Tải bản đầy đủ (.pdf) (127 trang)

Luận văn: NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA TRONG VỤ XUÂN, VỤ MÙA 2006 TẠI TUYÊN QUANG ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.05 MB, 127 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM



NGUYỄN THỊ THẮNG



"NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT
TRIỂN, VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LÚA
TRONG VỤ XUÂN, VỤ MÙA 2006
TẠI TUYÊN QUANG"



Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số : 60.62.01



LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lương Văn Hinh








THÁI NGUYÊN - 2007
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng những số liệu và kết quả nghiên cứu trong
luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề sử dụng để bảo vệ một học
vị nào. Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn chỉnh luận văn này đều đã được tác
giả cảm ơn. các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đều đã được
ghi rõ nguồn gốc./.

Tác giả

Nguyễn Thị Thắng













Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Lời cảm ơn


Trong quá trình thực hiện đề tài " Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng,
phát triển của một số giống lúa tại Tuyên Quang ở vụ Xuân, vụ Mùa năm
2006". Tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của tập thể cán bộ, giáo viên
Khoa sau Đại học giáo viên giảng dạy chuyên ngành của các bộ môn trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trại Trường trường THKT - KT - Tuyên
Quang, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập.
Đặc biệt là sự quan tâm sâu sát, giúp đỡ tận tình chu đáo của thầy giáo
PGS. TS. Lương Văn Hinh - Người hướng dẫn khoa học đã giúp đỡ tôi hoàn
thành công trình khoa học này.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới tất cả các
thầy giáo, cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan đã giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn./.

Tác giả

Nguyễn Thị Thắng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC

Mở đầu
Trang
1. Đặt vấn đề
1
2. Mục tiêu của đề tài
3
3. Yêu cầu của đề tài
3

Chương 1: Tổng quan đề tài
4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
4
1.2. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và Việt Nam
6
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
6
1.2.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
9
1.3. Tình hình nghiên cứu lúa trong và ngoài nước
14
1.3.1. Tình hình nghiên cứu lúa trên thế giới
14
1.3.1.1. Thu thập nguồn gen cây lúa và ứng dụng trong sản xuất
14
1.3.1.2. Tình hình nghiên cứu giống lúa có chất lượng trên thế giới
17
1.3.2. Tình hình nghiên cứu lúa trong nước
20
1.3.2.1. Sự đa dạng di truyền lúa Việt Nam và khu vực Đông Nam Á
20
1.3.2.2. Thu thập nguồn gen cây lúa Việt Nam
22
1.3.2.3. Tình hình nghiên cứu các giống lúa ở Việt Nam
24
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
29
2.1.Nội dung nghiên cứu
29

2.2.Vât liệu nghiên cứu
29
2.3. Phương pháp bố trí thí nghiệm
31
2.3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm
31
2.3.2. Định điểm theo dõi và thời gian theo dõi
33
2.4. Điều kiện thí nghiệm
33
2.4.1. Đất thí nghiệm
33
2.4.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
33
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.4.3.Tình hình cơ bản của Trại Trường - Trường THKTKT- Tuyên Quang
33
2.5. Kỹ thuật sản xuất
34
2.5.1. Lượng phân bón cho ruộng cấy
34
2.5.2. Gieo cấy và chăm sóc
34
2.6. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
34
2.6.1. Chỉ tiêu chất lượng mạ
35
2.6.2. Chỉ tiêu theo dõi giai đoạn sau cấy
35
2.6.3. Một số đặc điểm hình thái của các giống lúa

35
2.6.4. Các chỉ tiêu năng suất
36
2.6.5. Tính chống chịu
37
2.6.6. Các chỉ tiêu về sâu bệnh hại
38
2. 7. Chất lượng giống xây dựng mô hình
40
2.8. Phương pháp xử lý số liệu
40
Chương 3: Kết quả và thảo luận
41
3.1. Đặc điểm thời tiết khí hậu vụ xuân và vụ mùa năn 2006 tại
Tuyên Quang
41
3.1.1. Nhiệt độ
41
3.1.2. Lượng mưa
42
3.1.3. Ẩm độ không khí
43
3.1.4. Số giờ nắng
43
3.2. Kết quả nghiên cứu các giống lúa vụ xuân năm 2006
43
3.2.1. Tình hình sinh trưởng của mạ
43
3.2.2. Khả năng đẻ nhánh của các giống
46

3.2.3. Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng
49
3.2.4. Một số đặc điểm hình thái của các giống lúa thí nghiệm
53
3.2.5. Năng suất lý thuyết và các yếu tố cấu thành năng suất
55
3.2.6. Năng suất thực thu
65
3.2.7. Một số chỉ tiêu khác
68
3.2.8. Khả năng chống chịu của các giống lúa
70
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3.2.9. Nhận xét tổng quát
73
3.3. Kết quả nghiên cứu các giống lúa vụ mùa năm 2006
75
3.3.1. Tình hình sinh trưởng của mạ
76
3.3.2. Khả năng đẻ nhánh
79
3.3.3. Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng
81
3.3.4. Một số đặc điểm hình thái của các giống lúa thí nghiệm
84
3.3.5. Năng suất lý thuyết và các yếu tố cấu thành năng suất
85
3.3.6. Năng suất thực thu
94
3.3.7. Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu ngoài đồng

96
3.3.8. Các chỉ tiêu về sâu bệnh
97
3.3.9. Nhận xét tổng quát
99
3.3.10. Xây dựng mô hình sản xuất một số giống lúa triển vọng tại
Trại Trường THKT - KT Tuyên Quang
101
3.4.1. Xây dựng mô hình
101
3.4.2. Đánh giá chất lượng cơm của các giống lúa trong mô hình
103
Kết luận và đề nghị
105
1. Kết luận
105
2. Đề nghị
107
Tài liệu tham khảo
116
1. Tiếng việt
116
2. Tiếng Anh
119

