Tải bản đầy đủ (.pdf) (99 trang)

Luận văn thạc sĩ luật học: Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (58.63 MB, 99 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NOI

NGUYEN KHẢ PHÚC

<small>Chuyên ngành — : Luật Dần sự</small>Mã số : 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYÊN MINH TUẦN

<small>HÀ NỘI - 2011</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<small>lơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu củariêng tôi. Những thông tin, sô liệu, két quả được sử dụngtrong luận văn này là trung thực và có nguồn goc, xuát xứrõ ràng.</small>

<small>TÁC GIÁ LUẬN VĂN</small>

Nguyễn Khả Phúc

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

1.1. Khai quát chung về trách nhiệm bồi thường của Nha nước 7

1.1.1. Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại 71.1.2. Khái niệm va đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường

<small>thiệt hại của Nhà nước 10</small>

1.1.3. Sơ lược lịch sử hình thành chế định về trách nhiệm bồi thường

của Nhà nước ở Việt Nam và một số nước trên thế giới 171.1.4. Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước 26

<small>1.2. Khái niệm cơ quan quản lý hành chính Nhà nước; hoạt</small>

<small>động quản lý hành chính Nhà nước 291.2.1. Khái niệm cơ quan quản lý hành chính Nhà nước 291.2.2. Khái niệm hoạt động quản lý hành chính Nhà nước 31</small>

1.3. Cac căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt

<small>hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính 32</small>1.3.1. Có thiệt hại xây ra 34<small>1.3.2. Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật của người thi</small>

<small>hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính gây ra 36</small>

1.3.3. Có mối liên hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người

<small>thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính và thiệt</small>

hại xây ra 371.3.4. Có lỗi của người gây ra thiệt hại 38

1.4. Đặc điểm của trách nhiệm Bồi thường thiệt hai của Nhà

<small>nước trong hoạt động quản lý hành chính 39</small>1.4.1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của nhà nước trong hoạt

động hành chính là một dang cụ thé của trách nhiệm bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng 391.4.2. Trách nhiệm Bồi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt

động quản lý hành chính Nhà nước là trách nhiệm bồi thườngthiệt hại do xâm phạm các quyền cơ bản của công dân gắnliền với quá trình thực thi cơng vụ trong hoạt động quản lý

<small>hành chính 40</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<small>BOI THUONG THIET HAI CUA NHÀ NƯỚC TRONG HOATDONG QUAN LY NHA NUOC VA MOT SO KIEN NGHI</small>

2.1. Cac nguyên tắc cơ bản về trách nhiệm bồi thường thiệt<small>hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính</small>2.1.1. Ngun tắc kịp thời, cơng khai, đúng pháp luật

2.1.2. Nguyên tắc thỏa thuận thương lượng

2.1.3. Bồi thường bằng tiền theo nguyên tắc chi trả một lần

2.2 Các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt<small>hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính</small>2.2.1. Các trường hợp được bồi thường thiệt hại

2.2.2. Xác định thiệt hai, mức bồi thường thiệt hại và đối tượng

được bồi thường thiệt hại

<small>2.2.2.1. Thiệt hại do Tài sản bị xâm phạm</small>

2.2.2.2. Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút2.2.2.3. Thiét hại do ton thất về tinh than

2.2.2.4. Thiét hại về vat chất do người bị thiệt hại chết, bị ton

hại về sức khỏe

2.2.3. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại2.2.4. Thủ tục giải quyết bồi thường

2.2.5. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tịa án

2.2.6. Kinh Phí bồi thường và thủ tục chi trả<small>2.2.7. Trách nhiệm hoàn tra</small>

2.2.8. Thời hiệu yêu cau bồi thường thiệt hai

2.3. Kiến nghị một số van đề cụ thé về các quy định pháp luậtvề bồi thường thiệt hại của nhà nước trong hoạt động

<small>quản lý hành chínhKET LUẬN</small>

<small>DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO</small>

<small>PHỤ LỤC</small>

<small>68747681</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<small>Cơ quan quản lý hành chính</small>

Thơng tư liên tịch số

<small>19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày 26/11/2010 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài</small>chính, Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thực hiện

trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt<small>động quản lý hành chính.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

LOI MO DAU1. Tính cấp thiết của đề tai

Trong q trình xây dựng và hồn thiện Nhà nước pháp quyền Việt

Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, vấn đề trách nhiệm bồi thường

của Nhà nước đối với các thiệt hại do cán bộ công chức Nhà nước gây ra

<small>trong khi thi hành cơng vụ ln được Đảng, Nhà nước và tồn xã hội quan</small>

tâm. Bởi vậy, Nghị quyết số 48 - NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộchính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Namđến năm 2010, định hướng đến năm 2020 của Bộ Chính trị đã xác định:

“Hồn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đổi với các quyên, lợi ích hợp phápcủa cơng dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, nhất là Tòa ántrong việc bảo vệ các quyên đó; xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm quyén vàlợi ich hợp pháp của công dân; khắc phục việc xử ly oan sai, khẩn trương banhành Luật Trách nhiệm bôi thường Nhà nước ”.

Ngày 18/6/2009 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namđã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Luật Trách nhiệm

bồi thường của Nhà nước được ban hành một lần nữa khang dinh ban chat dan

<small>chu của Nhà nước Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam được xây dung từ các</small>nguyên tắc cơ bản của một Nhà nước pháp quyền, đồng thời cũng là nhằmthực hiện Nghị quyết số 48 - NQ/TW của Bộ chính tri. Luật Trách nhiệm bồithường của Nhà nước đã khắc phục được nhiều hạn chế về cơ chế bồi thườngvà có nhiều nội dung mới tiễn bộ so với các quy định pháp luật trước đâytrong các văn bản: Nghị định số 47-CP ngày 03/5/1997 về việc giải quyết bồithường thiệt hại do cơng chức, viên chức nhà nước, người có thầm quyền của

cơ quan tiễn hành t6 tụng gây ra; Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH

ngày 17/3/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Bồi thường thiệt hại chongười bị oan do người có tham quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đề cập phạm vitrách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong 3 lĩnh vực: Hoạt động quản lý

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

hành chính nhà nước; hoạt động t6 tụng; hoạt động thi hành án, trong đó hoạt<small>động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có phạm vi ảnh hưởng sâu</small>

rộng nhất đến đời song xã hội, nó tac động hầu hết đến mọi tầng lớp trong xãhội. Chúng ta biết rang, Nhà nước sinh ra là dé tổ chức, quan lý các mặt khácnhau của đời sống xã hội, duy trì trật tự sự ơn định của xã hội và tạo điều kiện

cho xã hội phát triển nhanh, bền vững vì lợi ích của các tơ chức cá nhân trongxã hội, vì một xã hội dân chủ công bằng, văn minh. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ

cơng chức Nhà nước trong q trình thực thi cơng vụ để phục vụ lợi ích Nhà

<small>nước và xã hội khơng phải khi nào cũng làm đúng, chính xác và có lợi cho</small>

Nhà nước, cho các tơ chức khác và cho nhân dân. Một số cơng chức Nhànước có thé có những hành vi trái pháp luật khi thi hành công vụ gây thiệt hailớn về vật chất và tinh thần cho các tô chức và cá nhân khác. Có thé nói hiện

<small>tượng làm trai pháp luật của cơng chức Nhà nước khi thi hành công vu gây</small>

thiệt hại cho các tổ chức và cá nhân thì ở đâu cũng có và thời nào cũng có,vấn đề là nhiều hay ít và nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng.

Ở Việt Nam thì hiện tượng này tương đối phổ biến và những thiệt hại

mà các cá nhân, tổ chức gánh chịu là rất lớn. Sở dĩ hiện tượng này còn xây ra

nhiều ở Việt nam là vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau như: do trình độ của

cơng chức chưa đủ năng lực để thực hiện đúng các hoạt động công vụ củamình; các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ chưa tốt và cũng khơng ít ngun nhântừ sự tắc trách của đội ngũ cán bộ cơng chức khơng tìm hiểu sự việc một cáchthấu đáo nên đưa ra các quyết định sai trái. Trong một số trường hợp khôngloại trừ có những cơng chức cố ý thực hiện hành vi sai trái vì mục đính vụ lợi,

trả thù khi thi hành công vu gây thiệt hại về vật chất và tinh thần và những

bức xúc rất lớn cho các tổ chức va cá nhân, nhất là các doanh nghiệp.

Các quy định của Hiến pháp, Bộ Luật dân sự (BLDS) năm 2005; Luật

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã từng bước cu thé hóaviệc giải quyết loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) của Nhà nước<small>nói chung và trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động quản hành</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

chính (QLHC) nói riêng, tuy nhiên để Luật đi vào cuộc sống chúng ta phảinghiên cứu làm rõ nội ham cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định pháp

luật để có cơ chế áp dụng thống nhất cũng như kiến nghị sửa đối bổ sunghoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về BTTH trong hoạt động QLHCNhà nước. Với những lý do nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số van đề về

trách nhiệm bôi thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hànhchính” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp chương trình đào tạo<small>thạc sĩ luật học của mình.</small>

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong khoa học pháp lý từ trước đến nay, ở nước ta chưa có một cơngtrình nghiên cứu chuyên sâu va có hệ thống về “7rách nhiệm bồi thường thiệt

<small>hại của Nhà nước trong hoạt động quan lý hành chính ”, ở những khía cạnh khác</small>

nhau về trách nhiệm BTTH của Nhà nước, trách nhiệm BTTH do nguoi cua coquan tiễn hành tô tung gây ra đã có một số cơng trình nghiên cứu liên quan:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuan

làm chủ nhiệm đề tài: “Trách nhiệm dân sự của cơ quan tổ chức về thiệt hại

do hành vi của can bộ công chức gây ra - Vấn dé lý luận và thực tiên”,

Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008. Đề tài đề cập đến nội dung tráchnhiệm dân sự theo Điều 619 BLDS, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực

tiễn của Điều 619 BLDS, đưa ra các kiến nghị với các cơ quan Nhà nước cóthâm quyền hướng dẫn áp dụng và hồn thiện Điều 619 và Điều 620 BLDS,đồng thời tham gia góp ý kiến xây dựng Luật Trách nhiệm bồi thường của

<small>Nhà nước.</small>

- Phùng Trung Tập - Boi thường thiệt hại ngồi hợp dong về tài sản,

sức khỏe và tính mạng - sách chuyên khảo - Nhà xuất bản Hà Nội - 2009. Tácgiả phân tích một cách sâu sắc và có hệ thống về các căn cứ phát sinh tráchnhiệm bồi thường; BTTH trong những trường hợp cụ thé; phân loại trách

nhiệm bồi thường va chủ thé bồi thường; những trường hợp không phải bồi

<small>thường; thời hạn hưởng BTTH do tính mang, sức khỏe bị xâm phạm.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

- Lê Thái Phương - Luan văn cao học - Mội số vấn đề lý luận và

thực tiễn của trách nhiệm bôi thường thiệt hại cua Nhà nước - Trường

Đại học Luật Hà Nội, năm 2006. Luận văn nghiên cứu những van đề sau:Khái quát chung về trách nhiệm BTTH của Nhà nước, thực trạng pháp

luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước ở Việt Nam có so sánh một số

nước trên thế giới.

