Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (21.5 MB, 91 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
HA NOI - 2023
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>Mã số: 8380101.05</small>
<small>Toi xin cam đoan Luận văn là cơng trình nghiên cứu cua riêng tơi. Các</small>
tin cậy và trung thực. Tơi đã hồn thành tắt cả các mơn học và đã thanh tốn tat cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Luật - Đại
<small>Tôi xin chân thành cảm ơn!</small>
Nguyễn Đức Huy
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">Khái quát chung về giao kết hợp đồng lao động... 7
Khái niệm giao kết hợp đồng lao động...--- 2-5 5 x2 7 Đặc điểm của giao kết hợp đồng lao động...--- 5-5552 9
Nội dung pháp luật về giao kết hợp đồng lao động ...- 14
Thực trạng quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về giao
Thực trạng quy định về chủ thé giao kết hợp đồng lao động... 23
Thực trạng quy định về nội dung hợp đồng lao động ...-- 25
Thực trạng quy định về hình thức của hợp đồng lao động ... 26
Thực trạng quy định về các loại hợp đồng lao động...- 27
Thực trạng quy định về trình tự giao kết hợp đồng lao động ... 28 Thực trạng quy định về hợp đồng lao động vô hiệu ...-- 3l
CHUONG 2: THỰC TIEN THUC HIỆN QUY ĐỊNH CUA BỘ LUAT
BAC GIANG ... chê 35 Khái quát về khu công nghiệp Vân Trung, tinh Bắc Giang và
<small>tình hình sử dụng lao động...- --- 5 55 Ss+sserseeeeersres 35</small>
Khái quát về tình hình sử dụng lao động tại khu công nghiệp
Thực hiện quy định về nội dung hợp đồng lao động ... 53
Thực hiện quy định về hình thức, các loại hợp đồng lao déng... 54
Thực hiện quy định về trình tự giao kết hợp đồng lao động... 56
Thực hiện quy định về hợp đồng lao động vô hiệu...--- 58 Một số tồn tại trong thực hiện quy định của Bộ luật Lao
nghiệp Vân Trung, tỉnh Bắc Giang ...-- 2-5 cscccce¿ 59 Một số tồn tại... - St tt St EEEEEE 1111111 111111511 111111111 xe. 59
QUY ĐỊNH VE GIAO KET HỢP DONG LAO DONG TẠI
hợp đồng lao động từ thực tiễn thực hiện tại khu công nghiệp
-3.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của
khu công nghiệp Vân Trung, tỉnh Bac
<small>BLLD: Bộ luật Lao động</small>
HĐLĐ: Hợp đồng lao động
<small>KCN: Khu công nghiệpNLĐ: Người lao động</small>
<small>NSDLĐ: Người sử dung lao động</small>
<small>TNHH: Trach nhiệm hữu han</small>
Số hiệu Tên bảng Trang
<small>trong khu cơng nghiệp Vân Trung 37</small>
<small>Bảng 2.3 | Trình độ đào tạo và giới tính của NSDLD trong KCN 52</small>
Bang 2.4 | Loại hợp đồng được kí kết trong Khu công nghiệp 55
<small>RISUN Việt Nam 57</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">Lao động là nhu cầu, là đặc trưng cho hoạt động sống của con người, giúp con người hoàn thiện bản thân và phát triển xã hội. Khi xã hội đã đạt đến mức độ phát triển nhất định thì sự phân hóa, phân cơng lao động xã hội diễn
này. Quan hệ lao động ngày càng được thiết lập theo nhiều cách thức khác nhau, theo đó giao kết HDLD đã trở thành cách thức cơ bản, phổ biến nhất dé thiết lập quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường. Ở nước ta, với cơ cau dân số đông và trẻ, vấn đề lao động - việc làm luôn là một trong những vấn đề
định về giao kết HDLD phải kịp thời, linh hoạt để phù hợp với thực tiễn luôn
tang, cơ sở pháp ly cho việc giao kết HDLD. Tuy nhiên trong thực tế, việc thực hiện vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế và vướng mac. Tình trạng khơng giao kết HDLD với NLD hoặc giao kết nhưng không đúng loại HDLD,
mang tính hình thức, chưa đảm bảo các nội dung chủ yéu,... điều nay làm cho quá trình thực hiện HDLD ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên, cũng như khi tranh chấp xảy ra khó có đủ các cơ sở để giải quyết và bảo vệ quyền lợi
<small>cho các bên.</small>
<small>Với phạm vi nghiên cứu được tác giả lựa chọn tại khu công nghiệp Van</small>
Trung, tỉnh Bắc Giang, đánh giá ban đầu cho thấy đây là khu công nghiệp lớn. đang thu hút được rất nhiều dự án đầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">tăng nhanh. Đối với dé tài “Giao kết hop đồng lao động trong Bộ luật lao
là một đề tài mang tính thực tiễn áp dụng tại khu công nghiệp Vân Trung, tỉnh Bắc Giang, chưa có cơng trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu quá trình giao kết HDLD về lý luận và thực tiễn gan với việc thi hành tai KCN này kể từ khi BLLĐ năm 2019 được Quốc hội khóa XIV thơng qua vào ngày
hiện trong thực tiễn qua 02 năm thực hiện dé từ đó có những giải pháp dé hồn thiện và đảm bảo thực hiện các quy định về giao két HDLD 1a rat can thiét.
