Tải bản đầy đủ (.pdf) (80 trang)

LUẬN VĂN: NÂNG CAO VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1013.27 KB, 80 trang )






LUẬN VĂN:

NÂNG CAO VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN
TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC
VĂN HOÁ DÂN TỘC MƯỜNG
TỈNH PHÚ THỌ HIỆN NAY









Chương1
NHÂN TỐ CHỦ QUAN
VỚI VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC

1.1. Nhân tố chủ quan, điều kiện khách quan và bản sắc văn hoá dân tộc.
1.1.1. Khái niệm: “nhân tố chủ quan”, “điều kiện khách quan”.
“Nhân tố chủ quan” và “điều kiện khách quan” là những khái niệm được hình thành
và phát triển trong quá trình nghiên cứu hoạt động thực tiễn của con người. Đây là những
khái niệm chủ yếu khái quát mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo
giới tự nhiên của con người. Trong quá trình hoạt động, tác động và cải tạo giới tự nhiên;
con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể cải tạo hoàn cảnh. Do vậy, việc xác định cái gì


là ĐKKQ, cái gì là NTCQ chỉ mang tính chất tương đối, và nhất thiết phải tìm hiểu các
khái niệm liên quan tới hoạt động của con người, như khái niệm “chủ thể”, “khách thể”,
“chủ quan”, “khách quan”.
** Về khái niệm: “chủ thể”, “khách thể”.
Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa rất nhiều cách hiểu và định
nghĩa khác nhau về hai phạm trù này:
Có quan điểm cho rằng: “Chủ thể là con người (cá nhân hoặc nhóm) tiến hành hoạt
động nhận thức và hoạt động thực tiễn” [65, tr.92].
Hoặc: “Chủ thể là con người có ý thức, ý chí, và đối lập với khách thể bên ngoài”
[66, tr.192].
Con người với tư cách là chủ thể, là con người thực tiễn, con người hành động, với
đặc trưng cơ bản là năng lực hoạt động sáng tạo nhằm cải tạo khách thể (tự nhiên, xã hội)
và chỉ trong quá trình nhận thức, cải tạo giới tự nhiên và cải tạo đời sống xã hội thì con
người mới bộc lộ mình với tư cách là chủ thể của lịch sử. Khi nói tới khái niệm “chủ
thể”, V.I.Lênin viết:
“Khái niệm ấy (= con người) là khuynh hướng tự mình thực hiện mình, tự cho
mình, qua bản thân mình, một tính khách quan trong thế giới khách quan và tự hoàn thiện
(tự thực hiện) mình” [29, tr.288].


Từ các quan niệm đã nêu ở trên, có thể hiểu: Chủ thể - đó là con người với những
cấp độ khác nhau (cá nhân, nhóm, giai cấp) đã và đang thực hiện một quá trình hoạt
động nhằm cải tạo khách thể tương ứng.
Với cách hiểu khái niệm “chủ thể”như vậy thì chỉ có thể quan niệm: Khách thể là
tất cả những gì mà chủ thể hướng vào nhằm nhận thức và cải tạo nó.
Như vậy, không phải tất cả hiện thực khách quan đều là khách thể mà chỉ có những
hiện thực khách quan mà con người hướng tới nhận thức và cải tạo mới trở thành khách
thể; tuỳ mức độ xác định chủ thể nhận thức, cải tạo thế giới khách quan là ai mới có thể
xác định được khách thể tương ứng. Khách thể có thể là những hiện tượng, quá trình
thuộc giới tự nhiên, cũng có thể là những gì do con người tạo ra nhờ hoạt động lao động

sản xuất vật chất, là những yếu tố xã hội, những quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị - xã
hội v.v…
Khách thể và chủ thể có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, mặt này
là tiền đề tương tác của mặt kia, và con người chỉ trở thành chủ thể khi hoạt động tác
động vào thế giới khách quan, biến thế giới khách quan ấy thành khách thể của quá trình
hoạt động thực tiễn của mình. Chủ thể nhận thức và cải tạo một cách chủ động sáng tạo
khách thể theo mục đích của mình; nhưng chính khách thể bị tác động lại quy định chủ
thể. Bởi lẽ, khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và luôn vận động theo những quy luật
vốn có của nó, chỉ khi nào chủ thể nhận thức, hành động phù hợp với quy luật vận động
của khách thể, khi đó hoạt động của chủ thể mới đem lại hiệu quả tích cực.
** Về khái niệm: “cái chủ quan”, “cái khách quan”.
Đây là hai khái niệm nói lên những thuộc tính chung của chủ thể và khách thể được
bộc lộ trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người. Những thuộc tính, tính chất,
yếu tố tồn tại ngoài chủ thể, phụ thuộc vào chủ thể là cái chủ quan; những tính chất, yếu
tố tồn tại ngoài chủ thể, không phụ thuộc vào chủ thể là cái khách quan; nhưng giữa cái
khách quan và cái chủ quan luôn tồn tại mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và
chuyển hoá lẫn nhau. Vì vậy, khi nói về khái niệm “cái chủ quan” có học giả cho rằng:
“Chủ quan là ý thức của chủ thể” [29, tr.92]. Hoặc: “Chủ quan là những gì thuộc về chỉ
đạo hoạt động của chủ thể” [48, tr.192].
Chúng tôi đồng ý kiến với quan điểm thứ 2. Tuy nhiên, khi xem xét toàn bộ hoạt
động của con người và những sản phẩm của hoạt động đó thì thấy rằng: chúng bao giờ


cũng chứa đựng những dấu ấn của cái chủ quan; nhưng không thể coi tất cả những cái
mang dấu ấn chủ quan (nhất là những dấu ấn thuộc những sản phẩm nằm ngoài chủ thể)
là thuộc về cái chủ quan. Hơn nữa, cái chủ quan cũng không đơn thuần chỉ là ý thức như
một số học giả quan niệm, mà cái chủ quan còn bao gồm cả yếu tố thể lực, yếu tố tinh
thần như: tri thức, tình cảm, ý chí v.v…của con người, và chính cả bản thân hoạt động
của họ. Như vậy, có thể nói: cái chủ quan là tất cả những gì thuộc về chủ thể và phụ
thuộc vào chủ thể.

Trong những hoạt động cụ thể, khi chủ thể tác động lên khách thể và biến đổi nó
theo mục đích của mình không phải lúc nào chủ thể hoạt động cũng dùng tất cả những
năng lực, phẩm chất, yếu tố vốn có của mình, mà có thể chỉ huy động một phần, một bộ
phận các yếu tố tạo thành cái chủ quan trong quá trình tương tác với khách thể, cái đó gọi
là nhân tố chủ quan.
Nói cách khác, nhân tố chủ quan là những gì thuộc về chủ thể, tham gia trực tiếp
vào quá trình hoạt động của chủ thể, cũng như bản thân hoạt động đó.
Do vậy, sẽ là sai lầm nếu đồng nhất nhân tố chủ quan với tất cả các yếu tố tạo thành
cái chủ quan, hoặc đồng nhất nhân tố chủ quan với ý thức của chủ thể. Vì “yếu tố” là khái
niệm chỉ các bộ phận cấu thành sự vật hiện tượng, còn “nhân tố” là khái niệm chỉ cái trực
tiếp tham gia vào hoạt động của chủ thể; NTCQ chỉ là một bộ phận của cái chủ quan
được chủ thể huy động sử dụng trực tiếp trong quá trình tác động lên khách thể cụ thể.
Cho nên, nếu đồng nhất nhân tố chủ quan với cái chủ quan, hoặc với ý thức của chủ thể
sẽ là không đầy đủ và không làm rõ được đặc trưng của nhân tố chủ quan như là những gì
thuộc về hoạt động của chủ thể, NTCQ không phải là ý thức nói chung của chủ thể, mà là
ý thức trực tiếp chỉ đạo hoạt động của chủ thể. Ngoài các yếu tố của chủ thể như năng lực
thể chất, ý thức chỉ đạo và định hướng hoạt động thực tiễn, thì NTCQ còn bao hàm cả
bản thân hoạt động đó nữa, nếu thiếu hoạt động của con người thì không thể thay đổi hiện
thực và không thể trở thành NTCQ. Đề cập đến vấn đề này, C.Mác viết:
“Tư tưởng căn bản không thể thực hiện được gì hết. Muốn thực hiện được tư tưởng
cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn” [37, tr.12].
Khái niệm NTCQ cũng không đồng nhất với khái niệm nhân tố con người. Nhân tố
con người là tất cả những gì thuộc về con người (mọi mặt của con người) trong hoạt động
cải tạo thế giới (tự nhiên, xã hội và cả bản thân con người). NTCQ có phạm vi xem xét


