Tải bản đầy đủ (.pdf) (146 trang)

LUẬN VĂN: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.07 MB, 146 trang )














LUẬN VĂN:

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa














Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một tài nguyên, một nguồn lực.
Bởi vậy, việc phát triển con người phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị
trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là
yếu tố chắc chắn nhất cho sự phồn vinh thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư vào con
người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững. Ngay từ những năm 60 của
thế kỷ XX, nhiều nước đã tăng trưởng kinh tế thông qua quá trình công nghiệp hóa, hay
nói cách khác là thông qua việc phát triển của khoa học - công nghệ gắn liền với việc
phát triển nguồn nhân lực. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới đã chứng minh để đạt được
sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định phải thông qua việc nâng cao chất lượng đội ngũ
lao động kỹ thuật - nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Việt Nam đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn lao động với chất lượng cao. Vận
mệnh của đất nước, tương lai phát triển, khả năng đi lên của Việt Nam đều phụ thuộc
vào chính bản thân con người Việt Nam. Vì vậy, để phát triển đất nước, chúng ta không
thể không quan tâm đến việc phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề mà mỗi quốc gia đều phải quan
tâm chăm sóc, bồi dưỡng, phát triển và tìm cách phát huy có hiệu quả trên con đường
phát triển văn minh tiến bộ của mình.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực nên Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: "Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam


với yêu cầu ngày càng cao" nhằm bảo đảm nguồn nhân lực cả về số lượng và chất
lượng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [41, tr. 65].
Cũng như cả nước, tỉnh Thanh Hóa chỉ có thể thực hiện thành công công nghiệp
hóa, hiện đại hóa khi phát huy được cao độ nguồn lực con người.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XV (2001-2005)

đã đề ra nhiệm vụ sau: "Phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng toàn diện,
cả về sức khỏe thể chất, trình độ học vấn, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tư tưởng
chính trị, đời sống văn hóa tinh thần…" nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của tỉnh nhà. Căn cứ vào nhiệm vụ trên tỉnh Thanh Hóa phải lấy việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Thanh Hóa có
thể trở thành một tỉnh có nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa hay không điều đó còn tùy
thuộc vào việc xây dựng và thực hiện chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Thanh Hóa vừa là vấn đề cấp thiết vừa căn bản và lâu dài đối với sự phát triển của tỉnh.
Với ý nghĩa đó, tôi chọn vấn đề "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa" làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển lịch sử, do đó vấn
đề con người, đặc biệt là vấn đề nhân tố con người luôn luôn là đối tượng thu hút sự
quan tâm của nhiều ngành khoa học. Thực tiễn ngày càng chứng minh, sự phát triển bền
vững của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc đầu tư khai thác, phát huy có hiệu quả vai trò
nhân tố con người.
Từ những nghiên cứu chung về con người, các nhà khoa học Xô Viết trước đây
đã đi sâu nghiên cứu về nhân tố con người và phát huy vai trò của nhân tố con người.


Đã có nhiều đề tài và công trình của các nhà khoa học Xô viết đi sâu vào nghiên cứu
mối quan hệ giữa nhân tố con người với các nhân tố kinh tế, vật chất kỹ thuật trong cấu
trúc nền sản xuất xã hội. Công trình nghiên cứu của nữ viện sĩ GiaxlapxkaiA về công
bằng xã hội và nhân tố con người những năm 1986 - 1987 là một ví dụ tiêu biểu. Hội
nghị khoa học giữa các nhà khoa học Xô viết và Việt Nam tổ chức tại Hà Nội vào năm
1988, đã tập trung trao đổi ý kiến và thảo luận xoay quanh chủ đề về nhân tố con người
và phát triển kinh tế - xã hội.
ở nước ta các nhà khoa học đã có những hoạt động sôi nổi về nghiên cứu vấn đề
con người. Nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VIII, các nhà khoa học đi sâu nghiên

cứu về vấn đề nguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều
bài viết đã thể hiện quan điểm coi con người là nguồn tài nguyên vô giá và sự cần thiết
phải đầu tư vào việc bảo toàn, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên này,
lấy đó làm đòn bẩy để phát triển kinh tế, để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Những bài viết, những công trình khoa học đó được đăng trên các sách báo, tạp chí, đó
là những bài viết về: "Xây dựng nền tảng tinh thần, tiềm lực văn hóa, tiếp tục thực hiện
chiến lược xây dựng và phát triển nguồn lực con người Việt Nam" của nguyên Tổng Bí
thư Lê Khả Phiêu (đăng trên Tạp chí phát triển giáo dục 4/1998); "Tài nguyên con
người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của Nguyễn Quang Du
(thông tin lý luận số 11/1994); "Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước" của GS,TS Nguyễn Trọng Chuẩn (Triết học số 2 - 1994); "Nguồn lực con
người, nhân tố quyết định của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Phạm Ngọc
Anh (Nghiên cứu lý luận, số 2 - 1995); "Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hóa đến
năm 2010 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của TS Bùi Sĩ Lợi (Nhà xuất bản
chính trị, quốc gia Hà Nội 2002); "Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Nguyễn Đình Hòa (tạp chí triết học số 1 -
2004); "Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và kinh nghiệm nước ta" (NXB
chính trị quốc gia Hà Nội 1996); "Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa" (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996); "Từ chiến lược phát triển giáo


dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực" (NXB Giáo dục - 2002)… Đặc biệt là
công trình khoa học cấp Nhà nước KX-05 "Nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân
lực đầu thế kỷ XXI" (11/2003). Đề tài này có những công trình đáng chú ý như: "ảnh
hưởng của tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ đến việc nghiên cứu và phát triển
con người và nguồn nhân lực những năm đầu thế kỷ XXI" của TSKH Lương Việt Hải;
"Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đầu thế kỷ XXI" của TS Nguyễn Hữu Dũng; "Một
số những thay đổi của quản lý nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền
kinh tế trong cơ chế thị trường" của TS Vũ Hoàng Ngân…

Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực trong công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Hầu hết các đề tài đã tập trung nghiên cứu các
phương diện khác nhau của sự phát triển con người Việt Nam và đề xuất những giải
pháp để phát huy nguồn lực con người, từ giáo dục-đào tạo đến giải quyết việc làm, đổi
mới cơ chế, chính sách nhằm phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực ở
nước ta. Ngoài những công trình đó còn rất nhiều tác giả với những công trình nghiên
cứu khác đã đề cập đến vấn đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau. Song những công trình đi sâu, phân tích
nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa chưa được đề cập
nhiều, đặc biệt là phân tích những điều kiện khả năng trong việc thực hiện nâng cao chất
lượng, nguồn nhân lực ở Thanh Hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Xuất phát từ tính cấp bách của đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi
xác định mục đích của đề tài là: Trên cơ sở phân tích thực trạng của nguồn nhân lực
Thanh Hóa hiện nay mà đề xuất một số giải pháp cấp bách nhằm xây dựng nguồn nhân
lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa.


- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ quan điểm mácxít về vai trò của con người và nhân tố con người trong
lực lượng sản xuất, quan niệm về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và vai trò
của nó trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đánh giá tình hình dân số, thực trạng nguồn nhân lực và việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ở Thanh Hóa. Từ đó, đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh
Hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về lực lượng lao động của Thanh Hóa; không những

nghiên cứu về mặt số lượng mà còn tập trung nghiên cứu mặt chất lượng - yếu tố quyết
định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:


Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta, các quan điểm khoa học hiện đại về nguồn nhân lực.
- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và lô gíc, quy nạp và diễn dịch, phân
tích và tổng hợp.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Góp phần hệ thống hóa những luận điểm nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và
phương pháp luận về nhân tố con người và nguồn nhân lực.
Làm rõ thực trạng nguồn nhân lực Thanh Hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Làm rõ một số khía cạnh chủ yếu về xu hướng biến đổi của nguồn nhân lực
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa.
Đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thanh Hóa.
Góp phần nâng cao nhận thức về việc thực hiện nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Thanh Hóa. Đây là việc làm của tất
cả các cấp, các ngành của mọi người, của tỉnh và của cả Trung ương.
7. ý nghĩa thực tiến của luận văn



Góp phần đưa Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống tại Thanh Hóa.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy và học
tập ở các trường Đại học, Trung học chuyên nghiệp, các trung tâm đào tạo, đồng thời
làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý cấp tỉnh, cấp huyện.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 3 chương, 6 tiết.


Chương 1
Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam
1.1. Quan điểm mácxít về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực
1.1.1. Từ quan điểm mácxít về con người đến nhân tố con người và nguồn
nhân lực
* Quan điểm về con người
Các nhà khoa học và chính trị từ cổ chí kim, từ Đông đến Tây, trong suốt chiều
dài của lịch sử luôn coi con người là vấn đề trung tâm của thế giới, là trung tâm chú ý
của mọi thời đại. Song các nhà tư tưởng trước Mác đã giải thích con người một cách
phiến diện, không coi con người là vị trí trung tâm của quá trình hình thành phát triển
của nhân loại. Họ lý giải sai lầm về bản chất con người. Họ không thấy được bản chất
con người là một bản chất xã hội, không thấy được con người là một thực thể tự nhiên -
xã hội. Chỉ đến Mác và Ăng ghen thì việc nhận thức về con người mới có sự thay đổi về
chất so với trước. Mác đã xuất phát từ phạm trù thực tiễn để lý giải bản chất của con
người trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người và
những quy luật chi phối quan hệ đó. Cống hiến quan trọng của Mác là đã vạch ra được
những vai trò của các quan hệ xã hội trong những yếu tố cấu thành bản chất con người.
Theo Mác "Bản chất con người không phải là cái gì trừu tượng cố hữu của một cá nhân
riêng biệt, trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ
xã hội" [16 -11].