Giao kết HDLD là những tư tưởng chỉ đạo phải tuân theo trong tồn bộ
<small>Giáo trình: Giáo trình “Luật lao động Việt Nam” của trường Dai học</small>
Luật Hà Nội (2005, 2008, 2012, 2018), nhà xuất bản Cơng an nhân dân; giáo
(2016), nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội; giáo trình “Luật lao động Việt Nam” của trường Đại học Kiểm Sát (2016), nhà xuất bản Đại học Quốc
<small>Gia Hà Nội...</small>
Các bài viết được đăng trên báo và tạp chí như: “Giao kết hợp đông lao
Tạp chí Luật học số 03/2013 của tác giả Nguyễn Hữu Chí; “Bàn về một số quy định về ký kết hợp dong lao động trong Bộ luật lao động”, Tạp chí Toa án nhân dân, Toa án nhân tối cao số 13/2013 của tác giả Nguyễn Thi Bich; “Quy định
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Luận án, luận văn, có: Luận án Tiến sĩ luật học “Hợp đông lao động
Luận án Tiến sĩ luật học “Hop dong lao động vô hiệu theo pháp luật Lao
<small>động Việt Nam hiện nay”, (2009) của tác giả Pham Thị Thuý Nga; Luận văn</small>
thạc sĩ Luật Kinh tế: “Pháp luật về giao kết hợp đông lao động — Thực trạng và một số kiến nghị”, (2015) của tác giả Hồ Thị Hồng Lam; “Luận văn thạc sĩ luật học: “Pháp luật về giao kết hợp đồng lao động và thực tiễn thực hiện trong các doanh nghiệp ở Đà Nẵng”, (2014) của tác giả Nguyễn Văn Minh; Luận văn thạc sĩ luật học: “Giao kết hợp dong lao động theo pháp luật lao
<small>trong khu công nghiệp trên địa ban tinh Hưng Yên”, (2014) của tác giả Lê Thi</small>
Nga, Luận văn thạc sĩ Luật học: “Giao kết hợp dong lao động theo pháp luật lao động từ thực tiên các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp tại tinh Nghệ An” (2019) của tác giả Hồ Trọng Hiệp, ...
Những cơng trình nghiên cứu nêu trên hết sức có giá trị cho bài viết của
hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay có nhiều nét tương đồng và thống
luận và thực tiễn của các doanh nghiệp tại các KCN chưa được nhiều tác giả dé cập, tìm hiểu nhiều. Vì vậy, tác giả muốn phân tích, nghiên cứu về những van dé lý luận trong giao kết HĐLĐ, chi ra những thành tựu và những han chế, vướng mắc của giao kết HĐLĐ tại các doanh nghiệp trong KCN Vân
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">Trung tỉnh Bắc Giang để từ đó, đưa ra các định hướng, giải pháp hoàn thiện
quan hệ lao động bền vững.
<small>3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu- Mục tiêu nghiên cứu</small>
Việc nghiên cứu dé tài nhăm mục tiêu tìm hiểu cơ sở lý luận về pháp luật giao kết HDLD và thực trạng quy định của Bộ luật lao động năm 2019 về
<small>- Nhiệm vụ nghiên cứu</small>
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề chung về khái niệm, đặc điểm của giao kết HDLD, nguyên tắc giao kết HDLD và nội dung pháp luật Việt Nam về
giao kết HĐLĐ.
Thứ hai, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về giao két HDLD tai
nghiệp trong KCN Vân Trung tỉnh Bắc Giang. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Với mục tiêu và nhiệm vụ như đã nêu, đối tượng nghiên cứu của đề tài là BLLĐ năm 2019 và những văn bản hướng dẫn BLLĐ năm 2019 về giao kết HĐLĐ, luận văn cũng đề cập đến BLLĐ trước đây, các quy định của ILO và
luật về giao kết HDLD tại khu công nghiệp Vân Trung tinh Bắc Giang trong
Do điều kiện thực hiện nghiên cứu hạn chế về thời gian, Luận văn chỉ
<small>5. Phương pháp nghiên cứu</small>
các phương pháp nghiên cứu bao gồm:
<small>+ Phương pháp phân tích, bình luận, so sánh... được sử dụng trong</small>
Chương 1 khi nghiên cứu những van dé lý luận về HĐLĐ và pháp luật Việt Nam
+ Phương pháp đánh giá, diễn giải, đối chiếu,... được sử dụng tại
Chương 2 khi nghiên cứu đánh giá thực tiễn việc thực hiện pháp luật về giao kết HDLD trong khu công nghiệp Van Trung tinh Bắc Giang.
+ Phương pháp tông hợp, quy nạp... được sử dụng tại Chương 3 khi
nghiên cứu, đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao kết HĐLĐ từ thực tiễn thực hiện pháp luật về giao kết HDLD trong khu công nghiệp Vân Trung tinh Bắc Giang, ... .
<small>6. Tính mới và những đóng góp của luận văn</small>
Luận văn làm mới hơn các van đề lý luận về giao kết HDLD; đưa ra ý kiến đánh giá về thực trạng pháp luật giao kết hợp đồng lao động; phân tích,
về giao kết HĐLĐ tại các doanh nghiệp ở KCN Vân Trung, Bắc Giang; đề xuất 2 nhóm kiến nghị tới các nhà lập pháp và các nhà quản lý tại KCN Vân
Kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo cho các nhà làm
<small>chính sách, cho các doanh nghiệp khu công nghiệp, cũng như cho các nhà</small>
nghiên cứu, giảng day học tập về lĩnh vực giao kết HDLD nói chung và giao
Ngồi lời nói đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 2: Thực tiễn thực hiện quy định của Bộ luật lao động năm 2019
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện Bộ luật lao động năm 2019 và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về giao kết hợp đồng lao động tại khu
công nghiệp Vân Trung, tỉnh Bắc Giang.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>CHƯƠNG 1</small>
NAM 2019 VE GIAO KET HỢP DONG LAO DONG 1.1. Khái quát chung về giao kết hợp đồng lao động
Đề hiểu được khái niệm giao kết HDLD là gì, trước tiên chúng ta tim
rất quan trọng, ra đời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của luật lao động. HDLD là một trong những nội dung không thé thiếu của hầu hết các Bộ luật lao động của mỗi quốc gia. Ở Trung Quốc, HDLD được quy định tại điều 16 Luật lao động của nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa: “Hợp đồng lao
bên của HDLD, khang định việc thiết lập quan hệ lao động phải thông qua HĐLĐ, tuy nhiên, nhược điểm của khái niệm này là chưa nêu được nội dung, bản chất của HDLD. O Hàn Quốc, đạo luật số 6974 ngày 15/09/2003 quy định tại Điều 17: “Thuật ngữ HĐLĐ trong luật này có nghĩa là hop dong được kí kết dé ghi nhận rằng NLD làm việc cho NSDLĐ và NSDLĐ trả lương
các loại hợp đồng khác có nội dung tương tự.
