Tải bản đầy đủ (.pdf) (26 trang)

Tóm tắt: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học còng Sesarmidae trong rừng ngập mặn Cần Giờ Thành phố Hồ Chí Minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (874.64 KB, 26 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>NGUYỄN TUẤN ANH </b>

<b>NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CÒNG SESARMIDAE TRONG RỪNG NGẬP MẶN </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

Cơng trình được hồn thành tại:

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HCM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Phú Hòa PGS.TS. Vũ Cẩm Lương

Phản biện 1: Phản biện 2: Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Trường

họp tại: Trường Đại học Nơng Lâm TP. Hồ Chí Minh Vào hồi ……giờ …. ngày …… tháng ….. năm …….

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

<b>- Thư viện Quốc gia Hà Nội </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>MỞ ĐẦU </b>

<b>1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI </b>

Rừng ngập mặn (RNM) là một trong những HST tự nhiên có năng suất sinh học cao nhất (Sandilyan và Kathiresan, 2012). Rừng ngập mặn ở Việt Nam có vai trị quan trọng trong việc đóng góp vào năng suất sinh học vùng cửa sông ven biển, thông qua cung cấp một lượng lớn sinh khối cơ bản để duy trì sự tồn tại của HST cả về ý nghĩa môi trường và kinh tế (Phan Nguyên Hồng và cộng sự, 1999). Bên cạnh đó, RNM cịn có vai trị bảo vệ bờ biển, chống lại xói mịn, chống lại gió bão,... RNM cịn là nơi cung cấp thức ăn và là nơi cư trú của nhiều lồi thủy sản quan trọng có giá trị cao.

Đến nay, hướng nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu mã vạch DNA đang được nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học trên thế giới rất quan tâm phát triển, đặc biệt trong những năm gần đây và sẽ là một xu thế nghiên cứu trong thời gian tới. Mã vạch DNA được xem là một cơng cụ mới, hỗ trợ có hiệu quả trong nghiên cứu về phân loại, phát hiện loài mới, giám định lồi và các mẫu có nguồn gốc từ sinh vật sống hoặc đã chết thậm chí đã qua chế biến, vì vậy mã vạch DNA có rất nhiều ứng dụng trong nghiên cứu cũng như thực tiễn (Heber và cộng sự, 2003).

Tại Việt Nam cho đến hiện nay, có rất ít cơng trình nghiên cứu về lĩnh vực này nhưng chỉ dừng lai ở phương pháp phân loại truyền thống như: Đỗ Văn Nhượng (2003) cung cấp dẫn liệu bước đầu về cua (Brachyura) ở rừng ngập mặn Cần Giờ; Trần Ngọc Diễm My (2011 a,b) nghiên cứu thành

<i>phần loài, vai trò tiêu thụ lá rụng của còng Perisesarma eumolpe ở vùng gẫy </i>

đổ do bão tại tiểu khu 17 rừng ngập mặn Cần Giờ; Trần Lê Quang Hạ và

<i>Trần Ngọc Diễm My (2021) nghiên cứu về chế độ ăn của còng Perisesarma </i>

<i>eumolpe giữa vùng rừng và vùng gẫy đổ 10 năm sau bão; Trần Ngọc Diễm </i>

My và Trần Lê Quang Hạ (2023) nghiên cứu về đa dạng các lồi cịng thuộc phân thứ bộ Brachyura tại tiểu khu 17 rừng ngập mặn Cần Giờ, sau 12 năm phục hồi của rừng do bão. Vì vậy, việc đầu tư nghiên cứu và ứng dụng mã vạch DNA hỗ trợ phân loại bằng hình thái, nghiên cứu về đặc điểm sinh học… nhằm duy trì và phát triển các lồi này là phù hợp, đặc biệt trong bối cảnh ứng phó biến đổi khí hậu hiện nay. Trên cơ sở đó, đề tài thực hiện

<b>“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học còng Sesarmidae trong rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh” nhằm có sự đánh giá tổng </b>

thể về thành phần loài, sự đa dạng, các sinh cảnh phù hợp cho các lồi cịng họ Sesarmidae sinh sống… hỗ trợ các nhà quản lý trong duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn là thật sự cần thiết và cấp bách.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

<b>2. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI </b>

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, phân bố và tốc độ tiêu thụ lá rụng của còng thuộc họ Sesarmidae trong các sinh cảnh đặc trưng của rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh để quản lý và phát triển bền vững sinh cảnh rừng ngập mặn Cần Giờ

<b>3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU </b>

Luận án nghiên cứu các lồi cịng thuộc họ Sesarmidae ở rừng ngập mặn Cần Giờ, TP. HCM.

