Tải bản đầy đủ (.pdf) (94 trang)

LUẬN VĂN: Thực hiện pháp luật về người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.87 MB, 94 trang )













LUẬN VĂN:
Thực hiện pháp luật về người khuyết tật
ở Việt Nam hiện nay









mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc
một hay nhiều chức năng nào đó của bộ phận cơ thể bị suy giảm. Do khuyết tật nên họ
gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, lao động và tham gia hoạt
động xã hội. Do đó việc đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa
vụ về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đối với người khuyết tật là nghĩa vụ của gia đình,


xã hội và nhà nước.
Là mắt xích quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, với truyền thống nhân đạo
của dân tộc, người khuyết tật luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta.
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (6-1991) khẳng định:
"Chính sách xã hội bảo đảm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của mọi thành
viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh … Chăm lo đời sống
những người già cả neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi" [17]. Nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ VI chỉ rõ “Từng bước xây dựng chính sách bảo trợ xã hội đối
với toàn dân, theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, mở rộng và phát
triển sự nghiệp bảo trợ xã hội, tạo lập nhiều hệ thống và hình thức bảo trợ xã hội cho
những người có công với cách mạng và những người gặp khó khăn. Nghiên cứu bổ sung
chính sách, chế độ bảo trợ xã hội phù hợp với quá trình đổi mới và cơ chế quản lý kinh
tế, quản lý xã hội” [15].
Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1980, 1992 đều khẳng định người tàn tật là công
dân - thành viên của xã hội, được hưởng đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân,
được chung hưởng thành quả xã hội. Vì tàn tật, người tàn tật có quyền được xã hội trợ
giúp để thực hiện được quyền bình đẳng và tham gia tích cực vào các hoạt động của xã
hội, đồng thời vì tàn tật, họ được miễn trừ một số nghĩa vụ công dân. Hiến pháp năm
1992 (sửa đổi năm 2001) khẳng định: “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em
khuyết tật được học văn hoá và học nghề phù hợp”(Điều 59), “Người già, người tàn tật,
trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ” (Điều 67) [29].



Thể chế hoá các quan điểm của Đảng, quy định của Hiến pháp, nhiều văn bản pháp
luật đã được ban hành tạo hành lang và cơ sở pháp lý để người khuyết tật thực hiện
những quyền cơ bản của con người, tham gia vào đời sống và sự phát triển của xã hội.
Ngày 30 tháng 7 năm 1998, Uỷ ban thường vụ quốc hội thông qua Pháp lệnh về người
tàn tật. Pháp lệnh quy định trách nhiệm của gia đình, nhà nước và xã hội đối với người
tàn tật, quyền và nghĩa vụ của người tàn tật trên các lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ và hỗ trợ

nuôi dưỡng, học văn hoá, học nghề và việc làm, hoạt động văn hoá, thể dục thể thao và
sử dụng công trình công cộng đối với người tàn tật.” Nhà nước khuyến khích và tạo điều
kiện thuận lợi cho người tàn tật thực hiện bình đẳng các quyền về chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội và phát huy khả năng của mình để ổn định đời sống, hoà nhập cộng đồng,
tham gia các hoạt động xã hội. Người khuyết tật được nhà nước và xã hội trợ giúp chăm
sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, tạo việc làm phù hợp và được hưởng các quyền khác
theo quy định của pháp luật”. Cùng với Pháp lệnh về người tàn tật, Quốc hội đã ban hành
hệ thống các luật chuyên ngành chứa đựng nhiều quy phạm liên quan đến người khuyết
tật như: Bộ luật lao động, Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề, Luật bảo vệ và chăm sóc, giáo
dục trẻ em, Luật giao thông đường bộ, Luật thanh niên, Luật trợ giúp pháp lý, Luật xây
dựng, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng… Chính phủ, các Bộ, ngành và các
địa phương đã ban hành hàng trăm văn bản nhằm hướng dẫn thi hành Pháp lệnh về người
Tàn tật và các quy định liên quan đến người khuyết tật của các luật chuyên ngành.
Sau nhiều năm thực hiện pháp luật về người khuyết tật, nhà nước đã tạo được hành
lang pháp lý và môi trường xã hội tương đối thuận lợi cho người khuyết tật hoà nhập
cộng đồng, góp phần cải thiện đời sống của người khuyết tật, đồng thời tạo điều kiện cho
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia trợ giúp người khuyết tật có hiệu quả
thiết thực.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện pháp luật về người khuyết tật nảy sinh nhiều
vấn đề bất cập. Hệ thống văn bản pháp luật vừa thừa, vừa thiếu, không đồng bộ, thiếu
tính thống nhất và sự chồng chéo giữa các văn bản luật đã gây khó khăn cho quá trình tổ
chức thực hiện. Có những quy phạm sau hơn mười năm vẫn không thể thực hiện như quy
định lập Quỹ việc làm dành cho người khuyết tật; Quy định bắt buộc một số loại hình
doanh nghiệp phải nhận từ 2% đến 3% lao động là người khuyết tật vào làm việc. Việc



bảo đảm cho người khuyết tật tiếp cận các dịch vụ y tế, học văn hoá, học nghề, tìm kiếm
việc làm, tham gia giao thông công cộng thực tế còn gặp rất nhiều khó khăn và trở ngại.
Việt Nam là một nước nghèo, chịu ảnh hưởng nặng nề sau chiến tranh, cùng với sự

tác động của ô nhiễm môi trường, của tai nạn giao thông, tai nạn lao động, thiên tai, dịch
bệnh, chắc chắn con số 6,34% dân số là người khuyết tật hiện nay- khoảng 6 triệu người
sẽ ngày càng tăng lên.
Đất nước ta đang trong tiến trình tạo lập nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và công
bằng xã hội chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tạo
điều kiện khơi dậy mọi nguồn lực, nhân lực để tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước vì mục tiêu Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Hơn lúc nào hết cần phải tổ chức tốt hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật
với hệ thống pháp luật đồng bộ, không rào cản đối với người khuyết tật nói riêng và hoạt
động thực hiện hệ thống pháp luật nói chung.
Xuất phát từ những cơ sở nêu trên, việc nghiên cứu: Thực hiện pháp luật về người
khuyết tật ở Việt Nam hiện nay đang là vấn đề cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé vào việc phát triển,
hoà nhập đời sống cộng đồng xã hội và bảo đảm thực hiện các quyền của người khuyết
tật.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề thực hiện pháp luật về người khuyết tật liên quan đến nhiều Bộ, ngành,
nhiều cấp chính quyền, nhiều lĩnh vực do vậy trong quá trình tổ chức và thực hiện pháp
luật cũng như thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước, nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đã có một số công trình khoa học
nghiên cứu liên quan đến vấn đề này. Cụ thể
- Dự án: Dự án phân tích, đánh giá chính sách pháp luật chăm sóc và bảo vệ trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt, năm 1999 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội.
- Đánh giá việc thực hiện Bộ luật lao động đối với lao động là người tàn tật và
pháp lệnh người tàn tật- Nguyễn Diệu Hồng- Bộ Lao động, thương binh và xã hội .



