Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

TÌM HIỂU VÀI NÉT VỀ LÂM NGHIỆP NAM KỲ THỜI PHÁP THUỘC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (508 KB, 10 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<i>Từ khóa: lâm nghiệp, Nam Kỳ, dưới thời Pháp thuộc, chính sách về lâm nghiệp, tổ</i>

chức quản lý lâm nghiệp, khai thác lâm nghiệp

<i>Nhận bài ngày: 10/02/2022; đưa vào biên tập: 18/02/2022; phản biện: 22/4/2022;duyệt đăng: 10/5/2022</i>

<b>1. ĐẶT VẤN ĐỀ</b>

Từ điều kiện tự nhiên thuận lợi nênNam Kỳ có hệ sinh thái rừng nguyênsinh phong phú, trong đó có nhiều loạigỗ quý, mang lại giá trị kinh tế cao.Ngồi ra, ở Nam Kỳ cịn có rừng ngậpmặn trải rộng trong nhiều tỉnh, ngoàitrữ lượng gỗ đa dạng, các sản vậtcũng rất phong phú, là nguồn sốngcủa nhiều cư dân ven rừng. Đầutháng 9/1858, thực dân Pháp nổ súngtấn công Đà Nẵng, mở đầu chiếntranh xâm lược Việt Nam. Chỉ trongmột thời gian ngắn, thực dân Pháp đãnhìn thấy mối lợi từ những khu rừnggià nguyên sinh với nhiều loại gỗ q.Chính vì thế, trong suốt q trình xâmlược và cai trị, thực dân Pháp đã banhành nhiều chính sách về việc quản lý,

khai thác rừng ở Nam Kỳ.

<b>2. CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀNPHÁP ĐỐI VỚI LÂM NGHIỆP</b>

Ngay từ khi xâm chiếm và bình địnhba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, thực dânPháp đã ban hành, thiết lập các thểchế về lâm nghiệp nhằm độc quyềnkhai thác tài nguyên rừng để lấy gỗphục vụ cho nhu cầu quân đội. Năm1859, viên Thủy sư đô đốc, Tư lệnhquân đội Pháp Jean BernardJauréguiberry được Napoleon III bổnhiệm làm quyền Thống đốc ở NamKỳ đã quyết định “phải dựa ngay vàocác lý trưởng ở các làng để thực hiệnviệc khai thác và bảo vệ rừng” (dẫntheo Nguyễn Văn Đẳng, 2001: 7) (Bởichỉ có lý trưởng mới là người biết:diện tích, loại gỗ và chất lượng khurừng của địa phương). Nguyễn VănĐẳng, (2001: 8) cho biết: “Khi nhà

<small>*Viện Sử học.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

nước có nhu cầu về gỗ xây dựng sẽthơng báo về cho các quận, huyện córừng cần khai thác. Các quan chức ởcác quận huyện đó phải có tráchnhiệm cung cấp đầy đủ các lao dịchcần thiết để khai thác đủ số gỗ choquân đội mà không được chậm trễ”.Ngày 5/2/1862 Thống đốc Nam KỳLouis Adolphe Bonard đã ký nghị địnhquy định cấm khai thác 2 loại cây gỗquý là cây Sao và cây Vắp (MesuaFerra) (Thomas, 1999: 17). Hai loạicây này dành cho quân đội Pháp khaithác dùng vào việc xây dựng các cơngtrình quốc phịng và cung ứng nhucầu của quân đội (đóng tàu, xây dựngcảng, cầu cống)… Để kiểm sốt vàđộc chiếm khai thác, chính quyềnPháp cịn quy định khi người dânmuốn vào rừng phải có giấy phép cấphuyện, có sự xem xét của thanh tracấp tỉnh. Sau đó, giấy phép sẽ đượcchuyển về cho lý trưởng ở làng và lýtrưởng sẽ chỉ nơi được phép khai thác,diện tích, số cây được chặt. Như vậy,theo quy định này, vai trị của lýtrưởng chiếm vị trí rất quan trọng vì làngười chỉ định và kiểm sốt số câyđược chặt trong địa bàn quản lý củalàng.

Ngày 14/5/1866, Thống đốc Paul de La Grandière ban hành quyếtđịnh về điều kiện khai thác gỗ ở NamKỳ với mục đích: đưa việc khai thácgỗ trở thành một ngành kinh tế trongtoàn xứ Nam Kỳ, tạo thành một hoạtđộng sinh lời cho các nhà thầu vàthông qua các nhà thầu để thu cáckhoản lệ phí, thuế bán hàng làm giàu

Pierre-cho ngân sách của Pháp (Thomas,1999: 18).