- Lê Mai Anh - Luận án tiến sĩ - Bồi thường thiệt hại do người có thẩmquyên của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra - Trường Dai học Luật Hà Nội,năm 2002. Luận văn đề cập đến nhiều vẫn đề như: đặc điểm, nội dung, bản

chất của trách nhiệm Nhà nước trong việc BTTH do người có thẩm quyền củacơ quan tiến hành tơ tụng gây ra khi tiễn hành hoạt động điều tra điều tra, truyto, xét xu.

Ngoài ra con nhiều chuyên dé, bài viết, bài nghiên cứu của một số tácgiả làm công tác xây dựng pháp luật với nội dung đề cập nhiều vấn đề cơ bảnphục vụ cho quá trình soạn thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước,đây cũng là nguồn tài liệu quan trọng được tác giả lựa chọn tham khảo khi

thực hiện đề tài.

Đề tài: “Trach nhiệm bồi thường thiệt hại cua Nhà nước trong hoạtđộng quan lý hành chính” lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ luận vănthạc sỹ một cách chuyên sâu, tồn diện, đầy đủ và đảm bảo được tính logíc,hệ thống, khơng có sự trùng lặp với các cơng trình nghiên cứu khoa học đã

<small>được công bô.</small>

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực ngày 1/1/2010,

do thời gian thi hành quá ngắn, nên trong phạm vi nghiên cứu của một Luậnvăn Thạc sĩ Luật học, với tên đề tài như đã nêu ở trên, tác giả tập trung nghiên

cứu các vẫn đề lý luận và nội dung Luật thực định, cịn hiệu quả thi hành củaLuật cần phải có thời gian tổng kết thì mới đánh giá được, vì vậy Luận văn

<small>nghiên cứu các vân đê sau đây:</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

- Một số vấn đề lý luận có liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt<small>hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính.</small>

- Cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước<small>trong hoạt động quan lý hành chính (néu, phán tích các quy định pháp luật</small>

Việt Nam, có so sánh quy định pháp luật một số nước trên thé giới).4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác <small>Lénin, ứng dụng cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lich sử,</small>chính sách của Dang, Nhà nước và tư tưởng Hỗ Chi Minh về Nha nước và<small>Pháp luật.</small>

-Để thực hiện việc nghiên cứu đề tài, luận văn còn sử dụng nhiều phương<small>pháp nghiên cứu khoa học tin cậy khác như: phương pháp phân tích, so sánh,</small>tổng hợp và một số phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp khác.

<small>5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu</small>

Với đối tượng và phạm vi nghiên cứu như đã nêu ở trên, đề tài có các<small>nhiệm vụ và hướng tới các mục đích sau:</small>

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận có liên quan đến trách nhiệm

<small>BTTH của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính;</small>

- Đưa ra bức tranh khái quát về các quy định của pháp luật Việt Nam

về trách nhiệm BTTH của nhà nước trong hoạt động QLHC, có sự so sánh vớipháp luật một số nước trên thế giới như Trung Quốc; Nhật Bản;

- Phân tích những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành

về trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong trong hoạt động QLHC;

- Kiến nghị góp phần hồn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm<small>BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC.</small>

<small>6. Đóng góp của Luận văn</small>

Luận văn là cơng trình nghiên cứu có hệ thống về trách nhiệm BTTH<small>của nhà nước trong hoạt động QLHC. Luận văn có ý nghĩa khoa học và thựctiên sau đây:</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Thứ nhất: Lần đầu tiên vẫn đề trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong

hoạt động QLHC được nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cả về

<small>cơ sở lý luận cũng như các quy định pháp luật.</small>

Thứ hai: Quá trình nghiên cứu đề tài tìm ra được những tổn tại trong côngtác xây dựng pháp luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước nói chung và trách

<small>nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC nói riêng. Từ đó đưa ra</small>

những đề xuất, kiến nghị dé góp phan vào việc hồn thiện các quy định của pháp

luật về BTTH của Nhà nước trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn.

7. Kết cầu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Một số vẫn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thường

<small>thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính.</small>

Chương 2: Các quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính và đềxuất kiến nghị.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<small>Chương Í</small>

MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRÁCH NHIỆM

BOI THUONG THIET HAI CUA NHA NUOC TRONG HOAT DONGQUAN LY HANH CHINH

1.1. Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường của Nha nước

1.1.1. Khái niệm chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hai

Khi đề cập đến trách nhiệm bồi thường là đề cập đến một tình thế bắtbuộc một người phải thực hiện hành vi hoặc trách nhiệm gánh chịu những batlợi về tài sản hay về nhân thân của người mang trách nhiệm đó. Trong một xã

hội nhất định, với bất kỳ một quan hệ xã hội nào thì bên cạnh các quyền xácđịnh được đều gắn với trách nhiệm của các bên chủ thé tham gia quan hệ đó.

Tuy nhiên, theo tính chất của từng loại trách nhiệm thì trách nhiệm được phân

ra theo đối tượng điều chỉnh của từng ngành luật khác nhau hoặc tính chất của

từng loại quan hệ tài sản khác nhau dé xác định. Tương ứng với các đôi tượng

điều chỉnh của mỗi ngành luật thì trách nhiệm pháp lý cũng được Nhà nướcquy định trong một phạm vi và có những đặc điểm khác nhau như trách nhiệm

<small>hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự.</small>

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bồi thường là: “đền bù những tổn thất đã

gây ra” [56, tr.191]. Trong đời sống xã hội, việc giải quyết những đền bù tồnthất gây ra chủ yếu thông qua mối quan hệ pháp luật dân sự. Trước khi đượcquy định là một loại trách nhiệm pháp lý chịu sự điều chỉnh của Luật tư như

hiện nay thì trách nhiệm BTTH đã trải qua một quá trình phát triển với nhiều

giai đoạn thé hiện bản chất khác biệt. Có thé khái quát các giai đoạn phát triển

<small>cơ ban của trách nhiệm BTTH như sau:</small>

Giai đoạn thứ nhất: O thời kỳ cỗ đại, khi chính quyền trong xã hội cịnchưa được tổ chức một cách chặt chẽ, các cá nhân mỗi khi bị xâm phạm vàoquyền loi được tự ý trả thù để trừng phạt đối phương, hoặc bắt đối phương

làm nô lệ, hay lây tài sản của họ. Chế độ này còn được gọi là chế độ tư nhân<small>phục thù.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

Giai đoạn thứ hai: Người gay ra sự tôn hại có thê nộp một số tiền

chuộc hay thục kim cho nạn nhân dé tránh trả thù. Chế độ này được gọi là chế

độ thục kim. Chế độ thục kim đã trải qua hai giai đoạn phát triển: 1) Khi chưacó sự can thiệp của pháp luật, các bên tự thoả thuận với nhau về tiền chuộc, là

chuộc lỗi tự nguyện; 2) Nhờ sự can thiệp của chính quyên, các bên tranh chấp

bắt buộc phải giải quyết tranh chấp bằng cách trả cho nhau số tiền chuộc lỗitheo ngạch giá do pháp luật quy định, là chế độ thục kim bắt buộc. Tiền thụckim này có thể coi như vừa là một hình phạt, vừa có tính chất BTTH. Đếnthời kỳ Luật 12 bảng, Cổ luật La Mã mới bắt đầu chuyền từ chế độ tự ý thục

kim sang bắt buộc thục kim.

Giai đoạn thứ ba: Chứng kiến sự phân biệt hai trách nhiệm hình sự vàdân sự. Chính quyền, trước hết, can thiệp dé trừng phạt những tội phạm chiliên quan đến trật tự xã hội, không liên hệ đến cá nhân. Sự can thiệp này rấtcần thiết, vì nếu khơng có sự thanh trừng của xã hội, những vụ phạm phápnày không được chú ý tới do không làm hại trực tiếp đến quyền lợi của tưnhân. Sự can thiệp của chính quyền dần dần được nới rộng đến sự phạm pháp

liên quan đến quyền lợi của các cá nhân như các vụ ấu đả, trộm cắp. Về

phương diện hình sự, cá nhân mat hết quyền phục thù và chỉ cịn quyền xinBTTH của mình về dân sự [24. tr.437].

Tuy trong một SỐ trường hợp, Luật La Mã đã tiễn tới sự phân biệt hai

<small>trách nhiệm hình sự và dân sự, nhưng nhà làm luật chưa quy định được rõ</small>

thành một nguyên tắc trách nhiệm tông quát, bắt buộc người gây ra sự ton thất

phải BTTH bắt luận trường hợp nào.

Ở Việt Nam, cô luật cũng không tách biệt trách nhiệm BTTH là một

loại trách nhiệm thuộc Luật tư và cũng chỉ giải quyết các vấn đề thuộc trật tự

cơng. Vì vậy, các điều luật trong bộ luật cơ như: Bộ Quốc triều Hình luật của

nhà Lê hay Hoàng Việt Luật lệ của Gia Long đều quy định các điều khoảntrách nhiệm về luật hình, vi dụ: Điều 582 Quốc triều Hình luật quy định: “Nếu

<small>những súc vật và chó đã húc, da và căn người mà cách làm hiệu và ràng buộc</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

không đúng phép - (theo đúng phép vật nào hay húc người thì phải cắt haisừng, đá người thì phải buộc hai chân, cắn người thì phải cắt hai tai)- hay làchó dai mà khơng giết thì người chủ phải phạt 60 lượng. Nếu vì cớ trên, cóngười chết hay bị thương thì phải tội q thất. Nếu cơ ý thả ra dé làm chongười chết hay bị thương thì phải tội kém tội đánh người bị thương hay đánhchết người một bậc. Người được thuê đến đề chữa bệnh cho súc vật, hay là

người cô trêu trọc những vật kia, mà bị thương hay chết, thì người chủ khơng<small>phải tội ”.</small>

Tuy nhiên, trong một vai trường hợp đặc biệt, cô luật Việt Nam cũngquy định sự bồi thường. Chăng hạn, đối với trường hợp đánh người bị thương,Điều 468 Quốc triều Hình luật đã quy định sự ni bảo cơ. Cụ thé: Đánh bịthương bằng chân tay thì phải ni 10 ngày, băng vật khác thì phải ni 20 ngày,băng thứ có mũi nhọn hay bằng nước sơi, lửa, thì phải ni 40 ngày, đánh gãyxương thì phải ni 80 ngày... Nhưng ngoài những trường hợp đặc biệt, Cổ luật

<small>Việt Nam khơng phân biệt rõ rệt hai trách nhiệm hình sự hay dân sự và cũng</small>

không nêu lên một nguyên tắc tổng quát nào về trách nhiệm dân sự.