Luận án chỉ nghiên cứu các sinh cảnh có điều kiện tự nhiên phù hợp cho còng sinh sống ở rừng ngập mặn Cần Giờ.

Luận án chỉ khảo sát tốc độ tiêu thụ lá rụng trên lồi cịng

<i>Parasesarma plicatum (Latreille, 1803), loài ưu thế ở sinh cảnh 3. </i>

Ứng dụng kỹ thuật giải trình tự DNA 03 vùng gen 16S-rRNA, COI và 28S-rRNA để định danh loài với các mẫu chưa xác định được rõ ràng qua đặc điểm hình thái ngồi.

<b>4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU </b>

Nghiên cứu thành phần lồi cịng thuộc họ Sesarmidae ở rừng ngập mặn Cần Giờ, TP. HCM.

Xác định sự phân bố và mật độ còng trong các sinh cảnh của rừng ngập mặn Cần Giờ.

<i>Khảo sát tốc độ tiêu thụ lá rụng của còng Parasesarma plicatum (Latreille, 1803) trong các sinh cảnh của rừng ngập mặn Cần Giờ. </i>

Xây dựng bộ tiêu chí về sinh cảnh cịng trong rừng ngập mặn CG.

<b>5. Ý NGHĨA KHOA HỌC, THỰC TIỄN VÀ TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI Ý nghĩa khoa học của đề tài </b>

Kết quả nghiên cứu cung cấp thêm các thông tin về một số đặc điểm sinh học, thành phần loài, sự đa dạng và phân bố các lồi cịng ở các điều kiện sinh cảnh, sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ.

<b>Ý nghĩa thực tiễn của đề tài </b>

Kết quả cung cấp các thông tin quan trọng làm cơ sở để xây dựng các giải pháp phù hợp trong công tác quản lý, bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ.

<b>Tính mới của luận án </b>

<i>Lần đầu ghi nhận được lồi cịng: Parasesarma lanchesteri (Tweedie, </i>

1936) tại RNM Cần Giờ bằng kỹ thuật giải trình tự gen 16S rDNA và COI.Lần đầu ghi nhận trình tự DNA vùng gene 28S-rRNA của loài

<i>Parasesarma lanchesteri (Tweedie, 1936) ở rừng ngập mặn Cần Giờ. </i>

Luận án đã tổng hợp các sinh cảnh đặc trưng của họ còng Sesarmidae tại rừng ngập mặn Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>CHƯƠNG 1 </b>

<b> TỔNG QUAN TÀI LIỆU </b>

<b>1.1. Tổng quan về đặc điểm sinh học của còng họ Sesarmidae </b>

<b>Tên gọi: phổ biến của các loài trong cận bộ này khá đa dạng như </b>

cua, cáy, còng, đam, rạm, dã tràng, ghẹ, cà ra,... nhưng các tên gọi này dường như không phải là các nhóm đơn ngành theo quan điểm của phát sinh loài hiện đại mà chỉ đơn thuần dựa theo hình thái hoặc môi trường sống của chúng. Hiện nay, người ta ước có khoảng gần 6.800 lồi.

<b>Phân biệt giới tính: Cua - cịng nói chung thể hiện sự biệt hóa giới </b>

tính. Con đực thường có càng lớn hơn con cái, và nắp bụng nhỏ hơn con cái.