- Nội dung và phương pháp giáo dục trẻ em có tật ở Việt nam- Viện Khoa học

giáo dục thuộc Bộ Giáo dục.
- Đề tài: Các biện pháp tổ chức giáo dục hoà nhập giúp trẻ em khuyết tật thính giác
vào lớp 1, Luận án Tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Thị Hoàng Yến.
- Đề tài: Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt nam hiện nay,
Luận án Tiến sĩ Luật học của Nguyễn Thị Báo - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc
gia.
- Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và đề án trợ giúp người
khuyết tật giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ Lao động, thương binh và xã hội năm 2008.
- Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các chính sách trợ giúp phụ nữ khuyết tật
năm 2008 của TW Hội Liên hiệp phụ nữ Việt nam.
- Báo cáo thực hiện các chính sách trợ giúp người khuyết tật trong dạy nghề, học
nghề (Báo cáo năm 2008 của Cục việc làm – Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội).
- Báo cáo thực hiện các chính sách về việc làm cho người khuyết tật- nhìn từ góc độ
luật pháp. Tham luận khoa học của Cục việc làm- Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội
năm 2008 tại Hội thảo về chính sách việc làm đối với người khuyết tật.
- Tổng kết tình hình thực hiện Quyết định của Thủ tướng năm 2005 về thực hiện hỗ
trợ người khuyết tật giai đoạn 2005 – 2010 do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội xây
dựng năm 2009.
Tất cả các công trình trên, dù tiếp cận dưới góc độ chính sách pháp luật, giáo dục,
đào tạo người khuyết tật, chăm sóc sức khoẻ người khuyết tật hoặc đánh giá quá trình
thực hiện pháp luật lao động liên quan đến đối tượng là người khuyết tật trong quá trình
tìm việc làm và tiếp cận xã hội trong các lĩnh vực khác nhau thì cũng đã có những nội
dung liên quan tới quy trình, các giai đoạn thực hiện pháp luật về người khuyết tật. Tuy
vậy hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách trực tiếp và có hệ
thống về hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật ở Việt nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích của luận văn là trên cơ sở những vấn đề lý luận chung về nhà nước và
pháp luật, nghiên cứu và đánh giá chính xác thực trạng công tác thực hiện pháp luật về người




khuyết tật ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm nâng cao
hoạt động thực hiện pháp luật về người khuyết tật, góp phần bảo đảm việc thực hiện các
quyền của người khuyết tật, tạo cơ hội cho người khuyết tật bình đẳng và hoà nhập cộng
đồng xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
Một là: Hệ thống hoá, khái lược hoá một số nội dung cả về lý luận và thực tiễn liên
quan đến người khuyết tật, tàn tật. Trên cơ sở đó hình thành cơ sở lý luận về thực hiện
pháp luật về người khuyết tật ở nước ta hiện nay, phân tích các hình thức và vai trò thực
hiện pháp luật về người khuyết tật đồng thời luận văn giới thiệu khái quát kinh nghiệm
quốc tế trong lĩnh vực xây dựng văn bản pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về
người khuyết tật.
Hai là: Phân tích đánh giá thực trạng người khuyết tật và hoạt động thực hiện pháp
luật về người khuyết tật, trong đó phân tích, đánh giá những thành tựu và hạn chế,
nguyên nhân của thực trạng thực hiện pháp luật về người khuyết tật hiện nay.
Ba là: Khẳng định các quan điểm và đề xuất giải pháp bảo đảm hoạt động thực hiện
pháp luật về người khuyết tật ở nước ta hiện nay. Những giải pháp cần được xây dựng
mang tính chất tổng thể và phù hợp với hoạt động quản lý nhà nước cũng như hoạt động
thực hiện pháp luật ở nước ta hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện pháp luật về người khuyết tật có phạm vi rất rộng có liên quan đến
nhiều văn bản luật khác nhau cũng như nhiều hoạt động của các cơ quan trong bộ máy
nhà nước. Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là qúa quantrình thực hiện pháp luật mà
chủ yếu là từ khi có Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998. Để có căn cứ khoa học khi đưa
ra các giải pháp nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật về người khuyết tật, luận văn
đánh giá thực trạng hoạt động thực hiện pháp luật dựa trên những báo cáo tổng kết của cơ
quan chịu trách nhiệm thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về người khuyết tật là Bộ
Lao động- Thương binh và Xã hội.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận



Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện bởi các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để xử lý
tài liệu thu thập, so sánh và minh hoạ bằng biểu đồ, sơ đồ, tham khảo tài liệu trong và
ngoài nước.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên ở trong nước nghiên cứu có hệ thống hoạt động
thực hiện pháp luật về người khuyết tật và có những đóng góp mới sau đây:
- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và những đặc điểm của hoạt động thực hiện pháp luật về
người khuyết tật.
- Đánh giá có hệ thống và khái quát thực trạng hoạt động thực hiện pháp luật trong
phạm vi cả nước. Trong đó có những đáng giá mang tính chất chuyên sâu hoạt động thực
hiện pháp luật.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản góp phần hoàn thiện công tác thực
hiện pháp luật và từ đó nâng cao nhận thức cả xã hội đối với người khuyết tật
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung nhận thức lý luận về thực
hiện pháp luật và đề xuất những giải pháp cần thiết trong quá trình hoạch định chính
sách, làm tài liệu tham khảo trong thực hiện pháp luật và góp vào trong quá trình hoàn
thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt nam hiện nay.
Nhà nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện những quy định liên quan
đền người khuyết tật mà cụ thể là xây dựng Dự án luật về người khuyết tật, những nghiên
cứu của luận văn có ý nghĩa trong việc hoàn thiện chính sách và là những đóng góp cả về
lý luận và thực tiễn trong hoạch định chính sách liên quan đến người khuyết tật.

8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm
3 chương, 7 tiết.