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NSLT
: Năng suất lý thuyết

NSTT
: Năng suất thực thu
đ/c
: Đối chứng
TGST
: Thời gian sinh trưởng
CV
: Hệ số biến động
LSD
: Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
CMS
: Bất dục đực tế bào chất
TGMS
: Bất dục đực chức năng di truyền nhân phản ứng với nhiệt độ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của toàn thế giới trong vài
thập kỷ gần đây 7
Biểu 1.2. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của 10 nước có sản lợng lúa
hàng đầu thế giới 8
Biểu 1.3. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt nam trong mấy thập
kỷ gần đây 10
Biểu 1.4. Dự báo triển vọng lúa gạo Việt Nam thời kỳ 2006 – 2010…… 12
Biểu 3.1. Diễn biến thời tiết khí hậu ở tỉnh Tuyên Quang năm 2006 41
Bảng 3.1. Tình hình sinh trưởng của mạ 44
Bảng 3.2. Kết quả đẻ nhánh của các giống lúa vụ xuân 47
Bảng 3.3. Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng 50
Bảng 3.4. Đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm 54
Bảng 3.5. Năng suất lý thuyết và các yếu tố cấu thành năng suất vụ xuân 2006 56

Bảng 3.6. Mức độ biến động (CV%) của các giống vụ xuân… 62
Bảng 3.7. Năng suất thực thu của các giống lúa tham gia thí nghiệm 66
Bảng 3.8. Một số chỉ tiêu khác của các giống lúa thí nghiệm 68
Bảng 3.9. Mức độ nhiễm sâu, bệnh và chịu lạnh của các giống lúa thí ghiệm 71
Bảng 3.10. Tình hình sinh trưởng của mạ 76
Bảng 3.11. Khả năng đẻ nhánh của các giống lúa vụ mùa 79
Bảng 3.12. Các thời kỳ và giai đoạn sinh trưởng của các giống lúa thí nghiệm… 81
Bảng 3.13. Đặc điểm hình thái của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 84
Bảng 3.14.Năng suất lý thuyết và các yếu tố cấu thành năng suất vụ mùa 2006 86
Bảng 3.15. Mức độ biến động (CV%) của các giống lúa thí nghiệm 91
Bảng 3.16. Năng suất thực thu của các giống lúa thí nghiệm 94
Bảng 3.17. Một số chỉ tiêu khác của các giống lúa thí nghiệm 96
Bảng 3.18. Khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống lúa 98
Bảng 3.19. Kết qủa xây dựng mô hình của một số giống lúa có triển vọng ở
vụ mùa năm 2006……………………… ……………………………….102
Bảng 3.20. Chất lượng cơm của các giống lúa trong mô hình……………103
Bảng 3.21. Chỉ tiêu chất lượng của một số giống lúa trong mô hình…… 104

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Lúa có tầm quan trọng sống còn đối với hơn một nửa dân số thế giới.
Nó là loại lương thực chủ yếu hiện nay trong bữa ăn của hàng tỷ người ở
Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, khu vực Trung Đông và trong tương lai
nó vẫn sẽ là loại lương thực hàng đầu của họ.
Lúa gạo là cây lương thực quan trọng đứng hàng thứ hai của thế giới,
nhưng lại là lương thực chủ yếu của các nước châu Á. Để phát triển sản xuất
lúa trong khi diện tích sản xuất có hạn phải tập chung thâm canh trên cơ sở
ứng dụng những biện pháp khoa học công nghệ mới để tăng năng suất trên

đơn vị diện tích.
Trong những năm trước đổi mới, nước ta là quốc gia triền miên thiếu
lương thực. Năm 1986 cả nước sản xuất đạt 18,37 triệu tấn lương thực, sang
năm 1987 lại giảm chỉ còn 17,5 triệu tấn, trong khi dân số tăng thêm 1,5 triệu
người/năm. ở miền Bắc, mặc dù Nhà nước đã phải nhập khẩu 1,28 triệu tấn để
thêm vào cân đối lương thực, nhưng vẫn không đủ, vẫn có đến 9,3 triệu người
thiếu ăn, trong đó có 3,6 triệu người bị đói gay gắt. Trong thời kỳ đổi mới
(1986 - 2005), nông nghiệp nước ta đã khởi sắc nhờ có đường lối đúng đắn
của Đảng và Nhà nước. Từ năm 1989 chúng ta đã giải quyết được vấn đề
lương thực, thoả mãn nhu cầu lương thực trong nước và bắt đầu tham gia thị
trường xuất khẩu gạo thế giới. Đến nay, Việt nam là nước xuất khẩu gạo lớn
thứ hai thế giới (trên 4 triệu tấn/năm). Đạt được những thành tựu trên là kết
quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm đổi mới cơ chế, chính sách cùng các
giải pháp quan trọng khác như tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất
nông nghiệp (thủy lợi, giao thông, điện, phân bón ), áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu mùa vụ và đặc biệt là sử dụng các
giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt là yếu tố quan trọng góp phần tạo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
nên thành tựu chung trong sự phát triển sản xuất nông nghiệp nước ta thời
gian qua. Yếu tố đóng góp của khoa học và công nghệ cho việc nâng cao năng
suất, chất lượng và tính cạnh tranh của nông sản Việt Nam ngày càng được
khẳng định rõ nét trong thời kỳ đổi mới.
Chương trình thực nghiệm phát triển sản xuất lúa lai của Việt Nam đã
có những thành công bước đầu, về diện tích phát triển 0,6 triệu ha, năng suất
bình quân đạt 65 tạ/ha, năng suất tăng so với lúa thường khoảng 20- 30% ở
những vùng có điều kiện sinh thái phù hợp. Phát triển sản xuất lúa bằng việc
ứng dụng thành tựu mới về khoa học kỹ thuật sử dụng ưu thế lai đang trở
thành một trong những phương hướng quan trọng để phát triển sản xuất, nâng