hẹp hơn nhân tố con người, vì nó chỉ thể hiện vai trò của chủ thể trong một hoạt động xác
định.
Các nguyên lý triết học mác xít chỉ rõ con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh
nhưng đồng thời cũng là chủ thể của hoàn cảnh. Do đó, khi đặt trong mối quan hệ chung

nhất, đối diện với tự nhiên chúng ta có khái niệm con người. Khi đặt con người trong
trạng thái tích cực hoạt động trước một đối tượng cần nhận thức và cải tạo theo mục đích
nhất định, lúc đó có khái niệm chủ thể và đối lập với nó là khái niệm khách thể.
Về phạm trù cái khách quan, cũng có rất nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau,
có ý kiến quy phạm trù khách quan về phạm trù vật chất, có ý kiến cho rằng cái khách
quan bao hàm cả hiện tượng ý thức…Trên thực tế, muốn khẳng định cái gì là khách quan
phải đặt nó trong mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Không thể đồng nhất cái khách
quan với hiện thực khách quan hay thế giới vật chất, vì chỉ có những hiện tượng ý thức
tồn tại bên ngoài ý thức và ý chí của chủ thể, bị chủ thể tác động biến đổi, thì ý thức ấy
đóng vai trò là khách thể.
Như vậy: Cái khách quan là tất cả những gì tồn tại ngoài chủ thể và không phụ
thuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể.
Cái khách quan bao gồm cả những yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần. Nhưng trong
hoạt động thực tiễn của chủ thể không phải toàn bộ cái khách quan đều đóng vai trò là
khách thể, mà chỉ có một bộ phận của cái khách quan tham gia vào hoạt động của chủ
thể, trở thành khách thể chịu tác động của chủ thể trong một thời điểm, hoàn cảnh nhất
định. Một bộ phận ấy (có thể là những yếu tố vật chất như: môi trường tự nhiên, là quan
hệ chính trị- xã hội, hoặc là yếu tố tinh thần như: ý thức xã hội lạc hậu cần cải tạo…). Đó
chính là điều kiện khách quan.
Khi nói tới khái niệm ĐKKQ, các học giả cũng đưa ra rất nhiều cách tiếp cận khác
nhau như: “Là những gì tạo nên một hoàn cảnh hiện thực…”, “Là một phần của cái
khách quan…”, nhưng tất cả những quan điểm đó đều thống nhất cơ bản ở một điểm, đó
là: “tồn tại không phụ thuộc vào ý thức, ý chí của chủ thể và chi phối hoạt động của chủ
thể” [dẫn theo 60, tr.12].
Có thể nói: ĐKKQ là tổng thể những mặt, những nhân tố tạo nên hoàn cảnh hiện
thực.Trong đó chủ thể sống và thực hiện mọi hoạt động ở những thời điểm nhất định.


ĐKKQ luôn mang tính cụ thể, bao gồm: những yếu tố vật chất, tinh thần, những
quy luật khách quan, những khả năng khách quan (khả năng tiềm ẩn có thể sảy ra trong

tương lai). Những yếu tố ấy sẽ là những điều kiện cụ thể tạo nên hoàn cảnh, môi trường,
ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của chủ thể tại một thời điểm lịch sử nhất định, nó
quyết định hoạt động của chủ thể, vì những hoạt động của chủ thể chỉ được thực hiện
trong những điều kiện nhất định. Việc lựa chọn nắm bắt hoàn cảnh như thế nào sẽ ảnh
hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại trong hoạt động thực tiễn của chủ thể.
** Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan.
Thứ nhất, ĐKKQ quy định vai trò của NTCQ.
Phương pháp luận mác xít luôn khẳng định: ĐKKQ đóng vai trò quan trọng và quy
định NTCQ. Tính quy định của ĐKKQ đối với NTCQ được thể hiện ở chỗ: trong hoạt
động thực tiễn, những dự định mà con người đặt ra phải dựa trên cơ sở hiện thực khách
quan, nếu chỉ căn cứ vào ý muốn chủ quan, thoát ly cơ sở hiện thực thì hoạt động của con
người sẽ không thể thành công.
“Thật ra mục đích của con người là do thế giới khách quan sản sinh ra và lấy thế
giới khách quan làm tiền đề” [29, tr.201].
ĐKKQ quy định hoạt động thực tiễn của chủ thể, nó là yếu tố chi phối, quy định
phương pháp, cách thức, phương tiện tác động của chủ thể, mọi hoạt động của chủ thể
phải phù hợp với thực tiễn khách quan.
ĐKKQ quy định sự phát triển của nhân tố khách quan, những phẩm chất, yếu tố của
chủ thể phải tương ứng với ĐKKQ mà trong đó chủ thể hoạt động, khi ĐKKQ thay đổi
thì NTCQ cũng phải thay đổi cho phù hợp với ĐKKQ mới.
Thứ hai, NTCQ có vai trò tác động tích cực đến sự biến đổi của ĐKKQ.
NTCQ là những gì thuộc về chủ thể, cho nên NTCQ tuy bị ĐKKQ quy định nhưng
nó không thụ động hoàn toàn mà có tính tích cực sáng tạo, tính độc lập tương đối so với
ĐKKQ. Vai trò tích cực sáng tạo của NTCQ thể hiện ở chỗ: Trong hoạt động thực tiễn,
chủ thể vận dụng sáng tạo cái chủ quan của mình để tìm hiểu, nhận thức quy luật vận
động của cái khách quan, khi cả hai tương thích sẽ tạo nên sự chuyển hoá khả năng thành
hiện thực.
Với tư cách là chủ thể hoạt động, con người luôn chủ động lựa chọn những khả
năng tốt nhất, vừa đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của mình vừa không đi ngược lại tiến



trình phát triển của lịch sử. Các quy luật khách quan vận động đan xen nhau, nhưng chủ
thể hoạt động có khả năng dựa trên cơ sở những nhận thức đúng, phù hợp của mình để
điều chỉnh hình thức, trật tự tác động của quy luật khách quan, có thể tạo ra những yếu tố
làm xuất hiện những quy luật khách quan mới.
Trong quá trình tác động trở lại quy luật khách quan, NTCQ cũng đồng thời tự nâng
cao khả năng nhận thức của mình trong quá trình biến đổi thế giới khách quan. Tuy
nhiên, NTCQ có vai trò to lớn đến đâu, sức sáng tạo đến thế nào thì trong việc xem xét,
giải quyết các vấn đề vẫn phải xuất phát từ thực tế khách quan và phải tuân thủ các
nguyên tắc khách quan. Hơn nữa, bản thân chủ thể hoạt động cũng là sản phẩm của thế
giới khách quan, có nguồn gốc từ thế giới khách quan, toàn bộ cuộc sống, sinh hoạt, lao
động, và phát triển của chủ thể đều phản ánh những điều kiện, quy luật của thế giới khách
quan - Mọi sự cố gắng của chủ thể trong quá trình phản ánh, nhận thức và cải tạo thế giới
cũng là để đáp ứng một cách tốt nhất những mục đích và nhu cầu sống của chính mình
(cả vật chất lẫn tinh thần).
Nói tóm lại, trong mối quan hệ biện chứng giữa NTCQ và ĐKKQ thì ĐKKQ là tính
thứ nhất, quy định NTCQ cả về nội dung, phương hướng và tổ chức hoạt động thực tiễn.
Nhưng NTCQ không bị động trước hoàn cảnh khách quan mà luôn lấy ĐKKQ là điểm
xuất phát, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan. Phát hiện, nắm bắt những
khả năng khách quan, tạo ra những tiền đề biến khả năng khách quan thành hiện thực,
làm chủ cái khách quan, biến tính tất yếu khách quan thành nội dung hoạt động tự do
sáng tạo của mình. Tính biện chứng trong mối quan hệ giữa NTCQ và ĐKKQ còn thể
hiện ở chỗ: để đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động thực tiễn thì bắt buộc NTCQ phải
vận động, phát triển, tự hoàn thiện những phẩm chất, nâng cao nhận thức, khả năng vận
dụng, tổ chức hoạt động thực tiễn của mình cho phù hợp với những quy luật vốn có của
thế giới khách quan. Bất cứ một sự tuỳ tiện, chủ quan, duy ý chí nào cũng sẽ dẫn tới
những hành động vi phạm quy luật khách quan, kìm hãm sự phát triển của tự nhiên, xã
hội, con người và của chính bản thân chủ thể đang tham gia hoạt động ấy.
Lịch sử xã hội loài người là lịch sử của chính con người. Hành động làm nên lịch sử
đầu tiên của con người, đó là những hoạt động lao động cải tạo tự nhiên để đáp ứng và

thoả mãn những nhu cầu tồn tại của mình. Từ hoạt động lao động cải tạo thế giới tự nhiên
đó, mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội loài người


