Tải bản đầy đủ (.pdf) (141 trang)

Luận văn: DẠY - HỌC TRUYỆN CƯỜI TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 THEO HƯỚNG TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.03 MB, 141 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
















































§¹I HäC TH¸I NGUY£N
TR¦êNG §¹I HäC S¦ PH¹M





NGUYỄN THỊ THANH TÂM






DẠY - HỌC TRUYỆN CƯỜI TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 THEO
HƯỚNG TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC







LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC







THÁI NGUYÊN - 2007





Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


§¹I HäC TH¸I NGUY£N
TR¦êNG §¹I HäC S¦ PH¹M




NGUYỄN THỊ THANH TÂM




DẠY - HỌC TRUYỆN CƯỜi TRONG
SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 THEO
HƯỚNG TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC



Chuyên ngành: LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY - HỌC VĂN VÀ TIẾNG VIỆT
Mã số: 60.14.10



LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC



NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG HỮU BỘI







THÁI NGUYÊN - 2007




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
A - PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1. Đề tài đƣợc lựa chọn từ yêu cầu giải quyết vấn đề dạy học tác
phẩm văn chƣơng theo hƣớng tích hợp và tích cực.
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn chương theo hướng tích hợp và tích
cực là một vấn đề còn mới mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề này. Nhiều nhà khoa học và nhiều thầy cô giáo ở các trường phổ thông
đã quan tâm và có những ý kiến đóng góp không nhỏ cho việc giảng dạy tác
phẩm văn chương theo hướng tích hợp và tích cực. Ngay từ thập niên chín
mươi ta có thể nói đến cuốn sách Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để
phát triển các năng lực ở nhà trường của tác giả Xavier Roegiers (Nxb Giáo
dục 1996 do Đào Trọng Quang và Nguyễn Ngọc Nhị dịch - trong khuôn khổ
dự án VNM 137-3000/94/096 - 01 của Liên hiệp Châu Âu). Trong công trình
này, người viết đã chỉ ra giá trị lý luận về nội dung và bản chất của tích hợp,
nêu bật những ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với chương trình
SGK cũng như kiến thức mà học sinh lĩnh hội được. Đây là những đóng góp
quan trọng trong việc định hướng dạy học tác phẩm văn chương trong nhà
trường hiện nay.
Thế nhưng ở công trình này, tác giả mới chỉ chú ý đến ảnh hưởng chung
của khoa sư phạm tích hợp với tất cả các vấn đề trong nhà trường, mà chưa đi
vào cụ thể việc dạy - học tác phẩm văn chương nhất là các thể loại văn học dân
gian (VHDG) đặc biệt là các thể loại tự sự (trong đó có truyện cười) thì chưa
được quan tâm đầy đủ. Mặc dù chúng ta đều biết rằng, dạy một tác phẩm VHDG

cũng là dạy một tác phẩm văn chương nhưng đây là một bộ phận có những đặc
điểm riêng. Cũng là loại hình tự sự nhưng ngoài những đặc điểm của loại hình tự
2
sự nói chung thì tự sự dân gian còn có những đặc điểm khác biệt, nhất là thể loại
truyện cười.
Truyện cười dân gian Việt Nam là thể loại tự sự chứa đựng cái hài,
dùng tiếng cười làm phương tiện chủ yếu để thực hiện chức năng phê phán,
châm biếm, đả kích cái xấu và mua vui giải trí. Đây là loại truyện kể ngắn gọn
nhất (5-7 câu, dài 15 - 20) có mở đầu, diễn biến và kết thúc câu chuyện, có
nhân vật, phần lớn nhân vật có nét khó quên. Truyện cười là thể loại có những
đặc điểm riêng biệt như vậy cho nên việc dạy thể loại đó theo hướng tích hợp
và tích cực đối với các giáo viên bậc THPT hiện nay là một vấn đề hoàn toàn
mới. Hơn nữa, lý thuyết về tích hợp và tích cực cũng là vấn đề mới chưa hẳn
đã có những cách hiểu đầy đủ và nhất trí giữa những nhà nghiên cứu và
những người thực thi. Do đó mà chúng tôi chọn đề tài này để tìm hiểu thêm
về mặt lý thuyết nguyên tắc tích hợp và tích cực trong chương trình.
1.2. Đề tài còn đƣợc lựa chọn từ thực tiễn dạy học truyện cƣời trong
SGK Ngữ văn 10 hiện nay ở trƣờng THPT theo yêu cầu đổi mới phƣơng
pháp dạy học.
Hiện nay nhà trường Việt Nam đang thực hiện việc đổi mới chương
trình sách giáo khoa (SGK) các cấp học. Năm học 2006-2007, SGK Ngữ văn
10 mới chính thức được đưa vào dạy học đại trà trên toàn quốc. Có nhiều thể
loại văn học được đưa vào chương trình phổ thông. Trong cuốn SGK Văn học
10 tập 1 phần Văn học Việt Nam (sách chỉnh lý hợp nhất) Nxb Giáo dục 2000
không có thể loại truyện cười. Thể loại này đã có ở chương trình Văn 7 (SGK
chỉnh lý năm học 1995-1996). Với bốn truyện cười: Mất rồi, (Cháy !) ; Treo
biển, Lợn cưới, áo mới; Thà chết còn hơn. Năm 2000 SGK Ngữ văn 6 rút bớt
chỉ còn lại hai truyện: Treo biển và Lợn cưới, áo mới. Cho đến năm 2006 ở
bậc THPT SGK Ngữ văn 10 (Sách cơ bản và sách nâng cao) đều có thể loại
truyện cười với hai truyện: Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày.