Ngày 31/12/1873, Thống đốc MarieJules Dupré ban hành nghị định về tổchức Ủy ban Nghiên cứu vấn đề khaithác rừng và buôn bán gỗ ở Nam Kỳ.Năm 1875, Ủy ban này đã xây dựngmột quy chế lâm nghiệp, được xemnhư một quy chế cơ bản của ngànhlâm nghiệp ở Nam Kỳ. Trong đó quyđịnh rõ về cấp giấy phép khai thác, thủtục trình báo khi khai thác, vận chuyểngỗ và đường kính tối thiểu được phépkhai thác đối với 43 loại cây gỗ, phânthành 4 nhóm. Theo quy định này, gỗđược khai thác tự do để kiếm lời,miễn là đường kính của cây gỗ đạt45cm. Chính vì vậy, trong thập kỷ đầukhi Pháp xâm lược, rừng ở các tỉnhNam Kỳ bị tàn phá nhanh chóng, làmcho nhà cầm quyền lo lắng và bắt đầuđề ra những biện pháp chặt chẽ hơnđể quản lý, bảo vệ rừng (Thomas,1999: 19).

Ngày 12/6/1891, Thống đốc Henri EloiDanel ban hành Nghị định về việc thiếtlập các khu rừng cấm (Reserveforestière). Tại khu rừng cấm, phảikhai thác gỗ theo một quy tắc nhấtđịnh nhằm đảm bảo có thể rừng táisinh trong một chu kỳ từ 15 đến 20năm. Tại khu rừng cấm này, thực dânPháp áp dụng kỹ thuật đánh dấu cáccây được phép khai thác (bài cây chặt)và phải giữ lại những cây non của cácloại cây có giá trị để làm cho các khurừng ngày càng có nhiều loại cây gỗcó giá trị thương mại cao hơn. Ba khurừng cấm đầu tiên được thiết lập đều

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

ở Thủ Dầu Một. Có thể nói, việc thiếtlập các khu rừng cấm và những quyđịnh về khai thác gỗ trong nghị địnhban hành năm 1891, được xem là căncứ quan trọng về quy chế quản lýrừng những năm sau (Thomas, 1999:23).

Ngày 21/3/1930, Tồn quyền ĐơngDương Pierre Marie Antoine Pasquierban hành nghị định về quản lý rừngĐông Dương, thắt chặt việc quản lý vàkhai thác rừng (Thomas, 1999: 148).Việc quảng bá rộng rãi các quy địnhvề khai thác rừng được in trên ápphích lớn bằng chữ quốc ngữ, các cơquan địa phương có nhiệm vụ banhành và cơng bố rộng rãi cho dân cưđược biết để thực hiện việc bảo vệ vàkhai thác rừng đúng luật. Đặc biệt,Tồn quyền Đơng Dương cịn banhành quy định cấm người dân đốtrừng làm rẫy - “Nhà nước cấm sự đốtrừng đặng làm rẫy. Đốt rừng đặng làmrẫy, nghĩa là lại một khóm rừng nhànước, rừng lang, đốt cho rạp cây,trồng trặc một hai năm, rồi bỏ đi chỗkhác đốt nữa. Cách làm tàn ác ấy,dân Nam Kỳ đã văn minh, biết càyruộng, cấy lúa, chẳng nên dùng tới.Vả lại làm rẫy như thế ấy, thì sẽ bị tộinơi Tịa Đại hình”, “Quan Chủ tỉnh vàsở Kiểm lâm sẽ thừa lịnh của quanToàn quyền và quan Thống đốc mà thihành” (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2,1936: 2).

Đối với làm nương rẫy của các dântộc thiểu số, vì chưa thể cấm đốnhồn tồn được nên đã quy định vùnglàm rẫy, xác định phương thức luân

canh, cho phép canh tác 3 năm saukhi đốt rẫy và bỏ hóa trong vịng 10-15năm mới được quay lại vị trí cũ.Nhưng trên thực tế chính sách và quyđịnh này gần như khơng thành cơng,vì khơng thể kiểm sốt. Trên bản đồcơ quan Thủy lâm thường ký hiệu cácvùng đang đốt nương làm rẫy bằngmàu đỏ, gọi là “vùng đỏ”, tức là vùngmà cơ quan lâm nghiệp khơng thểkiểm sốt nổi. Trước năm 1945, diệntích những vùng này thường rất lớn,chứng tỏ cơ quan Thủy lâm trong thờikỳ Pháp thuộc chưa thực sự quan tâmđến các khu rừng mà họ không thểkhai thác được lâm sản.

