Tải bản đầy đủ (.pdf) (59 trang)

LUẬN VĂN: NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ TIẾNG VIỆT ỨNG DỤNG CHO TÓM TẮT VĂN BẢN doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (984.11 KB, 59 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ



LÊ QUÝ TÀI




NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ TIẾNG VIỆT
ỨNG DỤNG CHO TÓM TẮT VĂN BẢN



LUẬN VĂN THẠC SĨ











Hà Nội - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ



LÊ QUÝ TÀI



NGHIÊN CỨU CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ TIẾNG VIỆT
ỨNG DỤNG CHO TÓM TẮT VĂN BẢN


Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Hệ thống thông tin
Mã số: 60 48 05



LUẬN VĂN THẠC SĨ


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHẠM BẢO SƠN












Hà Nội - 2011
i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả đạt được trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, tìm
hiểu của riêng cá nhân tôi. Trong toàn bộ nội dung của luận văn, những điều được
trình bày hoặc là của cá nhân tôi hoặc là được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu. Tất
cả các tài liệu tham khảo đều có xuất xứ rõ ràng và được trích dẫn hợp pháp.
Tôi xin hoàn chịu trách nhiệm và chịu mọi hình thức kỷ luật theo quy định cho
lời cam đoan của mình.

Hà Nội, tháng 6 năm 2011
TÁC GIẢ LUẬN VĂN


Lê Quý Tài

ii

LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới TS. Phạm Bảo Sơn, người đã
định hướng đề tài và tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận văn cao học này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Công nghệ, Đại học
Quốc Gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy và truyền đạt những kiến thức, những kinh
nghiệm quý báu trong suốt khóa học cao học.
Cuối cùng, tôi xin dành một tình cảm biết ơn tới gia đình và những người thân
đã luôn ở bên cạnh, động viên, chia sẻ cùng tôi trong suốt thời gian học cao học
cũng như quá trình thực hiện luận văn cao học.
iii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÓM TẮT VĂN BẢN 3
1.1 Tổng quan 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Lịch sử phát triển của tóm tắt văn bản 3
1.1.3 Phân loại các phương pháp tóm tắt văn bản 4
1.2 Mô hình tóm tắt văn bản 6
1.2.1 Các phương pháp áp dụng trong pha phân tích 7
1.2.2 Các phương pháp áp dụng trong pha biến đổi 8
1.2.3 Các phương pháp trong pha tổng hợp kết quả 9
1.3 Các phương pháp đánh giá 9
1.3.1 Các phương pháp đánh giá trong 10
1.3.2 Các phương pháp đánh giá ngoài 11
Chương 2 BÀI TOÁN TÓM TẮT VĂN BẢN TIẾNG VIỆT 12
2.1 Một số hướng tiếp cận bài toán tóm tắt văn bản 12
2.2 Đặc điểm tiếng Việt 13
2.2.1 Đặc điểm chung 13
2.2.2 Yếu tố ngoại lai trong từ tiếng Việt 14
2.2.3 Từ đồng nghĩa 14
2.2.4 Đặc điểm chính tả 15
2.2.5 Bảng mã tiếng Việt trên máy tính 16
2.3 Phương pháp cho bài toán tóm tắt văn bản tiếng Việt 17

iv

Chương 3. ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CẤU TRÚC ĐỂ TÓM TẮT VĂN BẢN
TIẾNG VIỆT 20
3.1 Mô hình tóm tắt sử dụng phương pháp cấu trúc 20
3.2 Tiền xử lý văn bản 21
3.3 Xử lý từ 22
3.4 Xây dựng đồ thị liên kết 24
3.5 Sinh văn bản tóm tắt 28
Chương 4 THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 33
4.1 Môi trường thử nghiệm 33
4.2 Dữ liệu thử nghiệm 33
4.3 Phương pháp đánh giá 33
4.4 Kết quả thực nghiệm 36
4.4.1 Thử nghiệm xác định ngưỡng 36
4.4.2 Kết quả thử nghiệm đối với từng phiên bản 37
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 46
v

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT Ký hiệu, viết tắt Tên đầy đủ
1 IDF
Inverse document frequency
Tần số tài liệu ngược
2 IR
Information Retrieval
Tìm kiếm thông tin
3 TF

