụng đường bộ qua Nga để chuyên chở vũ khí, hậu cần cho cuộc chiến tranh chống khủng bố ở Apganixtan. Ngày 8/4/2010 tại Praha Tổng thống
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">Nga D.Medvedev và Tổng thống Mỹ B.Obama ký Hiệp ước cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giai đoạn II .
Việc ký hiệp ước START - II không phải là mọi thắc mắc trong quan hệ Mỹ - Nga đã được giải quyết, nhưng ít ra cũng là một bước tiến trong mối quan hệ giữa hai cường quốc hạt nhân lớn nhất thế giới này. Vấn đề nhức nhối trong quan hệ Mỹ - Nga làm Mátxcơva bất bình đối với Oasinhtơn là Nhà Trắng thường xuyên dùng vấn đề dân chủ, nhân quyền để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Nga. Điển hình là việc Mỹ sử dụng cơ quan Phát triển Quốc tế một tổ chức phi chính phủ của Mỹ hoạt động ở Nga từ năm 1992, để hỗ trợ các lực lượng đối lập ở Nga tổ chức các hoạt động chống Putin - Medveder. Bản tuyên bố của Bộ Ngoại giao Nga khẳng định, Nga khơng cần các khoản viện trợ nước ngồi và không cần USAID giảng về xã hội dân sự cho Nga.
Do tình hình chiến lược quốc tế phức tạp, cạnh tranh địa chính trị giữa Nga và Mỹ tạm thời hoà dịu, sự hợp tác trong vấn đề như Apganixtan lại tạo cơ hội nâng cao quan hệ Mỹ - Nga trong thời gian nhất định. Không dừng lại ở đó, cuộc chiến ngoại giao giữa Mỹ - Nga tiếp tục leo thang theo kiểu “ăn miếng trả miếng”. Trung tuần tháng 11/2012, Hạ viện và Thượng viện Mỹ đã thông qua và được tổng thống V.Putin ký ban hành ngày sau đó.
Mặc dù vấn đề dân chủ, nhân quyền luôn gây nhức nhối trong quan hệ Mỹ -Nga nhưng dù sao đó chưa phải là vấn đề hệ trọng mang tính sinh tử. Mỹ tiếp tục bao vây và gây áp lực đối với Nga, thu hẹp không gian chiến lược của Nga từ khắp các hướng Tây Bắc, Tây, Tây Nam đối với Nga. Ngày 14/12/2012, trong chuyến thăm căn cứ không quân Incirlik ở miền Nam - Thổ Nhĩ Kỳ, Bộ trưởng Quốc phịng Mỹ Leon Panetta đã ký lệnh bố trí hai hệ thống phòng thủ tên lửa Patriot cùng 400 binh sĩ tại Thổ Nhĩ Kỳ nói là để bảo vệ Thổ Nhĩ Kỳ trước tên lửa của Xyri, thực chất là đe dọa Nga từ phía Tây Nam. Tất nhiên,
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">điện Kremli sẽ không thụ động đỡ đòn, mà họ chủ động và sẵn sàng "ăn miếng trả miếng”.
Putin - Medveder yêu cầu START - II phải kèm theo vấn đề phòng thủ tên lửa mà Mỹ xây dựng ở Đơng Âu nói riêng, trên thế giới nói chung, việc Mỹ xây dựng NMD làm mất cân bằng chiến lược buộc Nga phải xem xét lại. Như vậy, từ năm 1991 đến năm 2012, qua bốn đời tổng thống Mỹ, quan hệ Mỹ - Nga gập ghềnh, thăng trầm qua 4 giai đoạn, trong đó chỉ có 2 giai đoạn ngắn là tương đối êm ấm, còn phần lớn thời gian ở trong trạng thái lạnh nhạt, căng thẳng theo kiểu “ăn miếng trả miếng”.
<b>Quan hệ Mỹ - Nga trong nhiệm kỳ II của B. Obama </b>
Không chỉ người Mỹ, người Nga, mà có thể nói đây là vấn đề được cả thế giới quan tâm, vì đây là hai cường quốc có sức mạnh quân sự lớn nhất thế giới. Cho dù vấn đề “an ninh phi truyền thống” và vấn đề “sức mạnh mềm” có quan trọng bao nhiêu thì vẫn phải xếp sau sức mạnh quân sự. Ngược lại Nga cũng cần sự hợp tác của Mỹ trong nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến lợi ích của Nga. Trong điều kiện Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ và đang thách thức vai trị và lợi ích của Mỹ trên nhiều lĩnh vực trọng yếu và tại các khu vực chiến lược, muốn hay không Mỹ rất cần giữ ổn định quan hệ với Nga và không để rơi vào trạng thái cùng một lúc phải đương đầu đối phó với hai cường quốc.
Ngược lại, Nga cũng có nhu cầu ổn định quan hệ với Mỹ đề tập trung phát triển kinh tế và tránh một cuộc chạy đua quân sự tốn kém ảnh hưởng lớn đến sự phục hồi của Nga.
</div>