được thiết lập, các quan hệ xã hội của loài người được hình thành (tự nhiên và khách
quan). Cùng với tự nhiên, giống như tự nhiên, xã hội loài người cũng không ngừng vận
động và phát triển theo những quy luật nhất định. Trong quá trình đó, cái khách quan và
cái chủ quan, những ĐKKQ và NTCQ bao giờ cũng tồn tại trong mối quan hệ thống nhất,
biện chứng; trong đó ĐKKQ bao giờ cũng có vai trò quy định đối với NTCQ. Thực tiễn
lịch sử cho thấy, trong quá trình hoạt động lao động của con người, chỉ khi nào những
quan hệ vật chất cần thiết đã phát triển chín muồi, hoặc ít ra cũng đang trong quá trình
hình thành, thì khi đó NTCQ mới có cơ sở khách quan để biến những khả năng thành
hiện thực, công cuộc cải biến xã hội mới thành công.
Khi phân tích tình thế cách mạng ở Nga năm 1917, so sánh tình hình cách mạng ở
Nga khi đó với những tình thế cách mạng trước đó cả ở Nga, ở Đức, và tất cả các thời kỳ
cách mạng Phương Tây trước đó. V.I.Lênin đã khẳng định: Cũng là những ĐKKQ giống
như thế, cũng là sự khủng hoảng chính trị của tầng lớp trên cùng, quần chúng nhân dân bị
áp bức nặng nề, cũng là ý thức muốn vùng lên làm một cuộc cải biến xã hội… Nhưng các
cuộc cách mạng trước đó không thể nổ ra là vì thiếu đi sự chín muồi của NTCQ, của giai
cấp cách mạng, tức là thiếu đi khả năng phát động, tổ chức, tập hợp quần chúng nhân dân
tạo sức mạnh tổng hợp của các giai cấp bị trị trong cuộc đấu tranh cách mạng ấy [28, tr.
268].
Và như vậy, theo V.I.Lênin, nếu không xuất hiện các tình thế cách mạng (ĐKKQ),
hoặc nếu không có sự biến đổi chủ quan của giai cấp cách mạng thì tình thế cách mạng
(ĐKKQ) chỉ là khả năng khách quan, mà không thể là hiện thực.
Trên thực tế, không phải lúc nào các ĐKKQ cũng tự phát (tự nó) hình thành, mà có
lúc các ĐKKQ cũng phải được xúc tiến, nảy sinh thông qua các hoạt động tích cực của
con người. Sự năng động chủ quan của con người phải được đo bằng hiệu quả vật chất
chứ không chỉ là trong lý luận hay tư duy.
Một vấn đề thực tiễn quan trọng trong nghiên cứu mối quan hệ giữa NTCQ và

ĐKKQ là ở chỗ: phát huy vai trò NTCQ không thể tách rời những ĐKKQ đang có,
không thể hoạt động một cách tuỳ tiện trước quy luật của TN, của XH. Đó phải là sự biến
đổi không ngừng của bản thân chủ thể (từ năng lực, phẩm chất, đạo đức…đến khả năng
thiết kế, tổ chức hoạt động thực tiễn…). Khi đó mới thúc đẩy được kinh tế – xã hội phát
triển, mới cải tạo thế giới khách quan thành công, mới ngày một nâng cao hơn chất lượng


cuộc sống cho con người cả về vật chất lẫn tinh thần, con người (chủ thể hành động)
ngày càng hoàn thiện bản thân mình, trang bị cho mình đầy đủ các điều kiện để vươn tới
cuộc sống đậm chất người hơn.
1.1.2. Văn hoá và bản sắc văn hoá dân tộc.
Văn hóa - Cho đến nay, không phải tất cả mọi người đã đồng ý với nhau về định
nghĩa. Từ cổ chí kim, trong lịch sử loài người, xuất phát từ cách tiếp cận và nhận thức
khác nhau mà hình thành các định nghĩa về văn hoá. Năm 1952, các nhà dân tộc học
người Mỹ đã thống kê được hơn 300 định nghĩa mà các tác giả thuộc nhiều nước khác
nhau đã phát biểu về văn hoá, các định nghĩa ấy đã khai thác vấn đề văn hoá dưới từng
góc độ, từng mặt khác nhau, nhưng ở khía cạnh nào đó cũng có sự thống nhất hoặc bổ
sung cho nhau trong sự nhận thức về văn hoá.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhìn nhận văn hoá như là một sản phẩm của lịch sử, là
sản phẩm của quá trình lao động cải tạo tự nhiên của các thế hệ người. Do vậy, trình độ
phát triển của văn hoá phụ thuộc vào trình độ nhận thức và sức sáng tạo của con người
trong quá trình hoạt động thực tiễn của họ. Nếu tách văn hoá ra khỏi đời sống của con
người và xã hội loài người thì văn hoá chẳng còn ý nghĩa gì cả. C.Mác cho rằng: “con
người sản xuất” là một “thực thể song trùng” thống nhất giữa “cái tự nhiên và cái xã hội”.
Trong đó, yếu tố tự nhiên được cấu tạo như một sinh vật và nó vận động theo quy luật
sinh học [36, tr.9]. Nhưng điểm khác biệt giữa con người với động vật là ở chỗ con người
mang bản chất xã hội. Bản chất của con người thể hiện ra trong mối quan hệ giữa mỗi
người với người khác, giữa mỗi người với cộng đồng xã hội và thể hiện trong kết cấu xã
hội hiện thực, ở một không gian, thời gian xác định. Trong luận cương về Phơbách,
C.Mác viết:

“Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội”
[38, tr.11].
Con người được sinh ra và sống trong giới tự nhiên. Nhưng con người không bị hoà
tan hay lệ thuộc vào giới tự nhiên mà ngày càng tách mình ra khỏi giới tự nhiên và rồi
quay lại giới tự nhiên, cải tạo nó, làm cho nó trở thành giới tự nhiên thứ hai, giới tự nhiên
của chính mình, đồng thời qua đó cải biến chính bản thân mình - Đó chính là văn hoá.
C.Mác viết:


Cố nhiên, con vật cũng sản xuất…Nhưng súc vật sản xuất cái mà bản thân nó
hoặc con nó trực tiếp cần đến; nó sản xuất một cách phiến diện, trong khi con người
sản xuất một cách toàn diện; con vật chỉ sản xuất vì bị chi phối bởi nhu cầu thể xác
trực tiếp, còn con người sản xuất ngay cả khi không bị nhu cầu thể xác ràng buộc,
và chỉ khi không bị nhu cầu đó ràng buộc thì con người mới sản xuất theo ý nghĩa
chân chính của từ đó; Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái
sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên [40, tr.137].
Con người là một thực thể có ý thức, sống, hoạt động trên cơ sở hiểu rõ bản thân,
hiểu rõ đối tượng định tác động, từ đó tự chịu trách nhiệm về mục tiêu, thái độ, hành vi,
phương hướng tác động đến đối tượng. Sự tự ý thức của con người được thể hiện rõ nét
trong đời sống tinh thần, trong sáng tạo nghệ thuật, họ sản xuất và xây dựng “theo các
quy luật cái đẹp” [40, tr.137], điều đó thể hiện rõ đầu óc chiến lược, năng lực phân tích,
tổng kết, dự báo, gắn với tầm nhìn và nhãn quan văn hoá của chủ thể hành động.
Trong thế giới tự nhiên chỉ có duy nhất con người sống và hoạt động với tư cách là
chủ thể của bản thân mình, làm chủ giới tự nhiên, hoà vào giới tự nhiên nguyên sơ, để tạo
nên một “thiên nhiên thứ hai” nhằm thỏa mãn những nhu cầu, ham muốn chinh phục tự
nhiên, xã hội …của bản thân con người - Đó là văn hoá. C.Mác cho rằng, xét đến cùng,
văn hoá có nguồn gốc từ lao động. Bởi lẽ, mọi hoạt động sáng tạo của con người nhằm
cải biến tự nhiên và xã hội đều bắt đầu từ lao động. Chính lao động đã sáng tạo ra con
người và xã hội loài người, làm cho con người ngày càng thoát ra khỏi bản năng động
vật, tiến dần đến trình độ trưởng thành về nhân cách, trình độ trưởng thành về văn hoá

của mỗi cá nhân.
Trong quá trình lao động, con người đã in dấu mình vào trong từng khâu, từng yếu
tố, từng mặt, từng bộ phận…của thành quả lao động, làm cho tự nhiên tự hiện hình trong
hoạt động của con người.
C.Mác viết: “…Bằng thực tiễn, bằng con đường cách mạng; họ sẽ làm cho “tồn tại”
của mình phù hợp với bản chất của mình” [40, tr.507].
Như vậy, theo C.Mác, văn hoá được hình thành và phát triển trên cơ sở sự hình
thành và phát triển con người. Thước đo của sự tiến bộ và phát triển này chính là mức độ
hình thành và phát triển bản chất người trong quá trình con người chinh phục và biến đổi
tự nhiên, trong mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, mà bao trùm là quan hệ giữa