Term frequency
Tần số từ

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Bậc của các nút sắp theo thứ tự giảm dần của văn bản Text(1).txt 29
Bảng 2 Đánh giá sự liên quan của văn bản tóm tắt và văn bản GS 34
Bảng 3 Kết quả thử nghiệm với các ngưỡng khác nhau 36
Bảng 4 Chất lượng của văn bản tóm tắt bởi Microsoft Word 37
Bảng 5 Kết quả thử nghiệm với phiên bản 1 38
Bảng 6 Kết quả thử nghiệm với phiên bản 2 38
Bảng 7 Kết quả thử nghiệm với phiên bản 3 39
Bảng 8 So sánh kết quả các phiên bản và MS Word 39
Bảng 9 So sánh các văn bản tóm tắt được thực hiện bởi 2 người 40

vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1 Kiến trúc của hệ thống tóm tắt văn bản tự động 6
Hình 2 Đồ thị liên kết các câu trong văn bản (gồm 11 câu, 30 liên kết trên 0,2) 19
Hình 3 Mô hình tóm tắt văn bản sử dụng phương pháp cấu trúc 20
Hình 4 Đồ thị liên kết của văn bản Text(1).txt 27
Hình 5 Bản tóm tắt của Text(1).txt thực hiện bởi con người, tỉ lệ nén 10% 35
Hình 6 Đồ thị kết quả tóm tắt với các ngưỡng 36
Hình 7 So sánh kết quả tóm tắt của các phiên bản và MS Word 40

1

MỞ ĐẦU

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, Internet cũng
như các dịch vụ trực tuyến, ngày càng có nhiều thông tin được tạo ra. Ta có thể truy
cập các thông tin đó qua sách, báo, Internet và các phương tiện truyền thông. Hơn
nữa, nhu cầu đọc, tìm kiếm và lưu trữ thông tin của con người cũng ngày càng tăng
lên. Tuy nhiên, với một lượng lớn thông tin như vậy thì người ta không thể nào có
đủ thời gian và sức lực để đọc hết được chúng. Giải pháp là tóm tắt lại các văn bản
đó, từ đó giúp tiết kiệm thời gian và công sức nhưng vẫn có thể đọc và xử lý được
nhiều văn bản.
Tóm tắt văn bản tự động đã bắt đầu được nghiên cứu từ những năm 50 của thế
kỉ trước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này và có được những kết
quả đáng kể. Tóm tắt văn bản đã được sử dụng trong các phần mềm xử lý văn bản
(Microsoft Office Word…), trong khai phá cơ sở dữ liệu văn bản (Oracle…), trong
các ứng dụng tìm kiếm thông tin trực tuyến (hệ thống tìm kiếm Google, Yahoo…)
và đều thu được những kết quả rất đáng khích lệ.
Tuy nhiên, đối với Tiếng Việt, do sự phức tạp của ngôn ngữ nên hiện chưa có
nhiều công trình nghiên cứu về tóm tắt văn bản và kết quả của các công trình nghiên
cứu về tóm tắt văn bản tiếng Việt còn hạn chế so với các ngôn ngữ khác mà đặc biệt
là so với tiếng Anh.
Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu các phương pháp xử lý tiếng Việt
ứng dụng cho tóm tắt văn bản” nhằm nghiên cứu những vấn đề tổng quan về xử lý
ngôn ngữ tự nhiên và một số phương pháp tóm tắt văn bản tiên tiến đã được ứng
dụng và thu được kết quả khả quan đối với tiếng Anh; đồng thời nghiên cứu những
đặc điểm của tiếng Việt nhằm cải tiến và ứng dụng những phương pháp đó để có thể
xây dựng ứng dụng tóm tắt văn bản tiếng Việt.
Nội dung của luận văn được chia làm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan về tóm tắt văn bản
Chương này trình bày những vấn đề tổng quan về bài toán tóm tắt văn bản,
một số hướng tiếp cận hiện đại và các phương pháp đánh giá kết quả của văn bản
tóm tắt.
Chương 2. Bài toán tóm tắt văn bản tiếng Việt