Trong giai đoạn hiện nay, trách nhiệm BTTH được quy định va điềuchỉnh bởi Luật tư và các nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm này đã được đặt raở tất cả các nước. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, BTTH được

hiểu là một loại trách nhiệm dân sự (TNDS), theo đó người có hành vi gây rathiệt hại cho người khác phải bồi thường những tốn thất mà mình gây ra.

Trách nhiệm BTTH được BLDS năm 2005 quy định tại Điều 307 (về

trách nhiệm BTTH nói chung) và chương XXI (về trách nhiệm BTTH ngoài

hợp đồng). Tuy nhiên, trong cả hai phần này đều không nêu rõ khái niệm

trách nhiệm BTTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắcbồi thường, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường...

Từ góc độ khoa học pháp lý cho thấy, mỗi thành viên sống trong xã hội

đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, khơng thê vì lợi ích của mình màxâm phạm đến quyên và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tốn hại cho người khác thì chính người

đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bấtlợi bằng việc bù đắp ton thất cho người khác được hiểu là BTTH.

Như vậy, có thể hiểu rách nhiệm BTTH là một loại TNDS mà theo đóthì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây ton hại về vật chấthoặc tinh than cho người khác phải bồi thường những ton that mà mình gây ra.

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường

<small>thiệt hại của Nhà nước</small>

Trách nhiệm BTTH từ hành vi xâm phạm qun, lợi ích hợp pháp của

các tơ chức, cá nhân là trách nhiệm pháp lý được xác định với mọi chủ thể. Vìvậy, khi Nhà nước thực thi công quyền gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức

<small>thi cũng phải chịu trách nhiệm BTTH. Trách nhiệm BTTH của Nhà nước</small>

không chỉ nhằm khôi phục các tốn thất về tài sản mà còn phải bù đắp nhữngton thất về tinh thần cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Do vậy, trdch nhiệm

bồi thường thiệt hại cua Nhà nước là trách nhiệm cua nhà nước khôi phục

những ton thất về tài sản, bù đắp những tốn thất vẻ tinh than trong trường<small>hop người thực thi công vụ của Nhà nước vi lợi ích chung đã gáy ra những</small>thiệt hại về tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của ca nhân, tài san, uy tíncủa tổ chức, quyên và lợi ích hợp pháp của các chủ thé khác.

Trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nhà nước gồm các yếu tô cơ

bản sau: Chủ thể, khách thể, các điều kiện phat sinh trách nhiệm BTTH.

Về chủ thể, các bên trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nhà nướcluôn bao gồm bên gây thiệt hại là Nhà nước và bên bị thiệt hại là các cá nhân,tô chức, chủ thé khác. Trong đó, Nhà nước ln là một bên trong quan hệ về

trách nhiệm BTTH này. Việc quy định trách nhiệm bồi thường thuộc về mộtcơ quan đại diện chung hay trách nhiệm thuộc về từng cơ quan cụ thể thuộc

về chính sách pháp lý của mỗi quốc gia, tuy nhiên cần phải khang định rangmột bên chủ thể có trách nhiệm ln là Nhà nước; cơ quan thực hiện trách

nhiệm bồi thường khơng nhân danh mình mà nhân danh Nhà nước trực tiếp

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

<small>thực hiện trách nhiệm BTTH cũng như nhân danh Nhà nước khi thực hiệncông vụ.</small>

Về khách thể, trong các quan hệ pháp luật, khách thể là “lợi ích vậtchất, tỉnh thần mà các chủ thể pháp luật mong muốn đạt được khi tham gia<small>các quan hệ pháp luật” [54, tr.411]. Trong quan hệ pháp luật dân sự, khách</small>

thê là “đối tượng mà các chủ thể quan tâm hướng tới, nhằm đạt tới hoặc tácđộng vào khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự” [54, tr.411]. Trên thực tế,khi hoạt động cơng quyền gây ra thiệt hại, thì đó là những thiệt hại vật chất,

thiệt hai tinh thần của các cá nhân, tơ chức. Tuy nhiên, có một thiệt hại mà

khơng thể đo, đếm được là lịng tin của người dân vào hiệu quả hoạt động

cũng như uy tin của Nhà nước. Vì vậy, khách thé trong trường hợp này là“quyền, loi ich hợp pháp của công dân và lợi ích của Nhà nước”. Bởi vì, khi

xảy ra bất kỳ một vụ oan, sai thì khơng chỉ có cơng dân là người duy nhất bịthiệt hại mà luôn kéo theo những ton thất của Nhà nước. Một mat, Nha nước

phải bồi thường vật chất, tỉnh thần cho người bị oan. Mặt khác, thiệt hại củaNhà nước tưởng chừng như vô hình nhưng hậu quả trên thực tế vẫn có thể dễdàng nhận thấy được. Đó là sự giảm sút uy tín của Nhà nước, là sự xói mịnlịng tin của nhân dân đối với Nhà nước [15, tr.60].

<small>Trách nhiệm BTTH cua Nhà nước là dạng TNDS, tuy vậy, so với</small>TNDS thơng thường, trách nhiệm BTTH của Nhà nước có những đặc điểm

khác biệt với trách nhiệm BTTH thông thường ở những yếu tố sau:

a) Trách nhiệm bôi thường thiệt hại của Nhà nước là trách nhiệmdân sự về bôi thường thiệt hại ngoài hop dong

Trong quy định của pháp luật Việt Nam, từ BLDS năm 1995 đến nay,

đều quy định trách nhiệm BTTH do công chức Nhà nước gây ra và theo đó

quan hệ bồi thường nhà nước là quan hệ pháp luật dân sự. Trong giới khoa

học pháp lý, về trách nhiệm BTTH của Nhà nước hiện nay tồn tại hai quan

điểm: Thứ nhất, cho rằng quan hệ này là quan hệ pháp luật hành chính, vì mộtbên ln là Nhà nước chủ thé có quyền lực, nên khi phát sinh quan hệ bồi

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

thường hay khơng phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước quyết định. Vì vậy, quan

<small>hệ trách nhiệm BTTH của Nhà nước là quan hệ pháp luật hành chính; Thir</small>

hai, quan hệ pháp luật về BTTH của Nhà nước là quan hệ pháp luật dân sự vềBTTH ngoài hợp đồng, mà một bên phải bồi thường là Nhà nước.

Khi công chức Nhà nước thi hành công vụ là thực thi quyền lực của

Nhà nước, cho nên cơng dân và tơ chức có nghĩa vụ phục tùng các quyết địnhcủa công chức Nhà nước. Đây là quan hệ mang tính quyền lực cơng. Tuynhiên, nếu cán bộ, công chức cố ý ra các quyết định vượt quá thẩm quyềnhoặc trai pháp luật gây thiệt hai cho cá nhân, tơ chức thì hành vi gây thiệt hại

<small>không thuộc phạm vi thi hành công vụ. Hành vi gây thiệt hại là phát sinh quan</small>hệ pháp luật mới là quan hệ BTTH. Do đó, về nguyên tắc cơng chức phải tự<small>mình BTTH cho người bị thiệt hại, nhưng công chức là người thực thi chứctrách của Nhà nước vì lợi ích Nhà nước, bởi vậy Nhà nước phải có trách</small>nhiệm bồi thường.

Qua phân tích trên, việc xác định tính chất của quan hệ bồi thường Nhànước chịu ảnh hưởng của chính sách pháp lý. Tuy nhiên, xuất phát từ tínhtất yếu của việc xác định trách nhiệm BTTH của Nhà nước, mà Nhà nướccũng như các chủ thể thông thường, phải bồi thường khi gây thiệt hại chocác cá nhân, tơ chức. Do đó, quan hệ bồi thường Nhà nước là quan hệ pháp<small>luật dân sự.</small>

Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật thì có thé mang mộttrong hai tư cách (tu cách chủ thé thông thường và tư cách chủ thé của quyền<small>lực cơng). Theo đó, những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia với tư</small>cách là chủ thể mang quyền lực công không phải là những quan hệ hợp đồng.

Những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia và nhân danh quyên lựccông phải là những quan hệ pháp luật có liên quan đến việc thực hiện những

hoạt động thuộc về chức năng chính của Nhà nước. Trong quá trình thực hiện

những hoạt động này mà Nhà nước gây thiệt hai cho cá nhân, t6 chức thì Nha

nước sẽ phải bồi thường. Giữa Nhà nước và bên bị thiệt hại khơng có quan hệ

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

hợp đồng, việc bồi thường không phải do vi phạm các nghĩa vụ về hợp đồng.

Chính vì vậy, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các thiệt hại gây

ra bởi hoạt động cơng quyền là trách nhiệm BTTH ngồi hợp đồng.

b) Trách nhiệm bôi thường thiệt hại cia Nhà nước là trách nhiệmtrực tiếp

Theo quy định của pháp luật nhiều nước trên thế giới về trách nhiệmBTTH của Nhà nước thì về cơ bản có hai loại trách nhiệm: rách nhiệm trực

tiếp và trách nhiệm thay thé [41, tr.4].

Nếu coi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm thay théthì trước đó phải xác định: Th nhất, hành vi trái pháp luật là hành vi củacông chức và nếu hành vi trái pháp luật này gây thiệt hại thì cơng chức phải

<small>BTTH. Thi hai, Nhà nước là bên gánh chịu trách nhiệm thay cho công chức.Công chức thực hiện các hoạt động cơng vụ là vì lợi ích Nhà nước khơng vìbản thân họ, vì vậy mà Nhà nước cũng nên có trách nhiệm. Bên cạnh đó, hành</small>vi của công chức là hành vi công vụ, thực hiện quyền lực Nhà nước luôntiềm ân sự rủi ro, vậy thì Nhà nước với tư cách là người quy định việc thực

hiện các hoạt động tiềm ẩn rủi ro cũng phải gánh chịu rủi ro và phải BTTH.