Chương 1
cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật
về người khuyết tật ở việt nam hiện nay

1.1. Khái niệm, đặc điểm, các hình thức và vai trò thực hiện pháp luật về
người khuyết tật
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về người khuyết tật
Để tìm hiểu khái niệm thực hiện pháp luật về người khuyết tật, trước hết cần làm
rõ khái niệm thực hiện pháp luật.
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hệ thống các quy phạm
này tạo khuôn khổ cho hoạt động xã hội, chứa đựng các quy tắc cấm đoán hoặc bắt buộc
chung và tác động, điều chỉnh tới các quan hệ xã hội Vì vậy hoạt động thực hiện pháp luật
không chỉ là sự quan tâm của Nhà nước mà còn là của mỗi cá nhân bởi kết quả của quá trình
đó tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội. Việc tự giác thực hiện các quy phạm
pháp luật gắn chặt với yêu cầu của các cơ quan trong bộ nhà nước, là mục tiêu và là đòi hỏi
các tổ chức, cá nhân trong xã hội tôn trọng, thực hiện chính xác, đầy đủ pháp luật. Như vậy,
thực hiện pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người phù hợp với

quy định của luật pháp.
Thực hiện pháp luật là bước tiếp theo sau khi văn bản pháp luật được ban hành để
đưa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc xử sự của các chủ thể pháp luật làm
cho các yêu cầu, quy định của văn bản pháp luật trở thành hiện thực.
Về pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp, hành vi đó không trái,
không vượt ra ngoài các quy định của pháp luật. Thực hiện pháp luật có thể là hành vi
của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức
xã hội.
Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy hiện nay có một số quan niệm về thực
hiện pháp luật sau:
Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về nhà nước và pháp
luật của Viện Nhà nước và Pháp luật - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thì:



"Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của
pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế
của các chủ thể pháp luật" [23, tr.270].
Giáo trình của Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng: "Thực hiện pháp
luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào
cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật" [21,
tr.494].
Theo Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội
thì: "Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy
định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các
chủ thể pháp luật" [31, tr.461].
Từ những quan niệm thực hiện pháp luật nêu trên cho thấy:
- Các định nghĩa đều thống nhất về thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích
nhằm thực hiện những yêu cầu của pháp luật.
- Thực hiện pháp luật là các hoạt động thực tế, hợp pháp, làm cho những quy định

của pháp luật trở thành hoạt động thực tế trong cuộc sống con người.
- Thực hiện pháp luật là một quá trình của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật.
Như vậy, theo chúng tôi khái niệm thực hiện pháp luật được hiểu như sau: Thực
hiện pháp luật là một quá trình của chủ thể pháp luật nhằm mục đích làm cho những quy
định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các
chủ thể pháp luật.
Thực hiện pháp luật về người khuyết tật là một quá trình hoạt động có mục đích
làm cho những quy định của pháp luật về người khuyết tật đi vào cuộc sống, trở thành
những hành vi thực tế, hợp pháp trong mối quan hệ giữa quyền của người khuyết tật với
quyền của các chủ thể khác nhau khi tham gia quan hệ pháp luật.
Với tư cách chủ thể quản lý, nhà nước đã sử dụng pháp luật làm phương tiện quan
trọng nhất để tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. khi ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật nhà nước mong muốn các văn bản đó phải được tôn trọng và thực thi có
hiệu quả trong thực tế. Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích, định



hướng nhằm hiện thực hoá nội dung các quy định của pháp luật bằng các hành vi thực tế
của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý, chỉ những hành vi xử sự phù hợp với các quy định của pháp
luật về người khuyết tật của các chủ thể có đầy đủ khả năng nhận thức được yêu cầu của
quy phạm pháp luật, có khả năng tự chịu trách nhiệm và gánh chịu những hậu quả bất lợi
do hành vi của họ gây ra thì được coi là quá trình thực hiện pháp luật về người khuyết tật.
Như vậy, thực hiện pháp luật về người khuyết tật là hoạt động có mục đích của các
chủ thể mà các chủ thể đó có thể là cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, các cá
nhân được nhà nước trao quyền nhằm làm cho các quy định của pháp luật về người
khuyết tật trở thành những hành vi trong thực tế bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp đối với người khuyết tật.
1.1.2. Đặc điểm thực hiện pháp luật về người khuyết tật
Thực hiện pháp luật về người khuyết tật mang đầy đủ đặc điểm của quá trình thực

hiện pháp luật nói chung. Với bản chất là hoạt động xã hội của con người, thực hiện pháp
luật về người khuyết tật hàm chứa những đặc điểm chung của các hoạt động xã hội khác
đồng thời với bản chất pháp lý của mình, thực hiện pháp luật về người khuyết tật đã tạo
nên những đặc điểm nổi trội và đặc thù sau đây:
Thứ nhất: Thực hiện pháp luật về người khuyết tật bao giờ cũng thông qua những
hành vi cụ thể của con người. Đời sống xã hội của con người bao giờ cũng được bộc lộ
thông qua các hành vi cụ thể trong các mối quan hệ xã hội. Hành vi cũng chính là các
phương thức tồn tại của con người, chính vì lẽ đó, việc thực hiện pháp luật về người
khuyết tật thường tồn tại là những dạng hành động tích cực là chủ yếu và phổ biến của
các cá nhân hoặc cơ quan trong bộ máy nhà nước.
Kết quả của việc thực hiện các hành vi đó trên thực tế không phải lúc nào cũng
hợp pháp, cũng bảo vệ và mang lại lợi ích đối với người khuyết tật mà có thể do nhiều
nguyên nhân dẫn tới hoặc trái pháp luật hoặc mục đích bảo vệ và bảo đảm quyền lợi cho
người khuyết tật không thể đạt được.
Thứ hai: Thực hiện pháp luật về người khuyết tật là hành vi phù hợp với pháp luật
về người khuyết tật. Đó là những hành vi cụ thể của con người song thực hiện pháp luật
về người khuyết tật có đặc điểm là phải phù hợp với các quy định hiện hành liên quan tới



người khuyết tật. Việc phù hợp ở đây được hiểu là pháp luật cấm điều gì làm ảnh hưởng
tới quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật thì chủ thể không làm, pháp luật có
những quy định bắt buộc gì nhằm tạo điều kiện và bảo vệ quyền lợi của người khuyết tật,
quyền tiếp cận đời sống xã hội của người khuyết tật thì chủ thể tích cực tham gia và pháp
luật cho phép làm gì thì các chủ thể đưa ra quyết định để thực hiện hành vi hoặc không
thực hiện hành vi phù hợp.
Nói đến việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật bao giờ các chủ thể cũng
quan tâm tới việc thực hiện cái gì? Nói cách khác là thực hiện nội dung gì liên quan tới
người khuyết tật và cách thức, hình thức thực hiện bằng hình thức nào? Như vậy, tính
hợp pháp trong quá trình thực hiện pháp luật về người khuyết tật bao gồm thực hiện cả

những quy phạm về nội dung và những quy phạm về hình thức, quy trình và thủ tục. Chỉ
có sự đảm bảo và phù hợp cả về nội dung và hình thức thì quá trình thực hiện pháp luật
về người khuyết tật mới làm cho các hành vi và quan hệ pháp luật phát sinh trong thực tế
hợp pháp và tích cực bảo vệ việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật.
Thứ ba: Thực hiện pháp luật về người khuyết tật là một quá trình có mục đích, nó
bao gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau. Để biến những quyền và nghĩa vụ pháp lý bảo vệ
người khuyết tật thành những hành vi xử sự trong thực tế thì cần thiết phải thông qua
hàng loạt các hoạt động cụ thể của con người mà các hoạt động đó phải có mục đích, mục
tiêu cụ thể.
Các hoạt động cụ thể đó bao gồm: Chủ thể tìm hiểu các quy định của pháp luật có
nội dung cụ thể như thế nào? Xem xét vị trí, chức năng vai trò của bản thân, ra các quyết
định về cách thức, thời gian hoạt động cụ thể. Tất cả các hoạt động đó phải cần thiết xác
định mục tiêu cụ thể là bảo vệ và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết
tật thông qua việc thực hiện các quy phạm cụ thể.
Tích mục đích có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình thực hiện pháp luật
nói chung. Đối với quá trình thực hiện pháp luật về người khuyết tật có ý nghĩa vô cùng
quan trọng bởi người khuyết tật là đối tượng yếu thế trong xã hội. Như vậy, đòi hỏi tích
mục tiêu, mục đích không chỉ có ý nghĩa trong việc thiết lập, xây dựng các quy phạm
pháp luật cụ thể mà còn là đòi hỏi đối với các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật
về người khuyết tật.