3
Trong quá trình thực hiện chương trình SGK mới, với nhiều yêu cầu mới giáo
viên và học sinh không phải không gặp những khó khăn nhất định. Giáo viên
phải tìm ra cách tiếp cận phù hợp để hướng dẫn học sinh tự tìm tòi, khám phá
tự chiếm lĩnh tri thức. Thực hiện được những yêu cầu đó không phải là điều dễ
dàng.
Trong đợt thực tế Sư phạm vừa qua, chúng tôi đã chú ý tìm hiểu việc
dạy học truyện cười trong SGK Ngữ văn 10 ở một số trường PT (Trường
THPT thực nghiệm Nguyễn Gia Thiều - Gia Lâm - Hà Nội), Trường PTTH số I
Lạng Giang - Bắc Giang; Trường THPT Yên Dũng số II Bắc Giang. Chúng tôi
nhận thấy, trên thực tế việc dạy - học truyện cười ở trường THPT có thuận lợi
(đa số HS yêu thích vì thể loại này rất giàu tính chất duy lý). Song, điều đó
không có nghĩa là việc dạy - học truyện cười đã đạt được hiệu quả như mong
muốn. Trong những giờ học đó vẫn có những bài học được khai thác giống
như bài học ở các thể văn học thành văn. GV chỉ phân tích một cách cô lập
trên văn bản ngôn từ mà không đặt tác phẩm vào môi trường VHDG, thời
điểm phát sinh để khai thác hoặc có bài lại được dạy theo cách tầm chương
trích cú, nhấm nháp ngôn từ, hình ảnh, làm cho HS "thấy cây mà không thấy
rừng"; hoặc viện dẫn quá xa, luận bàn lan man ra ngoài tác phẩm. Vì thế trong
giờ học, tính tích cực chủ động của HS chưa được phát huy, HS còn thụ động
trong việc tiếp thu, lĩnh hội tác phẩm. Vậy dạy - học như thế nào để kích thích
được hứng thú và lôi cuốn được tất cả HS vào hoạt động liên tưởng, tưởng
tượng, tìm tòi, khám phá, sáng tạo?
Xuất phát từ những lý do nói trên, chúng tôi chọn đề tài này nhằm góp
một tiếng nói giải quyết khó khăn cho những người đứng lớp khi thực hiện
chương trình mới này trong đó có chúng tôi.


4
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1. Vấn đề tích hợp, tích cực trong môn Ngữ văn:
Vấn đề tích hợp và tích cực trong dạy - học Ngữ Văn là điểm mới và
hiện đại, thu hút không nhỏ sự quan tâm của các nhà phương pháp và những
người làm công tác giáo dục, trở thành nội dung của nhiều cuộc luận bàn, trao
đổi. Mặc dù có rất nhiều ý kiến, quan điểm bàn luận dưới những góc độ khác
nhau về vấn đề ấy nhưng cuối cùng các nhà giáo dục đều nhận thấy rõ hiệu
quả tích cực của vấn đề này, đặc biệt là bộ môn Ngữ Văn. Vì vậy, nhằm nâng
cao chất lượng và hiệu quả bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường, SGK Ngữ
Văn đã được biên soạn theo hướng tích hợp và tích cực.
Từ năm học 2002-2003 ở bậc THCS đã thực thi theo chương trình và
SGK mới, và đến năm 2006-2007 được thực thi ở bậc THPT.
Tích hợp và tích cực trong dạy - học Ngữ Văn nói chung và dạy -
truyện cười nói riêng đã được đặt ra và giải quyết trong một số công trình và
các bài báo sau:
2.1.1. Ở cuốn Ngữ Văn 6, ngay phần “Lời nói đầu” tổng chủ biên SGK
THCS Nguyễn Khắc Phi đã viết: “Bên cạnh những hướng cải tiến chung của
chương trình như: giảm tài, tăng thực hành, gắn đời sống, cải tiến nổi bật của
chương trình và SGK môn Ngữ văn là hướng tích hợp”. Điều này thể hiện rõ
ở sự thay đổi cấu trúc bài học trong SGK mục: “Kết quả cần đạt” đặt ở đầu
nêu mục tiêu mà HS cần đạt tới, ở mỗi bài gồm cả ba phần ứng với ba phân
môn, các văn bản được bố trí theo hệ thống thể loại và phần nào theo tiến
trình văn học lịch sử. Ngoài số lượng lớn văn bản được hướng dẫn tìm hiểu
tại lớp, còn một số văn bản tự học có hướng dẫn mang tính chất bắt buộc
nhằm hình thành phát triển thói quen và kỹ năng tự học, tự tìm tòi nghiên cứu.
Cũng trong cuốn sách này, phần “Một số vấn đề chung về chương trình
và SGK môn Ngữ văn THCS” có viết: “Chương trình đã khẳng định lấy quan
5
điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo tổ chức nội dung chương trình, biên
soạn SGK và lựa chọn phương pháp giảng dạy”.
Ở mục “phương pháp”, quán triệt quan điểm tích cực như sau:

Phải phát huy tối đa tính tích cực, tính sáng tạo của HS, chủ thể học
tập ở tất cả mọi khâu: từ việc chuẩn bị bài, sưu tập tài liệu, phát biểu trong
tổ, nhóm, tự đánh giá và đánh giá bạn, tham quan, hoạt động thực tế theo đặc
trưng bộ môn, …
Cũng ở đây tác giả còn đề cập tới tích cực trong dạy tiếng Việt, Làm
văn, Ngữ văn … được biểu lộ ntn? Muốn phát huy tốt tính tích cực ta phải có
những hình thức học tập, cách kiểm tra đánh giá … ntn?
2.1.2. Trong cuốn sách Ngữ văn 10 tập 1 do GS Phan Trọng Luân
(Tổng chủ biên) phần “Lời nói đầu” đã nêu rõ mục tiêu và cấu trúc của SGK
THPT có sự kế thừa và phát triển vận dụng hướng tích hợp ở mức cao hơn,
phù hợp với trình độ tư duy của học sinh bậc THPT: “Học Ngữ văn là để trau
dồi tình cảm thẩm mỹ và nhân cách. Học Ngữ văn phải hướng vào cuộc sống
để vận dụng kiến thức và để sống đúng, sống đẹp”. Đặc biệt các tác giả khẳng
định: “Học Ngữ văn theo tinh thần tích hợp là một yêu cầu quan trọng đối với
mỗi HS”.
Về vấn đề tích cực, các tác giả cho rằng: “Điểm mới quan trọng của
SGK nhằm giúp HS tự học”. Vì vậy, các phần dẫn dắt HS trong mỗi bài đều
là những gợi ý giúp HS tự mình chiếm lĩnh TPVC hay một bài học cụ thể.
2.1.3. Người quan tâm đặc biệt đến vấn đề đọc - hiểu và vấn đề tích
hợp, tích cực là GS, TS Nguyễn Thanh Hùng. Trong bài Tích hợp trong dạy
học Ngữ văn đăng trên tạp chí Khoa học giáo dục (số 6 tháng 3 năm 2006)
viết: “Tích hợp là điểm nổi bật nhất của chương trình và SGK Ngữ văn mới,
đã chi phối cách xây dựng chương trình, chỉ đạo nội dung và phương pháp
dạy học Ngữ văn”. Một cách chung nhất có thể hiểu tích hợp (Integration) là
6
phương pháp phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất các quá trình học tậpcủa
nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một
môn Ngữ văn. Trên cơ sở phân tích nguồn gốc tư tưởng tích hợp tác giả nêu
bật ý nghĩa của vấn đề tích hợp: “Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp HS học
tập thông minh và vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương pháp của