Tại Việt Nam, HDLD cũng được ghi nhận từ rất sớm, trải qua các thời kì lịch sử, trong nhiều các văn bản pháp lý, có thé thay trong sắc lệnh số 29
người làm công; Trong pháp lệnh HĐLĐ được Hội đồng nhà nước ban hành
định về khái niệm HĐLĐ tại điều 15 như sau: “Hợp đồng lao động là sự thoả
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả lương,
Như vậy, khái niệm HĐLĐ được quy định trong BLLD khá rõ ràng và đầy đủ.
Thời điểm hiện tại, Bộ luật lao động là cơ sở pháp lý cho các bên chủ thể tham gia thiết lập vào các quan hệ lao động. Xuất phát từ nhiều vấn đề trong thời kì đất nước đổi mới, hướng tới sự nghiệp cơng nghiệp hố - hiện đại hố, trong kì họp thứ 8, Quốc hội khố 14 đã thơng qua BLLĐ năm 2019. Theo đó, khái nệm HDLD được quy định tại Điều 13 BLLĐ năm 2019 như sau:
việc làm có trả cơng, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Với khái niệm này, HDLD đã thể hiện khái quát hơn và phản ánh được ban chat của HDLD, các yếu tố cơ bản hình thành nên HĐLĐ, khi các bên giao kết thỏa thuận bằng tên gọi khác (ví dụ như Hợp đồng dịch vụ, cộng tác
<small>hành, giám sát của một bên.</small>
các bên tham gia cần phải giao kết HDLD. Đây là cơ sở quan trọng, là nền tảng của luật lao động Việt Nam để hình thành, phát sinh quan hệ lao động cũng như là cơ sở cho việc thực hiện và chấm dứt quan hệ lao động. Vay giao kết HDLD là gì?
Theo từ điển Tiếng việt thơng dụng của nhà xuất bản Giáo dục Việt
“Đưa ra và cam kết những điều mà mỗi bên phải thực hiện”. Như vậy, giao
các bên sẽ phải thực hiện đối với nhau.
Từ hai khái niệm HĐLĐ và giao kết thì giao kết HĐLĐ được hiểu là
hiện những điều khoản đã đưa ra.
HĐLĐ là cơ sở làm phát sinh ra các quan hệ lao động, tat cả các van dé trong quá trình thực hiện hợp đồng đều được phản ánh cụ thể, rõ ràng trong
sự thương lượng, đàm phán và thoả thuận của các bên chủ thé, dé đảm bao quyên, lợi ich cho các bên cũng như hướng đến vào trọng tâm của quan hệ lao động, pháp luật đã quy định các nội dung cơ ban để các bên cing thương
luật pháp lao động. HDLD phải có những nội dung chủ yếu sau đây: công việc phải làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, địa điểm làm
giao kết HĐLĐ chính là sự tự do, tu nguyện thỏa thuận, thương lượng cá nhân giữa NLD va NSDLD dé thống nhất ý chí và đi đến việc ký kết HDLD,
<small>xác lập nên quan hệ lao động.</small>
sự giao kết bao giờ cũng có tính đích danh. HDLD là công cụ pháp lý quan
được coi là van đề trung tâm trong mối quan hệ lao động. Giao kết HDLD là
tiền đề ban đầu tạo điều kiện cho quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên được xác lập và thực hiện trong tương lai; mặt khác, đó là cơ sở cho sự ồn định, hài
Có thé khang định HĐLĐ là công cụ hữu hiệu nhằm bảo dam cho các
quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung — cầu... Quan hệ lao động cũng không nằm ngồi sự tác động đó. Sức lao động của con người từ lâu đã trở thành một loại hàng hóa được trao đổi trong xã hội, dần làm hình thành nên thị trường lao động, tồn tại đồng thời với các thị trường hàng hóa khác trong nền kinh tế. Hành động trao đổi, mua bán hàng hóa này chính là thiết
triển của xã hội. Vì vậy, mỗi quốc gia trong chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mình cần phải có kế hoạch bảo vệ, phát triển nó. Cho nên pháp luật của mỗi quốc gia đã ghi nhận quyền tự do lao động, việc làm, quyền sự do mua bán sức lao động là để có cơ sở pháp lý bảo vệ các chủ thé tham
Thứ nhất, giao kết HDLD là cơ sở hình thành nên quan hệ lao động. Dé
<small>10</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">có được quan hệ lao động các bên bắt buộc phải có giai đoạn này — giai đoạn
phán các nội dung sẽ và được thực hiện trong tương lai và là điều kiện bắt buộc
cơng việc gì, mức lương là bao nhiêu, thời gian làm việc thế nào và hàng loạt các quyên lợi khác. NSDLĐ cũng vậy, họ cần biết NLD trong tương lai là ai, năng lực làm việc thế nào, có thể mang lại cho họ những giá trị gì? Đó là hàng
thành và cũng là căn cứ pháp lý dé xác lập quan hệ lao động.