<b>3. TỔ CHỨC QUẢN LÝ LÂM NGHIỆP</b>

Nam Kỳ là nơi thực dân Pháp xâmlược và thiết lập bộ máy cai trị đầutiên, nên tổ chức quản lý lâm nghiệp ởđây cũng được thiết lập sớm nhất.Quyết định ngày 1/6/1866 của Thốngđốc Pierre-Paul de La Grandière, đãphác thảo ra một dạng tổ chức quản lýlâm nghiệp đầu tiên. Đứng đầu cơquan quản lý rừng Nam Kỳ là mộtTổng Giám thị bảo vệ rừng (gardegénéral) đặt dưới quyền trực tiếp củaGiám đốc Nội vụ. Cơ quan này cónhiệm vụ quản lý 4 Sở Thanh tra(inspection) đặt ở 4 điểm quan trọng(Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Tây Ninh,Long Thành). Đứng đầu mỗi SởThanh tra là một kiểm sát viên lâmnghiệp (Thomas, 1999: 19).

Nghị định ngày 16/9/1875 của Thốngđốc Victor Auguste quy định rõ về tổchức quản lý lâm nghiệp được biếnđổi theo hướng phi tập trung hóa.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

Theo nghị định thì chức Tổng Giám thịbảo vệ rừng bị hủy bỏ và thiết lập cácHạt Lâm nghiệp (Division forestière)trực thuộc, đặt ở Sài Gòn, Thủ DầuMột, Biên Hòa, Tây Ninh, Bà Rịa, PhúQuốc. Mỗi hạt do một kiểm sát viênlâm nghiệp (garde forestière) đứngđầu (Hạt trưởng). Hạt trưởng có quanhệ với người quản lý các cơng việcbản xứ ở cấp tỉnh. Trên thực tế, đó làcác Sở Lâm nghiệp tự trị. Ngồi racịn có một ủy ban thường trực về lâmnghiệp, có tính chất là cơ quan tư vấn,có quan hệ với Giám đốc Nội vụ đặtbên cạnh Thống đốc Nam Kỳ(Thomas, 1999: 21).

Nghị định ngày 12/6/1891 của Thốngđốc Henri Félix de Lamothe quy địnhcông tác quản lý lâm nghiệp ở NamKỳ được chia thành 2 vùng, mỗi vùnggiao cho một Giám thị chính (Gardeprincipal) chịu trách nhiệm về bảo vệrừng ở vùng đó. Ở vùng miền TâyNam Kỳ chỉ đặt cơ quan thường trú(Journal Officiel de l’Indochine, 1891:713).

Nghị định ngày 23/6/1894 của Thốngđốc Augustin Julien Fourès, quy địnhcác vấn đề về quản lý lâm nghiệp ởNam Kỳ nhưng có sửa đổi và bổ sungso với nghị định năm 1874. Nghị địnhquy định, toàn Nam Kỳ chia thành 5quận lâm nghiệp (Arrondissement).Mỗi quận do một kiểm sát viên lâmnghiệp phụ trách và phải là ngườiquản lý hành chính nhà nước ở vùngđó, chứ khơng trực thuộc vào Giámđốc Sở Lâm nghiệp như nghị địnhnăm 1874 (Thomas, 1999: 27).

Ngày 20/6/1900, Tồn quyền ĐơngDương Broni ban hành nghị định quyđịnh về tổ chức cơ quan quản lý lâmnghiệp. Nghị định quy định việc thànhlập một Sở Lâm nghiệp (ServiceForestière) thuộc Phủ Tồn quyền,gắn với Tổng nha Nơng nghiệp vàThương mại Đơng Dương (Thomas,1999: 44). Ngày 7/2/1901, Tồn quyềnĐơng Dương Broni tiếp tục ban hànhSắc lệnh về tổ chức Tổng nha Nôngnghiệp, Rừng, Thương mại và tổ chứccủa Sở Thủy lâm. Theo Sắc lệnh thìđứng đầu Sở Thủy lâm Đơng Dươngcó một thanh tra thủy lâm điều hànhcác phó Thanh tra phụ trách các xứNam Kỳ, Bắc Kỳ và Campuchia(Thomas, 1999: 44).

<small>Bảng 1. Tổ chức quản lý lâm nghiệp ởViệt Nam từ năm 1905 đến năm 1925</small>

<small>Số lượng đơn vị đãthiết lập ở từng cấpCấp khuCấp hạt1905</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

Ở các xứ, được tổ chức thành cáckhu lâm nghiệp (cantonnement) domột quan chức cấp Tổng kiểm sátviên đảm nhiệm điều hành. Dưới cấpkhu là cấp Hạt, do Hạt trưởng điềuhành. Năm 1901, chưa có tài liệu nàothống kê chính xác số lượng các chứcvụ đã được thiết lập, đến năm 1905đã có số liệu thống kê cơ cấu tổ chứclâm nghiệp ở Việt Nam.