khối lượng tri thức toàn diện, vào trong tình hình khác nhau và mới mẻ
trong cuộc sống hiện đại”.
Trong bài viết này, tác giả đã phân tích khá sâu sắc có sở lý luận và
hiệu quả thực tế của quan điểm tích hợp. Tác giả chỉ rõ: “Mục đích bao quát
của nguyên tắc tích hợp trong chương trình và SGK Ngữ văn là điều kiện
giáo dục phù hợp, khả thi, PPDH mới có hiệu quả và cơ sở lý luận tích hợp
một cách khoa học cùng với cách thức và mô hình tích hợp đa dạng đã hình
thành và phát triển năng lực đọc hiểu TPVC kết hợp với việc nâng cao dần kỹ
năng nghe, nói, đọc, viết trong văn hoá giao tiếp cho HS”.
Rõ ràng là, bài viết giải thích rất nhiều khía cạnh của vấn đề tích hợp
như: Vì sao tích hợp lại là điểm mới, nổi bật của chương trình SGK mới, lý
luận, kỹ năng và hiệu quả thực tế của quan điểm này trong dạy học Ngữ văn
như thế nào? Xét về mặt phương pháp tư tưởng tích hợp bao gồm những gì?

Có thể coi, đây là những tri thức quý báu giúp chúng tôi hiểu sâu hơn
về vấn đề tích hợp khi vận dụng vào đề tài nghiên cứu của mình.
2.1.4. TS Nguyễn Văn Đường trong báo cáo khoa học Tích hợp trong
dạy học Ngữ văn bậc THCS bài Về dạy học văn lớp 6 THCS theo hướng tích
hợp ( tạp chí Giáo dục số 10 tháng 8/2001) cũng đã đề cập đến một số cơ sở
lý luận và thực tiễn, bản chất của tích hợp và đề ra những phương hướng thực
hiện tích hợp trong bài học Ngữ văn, song mới chỉ dừng lại trong việc ứng
dụng cho THCS.
7
2.1.5. TS Nguyễn Trọng Hoàn trong bài Tích hợp và liên hội hướng
tới kết nối trong dạy học Ngữ văn (Tạp chí Giáo dục số 22, năm 2002) xác
nhận: “Những tri thức riêng lẻ, tri thức bộ phận khi dạy học tích hợp sẽ được
tiếp cận một cách có định hướng trong mối quan hệ đồng bộ của một bài học
hoàn chỉnh và nhất quán theo đặc trưng bộ môn. Nói cách khác, dạy học theo
hướng tích hợp có thể giúp HS vừa nắm được kiến thức cơ bản, vừa hình
thành được các thái độ, năng lực và kỹ năng thực tiễn mà môn học đặt ra. Đó

cũng chính là rèn luyện cho HS tư duy tổng hợp”.
Cũng theo TS việc dạy học tích hợp “Được nhìn nhận như là quá trình
GV tổ chức và hướng dẫn người học tiếp nhận và chuyển hoá kiến thức từ thể
tiềm năng sang khả năng thực hiện”.
Trên đây là một số cuốn sách bàn về tích hợp, tích cực trong dạy học
Ngữ văn mà người làm luận văn hệ thống được.
Ngoài ra còn một số sách tham khảo, các bài báo, luận văn viết về tích
hợp, tích cực trong dạy học. Rõ ràng là, đề cập tới vấn đề tích hợp, tích cực
chúng ta có thể thấy rằng, ở mỗi công trình nghiên cứu có thể bàn đến một
góc độ khác nhau của vấn đề. Nhưng nhìn chung, các tác giả đều khẳng định
vai trò quan trọng và tính tất yếu, khách quan của quan điểm dạy học này.
Tuy nhiên, những công trình đó mới chỉ có tính khái quát, chưa bàn cụ
thể tới vấn đề dạy học loại thể truyện cười cho HS lớp 10 theo hướng tích
hợp, tích cực.
2.2. Về vấn đề dạy - học truyện cƣời trong SGK Ngữ văn 10 theo
hƣớng tích hợp, tích cực.
Đối với thể loại truyện cười ở chương trình SGK Ngữ văn lớp 10 do
yêu cầu đổi mới phương pháp tuân thủ theo quan điểm tích hợp và tích cực
nên nội dung, phương hướng bài dạy cũng có nhiều thay đổi.
8
Gần đây khi SGK Ngữ văn 10 được thực hiện trong nhà trường, có
nhiều cuốn sách tham khảo được xuất bản, nội dung phần nhiều theo hướng
tích hợp và tích cực. Sách tham khảo dạy học Ngữ văn 10 được chia làm hai
loại: Loại sách phân tích, bình giảng các tác phẩm có trong Ngữ văn 10; Loại
sách gợi ý về phương pháp dạy học.
Chúng tôi xin đề cấp tới vấn đề dạy - học truyện cười ở một số công
trình sau:
2.2.1. Cuốn Đọc hiểu văn bản Ngữ văn 10 do TS Nguyễn Trọng Hoàn
(Chủ biên) Nxb Giáo dục, 2006. Ở thể loại truyện cười với hai tác phẩm cụ
thể: Tam đại con gà và Nhưng nó phải bằng hai mày, các tác giả đưa ra cách