Thứ tư: Quá trình thực hiện pháp luật về người khuyết tật được bảo đảm bằng các
biện pháp của nhà nước.
Để pháp luật thật sự đi vào đời sống xã hội thì quá trình thực hiện pháp luật cần
thiết phải được bảo đảm từ phía nhà nước chính đặc điểm này tạo ra sự khác biệt cơ bản
giữa pháp luật với đạo đức. Đối với nước ta pháp luật về người khuyết tật thể hiện ý chí
của nhà nước nhằm bảo vệ và bảo đảm cho người khuyết tật tiếp cận với đời sống xã hội
do vậy thực hiện pháp luật về người khuyết tật không chỉ là mong muốn của quản lý

hành chính nhà nước mà còn là nguyện vọng chung của đa số nhân dân lao động. Chính
sự bảo đảm của nhà nước mới làm cho pháp luật về người khuyết tật được thực thi trong
môi trường thực hiện bình đẳng bảo đảm cho việc việc thụ hưởng các lợi ích hợp pháp
của người khuyết tật. Trong trường hợp các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật liên
quan tới người khuyết tật không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các yêu cầu thì
nhà nước bằng quyền lực của mình sử dụng các biện pháp bắt buộc hoặc các biện pháp
cưỡng chế nhằm yêu cầu các chủ thể thực hiện hành vi hợp pháp với người khuyết tật.
Nhà nước sử dụng các hình thức bảo đảm pháp lý, sử dụng các tổ chức xã hội hoặc các
thiết chế khác nhau phù hợp với từng nhóm đối tượng khuyết tật.
Thứ năm, thực hiện pháp luật về người khuyết tật vừa mang tính thực hiện quyền
lực nhà nước, vừa mang tính xã hội rộng rãi. Thực hiện pháp luật về người khuyết tật
thông qua các hình thức riêng có của mình làm cho những quy phạm pháp luật về người
khuyết tật đi vào cuộc sống. Những quy phạm này chính là hệ thống quy tắc xử sự chung
do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ
phát sinh trong lĩnh vực người khuyết tật. Đó chính là hệ thống các quy phạm quy định
về các giải pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật trong việc tiếp
cận các hoạt động về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.tổ chức, về các đảm bảo khác
trong lĩnh vực quản lý nhà nước về người khuyết tật. Những quy phạm này có tính bắt
buộc chung đối với mọi công dân, mọi chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về người
khuyết tật. Việc thực hiện nghiêm chỉnh hệ thống quy phạm này cũng chính là thực hiện
quyền lực nhà nước trong lĩnh vực người khuyết tật. Mặt khác, người khuyết tật là bộ
phận dân cư quan trọng, là bộ phận không thể tách rời của đời sống xã hội. Việc tiếp cận
với đời sống xã hội của bộ phận dân cư yếu thế này như thế nào có ảnh hưởng sâu rộng



trong đời sống cộng đồng. Vì lẽ đó, để thực hiện pháp luật về người khuyết tật có hiệu quả
cần phải phát huy sức mạnh tối đa của các chủ thể, các cá nhân, tổ chức và toàn xã hội
trong chấp hành, tuân thủ, sử dụng và áp dụng pháp luật về người khuyết tật. Do đó, thực
hiện pháp luật có tính xã hội rộng lớn.

1.1.3. Hình thức thực hiện pháp luật về người khuyết tật
Các quy phạm pháp luật liên quan đến người khuyết tật được quy định trong rất
nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Việc thực hiện đầy đủ các văn bản pháp luật này đòi
hỏi có sự thống nhất và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong hệ thống các cơ quan
quản lý nhà nước. Căn cứ vào tính chất và đặc điểm hoạt động thực hiện pháp luật về
người khuyết tật có thể chia hình thức thực hiện pháp luật về người khuyết tật bao gồm:
- Tuân thủ pháp luật về người khuyết tật .
Tuân thủ pháp luật về người khuyết tật là một hình thức thực hiện pháp luật về
người khuyết tật, trong đó các chủ thể thực hiện pháp luật tự kiềm chế để không tiến hành
những hoạt động mà những văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm điều chỉnh những
quan hệ pháp lý liên quan đến người khuyết tật ngăn cấm. Thực tiễn cho thấy đang tồn tại
khoảng hai mươi văn bản luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến người khuyết tật,
những văn bản này quy định những biện pháp, giải pháp nhằm bảo vệ và bảo đảm quyền
tiếp cận đối với người khuyết tật trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Tuân
thủ pháp luật về người khuyết tật vừa là hành vi không thực hiện những hành vi nguy
hiểm đối với người khuyết tật mà còn thực hiện hành vi bắt buộc hoặc làm việc bắt buộc
nào đó do pháp luật quy định nhằm bảo vệ đối với người khuyết tật trong những điều
kiện và hoàn cảnh mà các quy phạm pháp luật cụ thể đã dự liệu.
- Thi hành pháp luật về người khuyết tật.
Thi hành pháp luật về người khuyết tật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó
các chủ thể thực hiện nghĩa vụ pháp lý bằng hành động tích cực. Điều này có nghĩa rằng
những quy phạm pháp luật liên quan đến người khuyết tật bao giờ cũng xác định trách
nhiệm của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật cụ thể. Việc thi hành đó mang tính
chất tự nguyện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật. Trong một số
trường hợp, nếu các chủ thể không thực hiện hành vi phù hợp sẽ bị các cơ quan chức



năng của nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng chế và việc thực hiện đó cũng chính là quá
trình thi hành pháp luật về người khuyết tật.