cao hiệu quả nghề trồng lúa của Việt Nam. Các nhà khoa học Việt Nam đang
tập trung lực lượng để tự nghiên cứu lúa lai bằng tổ hợp đã có, và có thêm
những tổ hợp mới có năng suất và chất lượng cao, tính thích ứng rộng.
Chúng ta đã xây dựng được quy trình chọn và nhân dòng bất dục đực
CMS, TGMS trong sản xuất lúa lai. Giống lúa lai Việt Nam đầu tiên được
công nhận: VL20 và một số giống được công nhận tạm thời như HYT 83,
TH3-3. Giống mẹ BoA- 84 và các dòng bố Trắc 64-5, Quế 99-46 được công
nhận giống quốc gia trong năm 2004.
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nằm ở vùng Đông Bắc của Việt
Nam với tổng diện tích đất tự nhiên là 5.860 km
2
. Dân số năm 2006, theo số
liệu thống kê của tỉnh là 737.000 người, gồm 22 dân tộc anh em cùng chung
sống. Mật độ dân số bình quân 87 người/km
2
. Diện tích lúa cả năm đạt 45.468
ha tập trung chủ yếu ở các huyện Yên Sơn, Sơn Dương, Chiêm Hoá và Thị xã
Tuyên Quang chiếm tới 72% diện tích toàn tỉnh với điều kiện thời tiết khí hậu
thuận lợi, nhiệt độ trung bình dao động từ 18,6 - 29,5
0
C, ẩm độ trung bình 79
- 86%, lượng mưa hàng năm cao, các nguồn nước tưới tiêu chủ động. Năm
2006 bình quân lương thực đầu người đạt 420 kg/người/năm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Tuyên Quang hiện nay đã ổn định về lương thực với sản lượng 134.570 tấn
thóc chưa kể màu. Trong đó lúa vụ xuân diện tích 19.205 ha, năng suất 66,1
tạ/ha, vụ mùa 26.263 ha năng suất bình quân là 62,4 tạ/ ha. Sở dĩ đạt được kết
quả trên là nhờ công tác khuyến nông đã đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật

mới vào sản xuất đặc biệt là công tác giống. Những năm gần đây tại tỉnh đã
có một số giống lúa năng suất cao như lúa thuần KD18, CR203. Lúa lai như
Nhị ưu 63, tạp giao 1, Nhị ưu 838. Lúa chất lượng như Hương Thơm số 1,
Bắc thơm số 7
Nhiệm vụ của công tác giống cây trồng là phải làm thế nào trong thời
gian ngắn nhất tạo ra được những giống cây trồng mới có năng suất cao,
phẩm chất tốt ổn định, khả năng chống chịu tốt với điều kiện bất thuận, đáp
ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp và của nền kinh tế quốc dân. Tiến
hành thí nghiệm các giống mới đưa ra sản xuất để bổ xung vào cơ cấu giống
của tỉnh, là nhiệm vụ rất quan trọng. Do vậy chúng tôi thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất của một số giống
lúa trong vụ xuân và vụ mùa năm 2006 tại Tuyên Quang".
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, của một số giống lúa gieo
cấy ở vụ xuân và vụ mùa tại Tuyên Quang.
- Đánh giá khả năng chống chịu sâu, bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm.
- Chọn ra được những giống có khả năng thích ứng, cho năng suất cao,
ổn định gieo trồng tại Tuyên Quang.
3. YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển và khả năng
thích ứng của giống lúa tham gia thí nghiệm.
- Đánh giá khả năng chống chịu sâu, bệnh hại của các giống lúa thí nghiệm.
- Bước đầu đánh giá được tiềm năng về năng suất của các giống tham
gia thí nghiệm.
- Xây dựng được mô hình những giống lúa triển vọng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI

1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Lúa gạo là nguồn lương thực quan trọng cho khoảng 3 tỷ người trên thế
giới. Trong khi dân số thế giới tiếp tục tăng thì diện tích đất dùng cho trồng
lúa lại không tăng. Do đó vấn đề lương thực được đặt ra như một mối đe doạ
đến sự an ninh và ổn định của thế giới trong tương lai. Theo dự đoán của các
chuyên gia dân số học, nếu dân số thế giới tiếp tục tăng trong vòng 20 năm
tới, thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng đủ nhu cầu sống còn
của cư dân mới.
"Tốt giống, tốt má, tốt mạ, tốt lúa" đó là câu nói mà cha ông ta đã đúc
rút để khẳng định vai trò quan trọng của giống cây trồng. Trong ngành trồng
trọt thì giống cây trồng chính là yếu tố quan trọng trong việc năng cao hiệu
quả năng suất, kinh tế, giảm chi phí sản xuất, góp phần tăng sản lượng và chất
lượng cây trồng.
Giống cây trồng là khâu quan trọng nhất trong sản xuất trồng trọt. Đặc
tính của giống, yếu tố môi trường và kỹ thuật canh tác quyết định đến năng
suất. Kiểu gen tốt chỉ được biểu hiện trong một phạm vi nhất định của môi
trường. những giống được so sánh qua một loạt môi trường thì biểu hiện năng
suất thường khác nhau. Vì vậy, tính ổn định và thích nghi của giống với môi
trường thường được sử dụng để đánh giá giống.
Giống cây trồng nói chung và giống lúa nói riêng trong sản xuất chưa
bao giờ đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất, hầu hết các nước trên thế giới đều
nghiên cứu giống. Viện nghiên cứu lúa quốc tế International Rice Research
Institute (IRRI) đã có chương trình nghiên cứu lâu dài về lúa, các vấn đề về
chọn giống, tạo giống nhằm đưa ra những giống có đặc trưng chính như: thời
gian sinh trưởng, tính chống bệnh, sâu hại, chất lượng gạo, tính mẫn cảm với
quang chu kỳ thích hợp nhất với những vùng trồng lúa khác nhau…vv