chiếm lĩnh tác phẩm theo ba bước:
a) Gợi dẫn: Ở bước này tác giả cung cấp cho người đọc những tri thức
đọc - hiểu cụ thể về thể loại truyện cười, khái niệm, đặc điểm, mục đích, …
Nghĩa là những kiến thức về thể loại.
b) Kiến thức cơ bản: Bước này các tác giả ứng dụng tri thức phần gợi
dẫn trên để khai thác tác phẩm. Đặc biệt khi đọc tác phẩm Tam đại con gà
cần chú ý nhấn giọng ở câu “Dù dỉ là con dù dì”. Khi đọc (hoặc kể) cần chú ý
nhấn giọng ở các chữ: “năm đồng”,”mười đồng”, “một chục, “năm ngón”.
Câu cuối đọc chậm và nhấn giọng.
c) Liên hệ: Bước này các tác giả bình giảng dựa theo tài liệu (Hoàng
Tiên Tựu, “Bình giảng truyện dân gian” Nxb Giáo dục, Hà Nội 2001).
Như vậy, thể loại truyên cười trong SGK Ngữ văn 10 được các tác giả
cuốn sách khai thác đã có sự tuân thủ theo nguyên tắc tích cực giúp người đọc
nắm được khai thác truyện cười luôn gắn với đặc trưng thể loại. Tuy nhiên,
vấn đề tích hợp các tác giả có đề cập tới, song vẫn chưa thật rõ.
2.2.2. Cuốn SGV Ngữ văn 10 tập một do GS Phan Trọng Luận (Tổng
chủ biên), Nxb Giáo dục, 2006. Để giúp HS chiếm lĩnh phần nội dung và
9
trọng tâm bài học đã được xác định, GV sẽ nêu ra những câu hỏi để HS tự
phân tích, cách khai thác truyện cười trong cuốn này cũng đi theo hướng thể
loại. Thế nhưng chưa thực sự tích cực bởi trong quá trình dẫn dắt cũng chưa
thật triệt để, sâu sắc giúp HS nắm rõ được những đặc điểm riêng biệt của thể
loại truyện cười. Nói một cách khác, cách khai thác ấy sẽ làm giảm yếu tố tích
cực của HS, đồng thời vấn đề tích hợp cũng chưa thật triệt để.
2.2.3. Cuốn Phân tích tác phẩm Ngữ văn 10, Trần Nho Thìn (Chủ
biên) Nxb Giáo dục, 2006. Trong bài truyện cười Tam đại con gà và Nhưng
nó phải bằng hai mày. So với những cuốn kể trên dường như cách thức đã
tuân thủ nguyên tắc tích hợp, tích cực triệt để hơn cả. Tác giả cung cấp cho
người đọc một số tri thức bổ trợ và một số điều cần lưu ý về thể loại truyện
cười như: “Cái cười”; “Cái đáng cười”; “Tiếng cười hài hước và tiếng cười

phê phán”, … Tác giả còn nêu rõ: “Căn cứ vào ý nghĩa và chức năng của cái
cưòi và cái đáng cười nêu trên” mà có thể phân loại truyên cười.
Đến phần “Một số điểm cần lưu ý”, tác giả tiếp tục giúp người đọc nắm
rõ hơn về thể loại này với những thông tin về: nhân vật truyện cười, nghệ
thuật truyện cười, kết cấu truyện cười, ngôn ngữ truyện cười… Từ đó tiến
hành phân tích hai tác phẩm nhằm làm sáng tỏ những vấn đề cần khai thác
trong tác phẩm.
Như vậy, ở đây qua những tri thức cụ thể về thể loại truyện cười HS có
thể tự tổng hợp rồi chiếm lĩnh tác phẩm. Nói khác đi cách khai thác này sẽ
giúp các em nắm vững thể loại và nội dung tác phẩm đồng thời biết só sánh
với các thể loại khác đã học và sẽ học để hiểu rõ hơn dụng ý của tác giả dân
gian khi xây dựng tác phẩm.
Bên cạnh đó việc cho HS tập kể truyện cười một cách nghệ thuật, giải
nghĩa từ, … Nghĩa là giúp HS tích hợp với Tiếng Việt, Làm văn,… để hiểu rõ
hơn về thể loại.
10
Cách khai thác này của tác giả sẽ là những gợi ý quý báu giúp chúng tôi
trong quá trình nghiên cứu đề tài.
2.2.4. Cuốn Thiết kế bài học ngữ văn 10, Phan Trọng Luân (Chủ biên)
Nxb Giáo dục 2006. Ở thể loại này với hai tác phẩm đã nêu, tác giả thiết kế
tiến hành các bước hết sức chặt chẽ.
a) Tìm hiểu phần tiểu dẫn:
Khơi gợi HS bằng câu hỏi
b) Học văn bản:
- Đọc: GV yêu cầu HS đọc, nhận xét giọng đọc, kể hoặc diễn hoạt
cảnh, … Tính tích cực được cụ thể hoá từ cách đọc – giúp HS dễ nhận thấy
vấn đề cần khai thác HS được sống với thế giới trong truyện (nếu được diễn
hoạt cảnh, …).
- Tìm hiểu mâu thuẫn trong tình huống gây cười.
HS nắm vấn đề theo câu hỏi của GV dẫn dắt theo vấn đề của tác phẩm,

kích thích HS suy nghĩ, khái quát nội dung phát biểu và lập bảng hệ thống so
sánh …
c) Tổng kết:
Nêu những vấn đề cho HS tổng kết nhất là về nghệ thuật truyện cười.
Mô hình thiết kê bài học của tác giả khá cụ thể, chi tiết. Nguyên tắc tích
hợp, tích cực được bám sát. Do vậy mà mọi vấn đề trong tác phẩm sáng rõ
hơn. Qua đó HS sẽ nắm chắc hơn về thể loại này. Hướng dạy - học này sẽ là
một gợi ý giúp chúng tôi trong qúa trình nghiên cứu đề tài.
Tóm lại, đề tài nghiên cứu Dạy - học truyện cười trong SGK Ngữ văn
10 theo hướng tích hợp và tích cực của chúng tôi nhằm tổng kết, hệ thống lại
những thành tựu của những người đi trước và vận dụng một cách sáng tạo vào
11
việc đề xuất một phương án dạy học cụ thể cho những truyện cười trong SGK
Ngữ văn 10 hiện đang được giảng dạy.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài của chúng tôi có mục đích: Tìm một phương án dạy - học có
hiệu quả các tác phẩm truyện cười trong SGK Ngữ văn 10 theo yêu cầu đổi
mới của chương trình: tích hợp và tích cực.
4. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Cách dạy - học truyện cười trong SGK ngữ văn 10 theo hướng tích hợp
và tích cực. Cụ thể là: Hoạt động của GV và HS trong giờ học phần truyện
cười ở lớp 10 THPT.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1. Nghiên cứu trên bình diện lý thuyết về truyện cười: tìm hiểu khái
niệm về truyện cười, đặc điểm thi pháp truyện cười, cách tiếp cận truyện cười.
5.2. Nghiên cứu trên bình diện lý thuyết về đổi mới phương pháp dạy -
học Văn theo hướng tích hợp, tích cực.
5.3. Tìm hiểu thực tiễn dạy - học phần truyện cười trong SGK Ngữ văn
10 trường phổ thông trong năm đầu tiên thực thi (chú trong nghiên cứu giờ
học).