- Sử dụng pháp luật về người khuyết tật.
Sử dụng pháp luật về người khuyết tật là hình thức thực hiện pháp luật mà trong
đó các chủ thể thực hiện pháp luật sử dụng các quyền năng về mặt pháp lý, công cụ pháp
lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người khuyết tật. Trong nội dung này bao
hàm cả hoạt động mà bản thân người khuyết tật sử dụng các công cụ pháp lý nhằm bảo
vệ chính bản thân mình. Trong quá trình sử dụng pháp luật đối với người khuyết tật, biểu
hiện là những hoạt động như sử dụng quyền khiếu nại, quyền tố cáo, quyền khởi kiện
hoặc các quyền năng pháp lý khác nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích
của bản thân người khuyết tật.
Quá trình sử dụng pháp luật phải bảo đảm tuân thủ pháp luật một cách tuyệt đối,
bởi chính từ quá trình sử dụng pháp luật rất có thể dẫn tới hiện tượng vượt quá thẩm
quyền hoặc không sử dụng đúng các quy định của pháp luật về người khuyết tật.
- áp dụng pháp luật về người khuyết tật.
áp dụng pháp luật về người khuyết tật là một hình thức thực hiện pháp luật trong
đó nhà nước thông qua các cơ quan trong bộ máy nhà nước hoặc đội ngũ cán bộ công
chức có thẩm quyền do pháp luật quy định thực hiện hoạt động tổ chức cho các chủ thể
khác nhau thực hiện những quy định có liên quan đến người khuyết tật. Tuy nhiên biểu
hiện phổ biến của hoạt động áp dụng pháp luật là các cán bộ, công chức trong các cơ
quan chức năng của nhà nước căn cứ vào các quy định hiện hành của nhà nước về người
khuyết tật để ra các quyết định pháp lý nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các
quan hệ pháp lý liên quan tới người khuyết tật.
1.1.4. Vai trò thực hiện pháp luật về người khuyết tật.
Yêu cầu quan trọng đặt ra đối với việc xây dựng pháp luật của Nhà nước ta là
pháp luật phải là cơ sở của việc tổ chức và hoạt động của Nhà nước, pháp luật phải là
công cụ gìn giữ trật tự, kỷ cương xã hội, pháp luật là phương tiện xử sự của mọi công
dân. Đường lối, quan điểm của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhu cầu
khách quan của xã hội phải được phản ánh thông qua hệ thống pháp luật.




Quản lý xã hội bằng pháp luật nhưng vấn đề cơ bản không chỉ Nhà nước xây dựng
một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ, mà điều quan trọng hơn cả là pháp luật của
Nhà nước phải được mọi thành viên trong xã hội tôn trọng và chấp hành một cách
nghiêm chỉnh và triệt để, pháp luật phải đi vào cuộc sống, phải biến thành hành động của
mọi công dân, mọi tổ chức trong xã hội.
Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đầy đủ cũng chưa đủ vì pháp luật ở trạng
thái đó vẫn là trạng thái tĩnh nó có thể tác động đến trật tự pháp luật, thúc đẩy quá trình
phát triển của các quan hệ xã hội nhưng mức độ rất hạn chế và chủ yếu mới chỉ là thông
qua ý thức pháp luật của công dân ở một bộ phận không đáng kể. Pháp luật chỉ có thể
phát huy hết tác dụng khi nó được tổ chức thực hiện tốt trong đời sống xã hội, khi các
quy định của pháp luật trở thành những hành vi, cách xử sự thực tế của các cá nhân, tập
thể trong cuộc sống hằng ngày.
Trong đời sống xã hội có rất nhiều lĩnh vực khác nhau, đòi hỏi Nhà nước phải xây
dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã
hội đó. Thực tiễn cho thấy có rất nhiều văn bản pháp luật phát huy tác dụng tốt, đem lại
hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý, nhưng vẫn còn không ít văn bản luật chưa phát
huy được hiệu lực thi hành, không mang lại hiệu quả như mong muốn. Mặt tồn tại đó có
nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là do chưa tổ chức tốt việc thực hiện pháp luật.
Khi giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật có một khoảng cách lớn, tức
là pháp luật được ban hành với khối lượng lớn mà ít đi vào cuộc sống, thì sẽ dẫn đến tình
trạng pháp luật bị coi thường, không hiệu quả. Vì vậy, thực hiện pháp luật có vai trò to lớn
trong việc chuyển văn bản pháp luật của Nhà nước được thực thi trong đời sống thực tiễn.
Để nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật thì phải có phương thức thực hiện
tốt các hoạt động về pháp luật từ khâu xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp
luật, thực hiện pháp luật, kiểm tra, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo
vệ pháp luật. Để pháp luật phát huy hiệu lực, đạt hiệu quả trong quá trình điều chỉnh
các quan hệ xã hội, thì Nhà nước ngoài việc tạo lập môi trường chính trị - xã hội thuận
lợi, nâng cao trình độ pháp lý cho cán bộ và nhân dân, xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật, đòi hỏi phải xác lập cơ chế thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả.




Như vậy có thể khẳng định rằng, thực hiện pháp luật có vai trò và tầm quan trọng
đặc biệt trong toàn bộ các hoạt động về pháp luật. Thực hiện pháp luật là hoạt động đưa
pháp luật vào cuộc sống, biến những quy phạm pháp luật thành những hành vi, xử sự
thực tế, hợp pháp của cá nhân, tập thể trong thực tiễn xã hội. Nếu không có tổ chức tốt
việc thực hiện pháp luật thì ý chí của Nhà nước sẽ không đi vào đời sống thực tiễn, pháp
luật sẽ không phát huy được hiệu lực, sẽ không đạt hiệu quả trong điều chỉnh các quan hệ
xã hội.
Vai trò của thực hiện pháp luật không chỉ thể hiện trong toàn bộ các hoạt động về
pháp luật (xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật) mà nó còn là:
Một mặt quan trọng của nền pháp chế. Kết quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật là
một trong những tiêu chuẩn để xác định tính chất của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa. Bởi
vì, pháp chế là một phạm trù thể hiện những yêu cầu và sự đòi hỏi đối với các chủ thể
pháp luật phải tôn trọng và triệt để thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội. Sự thực
hiện pháp luật là trung tâm của pháp chế.
Trên cơ sở vai trò của thực hiện pháp luật trên đây, vai trò thực hiện pháp luật về
người khuyết tật được thể hiện cụ thể như sau.
1.1.4.1. Thực hiện pháp luật về người khuyết tật nhằm đưa pháp luật vào đời
sống xã hội, bảo đảm quyền tiếp cận với mọi mặt đời sống xã hội của người khuyết tật
Thực hiện pháp luật về người khuyết tật là đưa đường lối, chính sách của Đảng
vào cuộc sống, khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Thông qua chỉ
đạo việc triển khai và tổ chức thực hiện pháp luật tổ chức Đảng thể hiện vai trò lãnh đạo
của mình và đánh giá đúng mức về năng lực và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, đảng
viên đồng thời rà soát tổng kết những chính sách trên phạm vi quốc gia đồng thời từng
bước tiếp cận Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật.
Không thể phủ nhận sự song hành của người khuyết tật trong đời sống xã hội và
điều đó có nghĩa rằng nhà nước cần thiết phải có trách nhiệm đối với việc bảo đảm
quyền tiếp cận mọi mặt đời sống xã hội. Khi người khuyết tật được tiếp cận cũng chính
là quyền của người khuyết tật được bảo đảm. Sự ổn định xã hội cũng như bản chất tốt