QHLĐ. Giao kết là việc làm ngay từ ban đầu, hình thành nên quan hệ lao động quyết định quyền và nghĩa vụ của các bên. Do đó nếu việc giao kết
vọng, lợi ích của các bên thì quyền lợi của các bên sau này sẽ được đảm bảo, quan hệ lao động được bền vững, lâu dai và tranh chấp lao động sẽ hạn chế
<small>cũng như lợi ích của các bên.</small>
1.2. Cơ sở lý luận của pháp luật về giao kết hợp đồng lao động
Pháp luật lao động là tên gọi chung của những quy phạm pháp luật đối
<small>11</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">nghỉ ngơi; tiền lương: tiền thưởng quyên lợi và nghĩa cụ của các bên trong
động.... Đối với pháp luật lao động, HDLD là nội dung quan trọng nhất, giữ
việc đầu tiên các bên phải làm là giao kết, đây là quá trình để các bên tìm
chính thức. Giao kết HDLD là phan rất quan trọng và là hình thức ban đầu chủ yếu làm phát sinh quan hệ pháp luật lao động, do đó nội dung này được
<small>trong những nội dung cơ bản của pháp luật lao động.</small>
<small>Pháp luật lao động của các nước được xây dựng theo mô hình khác</small>
xây dựng theo từng đạo luật đơn hành, theo chuyên đề đối với một hoặc một nhóm nội dung chủ yếu trong quan hệ lao động như Luật việc làm, Luật
<small>HĐLĐ,... thứ hai là xây dựng Bộ luật lao động trên cơ sở những luật đơnhành như BLLD Pháp (đã có từ năm 1910), Liên Bang Nga (năm 2001),...</small>
thứ ba là trên cơ sở BLLĐ, tiếp tục cụ thé bằng các Luật đơn hành khác và bố sung thêm những quy định mới. Theo đó, có thê thấy các quy phạm pháp luật
<small>luật hoặc bộ luật đơn hành khác nhau, hay chỉ quy định trong một Bộ luật</small>
Pháp luật của các nước hầu hết đều ghi nhận những nội dung cụ thê về giao kết HĐLĐ, chăng hạn như pháp luật của Trung Quốc, các nội dung quy định về giao kết HDLD được quy định trong Luật HDLD. Theo đó, nội dung chính của Luật lao động Trung Quốc quy định về giao kết HDLD được biểu hiện ở một số nội dung như: Chủ thé giao kết HDLD (Điều 15), nguyên tắc giao kết HDLD (Điều 3), hình thức (Điều 10, Điều 11), nội dung các loại
<small>12</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">HDLD và một số quy định khác có liên quan (từ Điều 12 đến Điều 17). Còn ở
động Hàn Quốc. Các nội dung liên quan đến giao két HDLD duoc thé hién
Điều 65, khoản | Điều 112, khoản 3 Điều 124), hình thức giao kết, nội dung giao kết... được pháp luật quy định rất cụ thể [9].
Từ phân tích trên có thé hiểu pháp luật về giao kết HDLD là tổng hợp các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng lao động giữa người
Nguyên tắc giao kết HĐLĐ là các nguyên tắc mà các bên tham gia lao động cần phải tuân thủ khi tiến hành xác lập mối quan hệ lao động với nhau.
Nguyên tắc thứ nhất là tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực. Đây là nguyên tắc cơ bản khi giao kết HĐLĐ nói riêng và xác
giao kết HDLD đều phải có quyền thé hiện ý chí của mình, sau đó cùng thỏa
Ngun tắc tự nguyện không phải là tuyệt đối bởi các chủ thể trong quan hệ HĐLĐ vẫn phải bị chi phối bởi ý chí của bên thứ ba. Xuất phát từ
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">việc bao giờ cũng phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp. Như vậy, trong trường hợp trên, chủ thể trong quan hệ lao động còn bị
kết HDLD vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối.
này thể hiện các bên trong quan hệ lao động có quyền tự do thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng, tuy nhiên không được trái với các quy định của pháp luật. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được quy định tại Hiến pháp năm 2013, khi tham gia giao kết HDLD các bên
<small>phải tuân thủ pháp luật. Các thỏa thuận trong HDLD cũng không được trái</small>
vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục, không được xâm phạm vào các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
<small>NLD là người làm việc cho NSDLD theo thỏa thuận, được trả lương và</small>
động, NLD phải tự mình thực hiện các nghĩa vụ được giao. Vi vậy, dé có thể tham gia vào quan hệ lao động cũng như giao kết HDLD, NLD phải đảm bao
họ. Mặc dù cho phép NLD ở độ tuổi vị thành niên được phép tham gia quan
hạn chế trong việc NLD tự mình giao kết HDLD hoặc hạn chế thời gian làm
<small>việc theo độ tuôi, theo chủng loại công việc.</small>
<small>14</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Chang hạn như ở Hàn Quốc, Đức, NLD dưới 18 tuổi có thé tự mình
NLD dưới 18 tuổi sẽ chỉ được làm việc bán thời gian (Part time), hay thực tập (Tranning). Ở Pháp, NLĐ dưới 16 tuổi sẽ không được phép làm việc (khoản 6 Điều 1 Labor code). Ở Hàn Quốc, Nhat Bản quy định, trong trường hợp người giám hộ hoặc cơ quan có thầm quyền thấy HDLD bat lợi cho NLĐ thì HĐLĐ có thể bị huỷ bỏ và có hạn chế về các loại hình lao
<small>- Nội dung HĐLĐ</small>
đồng, trong đó chứa đựng các quyền và nghĩa vụ do các bên đã thỏa thuận. Về nguyên tắc, pháp luật hợp đồng thường quy định những nội dung chủ yếu của
thiết của các bên chủ thé. Thông thường trong HDLD gồm 2 loại điều khoản,
Điều khoản cơ bản là những điều khoản phản ánh nội dung cơ bản của
Chính vì vậy, pháp luật lao động các nước thường bao giờ cũng quy định về các điều khoản cơ bản của HDLD. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán... mà số lượng các điều khoản cơ bản ở các nước có sự khác nhau song thường tập trung ở các điều khoản: tên công việc; địa điểm
<small>toàn lao động, vệ sinh lao động; bảo hiêm xã hội...</small>
<small>15</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">Điều khoản tuỳ nghỉ là những điều khoản khơng bắt buộc phải có trong HĐLĐ. Nếu thấy cần thiết thì các bên thoả thuận trong HĐLĐ trên cơ sở điều kiện, khả năng thực tế của mỗi bên. Tuy nhiên, cần lưu ý răng, các điều khoản thoả thuận tuy khơng bắt buộc phải có trong hợp đồng nhưng nếu các bên đã
Chang hạn như các bên thoả thuận về tiền ăn giữa ca, tiền thưởng...