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
Giống lúa mới được coi là tốt thì phải có độ thuần cao, thể hiện đầy đủ các

yếu tố di truyền của giống đó, khả năng chống chịu tốt với các điều kiện ngoại
cảnh bất thuận của từng vùng khí hậu, đồng thời chịu thâm canh, kháng sâu bệnh
hại, cho năng suất cao, phẩm chất tốt và ổn định qua nhiều thế hệ. Muốn phát
huy hết tiềm năng năng suất của một giống tốt đó phải sử dụng chúng hợp lý,
phù hợp với đất đai, điều kiện khí hậu, kinh tế xã hội của vùng đó.
Các giống khác nhau có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở
mỗi vùng khác nhau. Do đó để xác định được một số giống tốt cho từng vùng
sản xuất nông nghiệp là việc làm cần thiết và đòi hỏi có thời gian. Bởi vậy
việc xác định tính thích nghi của một giống mới trước khi đưa ra sản xuất trên
diện rộng thì giống đó phải được trồng ở những vùng sinh thái khác nhau.
Mục đích là để đánh giá tính khác biệt, độ đồng đều, tính ổn định, khả năng
thích ứng, khả năng chống chịu sâu bệnh cũng như điều kiện bất thuận và khả
năng cho năng suất chất lượng, hiệu quả kinh tế của giống đó.
Giống là tiền đề của năng suất và phẩm chất. Một giống lúa tốt cần thoả
mãn một số yêu cầu:
+ Sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện khí hậu đất đai và điều kiện
canh tác tại địa phương.
+ Cho năng suất cao ổn định qua các năm khác nhau trong giới hạn của
biến động thời tiết.
+ Có tính chống chịu tốt với sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận.
+ Có chất lượng đáp ứng với yêu cầu sử dụng.
Tất cả các giống lúa trước khi đưa ra khuyến cáo sản xuất đại trà cần
phải qua khảo nghiệm và khu vực hoá.
Từ điều kiện thực tế địa phương, Tuyên Quang là tỉnh miền núi có tiểu
vùng khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ, có hai mùa
rõ rệt hệ thống thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh trình độ dân trí cao, thuận lợi

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
cho việc phát triển vùng chuyên canh các giống lúa lai, giống lúa chất lượng

cao tham gia vào thị trường. Do đó trong những năm gần đây, một số giống
lúa tẻ thơm như Hương thơm số 1, Tám thơm, Bắc thơm số 7, Nếp cái Hoa
vàng; nhóm lúa lai: Nhị ưu 63, Nhị ưu 838, Bắc ưu 903, Việt lai 20 đã được
đưa vào gieo trồng ở trong tỉnh với diện tích năm sau cao hơn năm trước. Tuy
nhiên cũng cần phải nghiên cứu bổ sung một số giống lúa mới có năng suất
cao, chất lượng tốt vào sản xuất nhằm đa dạng cơ cấu giống lúa góp phần tăng
năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế sản xuất lúa.
1.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Cây lúa thuộc họ hoà thảo (Poaceae hay Graminae). Lúa trồng phổ
biến hiện nay có tên khoa học là Oryza sativa L, được thuần hoá từ cây lúa
dại, trải qua một quá trình chọn lọc, biến đổi lâu dài mà tạo nên loài lúa trồng
như hiện nay. Mặc dù còn nhiều bất đồng về nguồn gốc xuất xứ của cây lúa
nhưng đa số ý kiến đều cho rằng tổ tiên cây lúa có nguồn gốc ở khu vực Vân
Nam (Trung Quốc) và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Các tiêu bản lúa
dại và di chỉ khảo cổ đã chứng minh điều đó. Việt Nam có vinh dự được coi là
cái nôi của nền văn minh lúa nước. Hiện nay trên thế giới có trên 100 nước
trồng lúa hầu hết các châu lục, với tổng diện tích thu hoạch là 153,8 triệu ha
(IRRI, 1996) [12]. Tuy nhiên sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước
châu Á nơi chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng (FAOSTAT 2006)
[32]. Trong đó Ấn Độ là nước có diện tích thu hoạch lúa lớn nhất (khoảng 43
triệu ha), tiếp đến là Trung Quốc (khoảng 29 triệu ha) (Ghosh, R.L, 1998) [34].
Theo FAOSTAT (2006) [32] bảng 1.1 ta thấy về diện tích canh tác lúa
có xu hướng tăng. Song tăng mạnh nhất là vào các thập kỷ 60, 70 sau đó tăng
chậm dần và có xu hướng ổn định vào những năm đầu của thế kỷ 21. Về năng
suất lúa trên đơn vị diện tích cũng có chiều hướng tương tự. Trong 4 thập kỷ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
cuối của thế kỷ 20 năng suất lúa tăng gấp 2 lần từ: 18,7 tạ/ha năm 1961 lên

38,9 tạ/ha năm 2000, sau đó năng suất lúa vẫn tăng nhưng chậm dần. Điều đó
có thể lý giải là do giai đoạn từ 1961 - 2000 cuộc cách mạng xanh về giống
lúa, kỹ thuật canh tác lúa có nhiều cải tiến, phân hoá học và thuốc trừ sâu,
bệnh được sử dụng phổ biến.
Biểu 1.1. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của toàn thế giới
trong vài thập kỷ gần đây
Năm
Diện tích
( triệu ha )
Năng suất
( Tạ/ha)
Sản lƣợng
( Triệu tấn)
1961
115,50
18,7
215,65
1970
133,10
23,8
316,38
1980
144,67
27,4
396,87
1990
146,98
35,3
518,23
2000