đẹp của nhà nước cũng được thể hiện sinh động. Trật tự xã hội được bảo đảm là điều



kiện ổn định xã hội nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế của đất nước. đồng
thời góp phần ổn định xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Thực hiện pháp luật chính là quá trình đua pháp luật về người khuyết tật vào thực
tiễn cuộc sống. Để những quy phạm đó đi vào thực tiễn như thế nào liên quan tới vấn đề
quan niệm của cả xã hội về người khuyết tật. Trên thế giới hiện nay chưa có quan niệm
thống nhất về người khuyết tật. Quan niệm về mặt y tá cho rằng người khuyết tật bị
khiếm khuyết bộ phận cơ thể hoặc chức năng, như vậy những khiếm khuyết như vậy có
thể nhận thấy và dùng biện pháp giám định có thể xác định được mức độ khuyết tật. Trên
cơ sở đó xây dựng chính sách phù hợp với từng nhóm đối tượng. Quan niệm này rõ ràng
chưa tiếp cận dưới góc độ xã hội và quyền của người khuyết tật và chưa xác định trách
nhiệm xã hội đối với người khuyết tật. Dưới góc độ quyền có thể nhận thấy, mặc dù
khiếm khuyết về bộ phận cơ thể hoặc chức năng nhưng nếu xã hội tạo cho họ điều kiện
tiếp cận thì họ hoàn toàn có thể tiếp cận vào đời sống xã hội. Một người khuyết tật nhìn
hoặc khuyết tật vận động thực tế tham gia giao thông là rất khó khăn nhưng nếu nhà nước
cung cấp các công cụ và phương tiện về hướng dẫn thâm gia giao thông hoặc bảo đảm
các điều kiện tiếp cận thì những cá nhân đó không còn khó khăn nữa và như vậy họ
không còn là người khiếm khuyết và không khuyết tật nữa.
Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều phân dạng và phân hạng người khuyết tật
để có chính sách đi kèm tuy nhiên phân hạng khuyết tật dựa vào tiêu chí nào hiện nay ở
nước ta chưa có câu trả lời chính xác.
- Thực hiện pháp luật chính là tạo điều kiện bảo đảm tiếp cận với các hoạt động xã
hội của người khuyết tật là không tách rời với môi trường hoà nhập. Hoạt động học văn
hoá, học nghề, vui chơi giải trí không thể tạo môi trường tách biệt cộng đồng xã hội.
1.1.4.2. Pháp luật về người khuyết tật chi phối đến việc thực hiện hệ thống
pháp luật về an sinh xã hội
Người khuyết tật là bộ phận dân cư yếu thế trong xã hội. hiện nay có 20 văn bản

luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến người khuyết tật.Nằm trong tổng thể chính
sách an sinh xã hội của nhà nước thì bộ phận người khuyết tật là bộ phận không thể tách
rời. Vì vậy thực hiện tốt pháp luật về người khuyết tật chính là thực hiện tốt các quy định
của pháp luật về an sinh xã hội, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ và bảo đảm quyền tiếp



cận của người khuyết tật, bảo vệ trật tự an toàn xã hội…Tuy nhiên cũng nhận thức rõ vai
trò và vị trí của người khuyết tật trong xã hội. Bản thân người khuyết tật không có lỗi mà
vấn đề đặt ra là nhà nước, gia đình và xã hội có trách nhiệm như thế nào nhằm bảo đảm
cho người khuyết tật thực hiện các quyền cơ bản của con người. Đó cũng chính là ranh
giới khi nghiên cứu pháp luật về người khuyết tật và thực hiện pháp luật về người khuyết
tật.
1.1.4.3. Thực hiện pháp luật về người khuyết tật làm cho ý thức pháp luật của
tổ chức, công dân được nâng cao trong đó đặc biệt quan trọng là xác định vai trò của
nhà nước, gia đình và xã hội đối với người khuyết tật
Muốn thực hiện pháp luật tốt phải làm tốt công tác giáo dục, phổ biến pháp luật.
Trước hết là các cơ quan nhà nước và nhân viên nhà nước phải hiểu rõ và nắm chắc các
quy định của pháp luật về người khuyết tật để cụ thể hoá trong triển khai, tổ chức, kiểm
tra việc thực hiện và xử lý vi phạm khi có hành vi vi phạm pháp luật về người khuyết tật
xảy ra. Pháp luật được phổ biến, triển khai thực hiện tốt chính là làm cho nhận thức và
hành động "của phía Nhà nước" được nâng lên và phục vụ ngày một tốt hơn các lợi ích
của nhân dân.
Các quy định của pháp luật về người khuyết tật cần phải được phổ biến sâu rộng
đến tất cả những người tham gia hoạt động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
khuyết tật, bởi vì những hoạt động của họ mang ý nghĩa quyết định đến thành công của
hoạt động bảo vệ quyền của người khuyết tật.
1.1.4.4 Thực hiện pháp luật về người khuyết tật là đảm bảo các yêu cầu của
pháp chế xã hội chủ nghĩa
Chúng ta đều biết rằng pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời

sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã
hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn
trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.
Pháp chế trong lĩnh vực người khuyết tật là bộ phận của pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong
đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, cán bộ, công chức nhà
nước, nhân viên của các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện



đầy đủ pháp luật về người khuyết tật. Theo đó, để bảo đảm và tăng cường pháp chế trong
lĩnh vực người khuyết tật: Một mặt, đòi hỏi phải xây dựng được hệ thống pháp luật về
người khuyết tật đầy đủ, đồng bộ; ; mặt khác, yêu cầu mọi chủ thể tham gia quan quan hệ
pháp luật phải thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để đầy đủ hệ thống pháp luật này. Có như
vậy mới hiện thực hoá được pháp luật về người khuyết tật vào đời sống xã hội. đây cũng
chính là biện pháp tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực người khuyết tật.
1.2. Yêu cầu và điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về người khuyết tật
1.2.1. Yêu cầu của thực hiện pháp luật về người khuyết tật
Thứ nhất, Thực hiện pháp luật về người khuyết tật cần thiết và trên nguyên tắc căn
cứ nội dung của các văn bản pháp lý hiện hành. Hiện nay những vấn đề liên quan tới
người khuyết tật có 20 mươi văn bản luật và khoảng 200 văn bản của các Bộ, Ngành
hướng dẫn thi hành. Thực tế trong nhiều văn bản, tính thống nhất và chặt chẽ chưa được
bảo đảm, tuy nhiên không thể thực hiện pháp luật nếu không dựa trên cơ sở là những văn
bản pháp lý quy định những vần đề bảo đảm quyền tiếp cận của người khuyết tật trong
các lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, học nghề và việc làm, tham gia giao thông, công nghệ
thông tin…
Thứ hai, Thực hiện pháp luật về người khuyết tật đòi hỏi sự phối hợp của nhiều cơ
quan khác nhau trong bộ máy nhà nước bởi lĩnh vực người khuyết tật liên quan tới nhiều
cơ quan khác nhau. Việc chăm sóc sức khoẻ hoặc học nghề đối với người khuyết tật cần
có sự phối kết hợp cả ngành Lao động- Thương binh và Xã hội , Bộ Y tế và Bộ Giáo dục.