5.4. Đề xuất một phương án có tính khả thi, nhằm nâng cao giờ học
truyện cười theo hướng tích hợp và tích cực (thể hiện qua thiết kế hai bài học
truyện cười trong SGK Ngữ văn 10).
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1. Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lí luận: Tổng hợp các bài viết,
các công trình nghiên cứu về truyện cười, về phương pháp dạy - học truyện
cười trong SGK Ngữ văn 10.
6.2. Phương pháp khảo sát:
12
Khảo sát các giờ dạy - học truyện cười ở lớp 10 THPT ở hai trường
THPT Yên Dũng số II và trường THPT Lạng Giang số I - Bắc Giang để tìm
ra vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả giờ dạy.
6.3. Thiết kế bài học hai truyện cười trong sách Ngữ văn 10 theo hướng
tích hợp và tích cực.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận luận văn của chúng tôi gồm ba
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của việc dạy - học truyện cười theo hướng tích
hợp và tích cực.
Chương 2: Tổ chức giờ học truyện cười theo hướng tích hợp và tích
cực.
Chương 3: Thiết kế bài học về hai truyện cười trong sách Ngữ văn 10
theo hướng tích hợp và tích cực.













13
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY - HỌC
TRUYỆN CƢỜI THEO HƢỚNG TÍCH HỢP VÀ TÍCH CỰC
Ở chương này, luận văn sẽ dựa trên những thành tựu nghiên cứu về thi
pháp truyện cười, và lý thuyết về nguyên tắc tích hợp của chương trình môn
học Ngữ văn ở trường phổ thông, để xây dựng thành cơ sở lý luận cho đề tài.
Do vậy, chương I gồm các nội dung sau:
- Thi pháp truyện cười và việc tiếp cận, phân tích truyện cười trong nhà
trường.
- Lý thuyết về nguyên tắc tích hợp và nguyên tắc tích cực của chương
trình Giáo dục phổ thông – môn Ngữ văn.
1.1. Đặc điểm của thể loại truyện cƣời.
Muốn dễ dàng nhận diện truyện cười, từ đó xác đinh được hướng tiếp
cận, phân tích các tác phẩm truyện cười, người dạy cần phải có những hiểu
biết về thể loại này. Cụ thể, phải xác định được nội dung cơ bản của khái
niệm truyện cười, các đặc điểm về thi pháp của chúng, Phần trình bày của
chúng tôi chủ yếu dựa trên thành tựu nghiên cứu về truyện cười đã được công
bố: Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Giáo dục – Đinh Gia Khánh
(Chủ biên); Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 phần Văn học dân gian (Nxb
Giáo dục - nhiều tác giả 1978); Những đặc điểm thi pháp của các thể loại
văn học dân gian (Đỗ Bình Trị - 1999)
1.1.1. Khái niệm truyện cƣời:
Điều cần thiết đầu tiên khi đi vào tìm hiểu, học tập và giảng dạy truyện

cười là phải xác định được nội dung cơ bản của khái niệm truyện cười, nhận
14
ra được những đặc điểm chủ yếu nhất của thể loại này để phân biệt với các thể
loại truyện dân gian khác.
- Cuốn Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian
(Đỗ Bình Trị, 1999) có viết: “Truyện cười là truyện kể về hiện tượng buồn
cười, thể hiện ở hành vi của nhân vật (bao gồm cả hành động nói năng),
nhằm gây cười”.
- Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, (Nxb Giáo dục – Đinh Gia
Khánh (Chủ biên) in lần thứ 10 – 2006) cho rằng: “Truyện cười nói một cách
đơn giản là những truyện làm cho người ta cười, có thể là cười mỉm, nhưng
thường là cười giòn giã. Có thể là cười một cách vui vẻ, nhẹ nhàng, nhưng
thường là cười mà phẫn nộ, khinh ghét”.
- SGK Ngữ văn 6 tập một (Nxb Giáo dục – Nguyễn Khắc Phi (Chủ
biên), 2002) viết: “Truyện cười là loại truyện kể về những hiện tượng đáng
cười trong cuộc sống, nhằm tạo ra những tiếng cười mua vui hoặc phê phán
những thói hư, tật xấu trong xã hội”.
- SGK Ngữ văn 10 tập một: (Nxb Giáo dục – 2006 - Phan Trọng Luận
(Chủ biên) viết: “Truyện cười : tác phẩm tự sự dân gian ngắn, có kết cấu chặt
chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc xấu, trái tự nhiên trong cuộc sống,
có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí, phê phán”.
- Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb Giáo dục 1997 - Trần Đình Sử, Lê
Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi) cho rằng: “Truyện cười dân gian là một thể loại
truyện dân gian chứa đựng cái hài, dùng tiếng cười làm phương tiện chủ yếu
để thực hiện chức năng phê phán, châm biếm, đả kích cái xấu và mua vui giải
trí”.
Từ một số định nghĩa về truyện cười nêu ở trên, ta có thể thấy được
một số điểm của thể loại truyện cười như sau:
- Đặc điểm về nội dung:
15

+ Có tiếng cười vui vẻ, nhẹ nhàng: Đó là tiếng cười đối với bà lão ngủ
say đến nỗi kẻ trộm khiêng cả chõng bà đang nằm mà bà vẫn ngủ chẳng biết
gì, mồm vẫn lảm nhảm nói mê “Đêm năm canh bà nằm chẳng nhắp” trong
truyện Tôi khiêng bà; đó là tiếng cười đối với ba anh chàng nọ mê ngủ đến
quên hết mọi cảm giác về thực tế Ba anh mê ngủ; đối với anh chàng nghiện
thấy người ta đi đại tiện dễ mà thèm truyện Thấy dễ mà thèm; đối với anh
chàng vô tâm, tính hay quên đến nỗi ỉa vào nón mà không biết, trông thấy co
dao của mình mà lại tưởng là ai bỏ quên; đó là tiếng cười anh chàng vừa
buông miệng nói một câu rất hùng với người láng giềng, thì liền sau đó lại nói
một câu rất nhũn với vợ Chẳng phải tay ông, …
+ Bên cạnh tiếng cười vui vẻ nhẹ nhàng có tiếng cười phê phán, chê
trách. Chẳng hạn, người ta cười tính keo kiệt quái gở Đi học hà tiện; Anh keo
kiệt ngã sông; Cười những thói kén rể kì quặc Vừa buồn cười vừa sợ; Tài ăn
cứt chó …Người ta chế giễu sâu cay anh dốt đặc mà lại lên mặt hay chữ
Tràng cảnh tắc đại thanh …
Tiếng cười phê phán còn bao hàm thái độ khinh bỉ, chê trách một sự sút
kém trong nhân cách (truyện: Con vịt hai chân; Thơm rồi lại thối … ).
Truyện Trả nợ tiền kiếp mỉa mai bọn chuyên sống bằng tô, tức; truyện
Truyện mượn ngựa vạch trần cái dốt của lão phú ông làm ra vẻ biết chữ …
- Đặc điểm về hình thức: Truyện rất ngắn gọn, ít tình tiết nhưng tình
tiết nào cũng nhằm gây cười; kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, hay dùng
biện pháp phóng đại …
- Từ đó rút ra kết luận sư phạm về dạy truyện cười, khi dạy bất cứ
truyện cười nào cũng làm cho HS nắm chắc được:
+ Truyện đó cười cái gì?
+ Nghệ thuật gây cười độc đáo ở truyện đó là gì?