Chương này trình bày về bài toán tóm tắt văn bản tiếng Việt và một số khó
khăn gặp phải do các đặc điểm của tiếng Việt (ngữ âm, ngữ pháp, chính tả…), và
một số vấn đề về tiếng Việt trên máy tính (bảng mã, font chữ…), từ đó lựa chọn
phương pháp phù hợp cho bài toán tóm tắt văn bản.
2

Chương 3. Ứng dụng phương pháp cấu trúc để tóm tắt văn bản tiếng Việt
Chương này trình bày về việc sử dụng phương pháp sử dụng cấu trúc văn bản
kết hợp với từ điển từ dừng và từ điển đồng nghĩa để xây dựng chương trình tóm tắt
văn bản tiếng Việt.
Chương 4. Thực nghiệm và đánh giá
Chương này trình bày về phương pháp được sử dụng để đánh giá hệ thống tóm
tắt và các kết quả thực nghiệm.
3

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÓM TẮT VĂN BẢN
1.1 Tổng quan
1.1.1 Khái niệm
Tóm tắt văn bản là một lĩnh vực của xử lý ngôn ngữ tự nhiên, đã được bắt đầu
nghiên cứu từ những năm 50 của thế kỉ trước. Có nhiều định nghĩa về tóm tắt văn
bản:
[19] định nghĩa tóm tắt văn bản là quá trình rút trích ra các thông tin quan
trọng từ một hoặc nhiều văn bản để tạo ra văn bản ngắn gọn cho mỗi hoặc nhóm
người dùng, cho từng tác vụ hay nhiều tác vụ khác nhau.
[21] định nghĩa hệ thống tóm tắt văn bản là hệ thống đưa ra dạng biểu diễn
ngắn gọn của thông tin đầu vào căn cứ theo yêu cầu của người dùng.
Radev (2002) [22] định nghĩa văn bản tóm tắt là văn bản được tạo từ một hoặc
nhiều văn bản khác mà truyền tải được những thông tin quan trọng trong văn bản
gốc nhưng có độ dài không quá ½ văn bản gốc (thường ngắn hơn đáng kể).
Theo Partha Lal (2002) [16] thì tóm tắt văn bản là việc thể hiện nội dung văn

bản dưới dạng giản lược một cách tự động nhằm đáp ứng yêu cầu nào đó từ phía
người dùng.
Đỗ Phúc, Hoàng Kiếm (2006) [5] định nghĩa tóm tắt văn bản tự động là việc
tìm các ý chính của văn bản.
Tựu chung lại, có ba đặc điểm quan trọng cần phải xem xét trong hệ thống
tóm tắt văn bản:
1) Bản tóm tắt có thể được tạo ra từ một hoặc nhiều văn bản.
2) Bản tóm tắt cần truyền tải các thông tin quan trọng.
3) Bản tóm tắt cần phải ngắn.
1.1.2 Lịch sử phát triển của tóm tắt văn bản
Tóm tắt văn bản bắt đầu từ những năm cuối thập kỉ 1950 với nghiên cứu của
Luhn (1958) [17] dựa trên tần số từ. Ý tưởng cơ bản của phương pháp tần số từ dựa
trên kiến thức cho rằng tần số của từng từ trong văn bản là một độ đo hữu dụng để
đánh giá tầm quan trọng của chúng.
Tiếp theo đó là phương pháp tóm tắt dựa trên vị trí của các câu trong văn bản
của Baxendale (1958), và những nghiên cứu của Edmundson (1969) [14] về vị trí
của các câu trong văn bản và các từ/cụm từ mang ý nghĩa tổng quát (từ/cụm từ dấu
hiệu). Theo đó, những câu bắt đầu và kết thúc của đoạn văn/bài viết hay những câu
4

chứa những từ như “important” (đặc biệt), “result are” (kết quả là), “paper
introduce” (bài báo giới thiệu về)… là những câu có ý nghĩa quan trọng.
Đầu những năm 1970, tiếp tục có những nghiên cứu với hướng tiếp cận ngoài
(sử dụng các cụm từ dấu hiệu) và được ứng dụng trong các phần mềm thương mại
(Pollock và Zamora).
Những năm 1980, phát triển nhiều nghiên cứu với nhiều hướng khác nhau, đặc
biệt là hướng tiếp cận mức thực thể dựa trên trí tuệ nhân tạo như sử dụng script
(Lehnert 1981), (DeJong 1982), các luật sản xuất và logic (Fum 1985), mạng ngữ
nghĩa (Reimer và Hahn 1988), cũng như các hướng tiếp cận kết hợp (Rau 1989) hay
(Aretoulaki 1994).