154,11
38,9
598,97
2001
151,97
39,4
598,03
2002
147,69
39,1
577,99
2003
149,20
39,1
583,00
2004
151,02
40,3
608,37
2005
153,78
40,2
618,53
( Nguồn: FAOSTAT, 2006)[32]
Sang những năm đầu của thế kỷ 21, người ta có xu hướng hạn chế sử
dụng các chất hoá học tổng hợp trong thâm canh lúa, chú trọng chỉ tiêu chất
lượng hơn là số lượng làm cho năng suất lúa có xu hướng chững lại hoặc tăng
chút ít. Tuy nhiên, ở những nước có nền khoa học kỹ thuật phát triển, năng
suất lúa vẫn cao hơn hẳn. Để dễ hình dung hơn chúng ta hãy quan sát số liệu
thống kê của 10 nước có sản lượng lúa hàng đầu trên thế giới (biểu 1.2)

(FAOSTAT, 2006)[32].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Theo số liệu của biểu 1.2 thì trong 10 nước trồng lúa có sản lượng trên
10 triệu tấn/ năm đã có 9 nước nằm ở châu Á, chỉ có một đại diện của châu
khác đó là Braxin (Nam Mỹ). Trung Quốc và Nhật Bản là 2 nước có năng
suất cao hơn hẳn đạt 63,3 tạ/ha (Trung Quốc) và 65,4 tạ/ha (Nhật Bản). Điều
đó có thể lý giải là vì Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh vực phát
triển lúa lai và người dân nước này có tinh thần lao động cần cù, có trình độ
thâm canh cao (ICARD 2003)[11]. Còn Nhật Bản là nước có trình độ khoa
học kỹ thuật cao, đầu tư lớn (Nguyễn Hữu Hồng, 1993) [9]. Việt Nam ta cũng
là nước có năng suất lúa cao đứng hàng thứ 3 trong 10 nước trồng lúa chính
đạt 49,5 tạ/ha (Vũ Tuyên Hoàng, 1998) [8]. Thái Lan tuy là nước xuất khẩu
gạo đứng hàng đầu thế giới trong nhiều năm liên tục, song năng suất chỉ đạt
26,5 tạ/ha, bởi vì Thái Lan chú trọng nhiều hơn đến canh tác các giống lúa dài
ngày, chất lượng cao Bùi Huy Đáp, (1999)[3].
Biểu 1.2. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của 10 nƣớc có sản
lƣợng lúa hàng đầu thế giới
Tên nƣớc
Diện tích
( Triệu ha)
Năng suất
( Tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)
Trung Quốc
29,30
63,3
185,45

Ấn Độ
43,70
30,0
129,00
Inđônêxia
11,80
45,7
53,98
Băngladesh
11,00
36,4
40,05
Việt Nam
7,34
49,5
36,34
Thái Lan
10,20
26,5
27,00
Myanma
6,27
39,1
24,50
Philippin
4,12
36,0
14,80
Braxin
3,94

33,4
13,14
Nhật Bản
1,68
65,4
10,99
(Nguồn: FAO STAT.2006) [32]

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Theo dự báo của các nhà khoa học thì sản lượng lúa sẽ tăng chậm và có
xu hướng chững lại vì diện tích trồng lúa ngày càng thu hẹp do tốc độ đô thị
hoá gia tăng (Beachel, H.M 1972) [29]. Giá lúa tăng chậm trong khi đó giá
vật tư đầu vào tăng cao không khuyến khích nông dân trồng lúa, hệ số sử
dụng ruộng đất khó có thể tăng cao hơn nữa (ví dụ ở Việt Nam nhiều nơi đã
trồng tới 3 vụ lúa/năm), nông dân chuyển diện tích trồng lúa sang trồng các
cây khác và nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang
trồng các giống lúa có chất lượng cao mặc dù năng suất thấp hơn.
1.2.2. Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Việt nam là một nước trồng lúa trọng điểm trên thế giới, người Việt
Nam vẫn thường tự hào về nền văn minh lúa nước của đất nước mình. Từ xa
xưa cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu, có ý nghĩa quan trọng trong
đời sống của người dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999)[3]. Suốt từ Bắc đến
Nam, đâu đâu cũng thấy người dân trồng lúa, song diện tích tập trung chủ yếu
ở hai vùng châu thổ lớn đó là Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu
Long. Quá trình khai hoang phục hoá cùng với việc thâm canh tăng vụ đã đưa
tổng diện tích lúa thu hoạch của nước ta từ 4,74 triệu ha năm 1961 lên 7,67
triệu ha năm 2000, sau đó giảm dần xuống còn 7,34 triệu ha vào năm 2003
(Nguyễn Thị Lẫm và cộng sự 2003)[14]. Cùng thời gian đó năng suất và sản
lượng lúa cũng tăng lên rõ rệt nhờ vào công cuộc cải cách về giống lúa và ứng

dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật về phân bón, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh
một cánh hợp lý, đồng bộ. Tính từ năm 1961 đến năm 2005, năng suất lúa của
nước ta đã tăng lên 2,8 lần. Giai đoạn tăng cao nhất là từ thập kỷ 80 đến nay.
Điều này gắn liền với các tiến bộ mới trong thâm canh tăng năng suất lúa
được ứng dụng rộng rãi, trong thời gian này và điều quan trọng hơn là việc
chuyển đổi cơ chế quản lý đất đai, từ cơ chế hợp tác sang tư nhân hoá, lấy hộ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ đã khuyến khích người dân đầu tư, thâm canh
sản xuất lúa. Sản lượng lúa của Việt Nam cũng vì thế mà tăng liên tục, từ 9,0
triệu tấn năm 1961 lên 36,34 triệu tấn năm 2005 (biểu 1.3). Từ một nước thiếu
ăn, phải nhập khẩu gần 2 triệu tấn gạo/năm trước đây, Việt Nam đã vươn lên
giải quyết an ninh lương thực cho 83 triệu dân ngoài ra còn xuất khẩu một
lượng gạo lớn ra thị trường thế giới. Hiện tại nước ta đứng hàng thứ 2 trên thế
giới (sau Thái Lan) về lượng gạo xuất khẩu, đạt 5,25 triệu tấn năm 2005. Đây
là điều thần kỳ không những ở Việt Nam mà còn là của thế giới.
Biểu 1.3. Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa của Việt Nam
trong mấy thập kỷ gần đây
Năm
Diện tích
( Triệu ha)
Năng suất
( Tạ/ha)
Sản lƣợng
(Triệu tấn)
1961
4,74
19,0
9,00