<b>Đặc điểm sinh sản và vòng đời: Cua - cịng thu hút bạn đời thơng qua </b>

kích thích tố, phương tiện thị giác, âm thanh hoặc rung. Quá trình giao phối diễn ra ngay sau khi con cái đã lột xác và vỏ vẫn còn mềm, trứng được thả vào bụng của con cái, con cái mang trứng cho tới khi trứng nở. Khi sự phát triển phơi đã hồn tất, con cái giải phóng ấu trùng mới nở vào trong môi trường nước, ấu trùng zoea nhỏ bơi tự do có thể nổi và trơi theo dịng nước. Qua nhiều lần lột xác, chúng biến thái sang giai đoạn megalopa. Khi đã trở thành còng con, chúng vẫn sẽ phải tiếp tục lột xác nhiều lần nữa để trở thành còng trưởng thành.

<b>1.2. Mối liên hệ của các lồi cịng với hệ sinh thái rừng ngập mặn </b>

<b>Hệ sinh thái cửa sông và rừng ngập mặn: Vùng cửa sông rất đa dạng </b>

về sinh cảnh và nơi sống của các loài sinh vật gồm nấm, vi khuẩn, các loài thực vật và tảo, các loài động vật từ động vật không xương sống đến có xương sống, những sinh vật tham gia vào quá trình phân hủy vật chất, khép kín một chu trình sinh học ở đới biển ven bờ. Thực vật rừng ngập mặn được coi là cây có nhiều khả năng sống sót trong vùng nước có độ mặn cao và ôxy trong đất thấp.

<b>Tầm quan trọng của hệ sinh thái rừng ngập mặn: Đối với môi </b>

trường, rừng ngập mặn là môi trường sống, nuôi dưỡng một số loài cá, nhuyễn thể và động vật giáp xác. Sự đa dạng thành phần loài cùng với cung cấp nơi trú ẩn làm cho rừng ngập mặn trở thành một vùng sinh thái hấp dẫn

<b>để sống và sinh sản của các loài thủy, hải sản, chim, hổ, khỉ và cá sấu. Đối </b>

với kinh tế, hệ sinh thái rừng ngập mặn cũng rất quan trọng đối với con người như một nguồn cung cấp gỗ, câu cá và du lịch,…

<b>Những nỗ lực bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn: Khoảng 20 </b>

quốc gia trên thế giới đã bắt đầu các dự án phục hồi trồng lại cây ngập mặn. Một số hiệp ước và hiệp định quốc tế đã đề cập đến việc bảo vệ và khôi phục lại môi trường sống ngập mặn. Nhiều tổ chức đã bắt đầu các sáng kiến giáo dục

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

công cộng cùng với những nỗ lực nhằm phục hồi sinh cảnh rừng ngập mặn.

<b>Giới thiệu về rừng ngập mặn Cần Giờ, TP. HCM: Hiện trạng tổng </b>

thể của Rừng ngập mặn Cần Giờ hiện nay phần lớn là diện tích đã trồng thành rừng, cịn lại khoảng trên 20% là diện tích rừng tự nhiên và rừng tái sinh. Hệ động vật rừng ngập mặn Cần Giờ có giá trị cao về mặt bảo tồn đa dạng sinh học với trên 200 loài động vật, trong đó có 125 lồi tảo, 55 loài động vật nổi, 55 loài động vật nổi đáy, 18 lồi tơm, 69 lồi cá.

<b>Đa dạng thành phần lồi cịng rừng ngập mặn: Các lồi cịng trong </b>

họ Grapsidae, phân họ Sesarminae thuộc phân bộ Brachyuran, được tìm thấy phổ biến trong môi trường ven biển và các môi trường sống ẩm ướt khác ở vùng ơn đới, nhiệt đới trên tồn thế giới.

<b>Sự phân bố của các lồi cịng trong rừng ngập mặn: Biên độ triều, </b>

độ mặn và nhiệt độ, thành phần thực vật cùng với các chất nền phù hợp là những yếu tố liên quan đến sự phân bố của còng.