16
1.1.2. Phân loại truyện cƣời:
Xem xét truyện cười dân gian, ta đều có thể dễ dàng nhận thấy những

điểm sau đây: Có truyện dài, nhiều sự việc, nhiều nhân vật, có truyện ngắn, ít
nhân vật, có truyện có khả năng gây cười manh mẽ, có truyện chỉ vừa đủ gây
cười một cách nhẹ nhàng, thậm chí có truyện khiến người ta vừa cười xong
liền phải suy nghĩ, có truyện nhằm đạt yêu cầu giải trí là chính, có truyện lại
kết hợp tác dụng giải trí với ý nghĩa phê phán, có truyện ít vận dụng nghệ
thuật cường điệu; có truyện, trái lại triệt để vận dụng nghệ thuật đó. Có truyện
lấy đề tài trong sinh hoạt bình thường của người nông dân, có truyện lấy đề tài
trong sinh hoạt của các tầng lớp khác: nho sinh, thầy đồ, nhà sư, lý trưởng,
thầy bói, …Có truyện ít yếu tố tục, có truyện lại khiến tiếng cười nổ ra mạnh
mẽ nhờ vận dụng yếu tố tục đúng chỗ, có truyện có kết luận hẳn hoi, có
truyện chỉ buông lửng để người ta suy nghĩ về vận dụng ý bao hàm ở trong.
Như vậy, với một loại hình bao gồm nhiều dạng như trên tất nhiên vấn
đề phân loại phải đặt ra. Ở Việt Nam vấn đề này còn thiếu sự thống nhất trong
các nhà nghiên cứu. Đến nay tuy đã có một số các phân loại truyện cười được
nêu nhưng chưa có bảng phân loại nào được giải quyết đầy đủ trên cơ sở
những tiêu chí rõ ràng và nhất quán. Văn Tân trong Tiếng cười Việt Nam và
Nguyễn Hồng Phong trong Truyện tiếu lâm thì cho rằng: “Có thể chia
truyện cười thành hai loại" và họ: “Có chú ý phân biệt truyện tiếu lâm và
truyện khôi hài mà Nguyễn Hồng Phong gọi là truyện cổ thế sự [32,165].
Cách phân loại này của họ dựa trên căn cứ về cách cấu tạo về mục đích và
nội dung của truyện cười”.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn
Khắc Phi, Nxb Giáo dục) “Có thể chia truyện cười dân gian ra thành hai loại
chính: Truyện cười kết chuỗi và truyện cười không kết chuỗi.” [25;251].
Nguyên nhân của sự thiếu thống nhất trong phân loại cũng như trong định
17
nghĩa truyện cười là do sự phức tạp của đối tượng (truyện cười) và do sự thiếu
thống nhất về quan niệm và phương pháp của các nhà nghiên cứu.
Một trong những cách phân loại truyện cười được nhiều người tán
thành và vận dụng hiện nay là “Chia truyện cười thành hai loại: truyện khôi

hài và truyện trào phúng” [18;78]. Cách phân loại này đã căn cứ vào ý nghĩa,
chức năng của cái cười và cái đáng cười.
Đây cũng là cách phân loại mà đề tài của chúng tôi lấy làm cơ sở cho
việc giải quyết các vấn đề dạy học truyện cười ở các phần sau.
1.1.2.1. Truyện khôi hài:
Đặc điểm thi pháp của truyện cười dân gian bao gồm: nhân vật, kết cấu,
ngôn ngữ, … Những đặc điểm này làm thành thi pháp đặc trưng của truyện
cười … và, đều phục vụ mục đích gây cười.
Tuy nhiên một đặc điểm thi pháp có sự khác biệt rõ ràng trong tiểu loại
truyện khôi hài và truyện trào phúng ta cần phân biệt đó là nhân vật.
Truyện khôi hài (hài hước) là tiểu loại của thể loại truyện cười, có mục
đích chủ yếu nhằm giải trí, mua vui là chính. Nói theo Ăng-ghen tác dụng
chính của loại truyện khôi hài là: “giải trí người nông dân sau một ngày lao
động mệt nhọc”[32;167].
- Nhân vật của truyện hài hước
Nhà nghiên cứu Đỗ Bình Trị cho rằng: “Có những trường hợp khi ta
cười, ta chú ý đến cái đáng cười hơn là người gây ra cái đáng cười; nói cách
khác, ta cười cái đáng cười hơn là người gây ra cái đáng cười ấy – đó là cái
cười hài hước”. Chẳng hạn trong các truyện Treo biển, Bốn cẳng, Sáu cẳng
…. (Phân tích tác phẩm VHDG, Nxb Giáo dục 1995, tr.118).
Nhìn chung, nhân vật của truyện hài hước và nhân vật của truyện châm
biếm đều được đặt vào cùng một loại tình huống, đó là tình huống sinh hoạt
18
đời thường. Thế nhưng, chỗ khác nhau của hai loại nhân vật này là ở tính chất
của hành vi ứng xử của chúng.
Chẳng hạn, ở truyện hài hước Phương pháp nào tốt hơn. Ta không
cười nhân vật tằn tiện mà chỉ cười cái “phương pháp” kì quặc của anh ta theo
phương châm của dân tằn tiện không bao giờ để cái gì thừa. Vì vậy, khi chi
và dùng anh ta luôn có sự “tối ưu hoá”. Hay trong truyện: Có nuôi được
không do lỡ mồm mà gây cười. Nghĩa là một nhân vật của truyện hài hước có