HDLD thông thường gồm hai loại điều khoản nêu trên, tuy nhiên trong
khoản trong hợp đồng. Chăng hạn như đối với những NLĐ làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật cơng nghệ thi NSDLĐ có quyền thoả thuận bằng văn bản với NLĐ về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật cơng nghệ kinh doanh, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hop NLD vi phạm.
<small>được coi là một bộ phận của HĐLĐ và có hiệu lực như HĐLĐ. Phụ lục</small>
HDLD thường được sử dụng dé quy dinh chi tiết một số điều khoản hoặc dé
<small>theo nội dung của HDLD.</small>
<small>- Hình thức HĐLĐ</small>
Hình thức HDLD là cách thức thé hiện ra bên ngồi của HĐLĐ. Theo đó, những nội dung, những điều khoản mà các bên thoả thuận trong hợp đồng được biểu hiện ra bên ngồi dưới một hình thức nhất định. Vì vậy, hình thức HĐLĐ chính là biểu hiện của sự ghi nhận các cam kết, thoả thuận của các bên
giao kết cho phù hợp. Tuy nhiên, lao động là lĩnh vực đặc thù nên việc giao
<small>16</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">kết HDLD ở hình thức nào cũng sẽ phải tuân theo quy định của pháp luật,
HDLD giao kết bang văn ban là hợp đồng mà các cam kết của nó được
<small>ghi lại thành văn bản và có chữ kí của hai bên. Thơng thường, cơ quan có</small>
<small>dựng bản HDLD cho phù hợp. Thông thường HDLD được lập thành 2 ban,</small>
mỗi bên giữ một bản. Trường hợp HDLD được giao kết thơng qua phương
việc trong hợp đồng quan trọng nên cần phải giao kết bằng văn bản để có cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp nếu có phát sinh.
HĐLĐ giao kết bằng lời nói là hợp đồng các bên thoả thuận với nhau
đồng ngắn, quan hệ lao động nhìn chung khơng ổn định. Khi giao kết HDLD bang lời nói, các bên phải tuân theo quy định của pháp luật và nếu thấy can
thiết thì các bên có thê thoả thuận người làm chứng.
<small>- Các loại HDLD</small>
đồng (có hợp đồng thử việc, HDLD chính thức), tính hợp pháp của HDLD (có HĐLĐ hợp pháp, HDLD bat hợp phap)..., song dưới góc độ pháp luật người ta thường phân chia loại hợp đồng trên cơ sở thời hạn của hợp đồng. Bởi lẽ,
<small>hồn thành cơng việc.</small>
<small>17</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">- Trình tự giao kết HĐLĐ
quá trình này các bên sẽ bàn bạc, trao đồi, thương lượng với nhau dé đi kí kết
Thứ nhất, các bên chủ thê thé hiện và bày tỏ mong muốn thiết lập quan
<small>hệ HĐLĐ.</small>
Đây là quá trình được cụ thê hố từ ngun tắc tự do, tự nguyên trong
NLD tiếp nhận được thơng tin nói trên, nếu có nhu cầu làm việc, xét thấy các yêu cầu đó phù hợp với chun mơn, tay nghề của mình thì có thể liên lạc với NSDLĐ bằng hình thức đến trực tiếp hoặc thông qua các trung tâm tư vấn việc làm mà NSDLĐ đã đăng tin. Đây là giai đoạn các bên chủ thé chưa hề có sự chi phối lẫn nhau và các chủ thé đó có thé cham dứt các quan hệ đó ngay
Thứ hai, các bên chủ thé thương lượng, đàm phán nội dung HDLD.
HĐLĐ, còn nếu đàm phán, thương lượng khơng thành cơng thì các bên cũng khơng hề có sự ràng buộc về mặt pháp lý nào. Ví dụ, khi các bên thương lượng HDLD nhưng nếu không đạt được kết quả, NSDLĐ không thể địi NLD bồi thường vì làm mat thời gian của họ cũng như NLD không thé yêu
<small>18</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">trọng. Quan hệ lao động trong tương lai có ơn định, hài hịa, bền vững hay
bên chủ thé khi thương lượng, đàm phán. Tuy nhiên, thực tiễn xác lập HDLD ở nước ta vì những lý do khác nhau mà dường như các chủ thê tham gia chưa nhận thức đầy đủ vấn đề này. Trong thực tế, quá trình thương lượng, đàm phán hợp đồng giữa hai bên chủ thể hầu như khơng có và nếu có, thường
<small>khơng thực hiện với ý nghĩa đích thực của nó. Mà thường là các đơn vi, doanh</small>
nghiệp ký kết HDLD với NLD trên cơ sở bản HDLD đã được chuẩn bị các
dé thuong luong, dam phan HDLD, NSDLD that su binh dang, từ đó tao lập mỗi quan hệ chứa đựng đầy đủ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong điều kiện hiện nay với NLĐ hồn tồn khơng dễ ràng.
Thứ ba, giai đoạn hoàn thiện va giao kết HĐLĐ.
Đây là giai đoạn cuối cùng của thủ tục giao kết HDLD, sau khi các bên
Đối với dạng hợp đồng băng lời nói (bằng miệng) khi giao kết hợp đồng nếu
bên chủ thé thé hiện những thoả thuận của mình vào các điều khoản trong HDLD và sau đó tiến hành kí kết HDLD.