<b>Vai trò của còng đối với rừng ngập mặn: </b>

<i>Kĩ sư hệ sinh thái: Các hoạt động làm xáo trộn sinh học đất ảnh hưởng </i>

đến tính chất hóa học trầm tích đất, địa hình và sinh địa hố học, chúng ảnh hưởng đến điều kiện khử oxy hóa và làm giảm nồng độ sulfide trong trầm tích thơng qua hoạt động đào hang.

<i><b>Năng suất vật rụng, phân hủy lá rụng trong rừng ngập mặn: Vật rụng </b></i>

thực hiện ba chức năng chính trong hệ sinh thái: Năng lượng đầu vào cho vi sinh vật đất; chất dinh dưỡng đầu vào cho quá trình dinh dưỡng ở thực vật và nguyên liệu đầu vào cho hình thành hữu cơ trong đất. Những chức năng trên có liên quan đến các q trình chính trong đất, chẳng hạn như hoạt động sinh học, tuần hoàn chất sinh dưỡng và cấu trúc.

<i><b>Thu gom và loại bỏ vật chất rơi rụng: Việc loại bỏ vật chất rơi rụng </b></i>

bởi còng và đưa chúng đến hang của mình từ nền rừng ngập mặn là rất quan trọng trong thu gom vật chất và chu trình các chất dinh dưỡng trong rừng.

<i><b>Hỗ trợ các hệ sinh thái lân cận: hỗ trợ các hệ sinh thái lân cận như các </b></i>

rạn san hô và thảm cỏ biển bằng cách cung cấp thức ăn và nơi sinh sản và bằng bẫy trầm tích đó cung cấp sự bảo vệ. Sinh vật đáy không xương sống là một nguồn thức ăn cho ấu trùng còng mà lần lượt là nguồn thức ăn quan trọng cho các loài cá nước nông và ấu trùng cá vào rừng ngập mặn khi thủy triều lên cao, một dấu hiệu rõ ràng rằng còng giúp thủy sản gần bờ.

<b>1.3. Ứng dụng sinh học phân tử trong phân loại còng trong họ Sesarmidae </b>

Gần đây, các kỹ thuật dựa trên DNA (DNA barcode) đã được sử dụng để hỗ trợ phương pháp mơ tả hình thái và phân loại lồi truyền thống. Những dấu hiệu di truyền này giúp xác định mối quan hệ di truyền giữa các loài,

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

nguồn gốc của các loài và việc xác định niên đại cũng như sự tiến hóa và thích nghi.

Cannicci và cộng sự (2017) sử dụng kỹ thuật sinh học phân tử để xác

<i>định một lồi cịng rừng ngập mặn mới thuộc chi Parasesarma, P. gazi sp. </i>

<i>nov., thu thập ở rừng ngập mặn của Tanzanian và Kenya. Các tác giả đã mơ </i>

<i>tả hình thái của các lồi mới và so sánh nó với P. leptosoma. Các tác giả đã </i>

sử dụng dữ liệu di truyền tương ứng với các chỉ thị DNA của ty thể và nhân để xác định quan hệ của các loài mới trong họ Sesarmidae. Bốn mẫu vật của các lồi mới đã được lựa chọn phân tích gen và so sánh với dữ liệu di truyền

<i>từ 14 mẫu khác của còng rừng ngập mặn gồm: Parasesarma leptosome, P. </i>

<i>catenatum, P. melissa (De Man, 1887), P. guttatum (Milne-Edwards, 1869), P. samawati (Gillikin và Schubart, 2004), Chiromantes ortmanni (Crosnier, </i>

<i>1965), C. eulimene (De Man, 1895), Sarmatium crassum (Dana, 1851), </i>

<i>Selatium brockii (De Man, 1887), Neosarmatium phium (Ragionieri, Fratini </i>

<i>và Schubart, 2012), Sesarmoides longipes (Krauss, 1893). </i>

Đối tượng nghiên cứu: các lồi cịng thuộc họ Sesarmidae.