Sở Kiểm lâm có nhiệm vụ kiểm sốtrừng, trơng coi việc khai thác, bảo vệrừng, thu thuế các sản phẩm từ rừng.Ở cấp tỉnh, chính quyền Pháp đặt SởThủy lâm (Service Eaux et Forêts), cónhiệm vụ quản lý các khu rừng cấm,giữ gìn cây cối, tìm cách trồng cây táisinh ở những đồi trọc, ươm các loạicây như dương liễu để trồng rừngchắn gió và giữ cồn cát.

Trước khi Pháp cai trị, phần lớn nôngdân ở gần rừng đều sống bằng nhữngsản vật như củi, than, song mây, lánón, trầm hương, săn bắt... Thời Phápthuộc, Sở Kiểm lâm ở các tỉnh, ngồiviệc trơng coi và đánh thuế thổ sản lấytừ rừng cịn có nhiệm vụ cấm ngườidân tự vào rừng, lên núi. Nếu muốnvào rừng khai thác, phải mua giấyphép do Sở Kiểm lâm cấp. Nhữngngười dân nào khơng có giấy phépmà vào rừng, chẳng may bị bắt quảtang vi phạm lệnh cấm, nhân viênkiểm lâm có quyền tịch thu cơng cụ vàcác sản vật mà họ mất cả ngày mớikiếm được. Để kiểm soát việc ngườidân vào rừng săn bắt, Tồn quyềnĐơng Dương đã ban hành các sắclệnh ngày 7/4/1927, ngày 27/6/1934

và ngày 7/4/1938 quy định về thể lệsăn bắn ở Đông Dương (Nguyễn VănĐẳng, 2001: 9).

Việc Sở Kiểm lâm lập chốt kiểm lâm ởcửa ngõ các khu rừng để kiểm soátngười dân sống gần đó muốn vàorừng khai thác dù ít hay nhiều đềuphải mua giấy phép đã làm tăng thêmnguồn thu cho Pháp, nhưng đồng thờicũng làm cho cuộc sống những ngườidân có nghề đốn củi hay liên quanđến nghề rừng vốn đã vất vả lại càngkhổ cực hơn.

Chính quyền Pháp tiếp tục ban hànhcác sắc lệnh ngày 7/8/1934 và ngày10/9/1942 quy định về việc tổ chức SởThủy lâm Đông Dương (Nguyễn VănĐẳng, 2001: 13).

<b>4. KHAI THÁC LÂM NGHIỆP</b>

<i>Khai thác gỗ</i>

Các quy định về tổ chức quản lý lâmnghiệp trong thời kỳ Pháp thuộcthường gắn liền với chính sách xâmchiếm đất đai, phát triển nơng nghiệp,thiết lập đồn điền đáp ứng mục đíchkhai thác thuộc địa, cung cấp nơnglâm sản cho chính quốc. Chủ trươngxun suốt trong q trình cai trị củachính quyền Pháp ở nước thuộc địa làchỉ đầu tư xây dựng những ngành nàobỏ vốn ít, lợi nhuận nhiều. Chính vìvậy, đối với ngành lâm nghiệp ViệtNam, Pháp thực hiện chính sách độcchiếm, quản lý tài nguyên rừng, khaithác gỗ tròn để phục vụ trong qn độimột ít, cịn lại xuất khẩu về Pháp.Năm 1909, số lượng gỗ tròn mà Phápkhai thác và đánh thuế được trên cả

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

nước vào khoảng 786.896m<small>3</small>, trongđó khai thác nhiều nhất là ở Nam Kỳ(chiếm gần một nửa) (Nguyễn VănĐẳng, 2001: 13). Vì Nam Kỳ có nhiềukhu rừng ngun sinh rộng mênhmơng với những thân gỗ lớn ở ĐồngNai, Sông Bé và rừng ngập nước.Do đó, sản phẩm gỗ khai thác ở ViệtNam được Pháp xuất qua cảng SàiGòn trước năm 1945 chủ yếu là gỗ xâydựng, gỗ khúc, gỗ thô (nguyên trạng),gỗ thơm, gỗ nhuộm, gỗ hương, gỗthường (Lê Huỳnh Hoa, 2003: 79; 85).Những sản phẩm đã được chế biến từgỗ rồi xuất khẩu không nhiều, chủ yếulà các thùng gỗ rỗng, ghép hoặc tháorời (Lê Huỳnh Hoa, 2003: 81). Tuy ởNam Kỳ có cơng ty cơng nghiệp rừngBIF của tư bản Pháp, đặt ở Biên Hịa(Đồng Nai), có đầu tư, trang bị mộtphần máy móc, được xem là cơ sởcơng nghiệp rừng lớn nhất vào thời đó,nhưng các sản phẩm gỗ chỉ chế biếnthô rồi xuất khẩu về Pháp. Cho nên,nhiệm vụ chính của cơng ty này vẫn làkhai thác rừng.