Ngoài ra, nếu quy trách nhiệm cho cơng chức thì với khả năng tài chính củamình thì cơng chức khơng thể bồi thường. Như vậy, người bị thiệt hại khôngbảo đảm được quyền lợi. Nhà nước với trách nhiệm Hiến định là phải bảo vệcông dân nên Nhà nước phải bồi thường và cần chú ý nếu quy định côngchức phải bồi thường thì sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến tính lành mạnh<small>trong hoạt động của Nhà nước, đó là cơng chức sẽ lo ngại việc thực hiện</small>công vụ nếu gây thiệt hại và mình phải bồi thường, vì vậy họ sẽ khơng thực

<small>hiện cơng việc của mình [41, tr.7].</small>

Nếu coi trách nhiệm BTTH của Nhà nước là trách nhiệm trực tiếp thì<small>trước đó phải xác định: Hành vi thực hiện công vụ của công chức là hành vi</small>

của Nhà nước và vì vậy nêu cơng chức có hành vi gây thiệt hại thì chính Nha

<small>nước gây thiệt hại (hay hành vi sai của công chức là hành vi sai của Nha</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

nước). Vậy đương nhiên trong trường hợp này trách nhiệm thuộc về Nhà

<small>nước [41, tr.8].</small>

Nhu vay, điểm khác nhau cơ bản của hai cách tiếp cận nay là việc coi

<small>hành vi trái pháp luật gây thiệt hại có phải là hành vi cua Nhà nước hay</small>khơng? Trong cách tiếp cận thứ hai, coi trách nhiệm của Nhà nước là trách

nhiệm trực tiếp có thé bị phản đối vì có tồn tại hay khơng cái gọi là “hành vi

<small>của Nhà nước” vì hành vi phải ln là của con người [41, tr.4]. Tuy nhiên, có</small>thé khang định về mặt cơ học, hành vi luôn là của con người, nhưng ở góc độ

pháp lý thì hành vi của cơng chức lại có thể coi là hành vi của Nhà nước.

Điểm khác nữa giữa hai cách tiếp cận này là: Nếu trách nhiệm Nhànước là trách nhiệm thay thế thì nó đồng nghĩa với việc phủ nhận trách nhiệm

của Nhà nước, theo đó việc béi thường chỉ là một chính sách giống như chínhsách phúc lợi xã hội có mục đích bù dap tơn thất mà thơi. Ngồi ra, nếu coi

trách nhiệm BTTH của Nhà nước là trách nhiệm thay thé thì vơ hình chung đã

gián tiếp khang định sự tồn tại của một quan niệm lỗi thời “Vua không thé

<small>lam sai” của lịch sử.</small>

Điều | Luật trách nhiệm bồi thường của Nha nước năm 2009 đã khang

định: “Ludt nay quy định trách nhiệm bôi thường của Nhà nước đối với cánhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt độngquản lý hành chính, tơ tung, thi hành án;... ”. Như vậy, với việc khang định

trách nhiệm BTTH của Nhà nước là một yêu cầu tất yếu của thời đại, Nhà

nước thừa nhận trách nhiệm bồi thường của mình là trách nhiệm tự thân, trách

nhiệm BTTH cua Nhà nước là trách nhiệm trực tiếp.

c) Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước khơng chỉ làtrách nhiệm tài sản mà cịn là trách nhiệm khôi phục những tốn thất vềtinh than cho người bị thiệt hại

<small>Trách nhiệm BTTH của Nhà nước là TNDS. Do đó, trách nhiệm này</small>bao gồm trách nhiệm về tài sản (trong trường hợp tài sản bị thiệt hại) và tráchnhiệm khôi phục về tốn thất tinh thần (trong trường hợp danh dự, nhân phẩm

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

uy tín bị xâm phạm). Cụ thể: Điều 2 Luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

của Nhà nước năm 2009 quy định: “Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất,ton thất vẻ tinh than (sau đây gọi chung là người bị thiệt hại) trong cáctrường hợp quy định tại Luật này thì được Nhà nước bơi thường ”.

d) Yếu tổ “công vụ” trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nha nướcChế định pháp luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước chỉ điều chỉnh

trong trường hợp Nhà nước gây thiệt hại trái pháp luật cho cá nhân, t6 chứckhi nhân danh quyên lực công - tức là Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi<small>thường cho trường hợp gây ra thiệt hại khi công chức thực thi công vụ. Tuy</small>

nhiên, hiểu thế nào về khái niệm “cơng vụ” có ý nghĩa quan trọng vì đây là

một trong những yếu tố quyết định việc có phát sinh hay khơng phát sinh<small>trách nhiệm BTTH của Nhà nước. Ngồi ra, “cơng vụ” có gì khác với “cơng</small>

việc” trong chế định trách nhiệm bồi thường của pháp nhân đối với thiệt hại

<small>gây ra khi thực hiện “công việc” của pháp nhân? Xét ở góc độ xã hội hóa hoạt</small>

động quản lý Nhà nước, theo đó nhiều tổ chức (khơng phải là cơ quan, tổchức của Nhà nước) trong xã hội được Nhà nước giao một số nhiệm vụ quản

lý nhất định thì liệu những hành vi này có được coi là cơng vụ hay khơng? Cóhọc giả khang định răng cần phải coi những hành vi “mang tính chất hành vi

cơng quyền” do “các cơ quan và tổ chức không phải là bộ phận hữu cơ của bộmáy Nhà nước” nếu gây thiệt hại thì cũng phát sinh trách nhiệm BTTH của<small>Nhà nước [29].</small>

Xét trên phạm vi hoạt động cua Nhà nước có thê phân hoạt động của<small>Nhà nước trên ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp; Xét theo tiêu chí</small>có thực hiện hay khơng chức năng chính của Nhà nước thì có thể chia hoạtđộng của Nhà nước thành: Hoạt động trực tiếp hoặc nhằm thực hiện chứcnăng chính của Nhà nước; hoạt động kinh tế (thông qua hoạt động đầu tư của<small>Nhà nước vào các doanh nghiệp Nhà nước); các hoạt động dân sự khác (như</small>hoạt động mua sắm trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ việc thực<small>hiện chức năng chính của Nhà nước). Trong những hoạt động trên chỉ có</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

nhóm hoạt động thứ nhất thì trong đó cơng chức mới nhân danh quyền lực

công khi thực hiện. Đối với những hoạt động cịn lại thì Nhà nước tham gia

với tư cách một chủ thé bình dang với chủ thé cịn lại trong quan hệ pháp luật.Vì vậy, như đã khang định là trong những mối quan hệ bình dang này thì phápluật tư sẽ điều chỉnh mà khơng cần một chế định đặc biệt điều chỉnh.

“Cơng vụ” cũng có sự khác biệt nhất định so với công việc trong chếđịnh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng của pháp nhân. Trong chế định này

pháp nhân phải bồi thường cho mọi thiệt hại gây ra khi thực hiện các công

việc của pháp nhân, mà những công việc này không nhất thiết phải thuộc về

<small>chức năng hoạt động chính của pháp nhân.</small>

“Cơng vụ” theo quy định tại Điều 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008

là: “việc thực hiện nhiệm vụ, quyên hạn của cán bộ, công chức theo quy định

<small>của Luật này và các quy định khác có liên quan `.</small>

Như vậy, hoạt động cơng vụ, hay nói một cách đầy du là hành vi côngquyên, là những hành vi trực tiếp hoặc nhằm thực hiện chức năng chính củaNhà nước là chức năng quản lý xã hội. Chỉ những hành vi mang tính chấtquyền lực nào trực tiếp hoặc nhăm chức năng quản lý nhà nước được thựchiện khơng vì lợi ích cá nhân mà thực hiện vì lợi ích cộng đồng tập thé, xã hội

<small>mới được coi là công vu.</small>

ä) Công chức trong quan hệ về trách nhiệm BTTH của Nhà nước

<small>Trong pháp luật Việt Nam, các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức “được</small>sử dụng để phân biệt rõ vị trí, vai trị của từng nhóm cơng chức trong bộ máy

Nhà nước nhưng về cơ bản, họ đều là công chức - theo nghĩa rộng - làm việccho Nhà nước. Công chức là “cánh tay nối đài” của Nhà nước, trực tiếp thực

<small>hiện các công việc của Nhà nước trong đó có những cơng việc được gọi là</small>

cơng vụ. Đề được trở thành công chức phải đáp ứng được những điều kiện đặtra cho mỗi cá nhân. Vẫn dé đặt ra là néu công vụ được thực hiện bởi những cá

<small>nhân khơng phải là cơng chức thì liệu khi đó những cá nhân này có được coi</small>

là cơng chức theo nghĩa rộng hay không? Thực tiễn Việt Nam cho thấy, rất

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

nhiều trường hợp mà cá nhân thực hiện “công vụ” không phải là công chức.

Chang hạn, việc công dân tham gia dập tắt đám cháy cùng lực lượng cảnh sát

phịng cháy, chữa cháy; cơng dân tham gia truy bắt tội phạm cùng lực lượng cảnhsát điều tra trong trường hợp phạm tội quả tang; một bác sĩ hành nghề tư nhânnhưng được Nhà nước thuê tham gia thực hiện chương trình y tế quốc gia...Những cá nhân này nếu trong q trình thực hiện cơng vụ mà Nhà nước phân

công gây thiệt hại cho cá nhân, tơ chức khác thì trách nhiệm sẽ thuộc về ai?

Vì vậy, đặt trong phạm vi chế định trách nhiệm BTTH của Nhà nướccần phải hiểu khái niệm “công chức” theo nghĩa rộng nhất. Theo đó, cơngchức bao gồm tất cả ai thực hiện công vụ mà Nhà nước phân công, hoặc côngviệc mà pháp luật quy định khi một cá nhân thực hiện nhân danh quyền lựccông. Cách hiểu công chức theo nghĩa rộng này đã được cụ thê hóa trong Luật

trách nhiệm bơi thường của Nhà nước năm 2009 tại khoản 1 Điều 3: “Người

thi hành công vụ là người được bau cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bồ nhiệmvào mot vị tri trong cơ quan nhà nước dé thực hiện nhiệm vụ quản lý hànhchính, tố tụng, thi hành án hoặc người khác được cơ quan nhà nước có thẩmquyên giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến hoạt động quản lý hànhchính, tơ tụng, thi hành an”.