Bản chất con người là kết quả của sự tác động từ các nhân tố xã hội mà trước
hết là của hoạt động lao động sản xuất vật chất của đấu tranh xã hội của con người.
Thông qua quá trình này, con người cải tạo giới tự nhiên và xã hội, đồng thời cải tạo
chính bản thân mình. Như vậy, khi tác động vào giới tự nhiên, cải tạo giới tự nhiên sáng
tạo ra lịch sử, con người phát triển tư chất năng khiếu, tài năng, phẩm chất, ý chí… đó
là điều kiện để mỗi cá nhân trở thành chủ thể của hoạt động sáng tạo, xây dựng thế giới
mới. Họ là người sản xuất trực tiếp, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật
chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các quốc gia.
Tóm lại, chủ nghĩa Mác quan niệm con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu
của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thấm nhuần một cách sâu sắc quan điểm của
Mác - Ăngghen về con người, và đã có những kiến giải rất sâu sắc về vấn đề con người.
Hồ Chí Minh không những nhận thức thấu đáo mà còn vận dụng và phát triển sáng tạo
quan niệm của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam. Trong
cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định
sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc không tách rời nhau và đều nhằm
mục đích đem lại tự do, hạnh phúc cho con người. Nhân tố quyết định cho sự nghiệp
giải phóng con người không phải là ai khác chính lại là con người, quần chúng nhân
dân, là lực lượng quý nhất, vĩ đại nhất, bởi vì "Võ luận việc gì cũng do con người làm ra
và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa đều như thế cả" [56 -113].
Hồ Chí Minh luôn coi việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát triển con người, coi
con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội, là nhân tố quyết định
sự thành công của cách mạng. Do đó, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến "sự nghiệp trồng
người", "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người" tư tưởng chiến
lược về con người của Hồ Chí Minh đã và đang được Đảng ta từng bước thực hiện.


Dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ khi

mới ra đời tư tưởng giải phóng dân tộc của Đảng ta luôn gắn liền, hòa quyện với tư
tưởng giải phóng con người. Thời kỳ đó, vấn đề con người được Đảng ta quan tâm
trước hết là vấn đề giải phóng con người khỏi ách nô lệ. Ngày nay, trong công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn đề con người là vấn đề được Đảng ta quan
tâm hàng đầu. Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ tư khóa VII đã
khẳng định: "…Sự phát triển con người đã trở thành tiêu chí ngày càng quan trọng trong
việc xếp hạng các nước trên thế giới"[15 - 6]. Phát triển con người, thực chất là mô hình
con người phát triển toàn diện. Mục tiêu con người phát triển toàn diện - hài hòa không
phải đến thời kỳ đổi mới mới được Đảng ta đặt ra, mà là mục tiêu xuyên suốt của Đảng
cộng sản Việt Nam.Từ khi Đảng ra đời cho đến nay, cách nhìn toàn diện về phát triển
con người của Đảng đã xây dựng nên quan điểm phù hợp với xu thế đi lên của thời đại:
Con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Để con người thực sự trở thành động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội thì
chúng ta phải phát huy được nhân tố con người.
* Quan niệm về nhân tố con người
Nói tới nhân tố con người là nói tới vai trò, vị trí của con người trong tổ chức
quản lý xã hội thông qua hoạt động thực tiễn của nó trước hết là sản xuất vật chất. Nói
tới nhân tố con người cũng có nghĩa nói đến tính chất, ý nghĩa của nó như là một động
lực quan trọng nhất trong các nhân tố có quan hệ với phát triển. Nhân tố con người là
một nhân tố xã hội, thể hiện sức mạnh tổng hợp của chủ thể người trong quan hệ với
khách thể là xã hội mà hoạt động thực tiễn của nó đem lại sự phát triển tiến bộ cho xã
hội.
Vậy, nhân tố con người là toàn bộ những dấu hiệu riêng có, những yếu tố,
những mặt nói lên vai trò của con người như là chủ thể hoạt động trong các lĩnh vực


khác nhau của đời sống xã hội. Nhân tố con người bao hàm toàn bộ tư chất, năng khiếu,
tài năng, phẩm chất ý chí của con người để nó đóng được vai trò là chủ thể hoạt động
sáng tạo xây dựng xã hội.
Nhân tố con người bao gồm các nội dung sau:

Thứ nhất, đó là một chỉnh thể các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng
liên kết chặt chẽ với nhau, mà tác động qua lại và hoạt động của các giai tầng ấy bảo
đảm cho sự phát triển tiến bộ của xã hội.
Thứ hai, nhân tố con người được hiểu là những tiêu chí về số lượng, chất lượng,
nói lên khả năng của con người, của cộng đồng người như là một tiềm năng cần bồi
dưỡng, cần khai thác và phát huy. Đó là tiêu chí về số lượng lao động, tình hình sức
khỏe, trình độ học vấn, nghề nghiệp chuyên môn.
Thứ ba, đó là những tiêu chí về nhân cách, về chức năng xã hội của con người,
những tiêu chí này nói lên mức độ, khả năng sáng tạo của cá nhân trong hệ thống các
quan hệ xã hội, gồm các năng lực chuyên môn, kỹ thuật được đào tạo, lẫn thái độ lao
động, ý thức xã hội chính trị và lập trường xã hội của giai cấp công nhân.
Các nội dung trên của nhân tố con người có quan hệ biện chứng với nhau. Việc
phát huy nhân tố con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải tính đến
đầy đủ những nội dung đó. Những sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xã hội trong thời
gian qua, ở các mức độ khác nhau đều có nguyên nhân từ việc không tính đến một cách
đầy đủ những nội dung của nhân tố con người. Do vậy, trên thực tế đã dẫn đến không
phát huy được nguồn lực con người. Vì vậy, việc nhận thức một cách toàn diện những
nội dung của nhân tố con người có liên quan trực tiếp đến việc xác định một tổng hợp
những điều kiện, biện pháp thực tiễn mà quá trình quản lý kinh tế, xã hội phải thực hiện
nhằm nâng cao và phát huy nhân tố con người. Phát huy nhân tố con người chính là quá


trình đào tạo, bồi dưỡng làm tăng nhân tố con người về thể lực, trí lực, phẩm chất, đạo
đức Là quá trình khai thác yếu tố đó trong lao động, học tập, chiến đấu nhằm phục vụ
cho sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc.
Nhân tố con người không khai thác không phát huy được là lãng phí lớn nhất.
Vì vậy, trong công cuộc CNH, HĐH đất nước, Đảng ta phải từng bước cụ thể hóa đường
lối chính sách nhằm khơi dậy và phát huy nhân tố con người.
* Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực con người, vốn người. Hiện nay có

nhiều quan niệm về khái niệm nguồn nhân lực.
Theo thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Bộ Lao động thương binh và xã hội:
"Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia,
suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. Đây là
nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội"[5-13].
Theo khái niệm này, nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất
lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội.
Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thì nguồn nhân lực được hiểu
là:
- Theo nghĩa rộng: Nguồn nhân lực (HumanRersources) là tổng thể các tiềm
năng (lao động) của con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phương đã
được chuẩn bị ở mức độ nào đó khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước hoặc một vùng, một địa phương cụ thể [72-22].


Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành các nguồn
lực của quốc gia, như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn tài chính, nguồn lực trí
tuệ ("chất xám")… Những nguồn lực này có thể được huy động một cách tối ưu tạo
thành động lực để phát triển kinh tế - xã hội, ta có thể biểu đạt như sau:






Hình 1.1.
Xuất phát từ khái niệm trên và qua hình 1 ta thấy nguồn lực phát triển là một hệ
thống, mỗi một nhân tố trong hệ thống đó đều có vai trò riêng, trong đó nguồn lực con
người nằm ở trung tâm hệ thống. Bởi vì, các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất,
khoa học công nghệ mà không được con người phát hiện khai thác thì nó vẫn chỉ tồn

tại ở dạng tiềm tàng mà thôi. Chính con người thông qua hoạt động của mình làm phát
triển các nguồn lực khác, sử dụng nó để phát triển xã hội. Do đó, nguồn lực con người
được coi là một thứ tài nguyên quý giá nhất, một nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn
lực của mọi nguồn lực. Vì vậy, thực chất chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là chiến
lược phát triển con người và vì con người.

Nguồn lực tài chính
Nguồn nhân lực
Nguồn lực vật chất
Phát triển
kinh tế xã
h
ội



- Theo nghĩa hẹp: Nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong nền
kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) nghĩa là bao gồm những
người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế đang có việc
làm và những người thất nghiệp [72-24].
Với khái niệm trên và căn cứ ở Việt Nam thì lực lượng lao động Việt Nam bao
gồm: những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm; những người ngoài độ tuổi
lao động thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp, nghĩa là không bao gồm
những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang đi học, đang làm
nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc. Bộ luật lao động nước ta quy định độ
tuổi lao động là từ 15 tuổi đến 60 tuổi đối với nam, và từ 15 tuổi đến 55 tuổi đối với nữ.
Qua tiếp cận các khái niệm trên ta có thể hiểu nguồn nhân lực là tổng thể những
yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội
v.v tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể sử dụng phát huy
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là ta

nói tới con người với tư cách là chủ thể hoạt động sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên,
làm biến đổi xã hội.
Chúng ta cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn nhân lực thông qua khái niệm
phát triển nguồn nhân lực. Trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta, phát triển nguồn
nhân lực được hiểu là gia tăng giá trị con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng,
tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những lao động có những năng lực và
phẩm chất mới ngày càng cao, để đủ sức đáp ứng những yêu cầu to lớn của quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực
còn bao hàm các mặt: giáo dục và đào tạo, việc làm, sử dụng lao động, chăm sóc nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng môi trường sống và lao động cho lực lượng
lao động. Phát triển nguồn nhân lực còn là các hoạt động (đầu tư) nhằm tạo ra nguồn
nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước, đồng thời bảo đảm sự phát triển của mỗi cá nhân.