Rừng ngập nước ở Nam Kỳ rộng hơn350.000ha (Lê Quốc Sử, 1999: 79),tập trung ở các tỉnh Bến Tre, Long An,Rạch Giá, Hà Tiên, Bạc Liêu, Cà Mau.Loại rừng này chủ yếu là cây tràm cừ,tràm gió, sú vẹt, dừa nước…

Theo tài liệu của các cơ quan thủylâm Sài Gòn thì diện tích rừng ngậpnước ở Bạc Liêu, Cà Mau “trướctháng 9/1945 xấp xỉ 290.000ha, trongđó có gần 200.000ha rừng đước, vẹt,mắm… 90.000ha rừng tràm ở U MinhHạ. Trong số gần 200ha rừng đước,

vẹt thì có hơn 144.500ha “rừng giàu”được các kỹ sư thủy lâm người Phápvà người Việt thời đó quy hoạch thànhcác khu rừng kinh doanh vĩnh viễn vàhơn 50.000ha rừng không xếp hạng.Rừng tràm ở U Minh Hạ với tổng diệntích 90.000ha thì có 46.000ha “đượcxếp vào loại rừng kinh doanh vĩnhviễn”” (Trần Thanh Phương, 1985: 125).Việc khai thác gỗ tại các khu rừngnguyên sinh ở Nam Kỳ của chínhquyền Pháp đã mang lại một nguồnlợi lớn mà lại không tốn tiền vốn đầutư, nên năm 1934 công ty đấu thầu gỗmiền Tây của Pháp bắt đầu mở rộngviệc khai thác rừng ngập mặn cónhiều loại gỗ quý ở Cà Mau. Từ năm1934 đến năm 1945, chỉ riêng rừngsác ở Cà Mau (chủ yếu là đước) đãkhai thác bình quân mỗi năm là350.000 xte củi, 50.000 tấn than (TrầnThanh Phương, 1985: 125).

<i>Khai thác lâm thổ sản</i>

Trong hệ thống rừng ngập nước, thìrừng tràm chiếm vị trí quan trọng nhấtở Nam Kỳ, đây là nguồn cung cấpnhiều lâm sản, đặc sản quý, nơi trú ẩncủa nhiều loại muông thú và nơi tăngtrưởng của nhiều loại thủy sản giá trị.Ngoài việc cung cấp một lượng lớnlâm sản phục vụ sản xuất và đời sống,rừng ngập nước cịn có vai trị quantrọng trong việc chống xói lở, giữ lạiđất phù sa, lấn biển, làm tăng thêmdiện tích đất đai. Bên cạnh đó, rừngngập nước ngồi nguồn lợi là gỗ, củi,lá lợp nhà như lá dừa nước, cịn cócác quần thể động vật về tôm cá, cuaốc, rùa, rắn, cá sấu…

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

Tuy Nam Kỳ có nguồn tài nguyênrừng phong phú, đa dạng với nhiềuloại gỗ quý giá trị nhưng việc banhành các nghị định về rừng của chínhquyền Pháp từ năm 1862 thì ngườidân chỉ có thể khai thác củi ở khu vựcven rừng, để đáp ứng nhu cầu chấtđốt; khai thác lá nón, lá kè, củ nâu,mây song, các dược liệu… phục vụcho nhu cầu gia dụng, tiểu thủ cơngnghiệp và y tế, cịn muốn khai thác gỗhay đi sâu vào rừng khai thác lâm thổsản thì người dân phải mua giấy phépdo chính quyền Pháp cấp.

Từ thống kê trên, chúng ta có thể thấyrằng, nguồn lợi chính quyền Pháp thuđược từ việc khai thác rừng ở Nam Kỳcao thứ hai Đông Dương, đứng sauCampuchia.