1.1.3. Sơ lược lịch sử hình thành chế định về trách nhiệm bồi thườngcủa Nhà nước ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam

a) Sơ lược lịch sử hình thành chế định về trách nhiệm bồi thườngcủa Nhà nước ở một số nước trên thé giới

Chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một van đề còn rấtmới cả về mặt khoa học lẫn thực tiễn pháp luật thực định trên thé giới. Lich

sử chế độ chính trị phải BTTH cho dân chúng có thể chia thành ba thời kỳ.Đầu tiên, là thời kỳ chế độ chính trị quân chủ chuyên chế, quyền lực

nằm hoàn toàn tuyệt đối trong tay vua, gắn mật thiết với thần quyền: “Nha

nước là ta”; “Thiên ha là của tram”; “Nhà vua không bao giờ làm sai, và<small>nhà vua khơng chịu trách nhiệm gì cả”. Đó là tập hợp những thành ngữ</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

giải thích tại sao Vua/Nha nước của chế độ chính tri phi dan chủ không

<small>phải BTTH.</small>

Thời kỳ thứ hai, khi chế độ dân chủ tư sản thay thế cho chế độ chính trịphong kiến chuyên chế, thần quyền với sự xuất hiện của Nhà nước phápqun thì chế độ bồi thường mới có thể đặt ra, nhưng vẫn cịn những khoảng

trống sáng tơi cho sự bơi thường của Nhà nước. Đó là những qun miễn trừcủa Nhà nước, của những quan chức cao cấp của Nhà nước.

Thời kỳ thứ ba, sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, lý luận và nhữngthể chế về BTTH của nhà nước ngày càng hoàn bị. Các Nhà nước tư bản phát

triển đã lần lượt ban hành các đạo luật về BTTH cho người dân, khi cơ quan

công quyền của họ xâm phạm đến quyền lợi của công dân. Ví dụ, Luật bồi

thường của Hoa Ky năm 1946; Luật bồi thường của Nhật Bản năm 1947; Luậtbồi thường thiệt hại của Hàn Quốc năm 1967... [53, tr.270].

Nhật Bản là nước mà pháp luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước

được sử dụng rất hiệu quả. Quá trình hình thành lĩnh vực pháp luật này cũng

rất phức tạp. Trong thời kỳ trước chiến tranh thế giới thứ hai, ở Nhật Bản đãtồn tại hệ thống giải quyết các khiếu kiện đối với Nhà nước. Tuy nhiên, hệ

thống này là hệ thống về trách nhiệm không thuộc Nhà nước, theo đó các ucầu về bồi thường Nhà nước sẽ khơng được giải quyết và do vậy, các đươngsự phải khởi kiện theo thủ tục tố tụng tư pháp; kết quả là các hành vi vi phạm

<small>pháp luật của các quan chức Nhà nước được nhìn nhận như là hành vi của các</small>

cá nhân đơn thuần [3, tr.425]. Sau chién tranh thé giới lần thứ hai, Nhật Bản

ban hành Hiến pháp năm 1947, Điều 17 Hiến pháp quy định: “Mọi người có

qun u cầu Nhà nước hoặc co quan cơng quyền bồi thường thiệt hại mà họ

<small>phải gánh chịu do những hành vi trai pháp luật của các quan chức Nhà nước</small>

gây ra theo quy định của pháp luật”. Đây chính là cơ sở pháp lý rất quan trọngđể người dân Nhật Ban có thé tự bảo vệ quyền lợi của mình va cũng như cơsở Hiến định quan trọng để xây dựng các đạo luật về trách nhiệm BTTH củaNhà nước. Năm 1947, Nghị viện Nhat Bản đã thông qua Luật bồi thường Nhà

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

nước. Đạo luật này tuy chỉ có 6 (sáu) điều luật nhưng đã khăng định được ý

nghĩa to lớn của nó. Nội dung cụ thé của Luật bao gồm: Điều 1: Điều kiện

phat sinh trách nhiệm BTTH của Nhà nước va điều kiện phát sinh trách nhiệmbồi hồn của cơng chức nhà nước (hay trách nhiệm BTTH xảy ra do thực hiệncông quyền); Điều 2: Trách nhiệm bồi thường trong trường hợp có thiệt hạixảy ra đối với người dân do những sai sót trong việc xây dựng hoặc quản lýcác con đường, sông và các phương tiện công cộng khác (hay trách nhiệm bồithường xảy ra do khiếm khuyết trong xây dựng và quản lý cơng trình cơngcộng); Điều 3: Trách nhiệm của từng cá nhân cụ thé quy định tại hai trường

hợp trên; Điều 4: Việc áp dụng đồng thời Bộ luật dân sự khi giải quyết các

quan hệ bồi thường Nhà nước; Điều 5: Việc áp dụng các đạo luật khác trongtrường hợp những đạo luật đó có quy định về trách nhiệm BTTH của Nhànước trong lĩnh vực riêng biệt; Điều 6: Về nguyên tắc có đi có lại, cụ thể là

<small>trong trường hợp người nước ngoài bị thiệt hại trong trường hợp nào sẽ được</small>

bồi thường. Các khiếu kiện yêu cầu Nhà nước bồi thường được coi là các vụ

<small>kiện dân sự [3, tr.454], nên các quy định của Bộ luật Dân sự Nhat Ban sẽ</small>

được viện dẫn áp dụng trong trường hợp cần thiết.

Luật bồi thường nhà nước của Nhật Bản tuy đơn giản nhưng việc ápdụng lại rất linh hoạt vì Tịa án Nhật Ban có thắm quyền rất lớn trong việc

giải thích và áp dụng pháp luật khi giải quyết các vụ việc cụ thé. Năm 1950,Nghị viện Nhật Bản tiếp tục ban hành Luật Đền bù Hình sự. Theo đó, quy

định trách nhiệm đền bù tổn thất của Nhà nước đối với những người bị thiệt

hại trong hoạt động tố tụng hình sự. Tuy nhiên, đạo luật này chỉ áp dụng cho

trường hợp mà nạn nhân đã được chuyên sang giai đoạn xét xử ở Tòa án và

được Tòa án phán quyết là trắng án và đạo luật này nhằm mục đích áp dụngcho những hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng ma không xem xét đến yếu

tô lỗi của người trực tiếp thực hiện hành vi tố tụng. Giải thích cho van đề này,

các chuyên gia Nhật Bản khăng định: đây là một trong những đạo luật nhamáp dung cho trường hợp: hành vi can thiết phải làm va hành vi này không trái

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

pháp luật; hành vi cần thiết mà Nhà nước đã thực hiện dù cần thiết và hợppháp song không thể tránh được việc gây ra tơn thất cho ai đó; việc gây ra tonthất được coi như việc một người chịu thiệt thịi vì lợi ích chung và vì vậyNhà nước có biện pháp, chính sách đền bù thỏa đáng [42, tr.5-6]. Trong lĩnh

vực tố tụng hình sự, Bộ Tư pháp Nhật Bản cũng đã ban hành quy tắc về bồi<small>thường cho những người bị tình nghi, theo đó những người là nạn nhân của</small>

hoạt động điều tra, truy tố nhưng được chấm dứt hoạt động tố tụng mà chưa

chuyên sang giai đoạn xét xử ở Tịa án thì cũng sẽ được đến bu.

Một quốc gia châu Âu có hệ thống pháp luật rất phát triển là Cộng hòa

liên bang Đức nhưng nước này khơng có hệ thống pháp luật rõ ràng về tráchnhiệm BTTH của Nhà nước. Năm 1981, quốc gia Tây Đức cũ ban hành Luật

về trách nhiệm Nhà nước. Tuy nhiên, sau đó đạo luật này bị tuyên là trái Hiến

<small>pháp và vì vậy khơng có hiệu lực thi hành. Năm 1969, Cộng hòa dân chủ Đức</small>

trước đây đã ban hành Luật về trách nhiệm bồi thường Nhà nước. Luật nàyđược áp dụng trên lãnh thổ Cộng hòa dân chủ Đức cho đến khi thống nhấtnước Đức năm 1990. Sau khi thống nhất nước Đức, một số nội dung của Luậtnày được một số bang của Cộng hòa liên bang Đức tiếp nhận và chuyên thànhpháp luật của tiêu bang ở Cộng hòa liên bang Đức. Hiện nay, việc xét xử củaTòa án đối với các yêu cầu bồi thường nhà nước thực hiện trên cơ sở Điều 34Hiến pháp Đức và Điều 839 Bộ luật Dân sự Đức về trách nhiệm của công<small>chức do vi phạm trách nhiệm công vụ [53, tr.262].</small>

Trung Quốc - quốc gia láng giềng của Việt Nam có hệ thống pháp luậtvề trách nhiệm BTTH của Nhà nước đã được định hình, 6n định. Văn bản

pháp luật hiện nay được áp dụng để giải quyết các yêu cầu bồi thường Nhànước của Trung Quốc là Luật về trách nhiệm BTTH của Nhà nước được Quốc

hội Trung Quốc thơng qua ngày 12/5/1994 và có hiệu lực thi hành từ ngày01/01/1995. Trước khi có Luật này, nhiều văn bản pháp luật Trung Quốc có

quy định về trách nhiệm bồi thường Nhà nước. Cụ thé là Quy chế quản lý tạmthời cảng biển Trung Quốc năm 1954; Luật hợp đồng kinh tế năm 1981; Quy

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

chế về cơ quan xử lý hành chính đối với cơng an năm 1986; Luật sửa đơi Luật

Tố tụng hình sự năm 1986; Luật Tố tụng hành chính năm 1989.

Luật bồi thường Nhà nước Trung Quốc quy định trách nhiệm của Nhànước Trung Quốc trong trường hợp các cơ quan nhà nước gây thiệt hại tráipháp luật cho cá nhân, tô chức. Phạm vi áp dụng của Đạo luật này loại trừ lĩnh

<small>vực lập pháp. Theo đó, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực</small>hành chính và tư pháp hình sự mới thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này[22]. Khác với Luật bồi thường Nhà nước của Nhật Bản, Luật bồi thường Nhà

nước của Trung Quốc lại quy định rất chi tiết và cụ thé các vẫn dé, ví dụ: cáctrường hop được bồi thường do xâm phạm quyên nhân thân (Điều 3); cáctrường hợp được bồi thường do xâm phạm về tài sản (Điều 4); các trường hợpNhà nước khơng phải bồi thường (Điều 5)... Ngồi ra dé áp dụng luật này trênthực tiễn, Quốc vụ viện Trung Quốc đã ban hành: “Một số biện pháp quản lý

kinh phí bồi thường Nhà nước” theo đó đã quy định cơ quan tài chính Nhà

nước các cấp có trách nhiệm chi trả kinh phí bồi thường Nhà nước, Tòa ánnhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc ban hành văn

1959, Điều 29 Hiến pháp 1959 quy định: “Người bị thiệt hại về hành vi vi

phạm pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi<small>thường” [31].</small>

Hiến pháp năm 1980 khăng định pháp luật bảo hộ tính mạng, danhdự và nhân phẩm của công dân bên cạnh việc xác định mọi hành động xâmphạm quyền lợi chính đáng của cơng dân phải được kịp thời sửa chữa và xửlý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường (Điều 70 vàĐiều 73).