Đặt ra yêu cầu là cần thiết phải có sự tham gia của nhiều ngành trong việc thực
hiện pháp luật về người khuyết tật bởi thực tiễn những khó khăn của người khuyết tật rất
phức tạp và cần thiết phải huy động nhiều nguồn lực của nhiều cấp chính quyền thì quá
trình thực hiện chính sách mới đồng bộ trong phạm vi cả nước và mới khả thi trong điều
kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn như ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, Thực hiện pháp luật về người khuyết tật được bảo đảm bởi những nguyên
tắc của quản lý nhà nước; công khai; minh bạch và bình đẳng trong việc thực hiện các
chính sách hỗ trợ của nhà nước.
Thực hiện chính sách đối với người khuyết tật bao gồm những chính sách tác động
trực tiếp và những chính sách tác động gián tiếp. Nhũng chính sách gián tiếp phần lớn là



những bảo đảm từ phía xã hội bảo đảm quyền tiếp cận đối với người khuyết tật. Do điều
kiện kinh tế xã hội của đất nước còn có sự chênh lệch giữa các vùng miền do vậy đòi hỏi
của quá trình này cần phải có sự thống nhất trong phạm vi toàn quốc.
1.2.2. Điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về người khuyết tật
Các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về người khuyết tật là các điều kiện để qui
định pháp luật về người khuyết tật thành hiện thực. Những yếu tố ấy bảo đảm và có mối
quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp tới kết quả thực hiện pháp luật về người khuyết tật và là
cơ sở để xây dựng các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về người khuyết tật trong
điều kiện kinh tế xã hội hiện nay. Để pháp luật về người khuyết tật được thực hiện
nghiêm chỉnh đáp ứng yêu cầu hoàn thiện chính sách an sinh xã hội trong giai đoạn sắp
tới cũng như trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần phải
có các yếu tố bảo đảm như sau:
1.2.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về người khuyết tật
Pháp luật là tiền đề, là cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp
luật. Hệ thống pháp luật về người khuyết tật là cơ sở pháp lý cho cơ quan, tổ chức, cán
bộ, công chức có thẩm quyền tiến hành hoạt động bảo vệ và bảo đảm quyền tiếp cận đời
sống xã hội của người khuyết tật.

Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước cho thấy nếu như hệ thống pháp luật về lĩnh
vực nào đó không hoàn chỉnh thì không thể có hiệu quả trong hoạt động quả lý nhà nước
cũng như hoạt động thực hiện pháp luật. Trong những năm vừa qua, mặc dù Pháp lệnh
người tàn tật tác động mạnh mẽ tới nhận thức của cả xã hội cũng như tác động tới đời
sống của người khuyết tật song vì thiếu những quy phạm cụ thể mà việc tiếp cận với các
dịch vụ xã hội cũng như tiếp cận giao thông công cộng của người khuyết tật hết sức khó
khăn.
1.2.2.2. Nâng cao nhận thức của các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật cụ
thể
Để pháp luật về người khuyết tật thực hiện nghiêm chỉnh, đòi hỏi các chủ thể pháp
luật, đặc biệt đối với chủ thể là cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức có thẩm quyền phải
nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của việc thực hiện pháp luật về người khuyết tật.



Đối với mỗi cá nhân là người khuyết tật thì thấy rằng, nếu nhận thức của bản thân
người khuyết tật, thành viên gia đình người khuyết tật không đầy đủ về vấn đề quyền
hoặc trình tự thủ tục của những chính sách bảo trợ xã hội thì quá trình thực hiện pháp luật
cũng không được bảo đảm.
Nhận thức của xã hội cũng có nhiều vấn đề liên quan tới khả năng thực hiện pháp
luật về người khuyết tật. Nếu xã hội chỉ nhìn nhận người khuyết tật là gánh nặng cho nhà
nước và người khuyết tật không còn khả năng tham gia đời sống xã hội và còn có nhiều
định kiến thì người khuyết tật không thể có cơ hội tham gia đời sống xã hội nữa. Những
nhận thức của xã hội liên quan tới các nhận thức về bảo đảm về dân chủ, dân chủ và
công bằng là điều kiện quan trọng để bảo đảm thực hiện pháp luật trên thực tế. Trong môi
trường không có dân chủ, pháp luật rất dễ bị lợi dụng để phục vụ cho lợi ích riêng của
một hoặc một số người nhất định. Vì vậy, phải đảm bảo dân chủ trong xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật mà quá trình này có sự tham gia của các tổ chức của người khuyết tật
là quan trong có ý nghĩa hàng đầu.
1.2.2.3. Hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ công chức

trong hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật về người khuyết tật
Bộ máy nhà nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình tổ chức và thực
hiện pháp luật về người khuyết tật. Khi có hệ thống pháp luật đầy đủ chỉ là điều kiện cần
thiết mà thôi. Nếu không có bộ máy được tổ chức chặt chẽ và hợp lý thì những nội dung
của pháp luật không thể đi vào thực tiễn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "công việc
thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém".
Đúng như vậy, trình độ, năng lực cán bộ thực hiện chính sách về người khuyết
tật là yếu tố ảnh không nhỏ đến việc thực hiện pháp luật, chỉ khi những người thực thi
pháp luật thực hiện đúng chức trách nhiệm vụ, hiểu biết về pháp luật, xử lý nghiêm
minh, không bị sa ngã trước sự cám dỗ của đồng tiền, phẩm chất đạo đức trong sáng
và tạo được niềm tin trước Đảng, Nhà nước và nhân dân thì hoạt động thực hiện pháp
luật mới được bảo đảm.
1.2.2.4. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong trong quá trình tổ chức thực
hiện pháp luật về người khuyết tật



Thực hiện pháp luật về người khuyết tật cũng như việc thực hiện pháp luật nói
chung đòi hỏi phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là quan điểm, nguyên tắc đã được
ghi nhận trong các nghị quyết của Đảng và đã được thể chế hoá tại Điều 4 Hiến pháp
năm 1992 [29].
Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản nhằm bảo đảm cho việc thực hiện pháp
luật về người khuyết tật. Các cấp uỷ Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện pháp luật về người
khuyết tật bằng việc quán triệt về mặt nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối
với việc hỗ trợ người khuyết tật hoà nhập đời sống xã hội. Thực tiễn cho thấy ở cơ quan,
đơn vị, địa phương nào có sự quan tâm lãnh đạo đúng đắn của cấp uỷ Đảng, việc thực
hiện pháp luật về người khuyết tật ở đó đạt hiệu quả tốt hơn.
1.3. Kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động xây dựng pháp luật và thực hiện
pháp luật về người khuyết tật