1970
4,72
21,5
10,17
1980
5,60
20,8
11,65
1990
6,04
31,8
19,23
2000
7,67
42,4
32,53
2001
7,49
42,9
32,11
2002
7,50
45,9
34,45
2003
7,45
46,4
34,57
2004
7,44

48,2
35,89
2005
7,34
49,5
36,34
(Nguồn FAOSTAT, 2006) [32]
Nhìn chung ngành sản xuất lúa của nước ta đến nay đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng. Tuy nhiên một điều đáng chú ý là trong những năm gần

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
đây, ngược lại với quá trình khai hoang phục hoá trong mấy thập kỷ trước thì
quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá đã và đang làm giảm đáng kể diện tích
đất nông nghiệp nói chung và dành cho sản xuất nói riêng. Vì thế mặc dù việc
thâm canh tăng vụ rất được chú trọng, song tổng diện tích lúa thu hoạch hàng
năm trong khoảng thời gian từ 2001 - 2005 đang giảm dần. Nếu so với năm
2000 thì diện tích lúa của nước ta đã giảm tới 330.000 ha. Ngoài ra nếu so
sánh với các nước trồng lúa tiên tiến như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Đài Loan thì năng suất lúa của Việt Nam vẫn còn kém xa (Itoh và cộng sự
2000) [37]. Vì thế để đảm bảo an ninh lương thực cho một quốc gia đông dân
cư như nước ta và giữ vững vị thế là một nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế
giới thì điều kiện cần thiết là phải tiếp tục đầu tư thâm canh tăng vụ, lai tạo và
nhập khẩu các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, chống chịu tốt với
sâu, bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất lợi. Để nâng cao giá trị xuất khẩu, Nhà
nước Việt Nam cũng đã có chiến lược phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao
phục vụ cho công tác xuất khẩu (Báo Nhân Dân ngày 02/06/2004) [17].
Trước đây chúng ta mới chú trọng vào khâu số lượng nhằm nhanh
chóng giải quyết sự thiếu hụt về lương thực. Tuy nhiên khi chúng ta cơ bản đã
giải quyết vấn đề an ninh lương thực và có dư thừa xuất khẩu vơí số lượng

lớn trong 17 năm liên tục (tính đến năm 2006). Thị trường xuất khẩu gạo mở
rộng do Việt Nam là thành viên của WTO và uy tín lúa gạo Việt Nam trên thị
trường thế giới được cải thiện. Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế thế giới và
khu vực, bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở
rộng thị trường xuất khẩu. Trong khi đó nhu cầu gạo trên thị trường thế giới
và khu vực 5 năm tới dự báo vẫn tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng, như
Indonesia, philippin, Nhật Bản và Việt Nam đã có sự phối hợp trong các hoạt
động xuất khẩu gạo giữa 2 nước trên thị trường thế giới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
Biểu 1.4. Dự báo triển vọng lúa gạo Việt Nam thời kỳ 2006 - 2010
Chỉ tiêu
ĐVT
2006
2007
2008
2009
2010
Diện tích gieo cấy lúa
Nghìn ha
7320
7315
7313
7307
7304
Năng suất bình quân 1 vụ
Tạ/ha
49,0
49,6

51,1
52,7
54,9
Sản lượng cả năm
Triệu tấn
35,90
36,32
37,41
38,55
40,10
Lượng gạo xuất khẩu
Triệu tấn
5,0
5,1
5,2
5,4
5,5
Các điều kiện cơ bản của sản xuất lúa đến năm 2010 của Việt Nam là:
Đất, nước, phân bón, giống, khoa học công nghệ, thị trường tiêu thụ gạo khá
đảm bảo. Sản lượng phân bón sản xuất trong nước đang tăng dần do các nhà
máy sản xuất phân đạm Phú Mỹ đã đi vào hoạt động, sắp tới công trình khí-
điện-đạm Cà Mau sẽ đi vào hoạt động cùng với các nhà máy phân lân, supe
phôt phát tăng công suất đảm bảo ổn định nguồn cung cấp trong nước; ứng
dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là giống mới vào sản xuất để
thực hiện các biện pháp thâm canh lúa nhằm tăng năng suất và chất lượng,
giảm chi phí trung gian, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm lúa gạo trên thị
trường; Tổ chức quản lý nông nghiệp không ngừng đổi mới và hoàn thiện
theo hướng phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân, tăng cường sự hỗ
trợ của nhà nước, phù hợp với yêu cầu sản xuất hàng hoá gắn với xuất khẩu
gạo khi Việt Nam gia nhập WTO; Thị trường xuất khẩu gạo mở rộng do Việt