đời sống tinh thần và không gian sống vật chất của con người và của xã hội loài người.
Nếu môi trường đầu tiên cho con người sự hình thành và phát triển, quyết định sự tồn tại
của con người là sản xuất vật chất, thì môi trường thứ hai cho con người bộc lộ, phát huy
những năng lực và bản chất người trong các hoạt động sống, đó chính là sản xuất văn
hoá.
Quan niệm của V.I.Lênin về văn hoá khá rộng và bao quát. Từ cách tiếp cận hình
thái kinh tế - xã hội, V.I.Lênin cho rằng: Sự phát triển của văn hoá gắn liền với sự phát
triển của các hình thái kinh tế - xã hội, mỗi một hình thái kinh tế - xã hội có một nền văn
hoá tinh thần đặc trưng (như một giá trị lịch sử), khi hình thái kinh tế - xã hội thay đổi,
thì nền văn hoá tương ứng với nó cũng có sự thay đổi nhất định. Đây không có nghĩa là
sự đứt đoạn hay đoạn tuyệt với các giá trị văn hoá truyền thống, mà trong quá trình
chuyển hoá, nền văn hoá mới luôn kế thừa những di sản, thành tựu của nền văn hoá trước
đó, đồng thời bổ xung những yếu tố mới phù hợp với những đặc điểm và quan hệ của
hình thái kinh tế – xã hội mới. V.I.Lênin khẳng định: Ở đâu có hoạt động của con người
thì ở đó có văn hoá và văn hoá không chỉ dừng lại ở văn hoá tinh thần mà còn bao hàm cả
văn hoá vật chất. Người coi văn hoá là phương tiện quan trọng nhất trong tất cả các loại
hình hoạt động của con người và là kết quả của quá trình hoạt động đó. Vì vậy, trong quá
trình xây dựng nền văn hoá mới, V.I.Lênin nhấn mạnh nguyên tắc tính đảng, tính nhân

dân, tính dân tộc, tính nhân loại trong văn hoá, cách mạng văn hoá, trước hết là cách
mạng trong trí tuệ, trong ý thức của quần chúng. Người khẳng định: hoạt động văn hoá và
sản phẩm văn hoá phải là “của” nhân dân, chứ không phải “cho” nhân dân. Người viết:
“Chủ nghĩa xã hội được xây dựng không phải bằng mệnh lệnh từ trên. Tinh thần của nó
xa lạ với bộ máy nhà nước quan liêu; Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo, tức là sáng
tạo của chính quần chúng” [27, tr.464].
Sáng kiến của Người đã khơi dậy tiềm năng, tính chủ động sáng tạo của quần chúng
nhân dân, mở ra hướng đi và nhiệm vụ mới cho cách mạng vô sản - cách mạng văn hoá.
Đó là cuộc cách mạng giải phóng triệt để con người và xã hội loài người khỏi những áp
bức bất công cả trong lao động cũng như trong mọi hoạt động sáng tạo của họ.
Theo V.I. Lênin, muốn xây dựng một nền văn hoá mới, nền văn hoá vô sản có khả
năng phát triển toàn diện năng lực và bản chất người, cần phải kế thừa có phê phán các


giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại, đồng thời phát triển nó lên một tầm cao mới,
mang đậm chất liệu văn hoá và bản chất người. Người nói rằng:
Nền văn hoá vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải là do
những người tự cho mình là chuyên gia về văn hoá vô sản bịa đặt ra… văn hoá vô
sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới
ách áp bức của xã hội Tư bản, địa chủ và của xã hội quan liêu [27, tr.402].
Người cũng chỉ ra rằng, chỉ có xây dựng thành công CNXH, CNCS thì con người
mới có điều kiện thể hiện đầy đủ năng lực sáng tạo, trình độ làm chủ của mình trước tự
nhiên, xã hội và ngay cả trước bản thân mình. Từ đó, con người và xã hội loài người mới
có điều kiện xây dựng và phát triển sự công bằng, bình đẳng, tự do cho bản thân, các tiêu
chí: chân, thiện, mỹ…mới được xác lập và hoàn thiện, hoạt động sáng tạo của con người
mới có đầy đủ điều kiện đạt tới trình độ nhân văn đích thực.
Cũng như các bậc tiền bối của chủ nghĩa Mác, quan niệm về văn hoá của nhà văn
hoá lớn Hồ Chí Minh cũng rất rộng; xuất phát từ chủ nghĩa yêu nước, từ truyền thống văn
hiến ngàn đời của dân tộc Việt Nam, với tầm nhìn bao quát, Người đưa ra khái niệm về
văn hoá như sau:

Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học,
nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương
thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài
người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn [41, tr.431].
Quan điểm trên của Người đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù văn
hoá. Chỉ ra văn hoá không chỉ bao hàm các hoạt động tinh thần của con người mà còn
bao hàm trong đó cả những hoạt động vật chất. Người cũng chỉ ra nguồn gốc sâu xa của
văn hoá đó chính là nhu cầu sinh tồn của con người, với tư cách là chủ thể hoạt động của
đời sống xã hội. Nó biểu hiện sự thống nhất của yếu tố tự nhiên, yếu tố xã hội trong con
người, biểu hiện khả năng và sức sáng tạo của con người. Nghĩa văn hoá mà nhà văn hoá
lớn Hồ Chí Minh đề cập được trải rộng trên cả hai lĩnh vực văn hoá vật chất và văn hoá
tinh thần, nhưng việc phân định hai lĩnh vực văn hoá như trên chỉ có tính chất tương đối,


vì trên thực tế mỗi kết quả của hoạt động lao động của con người đều bao hàm trong đó
cả hai giá trị vật chất và tinh thần.
Là ngưòi anh hùng giải phóng dân tộc, là Danh nhân văn hoá thế giới. Trong hoạt
động văn hoá Hồ Chí Minh rất chú ý đến con người. Trong hành động cách mạng cũng
như trong đối nhân xử thế Người luôn hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, yêu kính nhân
dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, Người biến tình cảm đó thành phương châm
sống của chính mình một cách rất tự nhiên, ở mọi lúc, mọi nơi. Khi còn hoạt động ở Pháp
người đã kịch liệt lên án chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các
nước thuộc địa; để thực hiện mong muốn của mình, ngay sau khi nước nhà giành được
độc lập, Người đã chủ trương và thực hiện đồng thời chiến dịch chống giặc đói và chiến
dịch chống giặc dốt. Người cho rằng: văn hoá là tinh hoa của dân tộc, văn hoá phải góp
phần khẳng định vị thế của dân tộc và một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Cho nên: “Phải
triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc. Đồng

thời phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới
của văn hoá tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính chất dân tộc,
khoa học và đại chúng” [43, tr.173].
Quan điểm coi trọng truyền thống văn hoá dân tộc, giữ gìn những tinh hoa, những
yếu tố tích cực trong kho tàng văn hoá của cha ông cũng nói rõ quan điểm bảo tồn bản
sắc văn hoá của Danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh; Những điều mà Người nói, Người viết
rất giản dị, mộc mạc, nhưng mang ý nghĩa giáo dục và nhân văn sâu sắc: cái gì cũ mà xấu
thì phải bỏ…cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp
lý…cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm…Người cũng nhấn mạnh nguyên tắc kế
thừa và phát triển trong quan điểm về bảo tồn văn hoá; văn hoá phải thoát khỏi mọi biểu
hiện kỳ thị chủng tộc, tránh xu hướng độc tôn, tránh phục cổ một cách máy móc, kế thừa
phải đi đôi với sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá nhân loại. Đồng thời, trong
quá trình giao lưu quốc tế, đòi hỏi mỗi quốc gia phải nghiên cứu kỹ, toàn diện văn hoá
của các dân tộc khác, học lấy những gì tốt đẹp, làm giàu hơn cho văn hoá của chính
mình, có như thế văn hoá Việt Nam mới thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam, mới đủ
sức mạnh “soi đường cho quốc dân đi”.
Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản tư tưởng vô cùng to lớn trong nhiều
lĩnh vực, mà văn hoá là một trong những lĩnh vực ấy. Những quan điểm của Người về