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1980, Điều 24 Bộ luật Tổ tụng

<small>hình sự năm 1988 quy định:</small>

“Cơng dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái pháp luậtcủa cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án hoặc bất kỳ cá nhân nào thuộc

<small>cơ quan đó.</small>

Cơ quan có thâm quyền phải xem xét và giải quyết nhanh chóng các

khiếu nại và tố cáo, thơng báo bằng văn bản kết quả cho người khiếu nại vàcó biện pháp khắc phục.

Cơ quan đã làm oan phải khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường

<small>cho người bị thiệt hại. Cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy từngtrường hợp mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự” [33].</small>

Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khăng định nguyên tắc: “Mọi hoạt độngxâm phạm lợi ích Nhà nước và lợi ích hợp pháp của công dân đều bị xử lý

theo pháp luật” (Điều 12), nhưng đã phân biệt hai loại trách nhiệm: Điều 72

quy định trách nhiệm của cơ quan tố tụng: “Người bị giam giữ, bị truy tố, xétxử trái pháp luật có quyền được BTTH về vật chất và phục hồi danh dự.Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hạicho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”. Điều 74 quy định “Mọi hành vixâm phạm quyên lợi ích hợp pháp của tập thé va của công dân phải được xử

lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất vàphục héi danh dự”.

Trên cơ sở nguyên tắc chung của Hiến pháp năm 1992 về việc bảo hộquyên lợi của t6 chức, cá nhân và TNDS của người có hành vi gây thiệt hại, dé

xác định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm này và khắc phục tồn tại trước đây, BLDSnăm 1995 đã quy định trách nhiệm bơi thường do người có thâm quyền của cơquan tiến hành tổ tụng gây ra. Cụ thé: Điều 624 BLDS năm 1995 quy định:

“Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thâm

quyền của mình gây ra trong khi thi hành cơng vụ; trong khi thực hiện nhiệm

<small>vụ điêu tra, truy tô, xét xử và thi hành án.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người đã gây thiệt

hại phải bồi hồn khoản tiền mà mình đã bồi thường cho người bị thiệt hại

theo quy định của pháp luật, nêu người có thâm quyền đó có lỗi trong khi thi

<small>hành cơng vụ”.</small>

Cụ thé hóa quy định của BLDS năm 1995, ngày 03/5/1997 Chính phủđã ban hành Nghị định số 47-CP về giải quyết BTTH do công chức, viên chứcNhà nước, người có thâm quyền trong co quan tiến hành tổ tụng gây ra.

Đề thực hiện các quy định của Nghị định 47-CP các cơ quan có thầm

quyền quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực liên quan đã ban hành nhiều văn

bản hướng dẫn như: Thông tư số 54/1998/TT-TCCP ngày 04/6/1998 của Ban

Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) hướng dẫn thực hiện một số nộidung Nghị định 47-CP; Thông tư số 38/1998/TT-BTC ngày 30/3/1998 của BộTài chính hướng dẫn về việc lập dự tốn ngân sách nhà nước cho BTTH docơng chức, viên chức người có thâm quyén của cơ quan Nhà nước, cơ quantiễn hành tố tụng gây ra.

Mặc dù đã có một số văn bản dưới luật quy định tương đối cụ thể vềlĩnh vực bồi thường Nhà nước song thực tiễn cho thấy số vụ việc đòi Nhànước bôi thường phát sinh ngày càng nhiều, tinh chất ngày càng phức tạp,hiệu quả giải quyết còn nhiều hạn ché, đặc biệt là van đề BTTH cho người bịoan, sai do người có thâm quyền trong hoạt động tơ tụng gây ra. Trước thực<small>trạng đó, Đảng và Nhà nước đã đặc biệt quan tâm, Bộ chính trị đã ban hành</small>Chỉ thị số 53 - CT/TW ngày 21/3/2000 về một số công việc cấp bách của cáccơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, chỉ rõ:

“Cùng với việc phát hiện và chú trọng giải quyết kịp thời các vụ án có

dau hiệu oan, sai, cần khan trương nghiên cứu xây dựng co chế, chính sách déBTTH với các trường hợp bị oan, sai do cơ quan tiến hành tố tụng gây ra...

Việc bồi thường thiệt hại cần thực hiện đúng trình tự thủ tục đối với

từng trường hợp cụ thể; những tài sản đã bị tịch thu, kê biên sai thì cần hồntrả ngay; cần làm rõ cơ sở pháp lý, trách nhiệm giữa tập thể và cá nhân; phân

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

định trách nhiệm của từng cơ quan và cá nhân tiễn hành tố tụng và mức độthiệt hại về dân sự do việc làm oan sai gây ra...”[12].

Năm 2002 Bộ chính trị ban hành Nghị quyết số 08 - NQ/TW ngày

02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thờigian tới, trong đó đặt ra yêu cầu: “...khan trương ban hành và thực hiệnnghiêm túc các văn bản pháp luật về BTTH đối với những trường hợp oan,sai trong hoạt động tố tung; nghiên cứu xây dựng quỹ bồi thường thiệt hạivề tư pháp...”.

Quán triệt đầy đủ các yêu cầu của Chỉ thị số 53 - CT/TW và Nghị quyếtsố 08 - NQ/TW của Bộ chính trị, ngày 17/3/2003, Uy ban thường vụ Quốc hộiđã ban hành Nghị quyết số 388/2003/NQ - UBTVQHII về Bồi thường thiệthại cho người bị oan do cơ quan có thâm quyền trong hoạt động tố tụng gâyra. Nhằm tạo sự thống nhất trong việc áp dụng những quy định trong Nghịquyết số 388 các cơ quan quản ly Nhà nước có liên quan đã ban hành Thôngtư liên tịch số 01/2004/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTCngày 25/3/2004 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 388. Thông tư liên tịch số01 này đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư liên tịch số 04/2006/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC ngày 22/11/2006 của Viện kiểmsát nhân dân tối cao, Bộ cơng an, Tịa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ

Quốc phịng, Bộ Tài chính về BTTH cho người bị oan do người có thẩm

quyên trong hoạt động tơ tụng hình sự gây ra. Nội dung của Thông tư đã xácđịnh rõ chủ thé trong tố tụng hình sự do bị khởi to, truy tố, xét xử oan nhưngsau đó đã có bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thâm quyền cónhững căn cứ xác định người đó bị oan, thì người bị khởi tố, truy tố, xét xửoan được BTTH về những thu nhập bị mat do phải chấp hành hình phat oan

và khoản tiền tổn thần về tinh than của người bị oan.

Ngày 26/11/2003, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XI đã thơng qua Bộluật Tố tụng hình sự năm 2003, sửa đổi, bổ sung co bản, toàn diện các quyđịnh tố tụng hình sự của nước ta cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

sở nghiên cứu những van dé bồi thường cho người bị oan quy định trong Nghịquyết số 388, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã ghi nhận quyền được

BTTH và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan trở thành nguyên tắc

cơ bản của Bộ luật. Tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định:“Người bi oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tổ tụng hình sựgây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi.

Cơ quan có thâm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã làm oan

phải BTTH và phục hồi danh dự quyền loi cho người bị oan; người đã gâythiệt hại có trách nhiệm bồi hồn cho cơ quan có thấm quyên theo quy định<small>của pháp luật.” [36]</small>

BLDS năm 2005 (thay thế BLDS năm 1995) - Bộ luật điều chỉnh lĩnhvực rộng lớn các quan hệ dân sự của cá nhân, pháp nhân, tô chức và tiếp tục

ghi nhận trách nhiệm BTTH của cán bộ, công chức, người có thâm quyền của

cơ quan tơ tụng. Cụ thê:

Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do<small>cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành cơng vụ.</small>

Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, cơng chức có trách nhiệm u cầu cánbộ, cơng chức phải hồn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếucán bộ, cơng chức có lỗi trong khi thi hành cơng vụ (Điều 619) [38].

Cơ quan tiến hành tố tụng phải bôi thường thiệt hại do người có thâm quyềncủa mình gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình tiến hành tố tụng.

Cơ quan tiến hành t6 tụng có trách nhiệm yêu cầu người có thâm quyền

đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu

người có thâm quyền có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ (Điều 620) [38].Các quy định pháp luật về BTTH của Nhà nước nêu trong các văn bảnpháp luật nêu trên, mặc dù có nhiều điểm tiến bộ song các quy định đó vẫn

cịn phân tán, khơng có hệ thống và hiệu lực pháp lý của văn bản điều chỉnhtrực tiếp có giá trị thấp, phạm vi bồi thường Nhà nước hẹp, cơ quan có tráchnhiệm giải quyết bồi thường được xác định một cách phân tán, thủ tục giải

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

quyết bồi thường chưa có quy định thống nhất và hạn chế quyền của bên bị

thiệt hại, các loại thiệt hại được Nhà nước quy định chung chung, chưa cụ thé

<small>và khó áp dụng, trách nhiệm hồn trả của cơng chức chưa được quy định rõ</small>ràng và chưa có tác dụng giáo dục trực tiếp đối với công chức. Dé khắc phụccác hạn chế nêu trên, ngày 18/6/2009 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định một cách toàn diện đầy

đủ về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt

hai do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động QLHC, tố tụng, thi hành

án; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyên, nghĩa vụ cá nhân, tơ chức bithiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công<small>vụ đã gây ra thiệt hại.</small>

1.1.4. Ý nghĩa của chế định trách nhiệm BTTH của Nhà nước

Chế định trách nhiệm BTTH của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng vềlý luận cũng như thực tiễn, thể hiện ở những nội dung sau:

* Bu dap ton thất, khôi phục quyén và lợi ích chính đáng của cánhân, tổ chức

<small>Pháp luật bảo hộ tài sản, tính mạng, sức khoẻ của cá nhân và tài sản của</small>

tổ chức nên khi có hành vi gây thiệt hại cho các cá nhân hoặc người của tổchức thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu BTTH hoặc yêu cầu Toà án giảiquyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của minh. Do vậy, khi cán bộ,công chức của Nhà nước gây thiệt hai thì người bị thiệt hai can phải được bảo