hành vi buồn cười do lầm lỡ thường tình, vô hại: “anh có con trai bị đẻ non,
có lẽ do quá lo lắng “sợ không nuôi được” mà quên rằng đứa bé mà mình hỏi
“rồi có nuôi được không?” ấy là . bố của bạn!” [30;110].
- Hành vi của một nhân vật truyện hài hước thường không gắn với cái
xấu. Vì thế cái cười hài hước thưòng chỉ dừng lại ở hành vi của nhân vật. Nói
khác đi, nhân vận của truyện hài hước chỉ bị phê phán đơn thuần về hành vi.
- Trong truyện hài hước, nhân vật của truyện hài hước là đối tượng của
cái cười hài hước.
- Nhân vật - đối tượng của cái cười hài hước (nhân vật phụ) có chức
năng làm lộ ra cái đáng cười tiềm ẩn nơi hành vi của nhân vật chính.
Chẳng hạn truyện Đậu phụ có hai nhân vật: Sư cụ và chú tiểu. Trước
hết ta cười chú tiểu vì chú gọi con chó bằng “đậu phụ”. Nhưng nghĩ lại ta sẽ
thấy chỗ trái khoáy thì làm gì có “đậu phụ làng” và “đậu phụ chùa” và làm
gì có “con đậu phụ” để mà cắn nhau. Rõ ràng thực chất hành vi buồn cười ở
đây là cái cười hài hước. Do đó ta có thể nói: “Nhân vật của truyện hài hước
chỉ bị phê phán đơn thuần về hành vi” [30;112]
1.1.2.2. Truyện trào phúng (châm biếm)
Nếu như, nhân vật của truyện hài hước là đối tượng của cái hài hước thì
nhân vật của truyện châm biếm là đối tượng của cái cười châm biếm.
- Nhân vật truyện châm biếm
19
Tuy đều đặt vào loại tình huống sinh hoạt “đời thường” nhưng “chỉ
riêng hành vi ứng xử của nhân vật truyện châm biếm là gây phản ứng phê
phán của cả tư duy suy nghĩ, lẫn tư duy xã hội và ý thức tư tưởng. Là vì
những hành vi này gắn với cái xấu”. [30;107]
Chẳng hạn truyện cười: May không đi giày cười hành vi nhân vật hà
tiện, tuy chỉ biểu lộ một cách tự phát nhưng đã để bộc lộ nét bản chất của
người hà tiện “trọng của hơn người”.
Truyện cười này, ta cười bản thân anh người Giang Nam vì hành vi ấy
gắn với tính cách hà tiện, thể hiện rõ nét bản chất của con người anh ta.

Hay nhân vật ông sư trong truyện Lá húng do nóng vội, ông đã buột
mồm “lá húng” để doạ chó làm lộ chân tướng “sư hổ mang”.
Nói khác đi, với nhân vật của truyện châm biếm, đó là lầm lỡ không
bình thường, tai hại. Hơn nữa hành vi của nhân vật truyện châm biếm thường
gắn với cái xấu. Do đó cái cười châm biếm sẽ không dừng lại ở hành vi mà
nhằm vào chính nhân vật. Nói khác đi nhân vật của truyện châm biếm bị phê
phán cả về hành vi lẫn về con người. Ví dụ: truyện Lợn cưới, áo mới; Thà
chết còn hơn …
- Truyện trào phúng hướng vào mục đích phê phán, những thói hư tật
xấu của con người và xã hội. Do đó đối tượng bị phê phán phần lớn là các
nhân vật thuộc tầng lớp trên như: quan lại, thầy đồ, nhà sư … trong nhiều
truyện như: Sao phí thế; Tam đại con gà; Đánh quân ngũ sách, Mua cua
- Trong truyện châm biếm, nhân vật gây cười không phải là đối tượng
thực sự của cái cười (không gây ra hành vi buồn cười), tuy chỉ đóng vai trò
thứ yếu trong diễn biến câu chuyện nhưng lại là nhân vật chính. Chẳng hạn,
truyện Đậu phụ chú tiểu đã dùng “nhã ngữ” “ăn đậu phụ” của sư cụ biến sư
cụ thành đối tượng của cái cười châm biếm.
20
Tóm lại, bằng việc phân biệt nhân vật truyện hài hước và nhân vật
truyện châm biếm ta có thể khái quát như sau: Nếu như nhân vật trong truyện
cổ tích có cả một cuộc đời, số phận thì nhân vật trong truyện cười không có
bề dày như thế. Nhân vật truyện cười đơn giản chỉ là hành vi ứng xử của nó
trong một hoàn cảnh nhất định và hành vi ứng xử ấy luôn luôn biểu hiện ở lời
nói. Hơn nữa, nhân vật của truyện cười còn là đối tượng của sự cười cợt, phê
phán. Vì những đặc điểm ấy mà nhân vật của truyện cười có phần gần với
nhân vật của truyện ngụ ngôn.
1.1.3. Sơ lƣợc về thi pháp truyện cƣời:
1.1.3.1. Mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu thi pháp thể loại
a) Văn học dân gian (VHDG) tồn tại trong thực tế không phải như một
cái gì đơn nhất, nhất dạng mà dưới hình thức thể loại. Không phải dưới hình

thức những tác phẩm chung về mặt thể loại mà dưới hình thức những tác
phẩm thuộc một thể loại xác định. Đó là những câu tục ngữ, những bài ca dao,
chèo, vè, những truyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện cười …
Bản chất cũng như những đặc trưng cơ bản của VHDG đều mang
những biểu hiện cụ thể khác nhau tuỳ theo thể loại. Mỗi thể loại VHDG có
cách phản ánh thực tại và thái độ đối với thực tế riêng mà một số nhà khoa
học gọi là phương pháp lịch sử đặc thù của nó. Thể loại, do đó là đơn vị cơ sở
của VHDG và là điểm xuất phát tất yếu của công việc nghiên cứu VHDG.
b) Những đặc sắc của VHDG thể hiện không chỉ ở nội dung (nó nói cái
gì?) mà còn ở bản thân những thủ pháp phản ánh thực tại, phương pháp nghệ
thuật của nó (nó nói như thế nào?). Hơn nữa phương pháp nghệ thuật đó lại
phụ thuộc rất nhiều vào đặc trưng của thể loại. Theo cuốn Văn học dân gian
Việt Nam: thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười – Nxb Văn hoá
nghệ thuật TPHCM -1997, Vũ Tiến Quỳnh (Biên soạn), tr.120 viết: “Thể
loại là hình thức điển hình của toàn bộ tác phẩm, của toàn bộ sự hiểu biết
21
nghệ thuật”. Do vậy, không thể nắm được phương pháp nghệ thuật của
VHDG nếu không tìm hiểu, trước hết thi pháp thể loại của nó.
c) Mỗi một thể loại VHDG có cách nói riêng nhằm biểu đạt nội dung
của mình. Thi pháp thể loại chính là cách nói riêng ấy. Có nắm được thi pháp
thể loại mới có khả năng “giải mã” các tác phẩm thuộc thể loại. Người ta sẽ
không thể “giải mã” được các tác phẩm thuộc thể loại khác nhau nếu không
nắm được các thi pháp thể loại của chúng.
Với mỗi GV trong nhà trường phổ thông, dạy tác phẩm không có nghĩa
là chỉ truyền đạt những gì người GV cảm nhận được từ tác phẩm, mà còn là
hướng dẫn HS con đường khám phá tác phẩm, chiếm lĩnh tác phẩm. Cần phải
quy cách thức “giải mã” tác phẩm thành một hệ thống thao tác hợp lý. Đồng
thời, những thao tác này phải được thực hiện một cách nhất quán với các tác
phẩm thuộc cùng một thể loại.
Chính vì thế, việc nghiên cứu thi pháp thể loại sẽ giúp người giáo viên