<b>2.2. Sơ đồ nghiên cứu </b>

Sơ đồ các bước nghiên cứu thể hiện như trong Hình 2.1

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<b>Hình 2.1. Sơ đồ tiến trình nghiên cứu</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b>2.3. Khu vực thu mẫu </b>

Căn cứ mức ngập và thời gian ngập của thủy triều tại rừng ngập mặn Cần Giờ để phân thành 4 sinh cảnh theo độ cao địa hình gồm: Địa hình 1 (ĐH1) tương ứng sinh cảnh 1 (SC1: - 0,3 - 0,4 m), Địa hình 2 (ĐH2) tương ứng sinh cảnh 2 (SC2: 0,4 - 1,1 m), Địa hình 3 (ĐH3) tương ứng sinh cảnh 3 (SC3: 1,1 -1,8 m) và Địa hình 4 (ĐH4) tương ứng sinh cảnh 4 (SC4: 1,8 –

<b>2,5 m không phù hợp cho còng sinh sống) (Bảng 2.1). Bảng 2.1. Các tiểu khu khảo sát thu mẫu </b>

<b>STT Tuyến Tiểu khu ĐH 1 (SC 1) </b>

<b>ĐH 2 (SC 2) </b>

<b>ĐH 3 (SC 3) </b>

1 I

<b>Thu mẫu: Tại khu vực thu mẫu có 3 người bắt tồn bộ số cịng gặp </b>

được trên sàn rừng trong thời gian 60 phút. Các mẫu còng thu thập được giữ trong bể nhựa với 5 cm trầm tích tại nơi thu mẫu trong vịng 24 giờ với điều kiện nhiệt độ phòng để tiến hành nghiên cứu và lưu giữ trong formaline 5% hoặc cồn 70<small>o</small><b>. Thời gian 12 tháng từ tháng 5/2019 đến tháng 6/2020. </b>

<b>Phương pháp phân tích: Các mẫu cịng thu thập được phân loại ra </b>

từng nhóm riêng, quan sát hình thái ngồi, sơ bộ mơ tả hình thái. Dựa theo tài liệu của Dai và Yang (1991) để định danh và mơ tả thành phần lồi, đồng thời tham khảo hệ thống phân loại mới hiện nay là Biodiversity Information System (OBIS) để cập nhật đúng tên khoa học của loài phù hợp

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

với sự phát triển của khoa học phân loại.

<b>2.4.2. Định danh c òng dựa vào giải trình tự 16S rRNA ty thể, COI mtDNA và 28S rRNA đối với các lồi cịng chưa phân biệt được rõ ràng bằng các đặc điểm hình thái </b>

<i><b>Thu mẫu: 05 mẫu cịng Parasesarma sp. kí hiệu M1.1, M1.2, M2.1, </b></i>

M2.2 và M3.2 thu được trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 9/2022, sau khi phân loại hình thái nhận thấy khá tương đồng với 02 loài

<i>Parasesarma bidens và Parasesarma eumolpe nên tiến hành đông lạnh và </i>

<i>chuyển về phịng thí nghiệm, sau đó rửa sạch và tiến hành giải trình tự DNA. </i>

<i><b>Phương pháp phân tích: </b></i>

<i> Ly trích DNA: Khoảng 50 mg thịt còng được xay nhuyễn và chuyển </i>

sang ống Eppendorf chứa 400 µl dung dịch ly giải (100 mM Tris-HCl, 100 mM EDTA, 250 mM NaCl, pH 8.0, 2% sodium dodecyl sulfate [SDS] và 200 μg/ml proteinase K). DNA tổng số được ly trích theo phương pháp phenol-chloroform-SDS (KlinBunga và cộng sự, 2000). Nồng độ và chất lượng DNA ly trích được xác định bằng quang phổ và phương pháp điện di

<i>trên gel agarose. DNA được bảo quản ở nhiệt độ 4 °C. </i>

<i>Phản ứng PCR: Các cặp primer sử dụng khuếch đại 16S rRNA ty thể, </i>

COI mtDNA và 28S rRNA trong nghiên cứu này theo Crandall và Fitzpatrick (1996). Phản ứng PCR thực hiện với chu trình nhiệt gồm 35 chu