văn hoá, về giữ gìn, bảo tồn văn hoá dân tộc đã trở thành phương châm hành động của
Đảng, của Nhà nước, của Nhân dân ta, đặc biệt là các nhà văn hoá.
Thấm nhuần lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Đảng và Nhà nước ta đã
có sự đổi mới nhận thức về văn hoá trên mọi phương diện. Nghị quyết 4 Ban chấp hành
Trung ương Đảng (khoá VII); và đặc biệt, đến nghị quyết Trung ương năm (khoá VIII)
đã đề cập đến toàn bộ các vấn đề văn hoá liên quan đến quốc tế dân sinh, đến xây dựng
đời sống tinh thần cho con người. Trong năm quan điểm chỉ đạo cơ bản của nghị quyết,
quan điểm thứ nhất đã khẳng định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [17, tr.55], cho thấy: chính
sách kinh tế trong văn hoá mà Nghị quyết Trung ương năm (khoá VIII) đã đề cập nhằm

mục đích gắn văn hoá với hoạt động kinh tế, khai thác các tiềm năng kinh tế hỗ trợ cho
các hoạt động phát triển văn hoá và đồng thời cũng đảm bảo được các yêu cầu về chính
trị, tư tưởng của hoạt động văn hoá, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Khi đề cập đến vấn
đề “bản sắc văn hoá dân tộc”, Đảng ta khẳng định:
Bản sắc văn hoá dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam được hun đúc nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu
tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân
tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ
quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo
trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… bản sắc văn
hoá còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [17,
tr.56].
Kế thừa những quan điểm nêu trên, có thể khái quát về văn hoá và bản sắc văn hoá
dân tộc như sau: Văn hoá là sự phản ánh tổng thể những năng lực bản chất người trong
tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị (cả giá trị vật chất lẫn
giá trị tinh thần) do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử xã
hội của mình.
Với cách hiểu văn hoá như vậy, chúng ta có thể thấy: Văn hoá là một hệ thống tổng
thể quy định đời sống của một dân tộc, nó gắn với các biểu hiện phương thức tồn tại
người, là sự thể hiện đầy đủ bản chất của con người trong tất cả mọi dạng hoạt động, bao
gồm hoạt động thực tiễn, hoạt động nhận thức và hoạt động giao tiếp v.v Hệ thống này


bao gồm toàn bộ những gì thuộc về tư duy, tín ngưỡng, phong tục tập quán…, những gì
thuộc về cơ tầng xã hội như hôn nhân, gia đình…, những gì thuộc về môi trường sinh
thái, đảm bảo cho cuộc sống, sự tồn tại và phát triển của một dân tộc. Điều đó cũng có
nghĩa tất cả những yếu tố có liên quan đến con người với tư cách là con người cá nhân,
con người xã hội, liên quan đến mọi cách thức tồn tại của con người và cộng đồng người
đều liên quan đến văn hoá - Văn hoá chính là sự phát triển, là sự thể hiện lực lượng vật
chất, năng lực tinh thần của con người trong các lĩnh vực sản xuất vật chất, sản xuất tinh

thần. Tuy nhiên, không thể phân chia văn hoá một cách rạch ròi thành “văn hoá vật chất”
hay “văn hoá tinh thần”. Bởi vì, cái gọi là “văn hoá vật chất” thực chất chỉ là sự “vật chất
hoá” các giá trị tinh thần, bản thân các giá trị tinh thần cũng hiếm khi tồn tại dưới dạng
tinh thần thuần tuý, mà nó thường được “vật thể hoá” trong các dạng tồn tại của vật chất.
Ngay cả các giá trị tinh thần tồn tại dưới dạng phi vật thể nhưng vẫn mang tính vật chất
khách quan như văn hoá trong các lĩnh vực đạo đức, giao tiếp, ứng xử, lối sống, phong
tục, tập quán… khi tiếp cận vấn đề văn hoá cần phải xét văn hoá dưới dạng cấu trúc hoàn
chỉnh và các chức năng tương ứng với cấu trúc ấy, trong đó chức năng vận hành đóng vai
trò quyết định. Trong văn hoá: chức năng là cơ chế vận hành của cấu trúc, nếu không có
chức năng thì cấu trúc không vận hành, nếu cấu trúc văn hoá có bị phá huỷ hay mai một
vì nguyên nhân nào đó nhưng chức năng vận hành vẫn còn thì cấu trúc sẽ được phục hồi
và vấn đề chỉ là thời gian.
Nói tóm lại: Văn hoá gắn với toàn bộ hoạt động sống của con người, là “thiên nhiên
thứ hai” với tư cách là sản phẩm mang tính tộc loại của con người. Văn hoá, về bản chất
thường hướng tới mục tiêu “nhân đạo hoá” con người, hướng tới sự phát triển và giải
phóng những năng lực bản chất của con người, nhằm phát triển toàn diện con người,
hoàn thiện xã hội loài người. Cho nên, trong quá trình phát triển của lịch sử, bên cạnh sự
hội nhập, cố gắng phấn đấu để có thể ngang bằng nhau về kinh tế, mức sống, kỹ thuật,
văn minh thì vấn đề giữ gìn, tôn vinh và phát huy những tinh hoa văn hoá sẽ làm nên sự
khác biệt, sự độc đáo giữa các dân tộc về lối sống, phương thức sống và giá trị cuộc sống.
Vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc được rất nhiều quốc gia trên thể giới quan tâm (đặc
biệt là các nước đang phát triển). Trong “thập kỷ thế giới văn hoá phát triển” (1988 –
1997) UNESCO ghi rõ:


Mối quan tâm lớn của những xã hội đương thời là việc giữ gìn những nét độc
đáo trong bản sắc văn hoá của dân tộc mình và ngăn chặn sự sói mòn những giá trị
văn hoá do sự biến đổi của thị hiếu, lối sống, ảnh hưởng của nước ngoài [dẫn theo
61, tr.79].
Văn hoá do con người sáng tạo ra, nhưng văn hoá không mất đi cùng với thế hệ

người tạo ra nó, mà văn hoá tồn tại trong những lớp trầm tích các di sản, được bổ xung
những cái tiên tiến, tạo nên dấu ấn riêng biệt cho mỗi dân tộc, đó chính là bản sắc văn
hoá dân tộc.
Như vậy, có thể nói: Bản sắc văn hoá dân tộc chính là căn tính của dân tộc đó, là
cái không hề trộn lẫn của dân tộc này với dân tộc khác. Đối với mỗi
dân tộc, văn hoá là căn cước, là chứng chỉ, nó chỉ rõ anh là ai, thiếu nó anh không tồn tại
như một giá trị. Bản sắc dân tộc bao gồm cả hai mặt: Một mặt, nó là cái cốt lõi bên trong,
cái sức mạnh tiềm tàng, bền vững, nó chi phối tư tưởng, hành vi của dân tộc. Mặt khác,
nó là biểu hiện ra bên ngoài thành những phong tục, tập quán trong sinh hoạt, thường
được gọi là hình thức, màu sắc, hay sắc thái dân tộc. Về mặt lịch sử, cái “tự nhiên thứ
hai”, cái tự nhiên rất người, hay văn hoá không phải được tạo ra một lần và tồn tại mãi
mãi, mà ở các cộng đồng người khác nhau, không gian và phương thức sống khác nhau
thì văn hoá sẽ mang những diện mạo khác nhau (đó là bản sắc).
Bản sắc văn hoá dân tộc là hệ giá trị các di sản văn hoá, là những kinh nghiệm
được con người tích luỹ trong quá trình thích ứng với tự nhiên, với môi trường mà họ
đang sinh sống; là những chuẩn mực trong ứng xử giữa cá nhân với nhau, giữa cá nhân
với cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Đó là những thói quen trong nếp
nghĩ, là những tri thức đã tích luỹ được, là biểu tượng, là niềm tin trong thế giới tinh
thần…được trải nghiệm trong lịch sử, được chuyển giao một cách rất tự nhiên giữa các
thế hệ người (trong hệ thống cấu trúc tạo thành bản sắc văn hoá dân tộc không ngoại trừ
văn hoá các dân tộc thiểu số - văn hoá tộc người).
Văn hoá dân tộc thiểu số là tổng thể các yếu tố: Tiếng nói, chữ viết, lối sống, phong
cách sống, cách ứng xử với môi trường tự nhiên; các mối quan hệ xã hội, các sắc thái tâm
lý, tình cảm, những tập quán trong sinh hoạt đời thường, trong phong tục, lễ nghi, tín
ngưỡng; trong chu kỳ sống của đời người, trong quan niệm về vũ trụ nhân sinh…Những
yếu tố này được hình thành trong lịch sử, nó có tính đặc thù, đặc trưng, bền vững và ổn


định, được chuyển giao và phát triển không ngừng từ thế hệ này qua thế hệ khác, được
hoàn thiện dần cùng với sự phát triển của tộc người [10, tr.39].