<small>- HĐLĐ vơ hiệu</small>
Khi giao kết HDLD, nếu NSDLĐ và NLD không tuân thủ đúng các
HDLD bị vơ hiệu. Vi vậy, HDLD vô hiệu là hợp đồng vi phạm các quy định
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">của pháp luật về giao kết hợp đồng. Cũng như các hợp đồng khác, HDLD vô
<small>vơ hiệu tồn bộ.</small>
được hiểu là hợp đồng có một phần nội dung hợp đồng trái quy định của pháp luật nhưng khơng ảnh hưởng đến các phần cịn lại của hợp đồng hoặc một phan nội dung của HDLD quy định quyền lợi của NLD thấp hơn quy định trong pháp luật lao động, nội quy lao động, thoả ước lao động tập thê
có giá trị pháp lí. Đối với điều khoản bị tun vơ hiệu thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được giải quyết theo thoả ước lao động tập thể đang áp
<small>định của pháp luật.</small>
HDLD bị coi là vô hiệu tồn bộ khi khơng đảm bảo điều kiện về chủ
như tình trạng ban đầu. Trường hợp khơng trả được bằng hiện vật thì thanh tốn băng tiền. Tuy nhiên, trong lĩnh vực lao động, việc làm đối với NLD là van đề hết sức quan trọng. NLD có việc làm mới đảm bảo đời sống cho NLD và gia đình của ho. Hon nữa, NLD đã bỏ sức lao động ra thì khơng thé khơi phục lại như trước nên việc xử li HDLD vô hiệu cần có những quy định riêng.
<small>20</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">đúng quy định của pháp luật. Quyên, nghĩa vụ và lợi ích của NLD ké từ khi
lại. Ngồi ra, khi giao kết HDLD bên nào vi phạm khiến cho HĐLĐ bị tuyên
có thể bị phạt tiền và buộc khắc phục hậu quả.
1.3. Thực trạng quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về giao kết hợp đồng lao động
Theo Điều 15 BLLĐ năm 2019, nguyên tắc khi giao kết HĐLĐ bao gồm:
vào quyên tự do tuyên dụng lao động của NSDLD. Sự ghi nhận của pháp luật không chỉ đảm bảo giữ đúng bản chất của hợp đồng mà còn nhằm tạo tiền đề
lao động được duy trì trong sự hài hịa lợi ích và ồn định. NLD có quyền giao kết HDLD với bat kỳ NSDLĐ nao, ngược lại, NSDLD cũng có quyền tự do
không được dùng các thủ đoạn lừa dối, ép buộc hay đe doa nhằm buộc người kia vì lo sợ mà phải giao kết hợp đồng mặc dù họ không mong muốn.
nhận đề nghị khi giao kết, các bên phải chuyền tại tuyệt đối, trọn vẹn, đầy đủ
<small>21</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">ý chí của chính mình chứ khơng phụ thuộc vào bất cứ ai hết, trừ trường hợp quy định tại điểm b,c khoản 4 Điều 18: “b) Người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi có sự đơng ý bằng văn ban của người đại diện theo pháp luật của người đó; c) Người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật
chí của người đại diện, người được ủy quyên cũng là cũng là ý chí của nhóm ủy quyền (Khoản 2 Điều 18 BLLĐ năm 2019).
Các nội dung thỏa thuận trong HDLD, do chính các bên chủ thể quyết định, điều này chỉ có thé thực hiện trên cơ sở bình đăng giữa các bên. Tuy
trong q trình giao kết HĐLĐ. Chính vì vậy, dé có sự bình đăng thực chất
thương lượng, đàm phán hợp đồng. Ở đây vai trò của quan hệ lao động tập thể
Thứ ba, nguyên tắc thiện chí, hợp tác và trung thực: Nguyên này là điều kiện tiên quyết để quan hệ lao động được giao kết và thực hiện với sự đồng
<small>tam trong chia sẻ lợi ích cũng như khó khăn trong quan hệ lao động bởi lẽ</small>
thống nhất về mặt lợi ích. Tuy nhiên lợi ích các bên chỉ đạt được khi bất đồng, đối kháng của các bên phải được giải quyết một cách thiện chí và hợp tác.
<small>22</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">Nếu như các bên chủ thể khi giao kết HDLD tuân thủ tốt nguyên tắc thiện chí, hợp tác và trung thực thì tính thống nhất của quan hệ lao động sẽ được phát huy, tạo ra lợi ích cho hai bên. Ngược lại nếu việc giao kết không được đặt trên nền tảng của nguyên tắc này thì sẽ làm ảnh hưởng lợi ích của
<small>một hoặc cả hai bên trong quan hệ lao động.</small>
và đạo đức xã hội. Pháp luật đặt ra các giới hạn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các bên, do vậy các bên chủ thể cần tuân thủ đúng các quy định dé bảo vệ cho chính mình cũng như lợi ích chung của xã hội. Nguyên tắc
<small>nội dung của HĐLĐ, nhưng các nội dung đó khơng được trái với pháp luật,</small>
thỏa ước lao động tập thé và đạo đức xã hội.
Nội dung HDLD được giao kết không được vi phạm điều cắm của pháp
lương, NSDLĐ không được trả lương cho NLD thấp hon mức lương tối thiểu chung thôi nhà nước quy định nhằm đảm bao cho NLD được nhận mức lương xứng đáng với cơng việc mình đang thực hiện, đảm bảo tối thiểu mức sinh hoạt hằng ngày, hoặc khi thỏa thuận làm thêm giờ, hai bên khơng được hịa
<small>dung HĐLĐ được thỏa thuận cũng không được trái với thỏa ước lao động tập</small>
thông qua thương lượng tập thê.
1.3.2. Thực trạng quy định về chủ thể giao kết hợp đồng lao động
Theo quy định tại Điều 18 BLLĐ 2019, chủ thé giao kết HDLD được xác định là NLD và NSDLĐ. Cụ thể:
<small>23</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">- Về phía NLD: Người giao kết HDLD bên phía NLD được xác định theo độ ti lao động và được chia thành 4 nhóm chính:
Nhóm lao động đã thành niên: Ở nhóm lao động này, NLĐ tự mình
hạn chế nhiều về phạm vi công việc. Khi giao kết HDLD, nhóm NLD này tự
Nhóm lao động chưa thành niên từ 15 đến dưới 18 tuổi: Theo quy định
môi trường lao động gây tốn hại đến sự phát triển thé lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên như sản xuất, vận chuyên hóa chất độc hại, chất dễ
dựng, tại cơ sở giết mồ gia súc, trong sòng bạc, quán bar, vũ trường, điểm kinh doanh xổ số ...
pháp luật lao động Việt Nam chỉ cho phép những người từ đủ 13 đến chưa đủ 15 tuổi làm những công việc nhẹ theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động
<small>-Thương bình và Xã hội ban hành, cùng với danh mục ban hành kèm theo</small>
các cơng việc nhóm đối tượng lao động chưa thành niên từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi được làm, gồm công việc biểu diễn nghệ thuật, thi dau thé thao, lập trình phần mềm, các nghề thủ cơng mỹ nghệ truyền thong "
<small>24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">chỉ được làm các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 145 của Bộ luật lao động hiện hành, gồm các công việc liên quan tới năng khiếu cá nhân như nghệ thuật, thé thao, tuy nhiên vẫn phải đảm bao sự phát trién thé lực, trí lực, nhân cách của người chưa đủ 13 tuổi.