<i>kỳ 94ºC/30 giây; 58ºC/30 giây; 72ºC/1 phút. Thể tích phản ứng là 50 µl. </i>

<i>Giải trình tự acid nucleic: Các sản phẩm PCR được điện di trên gel </i>

agarose 1%, hiệu điện thế 100V, thời gian 15 phút. DNA được soi dưới tia UV và kết quả được hiển thị trên hệ thống chụp gel. Sản phẩm PCR được gửi giải trình tự ở 1<small>st</small><i><b> BASE (Malaysia) theo phương pháp Sanger (1997). </b></i>

<b>2.5. Nội dung 2: Xác định sự phân bố và mật độ còng trong các sinh cảnh của rừng ngập mặn Cần Giờ </b>

<b>Thu mẫu: Gồm 5 người tiến hành thiết lập các ô thu mẫu 1m x 1m; tại </b>

mỗi địa hình ở mỗi tiểu khu thiết lập 03 ơ mẫu theo đường thẳng vng góc với bìa rừng và các ô cách nhau tối thiểu 50 m (Bảng 2.2). Tại các ô thu mẫu quan sát bằng mắt thường, một lần quan sát tối thiểu 15 phút với khoảng cách 3 – 5 m, đếm số lượng còng, đếm số lượng hang trong các ô thu mẫu và thu mẫu tồn bộ trong các ơ quan sát. Ghi nhận thành phần các loài cây và các loài cây chiếm ưu thế, các yếu tố môi trường tại các địa điểm thu mẫu.

<b>Bảng 2.2. Phân vùng khảo sát thu mẫu. STT Tuyến Tiểu </b>

<b>khu </b>

<b>Tổng số ô mẫu </b>

<b>Sinh cảnh </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b>Phương pháp phân tích: Dựa theo tài liệu của Dai và Yang (1991) để </b>

định danh và mơ tả thành phần lồi, kết hợp cập nhật tên loài trên hệ thống OBIS. Thành phần các loài cây và các loài cây chiếm ưu thế được nhận dạng

<b>theo tài liệu Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ (2003). Các yếu tố mơi </b>

trường: Nhiệt độ trầm tích (<small>o</small>C) được đo bằng nhiệt kế chuyên dụng tại độ sâu 10 – 20 cm, đo tại địa điểm thu mẫu; Độ mặn dung dịch đất (S‰) đo bằng khúc xạ kế Atago, đo tại địa điểm thu mẫu; pH dung dịch đất đo bằng máy đo pH tại địa điểm thu mẫu.

<b>Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học: </b>

 Chỉ số đa dạng: được sử dụng để đánh giá mức độ đa dạng sinh học của từng sinh cảnh nghiên cứu, theo công thức:

Đối với bất kỳ số lượng loài, chỉ số đồng đều nằm trong khoảng từ 0 - 1. Khi giá trị ngày càng gần 1, các cá thể có số lượng phân bố càng đồng đều

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

 <i>Tính đa dạng của các lồi cịng họ Sesarmidae trong từng sinh cảnh </i>

bằng giá trị Dv (Chen, 1994) trích bởi Phạm Quốc Huy (2008), được tính tốn bằng cơng thức:

<i><b>2.6. Nội dung 3: Khảo sát tốc độ tiêu thụ lá rụng của còng Parasesarma plicatum (Latreille, 1803) trong các sinh cảnh của rừng ngập mặn Cần </b></i>

<b>Giờ </b>

<b>2.6.1. Xác định độ ẩm có trong lá </b>

Áp dụng phương pháp nhiệt trọng trường. Độ ẩm của mẫu được xác định dựa vào khối lượng giảm sau quá trình sấy theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 5613:2007: Chè – Xác định hao hụt khối lượng ở 103°C.

<i>Lá sử dụng là lá cây đước đôi (Rhizophora apiculata) nhặt trên sàn </i>

rừng tại địa điểm thu mẫu còng, với 3 mẫu lá: 01 lá màu vàng trọng lượng ban đầu là 2,3767 g, 01 lá màu nâu đỏ trọng lượng ban đầu là 3,4992 g và 01 lá màu nâu đen trọng lượng ban đầu là 2,4200 g.