Nói cách khác: Văn hoá tộc người là tổng thể những giá trị văn hoá vật chất và tinh
thần của một dân tộc - tộc người cụ thể, được hình thành và phát triển cùng với quá trình
phát triển tộc người, trong quan hệ giao lưu và tiếp thu tinh hoa văn hoá các dân tộc
khác, góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hoá của cả cộng đồng.
Trong quá trình giao lưu văn hoá, những yếu tố đặc trưng cốt lõi của mỗi dân tộc
vẫn được giữ lại, duy trì và phát huy, nó làm nên những sắc thái văn hoá độc đáo không
trộn lẫn với dân tộc khác. Trong thực tiễn, ý thức tộc người được nảy sinh từ văn hoá tộc
người, nếu văn hoá tộc người bị mai một thì ý thức tộc người đó cũng sẽ mất dần, bản
thân tộc người cũng sẽ tàn lụi và thậm chí không còn cả tên gọi; nói cách khác, nếu dân
tộc nào tự đánh mất những sắc thái văn hoá mang tính bản sắc thì cũng chính là đánh mất
mình. Để bảo tồn và phát triển văn hoá tộc người không chỉ nói tới các yếu tố cụ thể của
văn hoá dân tộc đó mà còn phải chú ý tới những con người, chủ thể sáng tạo ra nền văn
hoá ấy; tức là, song hành giữa yếu tố văn hoá cụ thể cần bảo tồn, bảo vệ và những con
người cụ thể đã tạo ra sắc thái văn hoá của họ.
1.2. Vai trò nhân tố chủ quan với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc.
1.2.1. Những điều kiện khách quan tác động đến vai trò giữ gìn, phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc của nhân tố chủ quan trong giai đoạn hiện nay.
Mỗi nền văn hoá đều là sản phẩm của một cộng đồng người, trong mối quan hệ giữa
con người với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội; trong các mối quan hệ ấy con
người đã sáng tạo ra các giá trị văn hoá, các hệ thống chuẩn mực: Chân, thiện, mỹ và các
quan hệ nhân văn. Chính vì thế, môi trường sống, hoàn cảnh hiện thực mà chủ thể sáng
tạo văn hoá đang sống và hoạt động (ĐKKQ) là yếu tố quy định sự hình thành các giá trị
văn hoá, đến quá trình bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá đó. Khi nói đến văn hoá là
nói đến giá trị, nhưng giá trị văn hoá không tồn tại một cách đơn lẻ, nhất thời, mà được
tập hợp trong một môi trường nhất định, cụ thể, sinh động, với những con người, những
chủ thể sáng tạo, giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá đó.
Triết học Mác – Lê nin chỉ rõ, trong mối quan hệ giữa môi trường, hoàn cảnh và
con người, giữa ĐKKQ và NTCQ… thì môi trường hoàn cảnh, hay ĐKKQ giữ vị trí chi



phối chủ yếu đến mọi hoạt động của chủ thể, quyết định vai trò của NTCQ. Quy luật hình
thành và phát triển văn hoá thông qua mối tương quan giữa văn hoá với các phương diện
khác của đời sống xã hội chính là sự khẳng định vai trò của con người trong quá trình
chắt lọc những tinh hoa văn hoá tạo nên sự phong phú cho đời sống vật chất và tinh thần
của mình. Những mặt, những nhân tố (mang tính cụ thể) tạo nên hoàn cảnh hiện thực (có
tính thời điểm) ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người, đến sự sáng tạo, giữ gìn
và phát triển văn hoá như: yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị - xã hội, xu hướng biến đổi đạo
đức, lối sống và nhu cầu hưởng thụ văn hoá
Thứ nhất, những tác động của môi trường kinh tế:
Văn hoá và môi trường kinh tế là những phương diện khác nhau của đời sống xã
hội, nhưng giữa chúng tồn tại mối quan hệ biện chứng; trong mối quan hệ đó, cơ sở kinh
tế sẽ quyết định nội dung, tích chất, hình thức biểu hiện của văn hoá.
Đánh giá về vấn đề này Ph. Ăngghen từng nói: Sự phát triển về chính trị, pháp luật,
triết học, tôn giáo, văn hoá và nghệ thuật đều dựa vào phát triển kinh tế, nhưng tất cả các
lĩnh vực đó cũng ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến cơ sở kinh tế. Cách tiếp cận văn
hoá dưới góc độ kinh tế chính trị học của C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ nguồn gốc phát
sinh của văn hoá là từ cơ sở kinh tế, từ một nền kinh tế nhất định, nền kinh tế như thế nào
sẽ sản sinh và quy định bộ mặt tinh thần, sắc thái văn hoá của xã hội như thế ấy. Nói về
điều này, Nghị quyết Trung ương năm (khoá VIII) Đảng cộng sản Việt Nam viết:
Văn hoá là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế.
Các nhân tố văn hoá phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên
mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương…biến thành nguồn
lực nội sinh quan trọng nhất của sự phát triển [17, tr.55].
Trong thời đại ngày nay, trước tác động của quốc tế hoá kinh tế, văn hoá và bản sắc
văn hoá dân tộc chắc chắn sẽ có những biến đổi.
Một mặt, về kinh tế, khi hội nhập quốc tế sẽ đem lại những ý nghĩa về hạnh phúc,
về sự tiến bộ xã hội đích thực cho nhân loại, nó đã trực tiếp thúc đẩy quá trình phân công
lao động và hợp tác quốc tế, đẩy nhanh sự chuyên môn hoá trong sản xuất của các quốc
gia và trong các quốc gia. Làm cho nền kinh tế mỗi nước không chỉ gói gọn trong phạm

vi quốc gia thuần tuý. Các vấn đề liên quan đến đời sống con người như: nhu cầu ăn,
uống, lao động, thông tin…được đáp ứng trên phạm vi toàn cầu, chất lượng cuộc sống


của người dân, sự thịnh vượng về kinh tế của các quốc gia được nâng cao rõ rệt, mối
quan hệ giữa truyền thống và hiện đại trong văn hoá được khẳng định. Sự tiếp thu khoa
học và công nghệ hiện đại đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá, lưu giữ,
phát triển những giá trị văn hoá đặc sắc của dân tộc, tạo cơ hội giao lưu, tìm hiểu, tiếp thu
những tinh hoa văn hoá của nhân loại, làm giàu thêm những giá trị văn hoá truyền thống.
Mặt khác, khi hội nhập kinh tế quốc tế cũng có thể hướng con người đến lối sống
thực dụng, cá nhân, ích kỷ, mê đắm lợi ích vật chất và xu hướng làm giàu không lành
mạnh…Điều này dẫn tới phân hoá giàu nghèo, suy thoái đạo đức cá nhân và gia đình.
Một số người do kiếm được đồng tiền một cách dễ dàng, phi pháp nên có lối sống trác
táng, góp phần làm tăng các tệ nạn xã hội, sói mòn văn hoá truyền thống. Hơn nữa, trong
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một số các quốc gia kém phát triển bị phụ thuộc vào
các nước giàu, dẫn tới nguy cơ bị đồng hoá, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc, làm suy
giảm sức mạnh dân tộc và có thể dẫn đến mất chủ quyền quốc gia. Văn hoá các dân tộc
thiểu số vùng cao cũng bị tác động và ảnh hưởng tương tự: Điện khí hoá toàn quốc đã
làm cho cuộc sống mọi mặt của đồng bào được nâng lên rõ rệt, nhưng cũng có một thực
tế là lưới điện quốc gia phát triển đến đâu thì cối xay tay, cối giã gạo nước, đuống gỗ
(một loại cối giã gạo của người Mường)… vắng bóng đến đó. Cơ chế thị trường, kinh tế
hàng hoá, sản xuất công nghiệp phát triển thì nhà sàn, khung cửi, quần áo dân tộc…cũng
mai một dần; sự mở rộng của thị trường băng đĩa đã làm cho nhu cầu thưởng thức các
loại hình nghệ thuật dân gian của giới trẻ giảm đi và đang có nguy cơ mất hẳn.
Nhưng cho dù nhìn nhận quá trình tác động của quốc tế hoá kinh tế dưới góc độ tích
cực hay tiêu cực, thì chúng ta vẫn phải khẳng định: quốc tế hoá kinh tế mà đỉnh cao của
nó là toàn cầu hoá là một xu thế khách quan không thể đảo ngược, nó đã, đang và sẽ tiếp
tục phát triển. Vấn đề là ở chỗ, xu thế khách quan này được diễn ra thông qua hoạt động
có ý thức của con người (chủ thể kinh tế). Nên đối với mỗi quốc gia, để không bị tụt hậu
về kinh tế trên trường quốc tế, cần chuẩn bị tốt nội lực, sáng suốt trong lựa chọn đường đi