không những có khả năng tự mình hiểu đúng, hiểu sâu sắc tác phẩm VHDG
trong chương trình mà còn có khả năng hoàn thiện hế thống thao tác phân tích
tác phẩm trong quá trình hướng dẫn HS chiếm lĩnh, khám phá tác phẩm.
1.1.3.2. Thi pháp chung ở truyện cƣời là “Nghệ thuật gây cười”.
Trong hệ thống phân loại VHDG, truyện cười được xác định là một thể
loại. Như đã trình bày ở phần “Phân loại truyện cười”, thể loại truyện cười
gồm hai tiểu loại nhỏ: truyện khôi hài và truyện trào phúng. Tất nhiên, những
tiểu loại truyện cười này có sự khác nhau đáng kể về mặt thi pháp, nhưng giữa
chúng vẫn có sự tương đồng. Và sự tương đồng này làm thành đặc điểm thi
pháp chung của thể loại truyện cười; đó là “Nghệ thuật gây cười”. Vậy
“Nghệ thuật gây cười” được biểu hiện cụ thể ở những vấn đề gì?
a) Lựa chọn đề tài
22
Cũng như bất kỳ một tác phẩm văn học nào, trước hết việc sáng tác
truyện cười bắt đầu ở sự lựa chọn đề tài.
- Đề tài của cái cười rất rộng song có thể qui làm ba loại:
+ Cười cái xấu thuộc bản chất.
+ Cười cái xấu thông thường.
+ Những hiện tượng buồn cười do hiểu lầm.
- Đề tài lí thú, tự bản thân chúng đã phải có yếu tố đáng cười, đã có khả
năng gây cười: Cái rắm ấy là của con; Kén rể lười; Được một bữa thả cửa,

- Tác giả truyện cười thường khai thác đề tài trong những phương diện
phong phú của những mâu thuẫn trái tự nhiên. Chẳng hạn: Anh chàng ngu
ngốc, nghênh ngang và đãng trí mà lại đi ăn trộm; anh lính gửi tiền và thư cho
vợ nhưng lại quá “cảnh giác” đến mức không viết bằng chữ thường mà lại vẽ
bốn con chó, một cái bát quái, hai con dê và một cái chũm chọe; bà huyện
đánh rắm mà lại cứ muốn đổ “tội” đó đầy tớ, …
- Không lấy đề tài trong những tính cách bình thường mà lựa chọn
những tính cách tự nó đã có sự hấp dẫn người nghe, người đọc truyện: Một

thầy đồ đáng lẽ phải đạo mạo, gương mẫu về đạo đức lại dại gái, thù vặt với
cả học trò; một anh chồng trong xã hội trọng nam khinh nữ mà lại sợ vợ, …
Như vậy ta có thể nói rằng, vật liệu để xây dựng nên cái cười chính là ở
để tài có tính chất đáng cười.
b) Một số yếu tố gây cƣời
Bên cạnh đề tài - điều kiện thứ nhất trong quá trình gây cười thì cái trực
tiếp gây ra tiếng cười còn là các yếu tố gây cười: Lời nói đáng cười, cử chỉ
đáng cười, và rộng hơn nữa; hoàn cảnh đáng cười.
23
- Một số khá lớn truyện cười đã lấy lời nói ngộ nghĩnh (trái tự nhiên,
không hợp lẽ thường) để gây cười. Chẳng hạn những truyện: Mồ hôi sang cả
mình con; Đánh chết nửa người; Sao văn tế, …
- Một số truyện khác như: Đẻ ra sư; Con ruồi và quan huyện; Thầy đồ
liếm mật, … đã lấy một cử chỉ, một tư thế hoặc một hành động ngộ nghĩnh
oái oăm để gây cười. Truyện Đẻ ra sư: Một chị đàn bà lội xuống ao mò cua
chẳng may cua cắp phải bẹn đau quá, kêu váng lên. Một ông sư nhân đức đi
qua bèn ghé lại để cứu. Sợ uế tạp, ông không dám mó tay bèn ghé miệng lấy
răng cắn con cua ra. Chẳng ngờ và chẳng may con cua còn có một cái càng
nữa, quắp ngay vào mồm sư. Tư thế của nhà sư thật đáng cười, vì nhà sư
thường thì phải xa phụ nữ, mà ở đây con cua đã cắp bẹn của người đàn bà với
môi sư, không gỡ ra được. Cử chỉ của sư sợ uế tạp, không dám dùng tay mà
lại dùng răng cũng là một cử chỉ vô lý, tức cười.
- Lại có những truyện nêu lên một hoàn cảnh đáng cười. Ví dụ truyện
Mất rồi! … Cháy. Ở truyện này có bố trí một hoàn cảnh trong đó hai người
hiểu lầm nhau. Một người sắp đi xa dặn con rằng: “Ở nhà có ai hỏi thì bảo bố
đi chơi vắng”. Sợ con mải chơi quên mất nên người này lại lấy bút viết cho
con một cái giấy và bảo rằng: “ Có ai hỏi thì mày cứ đưa cái giấy này ra
nhé.” Cả ngày chẳng thấy ai hỏi, tối đến sẵn có ngọn đèn con lấy cái giấy ra
xem, chẳng may cháy vèo mất. Hôm sau, có người lại chơi hỏi: “Thầy mày có
nhà không?”. Đứa bé ngẩn ngơ sờ vào túi và nói rằng: “Mất rồi” khách giật

mình hỏi: “Mất bao giờ?” Nó nói: “Mất hôm qua”. Lại hỏi: “Sao mà mất”.
Nó đáp “Cháy!”. Chúng ta cười ở đây không phải là những lời nói, mà là
cười chứng kiến một việc hiểu nhầm ngộ nghĩnh. Cái đáng cười là ở chỗ bố
trí một hoàn cảnh đó mỗi người đều hành động hợp lý, nhưng lời nói hai
người ghép lại thì tưởng là hợp với nhau nhưng lại là không hợp.

×