1.1.2. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng
về trạng thái, thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của
nguồn nhân lực. Nói cách khác là trình độ học vấn, trạng thái sức khỏe, trình độ chuyên
môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… của nguồn nhân lực, trong đó
trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá phân loại chất
lượng nguồn nhân lực [72 - 71].
Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với
tư cách là một khách thể vật chất đặc biệt, đồng thời là chủ thể của mọi hoạt động kinh
tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hợp những nét đặc trưng
phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển
con người.
Nói tới chất lượng nguồn nhân lực là nói tới nguồn lực con người, nguồn lực
lao động, không chỉ được biểu thị về số lượng mà còn biểu thị về chất lượng, nó được
thể hiện ở trình độ học vấn tay nghề, kỹ năng nghiệp vụ của người lao động, thể hiện

người lao động đã được đào tạo, thể hiện ở sức khỏe của người lao động. Người lao
động phải có sức khỏe tốt mới hoàn thành tốt công việc của mình được; không những
thế người lao động còn phải có đạo đức, lối sống được thể hiện ra ở thái độ lao động,
trách nhiệm trong công việc mình làm.
Tóm lại, trong quá trình lao động sản xuất, nguồn lực lao động chất
lượng cao đã đem lại hiệu quả sản xuất tốt, đem lại năng suất chất lượng thành
phẩm cao. Thành quả lao động đó là sự kết tinh của sức lực và trình độ tay nghề của
người lao động, mặt khác nó còn là sự kết tinh của lòng ham mê hăng say lao động, ý
thức trách nhiệm của người lao động. TSKH Lương Việt Hải đã khẳng định: "Trong


thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ thể lực là… một điều kiện tất yếu
và tối cần thiết, là điều kiện cần của mọi quá trình lao động, nhưng nó không còn là điều
kiện đủ. Trí tuệ, với năng lực tinh thần và những phẩm chất tâm lý đóng vai trò quan
trọng và quyết định năng suất, hiệu quả và giá trị xã hội của lao động"[46 – 380]. Vì
vậy, trình độ học vấn, tay nghề của người lao động là quan trọng, là quyết định; song
cũng không thể thiếu được ý thức đạo đức và sức khỏe của người lao động. Có thể nói
chất lượng nguồn nhân lực được kết hợp bởi 3 yếu tố: Thể lực, trí lực và đạo đức lối
sống.
+ Thể lực: là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh
học, không có bệnh tật, có sức khỏe lao động trong hình thái lao động ngành nghề nào đó,
có sức khỏe để học tập làm việc lâu dài thể lực yếu sẽ hạn chế rất lớn đến sự phát triển trí
lực của cá nhân và cộng đồng xã hội nói chung.
+ Trí lực: Là năng lực trí tuệ, tinh thần, là trình độ phát triển trí tuệ, là học vấn
chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ, tay nghề. Nó quyết định phần lớn khả năng
sáng tạo của con người, nó càng có vai trò quyết định trong phát triển nguồn lực con
người, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão.
+ Lối sống đạo đức: Là sự phản ánh những chuẩn mực đạo đức xã hội. Những
giá trị từ chuẩn mực đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng đạo đức của xã hội vươn
tới, nhất là trong hoạt động, trong lối sống, nếp sống hàng ngày. Lối sống đạo đức con

người là sự thể hiện tính cách, tâm lý sự giác ngộ, các giá trị văn hóa được kết tinh
trong người lao động. Đạo đức gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của
nhân cách chất lượng người lao động, từ phương diện cá nhân đến phương diện xã hội
và biểu hiện ra ở ý thức lao động, thái độ lao động.
Ngoài thể lực, trí lực, đạo đức lối sống, cái làm nên chất lượng nguồn nhân lực
là kinh nghiệm sống, nhu cầu thói quen vận dụng tri thức tổng hợp và kinh nghiệm của