Willam B. Cavnar (1994): biểu diễn văn bản dựa trên n-gram thay cho cách
biểu diễn truyền thống bằng từ khoá.
Chinatsu Anoe (1997) đã phát triển hệ DimSum để tóm tắt văn bản sử dụng xử
lý ngôn ngữ tự nhiên và kĩ thuật thống kê dựa trên hệ thống tf-idf, sử dụng WordNet
để xem xét ngữ nghĩa của từ và đề xuất một số kĩ thuật lượng giá.
Jaine Carbonell (1998) đã tóm tắt văn bản bằng cách xếp hạng các câu trội
(câu chứa các ý chính của văn bản) và rút ra các câu trội.
Jade Goldstein (1999): phân loại tóm tắt dựa trên độ đo liên quan, phương
pháp sử dụng kết hợp giữa ngữ học, thống kê. Mỗi câu được đặc trưng bằng các đặc
tính ngữ học và độ đo thống kê.
J.Larocca Neto (2000) đã tạo tóm tắt văn bản dựa trên các dãy từ trong câu
được chọn theo hệ số tf, sau đó dùng kỹ thuật gom cụm (clustering) để tạo tóm tắt.
Yoshio (2001) đã tạo tóm tắt văn bản tiếng Nhật. Có 2 phương pháp là rút câu
dựa trên từ khoá và rút câu dựa trên kiến trúc ngữ nghĩa trong đó có xây dựng độ đo
mối liên kết giữa hai từ.
Hiện nay, một số nghiên cứu về xử lý ngôn ngữ tự nhiên cũng bước đầu được
áp dụng trong tóm tắt văn bản. Mặt khác, các nghiên cứu về tóm tắt đa văn bản, đa
ngôn ngữ và tóm tắt đa phương tiện cũng bắt đầu phát triển.
1.1.3 Phân loại các phương pháp tóm tắt văn bản
Có nhiều tiêu chí để phân loại các phương pháp tóm tắt văn bản, sau đây là
một số cách phân loại tiêu biểu [15]:
Căn cứ vào dạng tóm tắt, ta có thể chia thành:
- Trích xuất (extract): bản tóm tắt hoàn toàn chứa các “dãy từ” được sao chép
nguyên dạng từ văn bản nguồn. “Dãy từ” ở đây có thể là cụm từ, câu hoặc đoạn văn.
Tuy nhiên, với dạng trích xuất thì văn bản tóm tắt thiếu cấu kết cần thiết, các câu
5

được trích ra có thể không phản ánh nội dung. Nói chung văn bản tóm tắt không
được “trơn” do được “lắp ghép” từ các câu, đoạn văn được trích ra.
- Tóm tắt (abstracts): văn bản tóm tắt nói chung là không chứa các “dãy từ”