Nam là thành viên của WTO và uy tín lúa gạo Việt Nam trên thị trường thế
giới được cải thiện. Quá trình hội nhập sâu vào kinh tế thế giới và khu vực,
bên cạnh thách thức, lúa gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội để mở rộng thị
trường xuất khẩu. Trong khi đó nhu cầu gạo trên thị trường và khu vực 5 năm
tới dự báo vẫn tiếp tục sôi động do cầu vẫn tăng, như Indonesia, Philippin,
Nhật Bản. Những năm gần đây, hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan và Việt Nam
đã có sự phối hợp trong các hoạt động xuất khẩu gạo giữa 2 nước trên thị
trường thế giới và khu vực, cũng tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi nước.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Thách thức sắp tới Việt Nam sẽ là thành viên của WTO nên thị trường
nông sản nói chung, thị trường lúa gạo Việt Nam nói riêng sẽ mở rộng cửa
cho hàng nhập khẩu từ các nước. Hàng rào thuế quan và sự bảo hộ của Nhà
nước đối với sản xuất và xuất khẩu gạo sẽ hạn chế và tiến tới bãi bỏ. Gạo Thái
Lan, Mỹ, Trung Quốc, Pakistan… và các nước khác có chất lượng cao, giá rẻ
hơn sẽ tràn vào thị trường Việt Nam với thuế nhập khẩu không đáng kể. (94%
hàng hoá Mỹ nhập vào Việt Nam hưởng thuế suất 15%, trong đó hàng lương
thực gạo, ngô không đáng kể). Do đó lúa gạo Việt Nam phải chịu sức ép cạnh
tranh gay gắt ngay trên sân nhà, trong khi đó cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ
sản xuất, chế biến gạo của ta còn non kém.
Dân số vẫn tăng nhanh, đất lúa có hạn, năng suất lúa nhiều vùng, nhất
là vùng Đồng bằng sông Hồng, đã chạm trần nên khả năng tăng năng suất là
hạn chế. Trong khi đó tập quán sản xuất nhỏ, quy mô gia đình, tự cung tự cấp,
chạy theo năng suất, xem nhẹ chất lượng gạo vẫn phổ biến trong hầu hết các
hộ trồng lúa của các vùng, trình độ dân trí, khoa học công nghệ, kiến thức thị
trường của nông dân trồng lúa vẫn còn thấp.
Vì thế chiến lược sản xuất lúa của Việt Nam trong thời gian tới là: phấn
đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 40 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản
xuất các giống lúa có chất lượng cao, dành 1 triệu ha để sản xuất lúa phục vụ

mục tiêu xuất khẩu, duy trì sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm từ 4-5 triệu
tấn. Để đạt mục tiêu này một mặt chúng ta phải đẩy mạnh đầu tư (phân bón,
thuốc trừ cỏ, thuốc trừ sâu, bệnh, thuỷ lợi, cơ giới hoá…) chuyển đổi cơ cấu
giống theo hướng năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với các loại sâu,
bệnh hại chính. Như vậy việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các
loại giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu của sản xuất là một
nhiệm vụ sống còn và phải đặt thành chương trình cấp quốc gia và phải huy
động cả "4 nhà" (Nhà nước, nhà Khoa học, nhà Nông và nhà Doanh nghiệp)
cùng tham gia thì mới hy vọng đạt kết quả như mong đợi.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LÚA TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC
1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.3.1.1. Thu thập nguồn gen cây lúa và ứng dụng trong sản xuất
Trên thế giới người ta quan tâm đến việc bảo tồn nguồn gen nói chung,
và nguồn gen cây lúa nói riêng từ những thập kỷ trước đây. Ngay từ những
năm 1924 Viện nghiên cứu cây trồng Liên Xô (cũ) đã được thành lập, nhiệm
vụ chính là thu nhập và đánh giá bảo tồn nguồn gen cây trồng. Tổ chức
Lương thực và nông nghiệp Thế giới (FAO) đã tổng hợp các kết quả nghiên
cứu và đề ra phương hướng thúc đẩy việc xây dựng ngân hàng gen phục vụ
cho việc giữ gìn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ lợi ích lâu dài của nhân
loại. Trong vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới đã hình thành nhiều tổ chức quốc tế,
đảm nhận việc thu thập tập đoàn giống trên thế giới đồng thời cung cấp nguồn
gen để cải tạo giống lúa trồng (Trần Đình Long 1992) [16].
* Sự đa dạng về khí hậu và địa lý
Khu vực Đông Nam Châu Á được xem là khu vực giàu có nhất thế giới
về tài nguyên di truyền thực vật bao gồm cả các loài cây ôn đới nhưng nguyên
nhân lịch sử, địa lý xã hội sau đây tạo nên sự đa dạng tài nguyên di truyền
thực vật nói chung và cây lúa nói riêng.

+ Về lịch sử, thời xưa lãnh thổ Việt Nam tiếp giáp với đồng bằng
Inđônêxia và Malaisia nên đã có sự giao tiếp tài nguyên thực vật với khu vực
Nam Á. Các dân tộc Việt Nam trước đây sinh sống ở vùng Nam lưu vực sông
Trường Giang, sau vì nguyên nhân chiến tranh mới di cư xuống lập nền văn
minh châu thổ sông Hồng, khi di cư về phương nam người Việt Nam mang
theo các loài cây từ phương bắc xuống theo (Lưu Ngọc Trình 1995) [26].
+ Về địa lý Việt Nam là nơi tiếp giáp cuối cùng hai hệ thống núi Nam
Trung Hoa và Ấn Độ, Myanmar hệ thực vật Việt Nam chịu sự hoà nhập sâu
sắc của hai hệ thực vật Đông Á và Nam Á.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
+ Về sinh thái: Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới nhưng do ảnh
hưởng của gió mùa nên miền bắc có khí hậu Á nhiệt đới, vùng núi có khí hậu
ôn đới. Vì vậy tài nguyên di truyền thực vật ở nước ta bao gồm ba thành phần
chính là: bản địa, di thực từ Nam Trung Hoa và di thực từ Nam Á. Hệ thực
vật phong phú là một nguyên nhân chính tạo nên sự đa dạng tài nguyên cây
trồng ở Việt Nam. Vavilep, Zukovski, Zaven, Harlan, Frankel và nhiều nhà
khoa học khác đều xem Đông Nam Á là nơi xuất xứ của nhiều loài cây trồng.
Việt Nam là nơi xuất xứ hoặc khu vực xuất xứ của nhiều loại cây trồng như
lúa, khoai sọ, chuối v.v
Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI thành lập năm 1960 đến năm 1962 đã
tiến hành thu thập nguồn gen cây lúa, đến năm 1977 chính thức khai trương
ngân hàng gen, tại đây đã thu thập tập đoàn cây lúa từ 110 quốc gia trên thế
giới trong bộ sưu tập có hơn 80 nghìn mẫu, trong đó có các giống lúa trồng ở
Châu Á, O. sativa chiếm đến 95% còn 2.194 mẫu đang ở thời kỳ hạt nhân,
chuẩn bị đăng ký vào ngân hàng gen cây lúa (Gomez, KA 1995) [35].
Đối với nguồn tài nguyên phong phú, cùng với đội ngũ các nhà khoa
học giầu trí tuệ và những phương tiện nghiên cứu hiện đại IRRI đã thực hiện
được vai trò trung tâm trong cuộc cách mạng xanh, đã góp phần thúc đẩy việc