<small>vệ như các trường hợp khác.</small>

Đúng như tên gọi của nó, trách nhiệm BTTH của Nhà nước trước hết

là dé bù đắp lại những tổn thất, mat mát về nhân thân, tài sản, đồng thời

khôi phục lại các quyền, lợi ich hợp pháp cho người bị thiệt hại. Sở di việc

BTTH có ý nghĩa là một sự bù đắp tơn thất về tài sản, sức khoẻ, tính mạng,

danh dự, uy tín, nhân phẩm là vì khơng phải trong mọi trường hợp đều cóthể xác định chính xác mức độ thiệt hại, nhất là đối với những thiệt hại về

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

tinh thần vốn di không thé định lượng dé “guy ra tién” được. Ngay cả đôivới những thiệt hại về tài sản, trong nhiều trường hợp, sự bù đắp không

thể ngang bằng được với những mắt mát, tôn thất mà chỉ là tương đối. Vớinhững tôn thất về tinh thần, sự bù đắp của việc BTTH thực chất chỉ cótính chất tượng trưng, mang ý nghĩa động viên an ủi, chia sẻ nỗi đau đớn,mat mát mà người bị thiệt hại hoặc người thân của họ phải gánh chịu, góp

phan giúp cho người bị thiệt hại ơn định lại cuộc sống sau những gì đã<small>phải chịu đựng.</small>

Bên cạnh đó, việc BTTH cho người bị thiệt hại khơng chỉ đơn thuần làbù đắp, đền bù tốn thất về vật chất hoặc tinh thần mà bằng việc thực hiện

<small>trách nhiệm BTTH này, Nha nước phải có các biện pháp khơi phục kip thời</small>các quyên, lợi ích hợp pháp cũng như danh dự, uy tín cho cơng dân, làm sao

dé người bị thiệt hại có thé quay trở lại với tình trạng trước khi thiệt hại xảy ravới đầy đủ các quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Dĩ nhiên, cũng như việc bù

đắp thiệt hại về nhân thân và tài sản, việc khơi phục quyền và lợi ích hợp pháp

cho người bị thiệt hại cũng chỉ mang tính chất tương đối, mang ý nghĩa độngviên, an ủi bởi trên thực tế có những qun bị mat đi thì khơng thé khơi phục

<small>lại được.</small>

* Bảo đảm qun bình đẳng giữa cơ quan công quyên và cá nhân, tổ

<small>chức trong quan hệ pháp luật dân sự</small>

Khi người của cơ quan công quyền thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích quốc

gia, cho dù người này có lỗi hay khơng có lỗi trong việc gây thiệt hại cho chủ

thê khác, thì trách nhiệm bồi thường thuộc về Nhà nước. Nguyên tắc này bảođảm quyền bình đăng của các chủ thể trong quan hệ xã hội và pháp luật. Nhànước khơng thê khơng có trách nhiệm đối với những thiệt hại của chủ thê

<small>khác do người đại diện của mình gây ra. Trong trường hợp này, Nhà nước với</small>

tư cách chủ thé chịu trách nhiệm bồi thường, người bị thiệt hại là người cóquyền yêu cầu Nhà nước BTTH. Đây là nguyên tắc bình dang giữa các chủ

thé trong quan hệ dân sự.

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

<small>* Nâng cao trách nhiệm cua cơ quan thực thi pháp luật</small>

<small>Hoạt động của bộ máy Nhà nước được tạo thành bởi các hoạt động cụ</small>thé của những cá nhân có thâm quyên trong từng cơ quan Nhà nước, với tưcách là con người trong cuộc sống không thé tránh khỏi sai lầm. Do nhiều

<small>nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, việc thực hiện không đúng các</small>

quy định của pháp luật của người thi hành công vụ rất dé xảy ra. Xác địnhtrách nhiệm của Nhà nước trong việc BTTH là nhằm nâng cao trách nhiệmcủa các cơ quan công quyên trong hoạt động nghiệp vụ phải tôn trọng quyềnlợi ích hợp pháp, chính đáng của cá nhân, t6 chức. Đồng thời, xác định trách

nhiệm BTTH của Nhà nước còn nhằm củng cố lòng tin của nhân dân, nângcao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan công quyền chịu trách<small>nhiệm trước dân, bảo vệ Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Qua đó, loại bỏ</small>

được hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn, cố ý làm trái gây mat lòng tin

trong nhân dân của các cá nhân ra khỏi co quan công quyền.

* Xây dung Nhà nước pháp quyên Việt Nam của dân, do dân va vi dânMột trong những đặc điểm quan trọng, cơ bản nhất của Nhà nước phápquyên xã hội chủ nghĩa là “tinh toi thượng của pháp luật”, hay nói cách khác,mọi cơ quan, t6 chức và cá nhân cơng dân đều bình dang trước pháp luật,pháp luật là thước đo cơ bản quyết định địa vị pháp lý cũng như các quyền vànghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Trong Nhànước pháp quyền, khơng có hiện tượng người dân làm sai thì phải gánh chịu

hậu quả, cịn cơng chức Nhà nước, cơ quan Nhà nước làm sai lại được miễn

trừ trách nhiệm. Những thiệt hại về nhân thân, tài sản mà một cá nhân cơng<small>dân nao đó phải gánh chịu dù là hậu quả của những hành vi vi phạm pháp luậtcủa một cá nhân công dân khác hay một cơng chức Nhà nước, cơ quan Nhà</small>

nước thì đều phải được xem xét bồi thường thoả đáng theo những nguyên tắcbồi thường mà pháp luật quy định. Xét ở góc độ mơi quan hệ giữa Nhà nước

với cơng dân, việc cơ quan Nhà nước công khai xin lỗi dân vì những sai sótcủa mình, BTTH vé vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

chứng tỏ Nhà nước tôn trọng dân hơn. Những hành động bồi thường và xinlỗi này của Nhà nước sẽ thúc đây ý thức dân chủ của người dân, động viên

tỉnh thần trách nhiệm của người dân trong việc củng cơ xây dựng Nhà nước,

khắc phục tình trang dân bang quan, né tránh cơ quan Nhà nước.

Chính vì vậy, việc xây dựng và hồn thiện chế định trách nhiệm bồithường của Nhà nước sẽ góp phần tăng cường dân chủ trong các hoạt độngcông quyền, bảo đảm nguyên tắc mọi chủ thể đều bình dang trước pháp luậtvề quyền và nghĩa vụ, thực hiện dân chủ và cơng bằng xã hội, góp phần xâydựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân

<small>dân và vì nhân dân.</small>

<small>1.2. Khái niệm cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, hoạt động quản lýhành chính Nhà nước</small>

<small>1.2.1. Khai niệm cơ quan quan lý hành chính Nhà nước</small>

<small>Cơ quan quản lý hành chính (CQQLHC) Nhà nước là một bộ phận của</small>bộ máy nhà nước do Nhà nước lập ra để thực hiện chức năng quản lý hành

<small>chính (QLHC) Nhà nước. Cũng như các cơ quan khác trong bộ máy Nha</small>

nước, CQQLHC Nhà nước có cơ cau tô chức riêng dé thực hiện chức năng,

<small>nhiệm vụ của mình trên cơ sở quy định của pháp luật, hoạt động trên một đơn</small>

vị hành chính - lãnh thổ hay trên một lĩnh vực nhất định.

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQQLHC Nhà nước do Hiếnpháp, Luật, Pháp lệnh và nhiều văn bản đưới luật quy định. Mặt khác, chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn của CQQLHC Nhà nước cịn do vị trí, tính chất

của nó trong hệ thống các cơ quan Nhà nước quyết định. Trong đó, quyền hạncủa CQQLHC Nhà nước là phương tiện pháp lý cần thiết mà Nhà nước quy

định đề thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.

Cơ quan QLHC Nhà nước có hệ thống thống nhất từ trung ương đếnđịa phương, đứng đầu hệ thống đó là Chính phủ - cơ quan chấp hành củaQuốc hội, CQQLHC Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

<small>Việt Nam.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

CQQLHC Nhà nước có thâm quyền chung (Chính phủ, UBND các cấp)do cơ quan quyên lực Nhà nước (Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp) lập ra.Do vậy các cơ quan này chịu sự giám sát trực tiếp của cơ quan quyền lực Nhànước, chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan quyên lực Nhà nước cùng cấp.

Với tư cách là cơ quan nhà nước, một bộ phận cầu thành của bộ máy

<small>Nha nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, CQQLHC Nhà nước mang</small>

đầy đủ các dấu hiệu chung của cơ quan nhà nước.

Ngoài những dấu hiệu chung, CQQLHC Nhà nước có những dấu hiệuriêng (những đặc thù). Căn cứ vào những dấu hiệu riêng đó có thể phân biệt

<small>CQQLHC Nhà nước với các cơ quan nhà nước khác như sau:</small>

Thứ nhất CQQLHC Nhà nước có chức năng QLHC nhà nước, thựchiện hoạt động chấp hành - điều hành trên mọi lĩnh vực đời song xã hội, từlĩnh vực QLHC - chính trị đến lĩnh vực quản lý kinh tế, văn hoá xã hội...CQQLHC Nhà nước có thâm quyền chung được cơ quan quyên lực nhà nướccùng cấp trực tiếp lập ra. Do vậy, CQQLHC Nhà nước là cơ quan chấp hànhcủa cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Các cơ quan khác trong bộ máy

hành chính nhà nước khơng do cơ quan quyền lực nha nước trực tiếp lập nên,

nhưng về nguyên tắc vẫn phải chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhànước và phải chấp hành luật, nghị quyết của cơ quan quyên lực nhà nước.

Hoạt động chấp hành điều hành của CQQLHC Nhà nước là hình thứchoạt động chủ yếu dé đưa văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước

vào thực tiễn quản lý nhà nước. Trong khi đó, các cơ quan nhà nước khác chỉtham gia hoạt động QLHC trong phạm vi, lĩnh vực nhất định nhằm tạo điều kiện

cần thiết cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của minh. Vi du: Tòa án nhân

dân các cấp, Viện kiểm sát nhân dân các cấp dé thực hiện chức năng đã đượcpháp luật quy định có hoạt động QLHC trong công tác tô chức nội bộ.

Thứ hai, mỗi CQQLHC Nhà nước có một phạm vi thâm quyền nhất

<small>định được giới han trong lĩnh vực QLHC nhà nước do pháp luật quy định</small>(Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tơ chức Hội đồng nhân dân và Ủy

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

<small>ban nhân dân, các Nghị định của Chính phủ quy định chức nang nhiệm vu,</small>

quyền han và tô chức bộ máy của các bộ cơ quan ngang bộ...) và trong phạmvi thâm quyên của mình cơ quan độc lập hành động.