Bên cạnh việc khai thác gỗ, chínhquyền Pháp cịn khai thác các lị thantrong rừng. Nam Kỳ có rừng đướcnguyên sinh nên than đước nhiều, giátrị xuất khẩu cao. Cà Mau là tỉnh cónhiều than đước nhất, trước năm1945 có 750 lị sản xuất than sản xuất

được khoảng 60.000 tấn than đướcmỗi năm. Từ năm 1932 đến 1937 cókhoảng 30.000 tấn được xuất cảngsang Hồng Kơng và Thái Lan (trungbình mỗi năm 5.000 tấn). Từ năm1937 đến năm 1941 xuất khẩu được64.000 tấn (trung bình mỗi năm12.880 tấn) (Trần Thanh Phương,1985: 131). Than đước ở Nam Kỳđược nhiều thị trường trong nước vànước ngồi tiêu thụ.

<small>Bảng 3. Số lượng lị sản xuất than ở cáctỉnh Nam Kỳ trước năm 1945</small>

<small>Bảng 2. Diện tích rừng và thu hoạch sản phẩm từ rừng ở Đông Dương (1916-1922)Nước</small> <sup>Tổng</sup><small>diện</small>

<small>Diện tíchrừng (ước</small>

<small>Bắc Kỳ11635932.856429 374 362 310275258 296Tổng737310400 18.155 2.137 1.773 1.596 1.390 1.175 1.155 1.200</small>

<i><small>Nguồn: Thống kê Đơng Dương, 1922.</small></i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Bên cạnh các lị than đước, trongrừng tràm U Minh ở lớp dưới đất rừngtràm có trữ lượng than bùn nhiềucũng được chính quyền Pháp vàngười dân Nam Kỳ khai thác. Thanbùn ở rừng tràm U Minh có độ tro ít,lượng tỏa nhiệt cao hơn so với thanbùn ở miền Bắc (Ba Sao, Triệu Lộc,Triệu Sơn, Thạch Thất).

Trong rừng ngập nước thì rừng tràmU Minh, sát ven vịnh Thái Lan, trải dàitừ sông Đốc ở phía nam lên đến gầnRạch Giá. Phần trên là U MinhThượng, phần dưới là U Minh Hạ.Giữa U Minh Thượng và U Minh Hạ làsông Trẹm và sông Cái Tàu. Ngườidân sinh sống ở rừng U Minh gắn bómật thiết với cây tràm và được khaithác sử dụng.

Thân gỗ dùng làm cột nhà, cầu bắcqua kênh, cành nhánh dùng làm củi,hầm than. Trước năm 1945, chỉ riêngrừng tràm ở Nam Kỳ, chính quyềnPháp đã khai thác 200.000m<small>3</small> gỗ và100.000 xte củi (Lê Quốc Sử, 1999: 80).Những cây tràm lâu năm vỏ tràm khádày, có thể đến 2cm, thường đượctrộn chung với dầu làm đuốc hay vớidầu trong và bột chai làm đàn chai. Látràm, sau khi chưng cất, tinh dầu tràmđược ly trích có màu xanh nhạt, trong,mùi thơm, vị đắng. Tinh dầu tràm làmột dược liệu cần thiết, ngồi ra cịnđược dùng trong kỹ nghệ chế tạo dầuthơm. Hoa tràm có mùi hương rấtthơm nên trong rừng tràm có nhiều tổong mật. Mật ong tràm là sản phẩmrất được người dân ưa dùng. Rừngtràm còn là kho dược liệu quý, nhiều

loại cây thuốc giá trị cao đều có ở đây.Rừng tràm cũng phong phú quần thểđộng vật và đây là nguồn lợi khai thácchính của các cư dân sống xungquanh đó như heo, nai, mễn, khỉ, báo,sóc đen, trăn, rắn hổ mang… cùngnhiều loại chim muông như le le, vịttrời, diệc, hồng hạc, bìm bịp, chim mỏnhát, vẹt, cuốc… Bên cạnh đó, rừngtràm cịn có nhiều loại cá tôm đặctrưng của nước lợ, nước ngọt như cásu, cá chữ, cá bống mú, cá kèo, cáthòi lòi, cá đối… những loại cá nàytheo con nước thủy triều vào nhữngvùng thấp rừng tràm để kiếm ăn vàtăng trưởng. Ở những khu rừng thấpcó nước ngọt quanh năm, đáy bùnsình là bãi sinh đẻ của các lồi cá đennhư cá lóc, cá trê, cá rơ biển. Ven bờkênh rạch thì có các loại cua, nhất làba khía… Vùng rừng tràm cũng là nơitrú ẩn và sinh sống của cá sấu, kỳ đà -những loại bị sát có giá trị kinh tế cao.Đến thời kỳ Chiến tranh thế giới lầnthứ 2, tài nguyên rừng đặc biệt lànhững khu rừng nguyên sinh ở nướcta đã bị chính quyền Pháp khai tháckiệt quệ để phục vụ cho nhu cầu chiếntranh. Trong khi đó, nhân dân thì bịmất đất, quyền hưởng lợi từ rừng bịtước đoạt bằng những quy định hàkhắc của chính quyền Pháp. Nhữngngười dân sống ở rừng, đặc biệt làđồng bào các dân tộc thiểu số lại bị ápbức, bóc lột nặng nề hơn. Họ vẫn phảitiếp tục đốt nương, làm rẫy, du canhdu cư và phải sống trong cái vòngluẩn quẩn “phá rừng - nghèo đói - phárừng”. Chính vì vậy, nạn mất rừng ở