sản xuất nông nghiệp của nhiều quốc gia trồng lúa ở trên thế giới. IRRI đã có
quan hệ chính thức ở Việt Nam ta từ năm 1975 trong chương trình thí nghiệm
giống quốc tế trước đây và hiện nay là chương trình đánh giá nguồn gen cây
lúa, trong quá trình hợp tác Việt Nam đã nhập được 279 tập đoàn lúa gồm
hàng ngàn mẫu giống, mang nhiều đặc điểm sinh học tốt, chống chịu sâu bệnh
và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như nhiệt độ, nhiễm mặn, hạn hán, úng lụt
vv (Shen,J.H, 2000) [38]
Viện nghiên cứu lúa Quốc tế đã lai tạo chọn lọc hàng trăm giống lúa tốt
được gieo trồng phổ biến trên thế giới. Các giống lúa IR8, IR5, IR6, IR30 và

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
những giống lúa khác đã tạo ra sự nhảy vọt về năng suất. Các viện khác như
IRAT, EAT, ICRISAT. Cũng đã chọn lọc ra nhiều những giống lúa tốt phục
vụ sản xuất.
Hiện nay người ta ứng dụng ưu thế lai trong sản xuất lúa. Trong lịch sử
phát triển lúa lai, Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng thành công ưu thế này.
Năm 1974, các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời những tổ hợp lai có
ưu thế lai cao, đồng thời xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt lai hệ "3
dòng" được hoàn thiện và đưa vào sản xuất năm 1975. Năm 1996, Trung
Quốc lại thành công với qui trình sản xuất lúa lai "2 dòng". Chiến lược nghiên
cứu phát triển lúa lai của Trung Quốc trong thế kỷ XXI là phát triển lúa lai "2
dòng" và đẩy mạnh nghiên cứu lúa lai 1 dòng và lúa lai siêu cao sản nhằm
tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của đất nước.
Ở Thái Lan, từ năm 1950 đã thu nhập và làm thuần một số giống lúa
địa phương, đưa các giống lúa cổ truyền vào trồng ở miền Nam và miền Bắc
của nước này.
Ở Nhật Bản việc đưa ra giống Tongil đã tạo ra bước nhảy vọt về năng
suất lúa.
Ở Mỹ, năm 1926 J.W Jones đã bắt đầu nêu vấn đề ưu thế lai của lúa khi

khảo sát lúa ở Đài Loan. Có hai người tham gia vào đề xuất vấn đề sản xuất
lúa lai thương phẩm là Stansent va Craiglules.
Các chuyên gia nông nghiệp Đài Loan cho biết đã nghiên cứu phát triển
thành công các giống lúa mới giàu dinh dưỡng. Các giống này không phải là
biến đổi gen sẵn có nhiều màu sắc khác nhau như đen, đỏ và vàng mà màu sắc
phụ thuộc vào hàm lượng dinh dưỡng như Beta - carotene và Anthocyanins.
Một chất chống ôxy hoá. Đây là kết quả nghiên cứu gần 9 năm thí nghiệm để
kết luận đột biến trên cây lúa với việc sử dụng các tác nhân hoá học.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
Một số nước có tốc độ thay đổi giống lúa mới khá nhanh như Philippin
20,6%, Hàn Quốc 16,1%, Ấn Độ 13,5%, Thái Lan 6,7%. Nhu cầu ngày càng
tăng về giống lúa không những về số lượng và còn cả về chất lượng.
1.3.1.2. Tình hình nghiên cứu giống lúa có chất lượng trên thế giới
Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất quan trọng không
kém gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất. Nếu không có giống thì không
thể sản xuất ra một loại nông sản nào cả. Vì thế việc nghiên cứu chọn lọc, lai
tạo giống đã được các nhà khoa học, các viện nghiên cứu và các trường đại
học nông nghiệp ưu tiên hàng đầu. Vào đầu những năm 1960, viện nghiên
cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đã được thành lập tại Losbanos, Laguna, Philippin.
Sau đó các viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế khác cũng được thành lập ở
các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác nhau như IRAT, EAT, CIAT,
ICRISAT (IRRI, 1997) [36]. Tại các viện này việc chọn lọc và lai tạo các
giống lúa cũng được ưu tiên hàng đầu. Chỉ tính riêng viện nghiên cứu lúa gạo
quốc tế ( IRRI) cũng đã lai tạo và đưa ra sản xuất hàng nghìn giống lúa các
loại, trong đó tiêu biểu là các giống lúa như: IR5, IR6, IR8, IR30, IR34, IR64,
Jasmin Đặc biệt là hai giống IR64 và Jasmin là những giống có phẩm chất
gạo tốt, được trồng rông rãi ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Hiện nay viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa

có năng suất siêu cao (siêu lúa) có thể đạt 13 tấn/ vụ, đồng thời tập trung vào
nghiên cứu chọn tạo các giống lúa có chất lượng cao (giàu vitamin A, giàu
Protein, giàu Lisine, có mùi thơm ) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết vấn đề
an ninh lương thực, vừa đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu
dùng (Cada, E.C 1997) [30].
Trung Quốc là một nước trồng lúa hàng đầu trên thế giới nên công tác
giống đã được chú trọng đặc biệt. Vào những năm 1960, 1970 của thế kỷ
trước, Trung Quốc đã cho ra đời hàng loạt các giống lúa có năng suất cao,

×