Thực hiện pháp luật là quá trình diễn ra ngay sau khi ban hành hệ thống văn bản
pháp luật. Chất lượng và nội dung của văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng đối với
kết quả của quá trình thực hiện pháp luật. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc xác
định nội dung và hoàn thiện văn bản pháp luật đóng vai trò quan trọng trong thực hiện
pháp luật ở nước ta nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh hoạt động hội nhập quốc tế như hiện
nay.
1.3.1 Nội dung cơ bản của Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật
Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật khẳng định mọi tiếp cận của
người khuyết tật đều dựa trên quyền. Công ước còn nhằm thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm
cho người khuyết tật được hưởng thụ đầy đủ và công bằng tất cả các quyền con người và
các quyền tự do đồng thời chú trọng đề cao phẩm giá vốn có của họ, nội dung này được
thể hiện qua 50 điều với các quyền cơ bản sau:
- Quyền được sống, được thừa nhận bình đẳng trước pháp luật, tự do và an ninh cá
nhân, tự do đi lại và tự do về quốc tịch, sống độc lập và được hoà nhập cộng đồng, tự do
bày tỏ ý kiến, tự do ngôn luận và tự do tiếp cận thông tin, tôn trọng sự riêng tư, được tôn
trọng gia đình và tổ ấm, giáo dục, y tế, phục hồi chức năng, công việc và nghề nghiệp,
nhà ở.



- Người khuyết tật được quy định trong Công ước này bao gồm những người bị
suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh
hưởng qua lại tới hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả
của người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác.
- Công ước đề ra những chính sách nhằm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập và
tham gia đầy đủ trên mọi lĩnh vực của đời sống, cụ thể các quốc gia thành viên cam kết
thực hiện các biện pháp phù hợp để đảm bảo người khuyết tật có thể tiếp cận với môi
trường vật chất, giao thông, thông tin và truyền thông, công nghệ thông tin, hỗ trợ phát
triển về mặt kiến thức và xã hội phù hợp với mục tiêu hoà nhập đầy đủ, hỗ trợ người
khuyết tật tham gia vào các hoạt động thể thao, giải trí, văn hoá trên cơ sở bình đẳng như

những thành viên khác trong xã hội.
- Công ước quy định về mức sống và bảo trợ xã hội đầy đủ trong đó có nêu rõ các
quốc gia thành viên thực thi những bước phù hợp bao gồm các phúc lợi và dịch vụ cần
thiết cho người khuyết tật như: dịch vụ cung cấp nước sạch, dịch vụ cung cấp các trang
thiết bị và các trợ giúp khác theo nhu cầu liên quan đến khuyết tật, các chương trình bảo
trợ xã hội, các chương trình xoá đói giảm nghèo; chính sách trợ giúp về các chi phí có
liên quan đến khuyết tật từ Nhà nước bao gồm hỗ trợ tài chính, tập huấn, tư vấn và an
dưỡng, các chương trình nhà ở công; các chương trình và trợ cấp hưu trí.
- Công ước quy định các nghĩa vụ chung của các quốc gia thành viên, theo đó các
quốc gia cam kết đảm bảo và thúc đẩy việc thực hiện đầy đủ các quyền con người và
quyền tự do cơ bản của người khuyết tật mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào vì lý
do khuyết tật. Để đạt được điều này, các Quốc gia thành viên của Công ước cần thực hiện
tất cả các biện pháp hành chính, lập pháp để sửa đổi hoặc huỷ bỏ các đạo luật, quy định,
phong tục tập quán và thông lệ chứa đựng các nội dung mang tính phân biệt đối xử đối
với người khuyết tật; đưa việc bảo hộ và nâng cao quyền của người khuyết tật vào tất cả
các chính sách và chương trình; áp dụng tất cả các biện pháp phù hợp để xoá bỏ sự phân
biệt đối xử của các cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp đối với người khuyết tật; thực hiện
hay thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển các phương tiện, dịch vụ, hàng hoá, trang thiết
bị tối thiểu có thể với chi phí ít tốn kém nhất để đáp ứng những nhu cầu cụ thể của người
khuyết tật, thúc đẩy sự sẵn có và tính năng sử dụng của các phương tiện, dịch vụ, hàng



hoá, trang thiết bị này và thúc đẩy thiết kế phổ cập trong việc xây dựng các hướng dẫn
hay tiêu chuẩn tiếp cận; thúc đẩy việc nghiên cứu và phát triển công nghệ mới, bao gồm
công nghệ thông tin và truyền thông, các thiết bị trợ giúp vận động, các thiết bị và công
nghệ trợ giúp phù hợp với người khuyết tật; cung cấp các thông tin có thể tiếp cận được
cho người khuyết tật về các thiết bị hỗ trợ vận động, và công nghệ và thiết bị trợ giúp bao
gồm cả công nghệ mới, cũng như các dạng hỗ trợ, các dịch vụ và trang thiết bị hỗ trợ
khác; tập huấn cho các cán bộ và nhân việc làm việc với người khuyết tật về các quyền

được thừa nhận trong Công ước này nhằm cung cấp tốt hơn sự hỗ trợ và các dịch vụ được
đảm bảo bởi các quyền đã nêu trong Công ước.
- Công ước quy định về vấn đề thực hiện và giám sát ở các quốc gia thành viên.
Theo đó, tuỳ thuộc vào hệ thống tổ chức, quản lý hành chính và pháp lý của từng quốc
gia, mỗi quốc gia cam kết phân công một hoặc một số cán bộ chuyên trách trong Chính
phủ để giải quyết các vấn đề liên quan đến việc thực hiện các điều khoản của Công ước
này, xem xét một cách thích đáng việc thành lập hay chỉ định một cơ chế điều phối Chính
phủ để hỗ trợ thực hiện các hoạt động liên quan đến các lĩnh vực khác nhau, và ở các cấp
khác nhau; duy trì, đẩy mạnh, chỉ định hoặc thiết lập khung hành động để thúc đẩy việc
bảo hộ, và giám sát việc thực hiện Công ước này. Ngoài ra, Công ước cũng quy định các
tổ chức xã hội dân sự, đặc biệt là người khuyết tật và các tổ chức đại diện của người
khuyết tật phải được tham gia một cách đầy đủ vào quá trình giám sát.
1.3.2. Khái quát kinh nghiệm thực hiện pháp luật và một số nội dung của
pháp luật của một số nước về người khuyết tật
1.3.2.1. Kinh nghiệm xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về người khuyết
tật ở Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia đi đầu khu vực Châu á trong lĩnh vực ưu tiên dạy nghề và
tạo việc làm cho người khuyết tật ở các thành phần kinh tế: quốc doanh, tập thể và tư
nhân. Những chính sách quan trọng dành cho người khuyết tật có thể được lựa chọn để
phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam như: Thành lập quỹ trợ giúp người khuyết
tật, thiết bị thuận tiện cho người khuyết tật tiếp cận với các phương tiện giao thông,
thông tin và truyền thông; phát triển và cải thiện đời sống của người khuyết tật; y tế và

×