Tứ ba, chỉ các CQQLHC Nhà nước mới có hệ thống các đơn vị cơ sởtrực thuộc. Các đơn vi cơ sở này góp phần tích cực vào việc thực hiện chức<small>năng cơ bản của CQQLHC Nhà nước. Vi du: các trường học, bệnh viện, việnnghiên cứu...</small>

Tom lại, cơ quan quản lý hành chỉnh nhà nước là bộ phận cầu thành

của bộ máy nhà nước, trực thuộc cơ quan quyền luc nhà nước mot cách trựctiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi tham quyền của mình thực hiện hoạt độngchấp hành - diéu hành và tham gia vào các quan hệ quản lý nhân danh quyên

<small>luc nhà nước [49, tr.203].</small>

<small>1.2.2. Khai niệm hoạt dong quan lý hành chính nhà nước</small>

<small>QLHC nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà nước được thực</small>

hiện trước hết và chủ yếu bởi các CQQLHC Nhà nước, có nội dung là đảmbảo sự chấp hành pháp luật, pháp lệnh, nghị quyết của cơ quan quyền lực nhànước, nhằm tô chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên công cuộc

xây dựng kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị. Nói cách khác,QLHC nhà nước là hoạt động chấp hành - điều hành của Nhà nước.

Tính chất chấp hành thể hiện ở mục đích của QLHC nhà nước là để

đảm bảo thực hiện trên thực tế các văn bản pháp luật của các cơ quanquyền lực nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật và để thực

<small>hiện pháp luật.</small>

Tính chất điều hành của QLHC nhà nước thé hiện ở chỗ để đảm bảocho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước được thực hiện

trên thực tế, các chủ thé của QLHC nhà nước phải tiến hành hoạt động tô

chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền.

Trong quá trình điều hành, CQQLHC Nhà nước có quyên nhân danh

Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật để đặt ra các quy phạm pháp luật

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

hay các mệnh lệnh cụ thé bắt buộc các đối tượng quản lý có liên quan phải

<small>thực hiện.</small>

Như vậy, các chủ thể của QLHC nhà nước sử dụng quyền lực Nhànước dé tổ chức và điều khiển hoạt động của các đối tượng quản lý. Qua đó,

thể hiện một cách rõ nét mối quan hệ “quyền lực - phục tùng” giữa chủ thể

quản lý và đối tượng quản lý.

Hoạt động điều hành là một nội dung cơ bản của hoạt động chấp hànhquyền lực nhà nước, nó gắn với hoạt động chấp hành và cùng với hoạt động

chấp hành tạo thành hai mặt thống nhất của QLHC nhà nước.

<small>Hoạt động QLHC nhà nước được đặt dưới sự giám sát của cơ quan</small>

quyền lực nhà nước nhưng vẫn mang tinh chủ động, sáng tạo. Tính chủ động,sáng tạo của hoạt động QLHC nhà nước thể hiện rõ nét trong quá trình cácchủ thé của QLHC nhà nước đề ra chủ trương, biện pháp quan lý thích hợpđối với các đối tượng khác nhau, tạo điều kiện cho họ lựa chọn cách thức tốtnhất để hoàn thành nhiệm vụ trên cơ sở nghiên cứu, xem xét tình hình cụ thể.

Tất cả các cơ quan nhà nước đều tiến hành hoạt động QHLC nhà nướcnhưng hoạt động này chủ yếu do CQQLHC Nhà nước thực hiện.

Nhiệm vụ QLHC nhà nước được thực hiện trên thực tế thông quanhững hoạt động cụ thé khác nhau, những hoạt động cụ thé này rất phong phúvề nội dung và phức tạp về hình thức do nó được các chủ thể có nhiệm vụkhác ở các cấp quản lý khác nhau khác nhau tiến hành.

Như vậy, hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấphành và điều hành của hệ thong hành chính nhà nước (Chính phủ và các cơquan hành chính nhà nước địa phương) dé thực thi quyền hành pháp nhằm

phục vụ nhan dân duy trì ổn định và phái triển xã hội theo quy định của luật<small>pháp nhà nước.</small>

1.3. Các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà

<small>nước trong hoạt động quản lý hành chính</small>

Điều 619 BLDS năm 2005 quy định: “Co quan, tổ chức quan lý cản

bộ, công chức phải bồi thường thiệt hại do cán bộ công chức của mình gây ra

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

khi thi hành cơng vụ”. Quy định này được coi là xuất phát điểm mở đườngcho các văn bản quy phạm pháp luật khác cụ thê hố trách nhiệm BTTH củaNhà nước, trong đó có Luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước.

<small>Trách nhiệm BTTH của Nhà nước nói chung và trách nhiệm BTTH của Nhànước trong hoạt động QLHC nhà nước nói riêng là một dạng của trách nhiệm</small>BTTH ngồi hợp đồng nên về nguyên tắc cơ sở pháp lý để xác định trách

<small>nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC nhà nước cũng phải tuân</small>theo những nguyên tắc nhất định của BLDS về BTTH ngoài hợp đồng. Tuy

nhiên, bên cạnh những đặc điểm chung của trách nhiệm BTTH ngoài hợpđồng, trách nhiệm BTTH của Nhà nước còn mang nhiều nét đặc thù và phảidựa trên những căn cứ nhất định, cụ thể: Khoản 1 Điều 6 Luật Trách nhiệmbồi thường của Nhà nước quy định:

“1. Việc xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt độngquản lý hành chính, tơ tụng dân sự, tơ tụng hành chính, thi hành án phải có

<small>các căn cứ sau đây:</small>

a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyên xác định hành vi

<small>của người thi hành công vụ là trai pháp luật và thuộc phạm vi trách nhiệm</small>

bôi thường quy định tại các điều 13, 28, 38 và 39 của Luật này;

b) Có thiệt hại thực tế do hành vi trái pháp luật của người thi hành côngvụ gây ra đối với người bị thiệt hại. ”

<small>Và căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động</small>

QLHC được hướng dẫn cụ thé tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch SỐ

<small>19/2010/TTLT-BTP-BTC-TTCP ngày 26/11/2010 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài</small>chính, Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường củaNhà nước trong hoạt động quản lý hành chính (TTLT số 19) quy định:

“Trách nhiệm bôi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hànhchính chỉ phát sinh khi có ai các diéu kiện sau đây:

a) Có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyên xác định hành vi

<small>của người thi hành công vu là trai pháp luật;</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

<small>b) Hanh vi trai pháp luật cua người thi hành công vụ thuộc phạm vi</small>trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 13 của Luật Trách nhiệm bôi

<small>thường của Nhà nước.</small>

c) Có thiệt hại thực té xay ra;

d) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra va hành vi trái

<small>pháp luật của người thi hành công vụ. ”</small>

<small>Như vậy, trách nhiệm BTTH của Nhà nước trong hoạt động QLHC nhànước được hình thành khi hội đủ các u tơ sau:</small>

<small>1.3.1. Có thiệt hại xảy ra</small>

Thiệt hại được hiểu là “mat mát, hư hỏng nặng nề về người và của ”[56]. Quan điểm truyền thống của pháp luật dân sự luôn coi thiệt hại là nhữngton thất có liên quan đến tài sản. Tuy nhiên, theo quan điểm hiện nay thì thiệthại bao gồm khơng chỉ những ton thất về tài sản.

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật HàNội thì thiệt hại là: “ton thất về tinh mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, tài sảncủa cá nhân, tổ chức được pháp luật bao vệ” [47, tr.1 18].

BLDS năm 1995 Điều 310 quy định: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hạibao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồithường thiệt hại về tinh thần”. BLDS năm 2005 Điều 305 quy định: “Trách

nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật

chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp ton thất về tinh thần”. Như vậy, về mặtkhoa học và luật thực định thì quan điểm phổ biến hiện nay về thiệt hại làthiệt hại bao gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh than [1, tr.12].

* Thiệt hại về vật chất

Thiệt hại về vật chất là thiệt hại về tài sản (tài sản bị mắt, bị huỷ hoại,bị hư hỏng) và chi phí bỏ ra dé hạn chế, khắc phục thiệt hại cùng thu nhập bịmat, bi giam sut.

Thiệt hại về vật chat vừa là những thiệt hai trực tiếp (là vật va lợi íchvật chất khác thuộc quyền của chủ thé) như vật có thực, tiền va các giấy tờ có

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

giá... (tài sản hữu hình), quyền nghĩa vụ với tài sản (đối tượng của quyền sở

hữu trí tuệ - tài sản vơ hình) và vừa là những thiệt hại gián tiếp khác, xâm hại

các lợi ích khác như: lợi tức, hoa lợi hay thu nhập bị mất, bị giảm sút.

* Thiệt hại về tỉnh thân

Tổn thất tinh thần chỉ được tính đến khi các quyền nhân thân của cá

nhân bị xâm phạm (tinh mang, sức khoẻ, danh dự nhân phẩm, uy tín, quyền tự

do đi lại, các quyền nhân thân khác). Tổn thất về tinh thần khơng được tính<small>cho trường hợp tai sản bị xâm phạm.</small>

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp ly cho việccứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mat, bị giảm sút của

người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệthại; chi phí hợp lý va phan thu nhập thực tế bị mat của người chăm sóc người

bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng laođộng và cần có người thường xun chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí<small>hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.</small>

Thiét hại do tính mang bị xâm phạm bao gồm: Chi phí hợp lý cho việccứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí hoply cho việc mai táng: tiền cap dưỡng cho những người mà người bị thiệt hạicó nghĩa vụ cấp dưỡng.

Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm: Chi phí

hợp lý dé hạn chế, khắc phục thiệt hại và thu nhập thực tế bi mat hoặc bị giảm sút.

Để có cơ sở xem xét, giải quyết việc bồi thường, những thiệt hại nêutrên phải là những thiệt hại thực tế đã xảy ra cho người bị thiệt hại. Các thiệt

<small>hại này là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong</small>

hoạt động QLHC, trong đó do tính chất đặc thù của mỗi loại thiệt hại mà sẽ có

những biện pháp khắc phục riêng. Hậu quả của mỗi hành vi vi phạm pháp luật

của cán bộ, cơng chức có thể đồng thời gây ra cả thiệt hại về nhân thân vàthiệt hại về tài sản cho người bị thiệt hại với các mức độ thiệt hại khác nhau.

Như vậy, bên cạnh một số thiệt hại có thê định lượng được (ví dụ: thiệt hại do

</div>

×