nước bước, nhận thức đúng bản chất thời đại, để hạn chế đến mức thấp nhất những tác
động tiêu cực và hội nhập thành công.
Thứ hai, những tác động của lĩnh vực chính trị - tư tưởng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu kinh tế quốc tế như hiện
nay, ngoài những tác động tích cực thì quốc tế hoá kinh tế cũng sẽ tạo cơ hội để các thế


lực thù địch thông qua những tác động của tư tưởng chính trị để tuyên truyền những quan
điểm sai trái, các chiêu bài tự do, dân chủ…nhằm công kích đường lối lãnh đạo của một
số quốc gia, lôi kéo quần chúng nhân dân vào những hoạt động chống lại lợi ích của
chính quốc gia mình. Qua đó, nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, xoá bỏ sự thống
nhất trong nền văn hoá của chính quốc gia đó.
Với chiến lược “diễn biến hoà bình”, các thế lực phản cách mạng dùng nhiều hình
thức truyền thông, quảng bá và đặc biệt với sự hỗ trợ của hệ thống khoa học công nghệ
cao như: mạng Internét, phát thanh truyền hình bằng vệ tinh toàn cầu công xuất
lớn…nhằm tấn công vào hệ tư tưởng và văn hoá XHCN từ bên trong, xoá nhòa bản sắc
văn hóa của các dân tộc, nhằm mục đích cuối cùng là đồng hoá văn hoá toàn thế giới.
Quá trình hợp tác và giao lưu văn hoá thế giới, đã tạo cho chúng ta cơ hội mở rộng
khả năng tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, làm cho đời sống vật chất và tinh
thần của con người được nâng cao. Nhưng vấn đề sàng lọc những yếu tố độc hại, phản
cách mạng là hết sức khó khăn. Cuộc sống công nghiệp hiện đại, năng động vốn rất được
giới trẻ ưa chuộng lại dường như mâu thuẫn với những giá trị văn hoá dân gian mà muốn
hưởng thụ nó đòi hỏi phải có thời gian và sự thư thái…Những yếu tố tưởng như rất nhỏ
đó lại dễ dẫn tới tình trạng mâu thuẫn thế hệ trong xã hội và phân hoá nội bộ trong các
quốc gia.
Tất nhiên, việc xem xét, nhìn nhận những tác động như đã nêu là tích cực hay tiêu
cực, để có thể vừa hội nhập thành công, vừa đảm bảo được sự ổn định trong tư tưởng và
chính trị, không bị đồng hoá, đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc, kết tinh được tinh hoa
văn hoá tiên tiến của thời đại…còn tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử, vào chính sách của
mỗi quốc gia, và trong công cuộc cách mạng ấy vấn đề hết sức quan trọng đó là vai trò

của NTCQ, của con người.
Trong Nghị quyết Trung ương năm (khoá VIII) Đảng ta đã khẳng định 5 quan điểm
chỉ đạo của mình trong tiến trình hội nhập văn hoá thế giới và giữ gìn, phát huy bản sắc
văn hoá dân tộc. Trong đó, hai quan điểm 4 và 5 đã khẳng định vai trò NTCQ và những
điều kiện then chốt để có thể xây dựng thành công nền văn hoá mới, đó là:
Quan điểm 4: “Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân do Đảng
lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng”.


Quan điểm 5: “Văn hoá là một mặt trận; Xây dựng và phát triển văn hoá là một sự
nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý trí cách mạng và sự kiên trì thận trọng” [17,
tr.57,58].
Sau 20 năm đổi mới, và sau 8 năm thực hiện tinh thần của Nghị quyết Trung ương
năm (khoáVIII), chúng ta vẫn khẳng định được bản lĩnh chính trị, hội nhập và phát triển
kinh tế thành công; bảo tồn và phát huy được bản sắc văn hoá ngàn năm của dân tộc.
Điều đó khẳng định con đường mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã chọn là đúng đắn,
phù hợp và đó cũng là con đường duy nhất để tự khẳng định mình, để chiến thắng âm
mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.
Thứ ba: Những tác động của ý thức xã hội như đạo đức, lối sống, nhu cầu hưởng
thụ văn hoá…đến vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Cũng cần nói rõ rằng, những yếu tố như đạo đức, lối sống, nhu cầu hưởng thụ văn
hoá…mà chúng ta đề cập thuộc tầng ý thức xã hội, nó tồn tại trong môi trường và thời
điểm lịch sử mà con người đang sống, hoạt động; có ý nghĩa là bộ phận, là giá trị cốt lõi
của văn hoá dân tộc. Về thực chất, những yếu tố đạo đức, lối sống hay nhu cầu hưởng thụ
văn hoá… cũng là hệ quả của quá trình phát triển và tác động của kinh tế đến đời sống xã
hội và cộng đồng. Không phải là nguyên nhân trực tiếp, nhưng những yếu tố được coi
như là những chuẩn mực trong ứng xử, là những quy tắc và cam kết không thành văn
giữa những con người với nhau trong xã hội, lại ảnh hưởng rất lớn đến sự hưng thịnh về
mọi mặt từ kinh tế, chính trị, đến văn hoá của các quốc gia. Tuy nhiên, những yếu tố đó
phụ thuộc rất nhiều vào môi trường xã hội, vào nguyên nhân kinh tế và điều kiện lịch sử,

nên không thể tránh khỏi sự đan xen, thậm trí đấu tranh giữa hai yếu tố mới và cũ, giữa
những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong văn hoá.
Trong nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, các quốc gia đang phát triển luôn
quan tâm đến chính sách điều chỉnh những biến đổi trong đời sống tinh thần của xã hội,
đó là chiều hướng gia tăng những biểu hiện tiêu cực theo lối sống cá nhân chủ nghĩa,
chạy theo đồng tiền, lợi dụng chức quyền để tham ô tư túi, lối sống sa đoạ, sùng ngoại,
bài xích văn hoá truyền thống. Một bộ phận thanh niên từ tư tưởng sùng ngoại, dẫn tới lối
sống gấp, buông thả, coi thường nề nếp gia phong, làm biến dạng những giá trị: chân,
thiện, mỹ. Hơn nữa, những tập tục lạc hậu phổ biến trong xã hội cũ vẫn tồn tại dai dẳng
trong từng nếp nghĩ của những tầng lớp người trong xã hội. Một số người, một số địa


phương đã biến chính sách bảo tồn văn hoá thành xu hướng phục cổ tràn lan, mượn di
tích, lễ hội thành nơi hành nghề mê tín v.v…Tất cả những biểu hiện phi thuần phong mỹ
tục đó trở thành sức nặng kìm nén, níu kéo quá trình tham gia hội nhập kinh tế, văn hoá
với thế giới của các quốc gia. Bàn về vấn đề này, C.Mác viết: “Truyền thống của tất cả
các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống…” [39,
tr.145].
Những biến động nhiều chiều của đạo đức, tư tưởng, lối sống và nhu cầu hưởng thụ
văn hoá của những tầng lớp người trong xã hội đã ảnh hưởng không nhỏ đến những giá
trị, bản sắc văn hoá lâu đời của dân tộc, làm chậm lại quá trình phát triển kinh tế - xã hội,
cản trở sự hợp tác quốc tế, đe doạ sự tồn vong của các quốc gia.
Ngoài những yếu tố cơ bản được đề cập trên đây, còn một số các phương diện xã
hội khác như: pháp luật, tôn giáo…cũng tác động không nhỏ đến vấn đề giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hoá. Do vậy, để vừa giữ gìn, phát huy được bản sắc văn hoá dân tộc, vừa
đảm bảo phát triển mọi mặt của đời sống xã hội đòi hỏi sự phát huy cao độ tính tích cực,
sáng tạo của NTCQ trong hoạt động thực tiễn.
1.2.2 .Vai trò biến đổi điều kiện khách quan của nhân tố chủ quan trong giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
1.2.2.1. Vai trò của nhân tố chủ quan trong việc phối hợp lãnh, chỉ đạo vấn đề xây

dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Thứ nhất, vai trò nhân tố chủ quan giữ gìn phát huy bản sắc văn hoá dân tộc được
thể hiện trong chủ trương đường lối, chính sách của Đảng.
Trong Nghị quyết Trung ương năm (khoá VIII) Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ:
“Công nhân, nông dân, trí thức, là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng
của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà
nước” [17, tr.57].
Như vậy, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân, trong
đó tổ chức đảng với vai trò lãnh đạo chủ chốt vạch ra phương hướng, chiến lược, nhiệm
vụ và các giải pháp lớn để lãnh đạo, thực hiện thành công các nhiệm vụ xây dựng và phát
triển văn hoá theo đúng định hướng xây dựng và phát triển đất nước. Các hoạt động liên
quan tới văn hoá hết sức đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp, thống nhất chặt chẽ
của các tổ chức, đòi hỏi chủ thể lãnh đạo phải có phẩm chất đạo đức, tâm huyết, tri thức,