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

Nam Kỳ nói riêng và cả nước nóichung ln ln xảy ra và ngày càngnghiêm trọng hơn, mặc dù chính quyềnPháp có ban hành các thể lệ lâm nghiệpvà thiết lập tổ chức thủy lâm để kiểmtra, kiểm soát: “Người Annam nào đốtrừng, bắt được thì sẽ trục hồi ngunqn, khơng cho ở trong tỉnh ĐồngNai Thượng nữa”. “Lửa cháy rừng thìđồng dân phải chịu trách nhiệm vàphải lấy cơng nhật tư ích phụ ra đểtrồng cây lại” (Trung tâm Lưu trữQuốc gia 2, 1936: 28). Ngoài ra, SởKiểm lâm cũng cấm người dân khi đãvào rừng thì khơng được nấu ăn haylàm bất cứ việc gì liên quan đến lửa.

<b>5. KẾT LUẬN</b>

Có thể nói, những chính sách và quyđịnh về lâm nghiệp dưới thời Phápthuộc cịn mang nặng tính áp đặt, nênkhơng được người dân chấp hành.Chính P. Maurand, nguyên TổngThanh tra lâm nghiệp ở Đông Dươngcũng đã phải công nhận các chế độthể lệ đó là: “Một chính sách hà khắc(về lâm nghiệp), chỉ đơn phương dựavào những hình phạt, khơng đượclòng dân; chỉ đưa lại những kết quảtạm thời mà thơi. Chỉ cần lơi lỏng việctuần tra một chút, thì nạn cháy rừngsẽ nổ bùng lên nhiều hơn bao giờ hếtvà đó là sự phá hoại có tính chất bấtbình” (Nguyễn Văn Đẳng, 2001: 19).Tuy nhiên, người dân đốt rừng làmrẫy chủ yếu ở khu vực ven rừng, chỉcó những cây gỗ nhỏ và khơng có giátrị nhiều. Cịn những khu rừng già, vớinhững cây gỗ q thì chỉ có chínhquyền Pháp mới được phép khai thác.

Trong q trình cai trị, chính quyềnPháp cũng có ban hành một số quyđịnh nhằm đảm bảo tái sinh rừng saukhi khai thác, nhưng trên thực tế mớichỉ dừng lại ở trên văn bản, chứ Phápchưa thực sự có chế tài nghiêm khắcbảo vệ, trồng tái sinh rừng, nên về cơbản rừng Nam Kỳ nói riêng và cảnước nói chung thời kỳ này thường bịthối hóa sau khi khai thác.

Ngay một số nhà cầm quyền Pháp vàviên chức cao cấp của Sở Thủy lâmĐông Dương cũng đã thừa nhận nhữngchính sách và thể chế lâm nghiệp màPháp ban hành ở Việt Nam nói chungvà Nam Kỳ nói riêng là kém hiệu quả.Báo cáo của Tồn quyền Paul Doumergửi sang Pháp về tình hình ĐơngDương từ năm 1897 đến năm 1901viết: “Ngay sau khi xâm chiếm “1860-1873) đã xuất hiện luật lệ lâm nghiệp.Nội dung luật lệ này có chứa đựngnhững quy định hình như có hiệu lựcbảo vệ rừng, chống phá hoại rừng,nhưng thực chất luật lệ này là nhằmmục đích tăng thu bằng tiền… Năm1902, hơn 10 năm sau, thực tế đãnhận thấy là luật lệ ở Nam Kỳ khôngmảy may bảo vệ được rừng, trái lạirừng vẫn bị tàn phá gần như bị tiêudiệt… Thuế kiểm lâm, yếu tố duy nhấtđể hạn chế sự khai thác tự do, tiếcthay không đủ chấm dứt sự tàn phárừng…” (Nguyễn Văn Đẳng, 2001: 18).Đến năm 1923, H. Gubier Tổng Giámđốc Nha Thủy lâm Đông Dương: thừanhận “Khắp nơi rừng cứ lùi mãi, tốcđộ các loại gỗ bị tiêu hao, tiêu diệtnhanh. Qua thời gian, có thể nói rằng,