mình vào các hoạt động sáng tạo, tạo ra các giải pháp mới đối với công việc như một
sáng tạo văn hóa. Xét theo ý nghĩa đó, chất lượng nguồn nhân lực bao gồm trong đó
toàn bộ sự phong phú, sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và
quản lý, tính tháo vát và sự uyển chuyển của những phản ứng của con người trước hoàn
cảnh dựa trên sức mạnh của học vấn, kinh nghiệm, sự rộng mở các quan hệ xã hội, sự
tiếp thu tinh tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội. Nó kết hợp
với sức khỏe (thể lực) và dẫn dắt con người đi vào trường học thực tiễn của sáng tạo và
phát triển. Nói cách khác chất lượng nguồn nhân lực là một tập hợp các chỉ số phát triển
con người, là chất lượng văn hóa mà bản thân nó và xã hội có thể huy động vào sự sáng
tạo tiếp theo các giá trị văn hóa của toàn xã hội, vì lợi ích của cá nhân và toàn xã hội.
ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nguồn lực con người đã được phát huy trên
nhiều lĩnh vực, góp phần tạo nên nhiều thành tựu quan trọng, đưa đất nước thoát khỏi
khủng hoảng kinh tế-xã hội và chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ CNH, HĐH.
Mặc dù nước ta đã thoát khỏi những khủng hoảng kinh tế xã hội, nhưng nhìn
chung nước ta vẫn là một nước nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế còn
thấp, kỹ thuật lạc hậu, đặc biệt nguồn nhân lực với tư cách là động lực của CNH, HĐH
chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH. Số người được đào tạo và số người
có tay nghề bậc cao còn thấp, số người có trình độ học vấn từ cao đẳng trở lên còn ít. Đó là
một khó khăn lớn cho việc tiếp thu khoa học hiện đại, tiên tiến. Mặt khác sức khỏe của
nhân dân còn nhiều mặt yếu kém. Nói tóm lại, bước vào sự CNH, HĐH ở nước ta nói
chung và Thanh Hóa nói riêng, chỉ số phát triển con người chưa phù hợp với yêu cầu
của CNH, HĐH. Vì vậy, cần phải phát triển nguồn nhân lực hơn nữa, phải tạo ra nguồn

nhân lực với chất lượng cao đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
1.2. Vị trí, vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước


1.2.1. Nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự thắng lợi công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước
Theo quan điểm duy vật biện chứng về xã hội thì sản xuất vật chất là nhân tố
quyết định sự tồn tại và phát triển xã hội, trong quá trình sản xuất ấy thì lực lượng sản
xuất là yếu tố quyết định. Quá trình sản xuất vật chất của nhân loại đã hình thành mối
quan hệ tất yếu khách quan và phổ biến, đó là mối quan hệ giữa con người với tư cách
là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với giới tự nhiên. Lực lượng sản xuất chính
là biểu hiện quan hệ giữa con người với giới tự nhiên. Theo Mác lực lượng sản xuất là
một thể thống nhất giữa "một bên là con người và lao động của con người; bên kia là tự
nhiên và vật liệu của tự nhiên thế là đủ" [18-271]. Nhưng với tư cách là chủ thể của quá
trình lao động, con người không thỏa mãn với những gì đã có sẵn trong tự nhiên mà con
người kết hợp lao động của mình với những cái có sẵn tạo ra những cái không có sẵn
trong tự nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống của mình. Vậy, lao động là hoạt động có
tính mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã
hội.
Theo Mác: "Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự
nhiên, quá trình đó bằng hoạt động của chính mình con người làm trung gian điều tiết và
kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên " [19-20]. Nói đến sản xuất ra vật chất cho xã
hội tồn tại và phát triển là phải nói đến hoạt động lao động của con người. Tức là nói đến
người lao động; người lao động với sức khỏe, tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm lao động,
tiến hành lao động nhằm thực hiện những nhu cầu đáp ứng những lợi ích của mình
trong những điều kiện kinh tế-lịch sử nhất định. Mác khẳng định: "Do có được những
lực lượng sản xuất mới, loài người đã thay đổi phương thức sản xuất của mình và do
thay đổi phương thức sản xuất, cách làm của mình, loài người đã thay đổi tất cả những
quan hệ xã hội của mình" [20 - 125]. Như vậy, loài người làm nên lịch sử xã hội của

mình bằng chính sức lực của mình, bằng chính nguồn nhân lực.


Lênin cũng đã đánh giá "lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là
công nhân, là người lao động" [80 - 430].
Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng ta
đã phân tích các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay và khẳng định:
" Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thống yêu nước cần cù, sáng
tạo đó là nguồn lực quan trọng nhất" [81 - 5].
Đối với nước ta hiện nay, bước vào CNH, HĐH thì "Nguồn nhân lực" chính là
"Nguồn lực con người". Chính vì nguồn lực con người là nội lực quan trọng nhất cho sự
phát triển nên Đảng ta đã "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh và bền vững " [40-85].
Việt Nam phát triển đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế
giới. Vì vậy đòi hỏi Việt Nam phải tiến hành CNH, HĐH trong đó lấy việc phát triển
con người làm trung tâm. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình phát triển kinh tế -
xã hội từ thực trạng một nền sản xuất với năng suất chất lượng và hiệu quả thấp, dựa
vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng lao động thủ công là chủ yếu chuyển sang một nền
sản xuất có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao dựa trên sản xuất công nghiệp và
những thành tựu mới của khoa học - công nghệ. CNH, HĐH cũng chính là một quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành có hàm lượng khoa
học - công nghệ cao, có giá trị tăng cao. Thực chất của CNH là sự phát triển công nghệ,
là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội cả nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ từ trình
độ công nghệ thấp lên trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại. Trong giai đoạn hiện nay,
CNH, HĐH còn bao gồm những yếu tố của nền kinh tế tri thức. Như vậy, thực chất
CNH, HĐH chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật của nền sản xuất hiện
đại, xây dựng cái cốt vật chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó, Đảng cộng sản Việt Nam đã
khẳng định CNH, HĐH: Đó không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỉ trọng của sản
xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới



căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và lâu bền
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp hóa phải đi đôi với hiện đại hóa, kết hợp những bước tiến tuần tự
về công nghệ với tranh thủ đi tắt, đón đầu, hình thành những mũi nhọn phát triển theo
trình độ tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới [32-27].
Muốn đạt những yêu cầu trên chúng ta phải nỗ lực và sáng tạo rất cao, phải biết
tiếp cận và vận dụng những thành tựu mới về khoa học và công nghệ của nhân loại, phải
sử dụng và phát huy đến mức tối đa lợi thế vốn có của nguồn lực con người Việt Nam;
và hơn nữa biến nguồn lực con người thành động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước.
Chỉ có nguồn nhân lực với những con người có năng lực phát triển toàn diện,
nắm bắt nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn, đáp ứng được nhu cầu
khai thác và sử dụng các nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển xã hội, chúng ta mới có
thể đưa sự nghiệp CNH, HĐH đến thắng lợi. Chính vì vậy, cần phải có nguồn nhân lực
và nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng công cuộc CNH, HĐH đất nước.
Để thực hiện CNH, HĐH đất nước cần thiết phải có một hệ thống nguồn lực.
Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, Đảng ta đã đưa ra
các nguồn lực như: Nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất -kỹ thuật, vị trí
địa lý, nguồn nhân lực và nguồn lực nước ngoài… các nguồn lực này có quan hệ biện
chứng và cùng tham gia vào quá trình CNH, HĐH, nhưng mỗi nguồn lực có vai trò vị
trí và mức độ tác động riêng của chúng. Trong tổng thể các nguồn lực đó thì nguồn
nhân lực có vị trí trung tâm và giữ vai trò quyết định sự thắng lợi của sự nghiệp CNH,
HĐH đất nước. Ta có sơ đồ sau:
















Sự nghiệp
công
nghiệp hoá
hiện đại
hoá ở Việt
Các
nguồn
lực
khác:
Nguồn
cơ sở
vật
chất -
k

Nguồn nhân
lực
Nguồn vốn
Nguồn
lực
nước

ngoài

Nguồn
tài
nguyên
thiên


Hình 1.2: Sơ đồ tổng thể các nguồn lực tác động đến quá trình
CNH,HĐH ở nước ta hiện nay
Sơ đồ trên (hình 2) hiển thị sự tác động lẫn nhau giữa các nguồn lực, các nguồn
lực này có mối quan hệ chặt chẽ, cùng tham gia vào quá trình CNH, HĐH nhưng mức độ
tác động và vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình CNH, HĐH không giống nhau,
trong đó nguồn nhân lực là yếu tố quyết định. Vai trò quyết định của nguồn nhân lực
biểu hiện ở những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ
thuật, vị trí địa lý… là những khách thể chịu sự khai thác cải tạo của con người, và phục
vụ cho nhu cầu lợi ích của của con người. Các nguồn lực này tự nó chỉ tồn tại dưới dạng
tiềm năng, muốn phát huy một cách tích cực trong quá trình CNH, HĐH thì phải kết
hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người.
ở một số nước, điều kiện tự nhiên thuận lợi là nhân tố làm cho đất nước giàu
mạnh, bởi vì con người biết tái tạo tự nhiên; còn ở một số nước khác, điều kiện tự nhiên
cũng tương tự, hoặc còn thuận lợi hơn, thì đất nước lại nghèo nàn, ngày càng kiệt quệ
nguồn tài nguyên vì ở những nước này con người chỉ biết tước đoạt tài nguyên thiên
nhiên, biến nó thành hoang mạc. Qua thực tế đó cho thấy vị trí địa lý, tài nguyên thiên
nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, chúng đều phụ thuộc vào
khả năng sử dụng của con người. Còn vốn - tiền tệ cũng là nhân tố quan trọng cho sự
phát triển của bất cứ nước một nào. C. Mác đã có lý khi cho rằng: tiền tệ chỉ trở thành tư
bản thông qua sức lao động của công nhân, nhờ vậy nó tạo ra giá trị lớn hơn giá trị ban
đầu. Trong thời đại mở cửa, nhiều nước có thể thu hút vốn từ nước ngoài. Nhưng vốn ấy

chỉ có thể phát huy tác dụng tích cực nếu con người sử dụng hợp lý vốn đó để phát triển
nền sản xuất. Vì vậy, nguồn vốn chỉ trở thành động lực quan trọng và cấp thiết cho sự


nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi được con người sử dụng đúng mục đích và có
hiệu quả.
Từ sự phân tích vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong mối quan hệ với
các nguồn lực khác, như vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, vốn, các nguồn lực khác…
thì nguồn nhân lực là nguồn lực duy nhất, biết tư duy có trí tuệ và ý thức để sử dụng các
nguồn lực khác và gắn các nguồn lực lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cùng tác
động vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, nguồn nhân lực có vai trò quyết định trong các nhân tố, các nguồn lực
của sự phát triển lịch sử. Trước hết là do năng lực sáng tạo, trí tuệ của bản thân con
người và cộng đồng người theo chiều hướng tiến bộ của lịch sử. Từ thế kỷ XVI, nhà
triết học Ph.Bêcơn đã đưa ra nhận định: Tri thức là sức mạnh, khoa học tăng quyền lực
của con người đối với tự nhiên. Đến giữa thế kỷ XIX, trên cơ sở phân tích vai trò của
khoa học trong sự phát triển xã hội, C.Mác kết luận: Việc biến khoa học thành lực
lượng sản xuất trực tiếp là một quy luật khách quan của sự phát triển xã hội. Điều đó đã
trở thành hiện thực. Những năm đầu thế kỷ XX tỷ lệ lao động chân tay trong sản phẩm
là 9/10 đến những năm 90 tỷ lệ đó giảm xuống chỉ còn 1/5 nhưng khối lượng sản phẩm
đạt gần gấp 50 lần so với 80 năm về trước. Con người với trí tuệ lao động đã và đang là tài
sản quý giá nhất, là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia.
Vì vậy, so với các nguồn lực khác thì "chỉ có con người là nguồn lực chủ yếu, lâu bền trong
sự phát triển của đất nước và cũng chỉ có tri thức con người là một nguồn lực vô hạn có khả
năng tái sinh và tự tái sinh không bao giờ cạn kiệt. Nếu không có con người đủ trí tuệ và
năng lực khai thác thì các nguồn lực khác cũng sẽ không được sử dụng có hiệu quả" [82
- 75].
Mặt khác vai trò quyết định của nguồn nhân lực đối với các nguồn lực khác là
do nguồn nhân lực mà cốt lõi trí tuệ là nguồn lực vô hạn, luôn đổi mới không ngừng và
phát triển về chất, còn các nguồn lực khác như đất đai, tài nguyên, vốn… thì có hạn,

khai thác mãi đến lúc cũng phải cạn kiệt. Vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng


nhất có vai trò quyết định đối với các nguồn lực khác, nên chúng ta phải chú trọng, bồi
dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tạo động lực
thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nhanh chóng đi đến thắng lợi.
Thứ ba, con người với tất cả những phẩm chất tích cực của mình bao gồm trí
tuệ, kinh nghiệm, năng động, thích ứng, sáng tạo… thì tự mình có thể trở thành động
lực phát triển của toàn xã hội. Trí thông minh, tài năng sáng tạo, nhạy cảm với cái mới,
ý chí tự lực tự cường là những tiềm năng to lớn của dân tộc Việt Nam, là sản phẩm của
quá trình phát triển lâu dài của dân tộc, là nguồn lực to lớn cho sự phát triển đất nước.
Những đức tính đó đã được thể hiện và nhân lên trong quá trình đấu tranh dựng nước và
giữ nước của dân tộc Việt Nam. Ngày nay công cuộc đổi mới của đất nước đòi hỏi
nguồn nhân lực - lực lượng cơ bản, chủ yếu của sự nghiệp CNH, HĐH phải thực sự là
chủ thể sáng tạo có khả năng nắm bắt nhanh và thích nghi với cái mới để vận dụng vào
thực tiễn đầy khó khăn thách thức trên bước đường CNH, HĐH của nước ta. Những kỳ
tích của sự CNH, HĐH đều phụ thuộc vào trí tuệ, sự thông minh, tinh thần chủ động
sáng tạo của nguồn lực con người Việt Nam. Do đó trong số các nguồn lực thì động lực
chủ yếu của sự nghiệp CNH, HĐH chính là nguồn nhân lực. Đảng cộng sản Việt Nam
chỉ rõ: Những nguồn lực làm cơ sở cho việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước là nguồn lực con người. Đảng ta khẳng định "nguồn lao động dồi dào, con người
Việt Nam có truyền thông yêu nước cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hóa giáo dục, có
khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ… đó là nguồn lực quan trọng nhất " [32
- 5]. Để sự nghiệp CNH, HĐH thành công chúng ta phải biết phát huy sức mạnh tổng
hợp của các nguồn lực, trong đó "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững "[40 - 85].
Nguyên phó thủ tướng Nguyễn Khánh cũng đã khẳng định: "Con người là chủ
thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa của mọi quốc gia… Từ một
nước nông nghiệp lạc hậu bắt đầu đi vào CNH, HĐH ta chưa có những chỉ số cao về
phát triển con người như mong muốn…Vì vậy, cùng với việc tạo ra nguồn lực vật chất,

tài chính và phát huy nguồn lực đó, điều quan trọng nhất hiện nay là chăm lo phát triển

×