trình độ bao quát, hiểu biết sâu rộng mọi mặt của đời sống xã hội, có khả năng tuyên
truyền, vận động, tổ chức các lực lượng xã hội tạo sức mạnh tổng hợp. Các quyết sách
phải đảm bảo sự hài hoà, biện chứng giữa các yếu tố Chính trị - Văn hoá, Kinh tế - Văn
hoá, Đạo đức - Văn hoá Trên thực tế chúng ta thường thấy, một số những tồn tại như:
đường lối, chủ trương, nghị quyết đúng nhưng khâu tổ chức thực hiện lại yếu kém. Trình
độ của các cấp uỷ đảng, ban ngành, đoàn thể chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển của văn
hoá, cũng như việc giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh giữa chủ trương và thực tiễn
quản lý đời sống văn hoá dân gian ở các địa phương. Do vậy, vai trò lãnh đạo, chỉ đạo
của Đảng và nhà nước được thể hiện trước hết ở sự đồng bộ và tính khả thi của các thiết
chế xã hội. Các chính sách của nhà nước phải gắn với các cơ quan công quyền ở địa
phương, phải bám sát thực tiễn. Vì hơn ai hết họ là những người am hiểu về hoàn cảnh,
con người, phong tục tập quán ở địa phương, từ đó có những phương pháp và cách giải
quyết phù hợp. Bất cứ sự “thương mại hoá văn hoá” hay “hành chính hoá văn hoá” đều
dẫn tới hậu quả không có lợi cho sự sáng tạo văn hoá. Ngoài vấn đề hoạch định chính
sách, chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo còn có vai trò lựa chọn, bồi dưỡng năng lực cán bộ, và

hình thành cơ chế phối hợp, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các ngành theo quan hệ hàng
dọc, hoặc hàng ngang từ trung ương đến địa phương đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ và
hiệu quả.
Thứ hai, vai trò nhân tố chủ quan giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện
trong quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp.
Hoạt động phối hợp quản lý, điều hành của Nhà nước và các cấp chính quyền từ
Trung ương đến địa phương trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là kế
hoạch đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp xây dựng và
phát triển văn hoá. Chủ thể quản lý và năng lực điều hành của họ sử dụng những lực
lượng vật chất và tinh thần sẵn có để tác động biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích
nhất định có giá trị đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng một môi trường văn hoá với
hệ thống giá trị chân, thiện, mỹ, đảm bảo tính sáng tạo, tính hiệu quả cao trong tất cả các
quá trình từ quản lý, tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế, hoạt động chính trị, điều
chỉnh quan hệ xã hội, chuẩn mực đạo đức và một số phương diện xã hội khác theo tiêu
chuẩn nhân văn với quy mô từ tổ chức gia đình tới cộng đồng quốc gia dân tộc.


Trong thực tế, tất cả các phương diện của đời sống xã hội đều nảy sinh những yếu
tố văn hoá, đến khi những giá trị văn hoá hình thành và phát triển sẽ lại tác động tới
những phương diện xã hội theo những mức độ nhất định. Do vậy, vai trò của chủ thể sẽ
làm cho sự tương tác giữa văn hoá với các phương diện xã hội có xu hướng cùng chiều,
vừa có tác dụng làm giàu thêm các giá trị văn hoá, vừa từng bước hoàn thiện các phương
diện xã hội ấy theo các tiêu chuẩn tiến bộ cho con người và vì con người. Hơn nữa, trong
quá trình phối hợp hoạt động, chủ thể quản lý điều hành cũng có điều kiện bồi dưỡng
năng lực cho bản thân, nâng cao vai trò NTCQ, đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động
của chủ thể trước những đòi hỏi khách quan.
Thứ ba, vai trò nhân tố chủ quan giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện
trong hoạt động phối hợp của các tổ chức đoàn thể nhân dân.
Các tổ chức đoàn thể nhân dân bao gồm: Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên,
Hội nông dân, đứng đầu là Mặt trận tổ quốc. Chủ thể phối hợp của các tổ chức đoàn thể

nhân dân, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, đa dạng về hình thức, cơ cấu, phạm vi và
đối tượng tác động. Những chủ thể này hoạt động mang tính chất xã hội cao, tổng hợp
nhiều yếu tố từ chính trị, tín ngưỡng, nghề nghiệp, trong phạm vi quốc gia và quốc tế.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các tổ chức đoàn thể phối hợp hoạt động với nhau, với nhà
nước, với tổ chức chính quyền, đặc biệt là với các cơ quan quản lý văn hoá các cấp, vận
động, thu hút quần chúng nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp, thực hiện các chương
trình kinh tế, chính trị, xã hội, làm sống dậy các phong trào giữ gìn, phát triển các giá trị
văn hoá, sáng tạo văn hoá.
Trong hoạt động phối hợp của các tổ chức đoàn thể nhân dân, vai trò NTCQ thể
hiện trong cơ chế phối hợp khoa học của các tổ chức và khả năng hoạt động thực tiễn của
bản thân mỗi chủ thể. Phát huy vai trò NTCQ là phát huy khả năng hiểu biết, nắm bắt các
đặc điểm của đối tượng được tác động, đặc điểm của môi trường mà trong đó đối tượng
được tác động đang sống, hoạt động và chịu ảnh hưởng trực tiếp. Gắn những điều đó với
các chủ chương, định hướng của đảng và nhà nước, sử dụng linh hoạt, mềm dẻo các kỹ
năng vận động, thuyết phục và cả đạo đức cách mạng, phong cách, lối sống của chính
mình để thu hút quần chúng nhân dân tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế, chính
trị, xã hội, giữ gìn và phát triển văn hoá.


Trong hoạt động thực tiễn vai trò của các chủ thể được thể hiện đồng thời qua hai
chức năng:
Một là, nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, phát hiện
những hiện tượng tiêu cực, tư tưởng lệch lạc, và cả những nhân tố mới, tiến bộ; những
khả năng khách quan có lợi cho sự nghiệp phát triển của cả xã hội, có kế hoạch cụ thể để
hạn chế tiêu cực, bồi dưỡng, nhân rộng điển hình tiên tiến và tạo điều kiện thuận lợi biến
khả năng thành hiện thực.
Hai là, phát hiện những bất cập trong cơ chế, chính sách, những yếu tố cản trở tính
tích cực sáng tạo của quần chúng nhân dân. Từ đó, góp phần hoàn thiện cơ chế, chính
sách và hành lang pháp lý cần thiết để có thể vừa đảm bảo sự tự do hưởng thụ, bảo tồn,
sáng tạo văn hoá của các cá nhân, của cộng đồng dân tộc, vừa đảm bảo tính định hướng,

mục tiêu phát triển của đất nước.
Thứ tư, vai trò nhân tố chủ quan giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc thể hiện
trong sự quản lý, hướng dẫn hoạt động của ngành văn hoá thông tin.
Là cơ quan hoạt động chuyên trách về văn hoá, nên vai trò của các chủ thể hoạt
động trong ngành văn hoá thông tin đối với việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân
tộc là rất quan trọng - Vai trò ấy thể hiện trong nhiệm vụ tham mưu với các cấp ủy Đảng,
chính quyền và đoàn thể nhân dân về những định hướng, giải pháp thực hiện có hiệu quả
công tác văn hoá thông tin cấp mình phụ trách. Trong việc tổ chức hướng dẫn và triển
khai các chủ trương, đường lối, chính sách về văn hoá của cấp trên đến từng địa bàn cơ
sở, nhất là các chính sách về đại đoàn kết dân tộc, chính sách phát triển kinh tế, xoá đói
giảm nghèo và làm giàu chính đáng. Tổ chức tuyên truyền và duy trì thường xuyên các
hoạt động của thiết chế văn hoá, thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia sáng tạo, phổ
biến và hưởng thụ các giá trị văn hoá. Tổ chức hội nghị sơ, tổng kết và thi đua khen
thưởng trong phạm vi địa bàn một cách kịp thời. Lên kế hoạch trang bị những phương
tiện phục vụ cho các phong trào hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc.
Khuyến khích các cá nhân chủ động thâm nhập cộng đồng, tìm hiểu phong tục, tập quán
và tâm lý địa phương, gây dựng, tạo nền móng cho phong trào từ cơ sở, từ bản thân
những người chủ di sản.
Nói một cách tổng quát, vai trò NTCQ trong công tác lãnh chỉ đạo việc giữ gìn, phát
huy bản sắc văn hoá dân tộc, thể hiện qua sự tổ chức, hoạt động một cách đồng bộ của

×