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

nếu số năm tăng theo cấp số cộngthì tốc độ hủy diệt rừng lại tăng theocấp số nhân. Trên những vùng đã mấtrừng, trơ trụi và rộng mênh mơng, đấtbị thối hóa và khơng cịn chút giátrị gì về mặt canh tác. Nhất định sẽđi đến phá sản…” (Nguyễn Văn Đẳng,2001: 18). Đến năm 1932, Nha Tổngthanh tra Nông Lâm - Mục súc ĐôngDương viết trong báo cáo: “Nói chungcho đến nay, việc khai thác rừng đượcquy định trên quan điểm thu thuế”(Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2, 1940: 6).Trong khoảng thời gian từ 1910 đến1931 tiền thu thuế lâm sản tăng từ0,6 triệu đồng lên gần 33 triệu đồng(gần 55 lần). Trong khi đó, chi tiêu đểtrả lương cho nhân viên, làm nhà cửa,

trụ sở và làm công tác tại rừng chỉtăng từ 0,4 triệu đồng lên 1,7 triệuđồng (tức là chỉ có 4 lần). Và trong1,7 triệu đồng này, chỉ có 9% đượcdành cho các cơng tác tại rừng.

Tóm lại, những chính sách lâm nghiệpcủa thực dân Pháp trong thời Phápthuộc khơng thể thốt khỏi mục tiêucơ bản của chủ nghĩa thực dân là bóclột, khai thác ngun rừng. Chínhsách có hà khắc thì cũng là hà khắcvới nhân dân Việt Nam còn ngườiPháp vẫn khai thác rừng tràn lan, cốtmang lại lợi nhuận nhiều nhất có thể.Hậu quả tất yếu của chính sách đó làtài ngun rừng ở Nam Kỳ nói riêngvà cả nước nói chung ngày càng bịtàn phá và thu hẹp.<small></small>

<b><small>TÀI LIỆU TRÍCH DẪN</small></b>

<i><small>1. “Arrêté portant réorganization du Service Forestier en Cochinchine”. Journal Officiel</small></i>

<i><small>de l’Indochine, Gouvernement général de l’Indochine, 12 Juin 1891, p. 713.</small></i>

<i><small>2. Nguyễn Văn Đẳng (chủ biên). 2001. Lâm nghiệp Việt Nam (1945-2000). Hà Nội: Nxb.</small></i>

<small>Nông nghiệp.</small>

<i><small>3. Lê Huỳnh Hoa. 2003. Cảng Sài Gòn và biến đổi kinh tế Nam Kỳ thời Pháp thuộc (giai</small></i>

<i><small>đoạn 1860-1939). Luận án. Trường Đại học Sư phạm TPHCM.</small></i>

<i><small>4. Thomas, Frédéric. 1999. Histoire de rộgime et des services forestiers franỗais en</small></i>

<i><small>Indochine de 1862 à 1945. Hanoi: Editions The gioi.</small></i>

<i><small>5. Trần Thanh Phương. 1985. Minh Hải địa chí. Cà Mau: Nxb. Mũi Cà Mau.6. Thống kê Đông Dương. 1922. Ký hiệu: Đtv 1922. Thư viện Viện Sử học.</small></i>

<i><small>7. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2. 1936. Hồ sơ về biện pháp phòng chống nạn cháy</small></i>

<i><small>rừng ở các khu vực miền Tây và miền Đông Nam 1912-1936, tỉnh Đồng Nai Thượng,</small></i>

<small>tháng 12/1936. Nha Thủy Lâm Đông Dương. Số hồ sơ 302, tr. 28.</small>

<i><small>8. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2. Hồ sơ về biện pháp phòng chống nạn cháy rừng ở các</small></i>

<i><small>khu vực miền Tây và miền Đông Nam 1912-1936, tỉnh Tây Ninh, tháng 3/1936. Nha</small></i>

<small>Thủy Lâm Đông Dương. Số hồ sơ 302, tr. 2.</small>

<i><small>9. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2. 1940. Hồ sơ về giá và thuế rừng ở Đông Dương năm</small></i>

<i><small>1940-1949. Nha Thủy Lâm Đông Dương. Số hồ sơ 247, tr. 6.</small></i>

<i><small>10. Lê Quốc Sử. 1999. Những khía cạnh kinh tế của văn minh kênh rạch Nam Bộ. Hà</small></i>

<small>Nội: Nxb. Khoa học Xã hội.</small>

</div>

×