động chưa thành niên nói riêng. Pháp luật Việt Nam ưu tiên sự phát triển bền vững về thé lực cũng như trí lực đối với nhóm NLD dưới 18 tuổi, ở độ ti càng nhỏ thì giới hạn về ngành nghề lao động cũng như điều kiện lao động càng chặt chẽ hơn, phù hợp với từng lứa tuổi khác nhau, tương ứng với nên
NSDLD có thé là tổ chức, hộ gia đình hoặc cá nhân sử dụng lao động. Tùy từng đối tượng là NSDLD mà chủ thé giao kết HDLD lại có sự khác nhau. Đối với NSDLĐ là tổ chức thì chủ thể giao kết hợp đồng là người đại
nghiệp, hợp tác xã) là người đứng đầu hoặc người được uỷ quyền theo quy
các hộ gia đình, tơ hợp tác, tổ chức khác khơng có tu cách pháp nhân, người đại diện thường sẽ là người thực hiện hành vi giao kết. Đối với NSDLĐ là cá
Theo quy định tại Điều 21 BLLĐ năm 2019, được hướng dẫn tại Chương II Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH quy định nội dung HDLD gồm tên, địa chỉ của NSDLD và họ tên, chức danh của người giao kết HDLD bên phía NSDLĐ; họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, số thẻ Căn
<small>cước công dân, Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiêu của người giao kêt</small>
<small>25</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">HDLD bên phía NLD; cơng việc và địa điểm làm việc; thời hạn của HDLD;
<small>mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả</small>
lương, phụ cấp lương và các khoản bồ sung khác, chế độ nâng bậc, nâng lương:
<small>thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; trang bị bảo hộ lao động cho NLĐ; bảo</small>
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề. Trong trường hợp NLD làm việc trực tiếp liên quan đến bí mật kinh doanh, bí mật cơng nghệ, NSDLĐ có quyền thỏa thuận băng
Với HĐLĐ đối với NLD được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc Nhà nước nắm giữ trên 50%
thuận theo các điều kiện riêng biệt tại Điều 5 Mục 1 Chương III Nghị định số
Những quy định trên thê hiện cái nhìn bao quát của nhà làm luật về nội
quan đến bí mật kinh doanh, hoặc lao động trong lĩnh vực nông nghiệp và các
1.3.4. Thực trạng quy định về hình thức của hợp đồng lao động
Bộ luật Lao động 2012 quy định HDLD phải được giao kết bang văn
<small>bản. Đôi với cơng việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thê</small>
<small>26</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">giao kết HDLD bang lời nói. Bộ luật Lao động 2019 đã bổ sung thêm hình
<small>thức HDLD thơng qua phương tiện điện tử dưới hình thức thơng điệp dữ liệu</small>
theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như HDLD bang văn bản. Việc bổ sung thêm hình thức HDLD thơng qua phương tiện điện tử tạo điều kiện thuận tiện hơn cho các bên khi thực hiện HĐLĐ nhất là trong thời đại công nghệ 4.0 như hiện nay. Cụ thê theo quy định tại Điều 14 BLLĐ năm 2019, HDLD có thé được giao kết dưới 02 hình thức: giao két bang van
<small>dụng lao động thơng qua phương tiện điện tử dưới hình thức là thông điệp dữ</small>
hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng.
HDLD được ký kết bằng văn bản và phải được làm thành hai bản, mỗi bên giữ một bản. HDLD bằng văn bản được áp dụng cho các loại sau đây:
<small>HDLD không xác định thời hạn, HDLD xác định thời han từ đủ 01 tháng trởlên, HĐLĐ với người giúp việc gia đình, hoặc HĐLĐ với nhân viên phục vụ</small>
thương lượng băng ngôn ngữ mà không lập thành văn bản, quá trình giao kết
giao kết bằng lời nói, các bên đương nhiên phải tuân thủ pháp luật về giao kết HĐLĐ. BLLĐ năm 2019 quy định hai bên chỉ có thé giao kết HDLD băng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng.
<small>là HDLD khơng xác định thời hạn, HDLD có xác định thời hạn. Theo đó:</small>
<small>27</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">- HĐLĐ khơng xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên
- HĐLĐ xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định
Tuy nhiên trên thực tế, có những trường hợp khi hết thời hạn hợp đồng nhưng NLD vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời han 30 ngày kể từ ngày hợp đồng hết hạn, hai bên phải ký HDLD mới; trong thời gian chưa ký kết HDLD
HDLD xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó néu NLD vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết HDLD không xác định thời hạn, trừ các trường hợp HDLD đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước; HĐLĐ đối với NLD cao tuổi: HĐLĐ đối với NLD nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo Giấy phép lao động; trường hợp phải gia hạn HĐLĐ đã giao kết đến hết nhiệm kỳ cho NLD là thành viên ban lãnh đạo
nhưng có thé khái quát các bước trong trình tự giao kết HDLD như sau: - Đề nghị giao kết HĐLĐ
Theo quy định, HDLD được giao kết giữa NLD và NSDLD nên chủ thé đề nghị giao kết HDLD có thé là NLD và NSDLD. Các bên có thê trực tiếp
<small>hoặc thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm...</small>
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">NSDLD cũng có trách nhiệm cung cấp thơng tin trung thực cho NLD
giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, quy định về bảo vệ bí mật cơng nghệ, bí mật kinh doanh và các vấn đề liên quan trực
bản nhất về điều kiện, khả năng của mỗi bên. Trên thực tế, mức độ cung cấp thơng tin (đặc biệt là về phía NSDLĐ như về bí mật cơng nghệ kinh doanh...) cịn phụ thuộc vào quy chế của doanh nghiệp cũng như thoả thuận giữa tập thé lao động với NSDLD trong thoả ước lao động tập thé.