Tính tốn kết quả:

m<small>0</small>: Khối lượng lá trước khi sấy (g), m<small>s</small>: Khối lượng lá sau khi sấy (g)

<b>2.6.2. Thí nghiệm 1: Sự tiêu thụ riêng từng loại lá rụng của cịng </b>

<i><b>Parasesarma plicatum</b></i>

<i><b>Bố trí thí nghiệm: Thu thập mẫu còng Parasesarma plicatum sống, </b></i>

số lượng 150 con gồm: 75 còng lớn và 75 còng nhỏ. Còng lớn có trọng lượng trung bình các nghiệm thức là 12,42 g và CW trung bình 2,49 cm, gồm 3 nghiệm thức NT1, NT2 và NT3. Còng nhỏ có trọng lượng trung bình các nghiệm thức là 6,74 g và CW trung bình 2,00 cm, gồm 3 nghiệm thức NT4, NT5 và NT6, mỗi nghiện thức lặp lại 5 lần.

<i>Lá sử dụng thí nghiệm là lá cây đước đơi (Rhizophora apiculata) nhặt </i>

trên sàn rừng tại địa điểm thu mẫu còng với 03 loại lá: Lá màu vàng, lá màu nâu đỏ và lá màu nâu đen. Mỗi nghiệm thức gồm 05 con cịng và 01 loại lá, được bố trí ngẫu nhiên và lặp lại 05 lần, tổng cộng 30 nghiệm thức.

<b>Tiến hành thí nghiệm: Cho 05 con cịng vào một bể ni nhựa hình </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

trịn, đường kính 30 cm, ni trong phịng kín, khơng đậy nắp và không cho ăn trong 24 giờ trước khi thí nghiệm. Cho vào mỗi bể cịng lớn 12 g và mỗi bể còng nhỏ 5 g mỗi loại lá, chọn mẫu lá có màu sắc như nhau theo từng nghiệm thức. Thí nghiệm tiến hành trong 72 giờ, sau mỗi 8 giờ thí nghiệm cân lại trọng lượng của lá. Cơng thức tính khối lượng lá do cịng ăn

X (g) = X<small>0</small> - X<small>1</small>

Trong đó: X: Khối lượng lá do còng ăn; X<small>0</small>: Khối lượng lá trước thí nghiệm; X<small>1</small>: Khối lượng lá sau mỗi 8 giờ thí nghiệm.

<i><b>2.6.3. Thí nghiệm 2: Sự tiêu thụ lá rụng của còng Parasesarma plicatum </b></i>

<b>đối với tổng hợp 03 loại lá </b>

<i><b>Bố trí thí nghiệm: Thu thập mẫu cịng Parasesarma plicatum sống, </b></i>

trọng lượng trung bình là 10,86 g/cá thể và CW trung bình 2,41 cm/cá thể. Bố trí 1 ơ 1 con cịng + 3 loại lá (vàng, nâu đỏ, nâu đen), lặp lại 10 lần, tổng số cịng thí nghiệm là 10 cá thể. Lá sử dụng thí nghiệm là lá cây đước đơi

<i>(Rhizophora apiculata) nhặt trên sàn rừng tại địa điểm thu mẫu cịng. </i>

<b>Tiến hành thí nghiệm: Cho 01 con cịng vào một bể ni nhựa hình </b>

trịn, đường kính 30 cm, trong phịng kín, khơng đậy nắp và khơng cho ăn trong 24h trước khi thí nghiệm. Cho vào mỗi bể 5 g mỗi loại lá, chọn mẫu lá có màu sắc như nhau theo từng ơ thí nghiệm. Thí nghiệm tiến hành trong 72 giờ, sau mỗi 8 giờ thí nghiệm cân lại trọng lượng của lá. Cơng thức tính khối lượng lá do cịng ăn

Ghi chú: A: Mức ngập, thời gian ngập của thủy triều. B: Độ phủ của rừng. C: Loại rừng. D: Thành phần các loài cây. E: Loài cây ưu thế. F: Đặc điểm môi trường (nhiệt độ, độ mặn, pH).

<b>2.8. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu </b>

</div>

×