<small>- Dam phán, thương lượng nội dung HĐLĐ</small>
đồng) để hai bên cùng nhau thương lượng, thoả thuận. Việc thương lượng, thoả thuận của các bên trong giai đoạn này sẽ được tuân theo các nguyên tắc của việc giao kết HĐLĐ. Điều đó có nghĩa, các bên được quyền tự do và bình
thương lượng với nhau về các điều khoản ... .
Trong một số trường hợp trước khi giao kết HDLD, các bên còn có thé thoả thuận vấn đề thử việc nếu thấy cần thiết. Thời gian thử việc do hai bên thoả thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc. Cụ thê là
mơn kĩ thuật từ cao dang trở lên, không quá 30 ngày đối với cơng việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn trung cấp, công nhân kĩ thuật, nhân viên nghiệp vụ và không quá 6 ngày đối với các cơng việc khác
NLD nhiều lần, pháp luật thường quy định thử việc chỉ được thực hiện 1 lần
<small>đôi với một công việc.</small>
<small>29</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">Quyền lợi của NLD trong thời gian thử việc là do NLD và NSDLĐ
phải bằng 85% mức lương của cơng việc đó. Trong thời gian thử việc, mỗi
trường hợp thoả thuận thử việc trong HĐLĐ hoặc phải giao kết HĐLĐ đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc. Trường hợp thử việc không đạt yêu cau thi cham dứt HDLD đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.
nhất được với nhau những điều khoản trong HDLD, bước tiếp theo là các bên sẽ tiến hành giao kết HĐLĐ. Đối với HDLD giao kết bằng van bản thì đây chính là giai đoạn các bên ghi các điều khoản đã thoả thuận vào trong bản hợp
chính là giai đoạn các bên thống nhất lại với nhau một lần nữa các điều khoản
giao kết HDLD được coi là căn cứ pháp lí làm phát sinh quan hệ lao động.
HDLD được giao kết trực tiếp giữa NLD và NSDLD. Tuy nhiên, trong
nhóm dé giao kết HDLD. Trong trường hợp này, HĐLĐ phải được giao kết
người được ủy quyền giao kết phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, tuổi,
thé giao kết HDLD với nhiều NSDLĐ nhưng phải dam bảo thực hiện day đủ các nội dung đã giao kết.
<small>30</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">Dé bảo vệ NLD, pháp luật còn quy định những hành vi NSDLD không
tờ tuỳ thân, văn băng chứng chỉ của NLĐ; yêu cầu NLĐ phải thực hiện biện
buộc NLD thực hiện HDLD để trả nợ cho NSDLĐ (theo Điều 17 BLLĐ năm 2019). Đây là những biện pháp mà trên thực tế NSDLĐ hay áp dụng nhằm
<small>hiện là hồn tồn hợp lí [33].</small>
1.3.7. Thực trạng quy định về hợp đồng lao động vô hiệu
<small>hoặc tồn bộ.</small>
<small>HDLD vơ hiệu tồn bộ trong trường hợp: 1) Toàn bộ nội dung của</small>
HDLD vi phạm pháp luật: HDLD được giao kết trên cơ sở thỏa thuận giữa các
<small>nhưng phải đảm bảo thực hiện đúng theo quy định cua BLLD và pháp luật liên</small>
nguyện, bình dang, thiện chí, hợp tác và trung thực trong giao kết HĐLĐ.
2019. Vì vậy nếu không đáp ứng yêu cầu về người giao kết hợp đồng theo đúng đối tượng nêu trên, HDLD sẽ bị vô hiệu. Đồng thời, hợp đồng cũng sẽ bi vô hiệu nếu vi phạm các nguyên tắc giao kết; 3) Công việc đã giao kết trong HDLD là công việc mà pháp luật cắm.
phần khi nội dung của phần đó vi phạm pháp luật nhưng khơng ảnh hưởng
<small>31</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">đến các phan cịn lại của hợp đồng. Do đó chỉ nội dung bị vô hiệu bi mat hiệu
lực thực hiện các nội dung khác vẫn có giá trị hiệu lực thực hiện bình thường.
Trong trường hợp một phần hoặc toàn bộ nội dung của HDLD quy
quy lao động, thoả ước lao động tập thể đang áp dụng hoặc nội dung của HĐLĐ hạn chế các quyền khác của NLD thì một phần hoặc tồn bộ nội
<small>dung đó bị vô hiệu ...</small>
tuyên bố vô hiệu từng phan, NSDLD va NLD tiến hành sửa đổi, bỗ sung phan của HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu cho phù hợp với thỏa ước lao động tập thé và pháp luật. Nếu không thống nhất sửa đổi, bổ sung các nội dung đã bị tun bố
làm việc theo HDLD bị tuyên bố vô hiệu từng phần đến khi hợp đồng được sửa đổi, bổ sung thì được giải quyết theo thỏa ước lao động tập thé đang áp dụng (nếu không có thỏa ước thì thực hiện theo pháp luật). Trường hợp
lương cho đúng quy định, NSDLD sẽ hoàn trả phần tiền chênh lệch giữa tiền lương sau khi thỏa thuận lại với tiền lương trước đó. Quyền lợi của các bên trong trường hop cham dứt HDLD được giải quyết như trường hợp đồng ý
giải quyết. Thời gian làm việc theo HDLD bị tun bố vơ hiệu được tính là
<small>32</small>
</div>