trong văn bản nguồn mà là được “viết lại” một cách tự động. Với dạng này, người ta
cần nhiều kĩ thuật xử lý ngôn ngữ. Hiện tại, đây vẫn là vấn đề khó, chưa thể giải
quyết được một cách triệt để.
Căn cứ vào mức độ xử lý, có thể chia thành 2 dạng:
- Tiếp cận mức ngoài (surface-level): thông tin được miêu tả dưới dạng khái
niệm về các đặc trưng nông (shallow feature). Các đặc trưng nông bao gồm các
thuật ngữ (term) quan trọng qua thống kê (dựa vào tần số của các thuật ngữ trong
văn bản), các thuật ngữ quan trọng dựa vào vị trí, các thuật ngữ trong các cụm từ
dấu hiệu hay các thuật ngữ trong câu truy vấn của người dùng. Kết quả là một bản
tóm tắt dạng trích xuất (extract).
- Tiếp cận mức sâu (deeper-level): ở mức này, bản tóm tắt có thể là dạng trích
xuất hoặc dạng tóm tắt (abstract) và cần phải sử dụng đến sinh tổng hợp ngôn ngữ
tự nhiên. Với dạng tiếp cận này, phải cần đến những phân tích về mặt ngữ nghĩa,
chẳng hạn sử dụng hướng tiếp cận thực thể để xây dựng dạng biểu diễn của các thực
thể văn bản (đơn vị văn bản) và mối quan hệ giữa các thực thể rồi từ đó tìm ra phần
quan trọng. Mối quan hệ giữa các thực thể gồm quan hệ ngữ nghĩa như: đồng nghĩa,
trái nghĩa, nghĩa hẹp, nghĩa rộng…, quan hệ cú pháp: dựa trên cây phân tích cú
pháp và các mối quan hệ khác.
Căn cứ vào mục đích của bản tóm tắt, có thể chia làm 3 dạng:
- Trình bày sơ lược (indicative): Đưa ra những thông tin ngắn gọn về chủ đề
chính của văn bản. Dạng tóm tắt này thường được sử dụng trong các hệ thống tìm
kiếm thông tin. Thông thường, độ dài của văn bản tóm tắt loại này chỉ từ 5 đến 10%
độ dài của toàn bộ văn bản.
- Tóm tắt cung cấp tin tức (Informative): Cung cấp các chủ đề con của toàn bộ
văn bản, kiểu tóm tắt này có độ dài từ 20-30% văn bản gốc.
- Phê bình và đánh giá: Văn bản tóm tắt đưa ra những quan điểm của người
tóm tắt về chủ đề được đưa ra. Tuy nhiên, kiểu tóm tắt này dường như vượt quá tầm
của các hệ thống tóm tắt tự động hiện nay.
Việc phân loại tóm tắt dựa theo mục đích như trên không loại trừ lẫn nhau, có
thể một bản tóm tắt vừa có chức năng cung cấp tin tức lại vừa là kiểu trình bày sơ

lược.
Căn cứ vào người sử dụng, có thể chia thành các dạng:
6

- Tóm tắt chung: với kiểu tóm tắt này thì mọi chủ đề chính trong văn bản đều
có tầm quan trọng như nhau, văn bản tóm tắt hướng đến một cộng đồng đông đảo
người đọc.
- Tóm tắt dựa trên câu truy vấn: kết quả trả về dựa trên câu truy vấn của người
dùng.
- Tóm tắt hướng đến người dùng hoặc chủ đề: văn bản tóm tắt đáp ứng nhu
cầu của người dùng cụ thể hoặc chủ đề cụ thể nào đó.
Căn cứ vào số lượng văn bản tóm tắt: Tóm tắt đơn văn bản: thực hiện tóm tắt
trên một văn bản hoặc tóm tắt đa văn bản: thực hiện tóm tắt trên nhiều văn bản khác
nhau.
Căn cứ vào ngôn ngữ tóm tắt: Tóm tắt trên một ngôn ngữ hoặc tóm tắt trên
nhiều ngôn ngữ khác nhau.
1.2 Mô hình tóm tắt văn bản









Hình 1 Kiến trúc của hệ thống tóm tắt văn bản tự động
Đầu vào của hệ thống có thể là một hoặc nhiều tài liệu, văn bản hay các thông
tin đa phương tiện như ảnh, âm thanh, video. Hệ thống tóm tắt hiện nay thường tập
trung vào việc xử lý đầu là văn bản (có thể mở rộng cho các thông tin dạng khác).

Điều quan trọng trong việc tóm tắt văn bản là mức độ nén, tức là tỉ lệ giữa độ dài
của văn bản tóm tắt so với văn bản gốc (đôi khi cũng được tính bằng phần bù của tỉ
số này). Thông thường, tỉ lệ nén được tính dựa trên độ dài của văn bản, hoặc có thể
tính bằng nội dung thông tin. Tỉ lệ nén dao động từ 1% đến 30%, nếu tỉ lệ nén giảm
thì thông tin sẽ bị mất nhiều hơn. Văn bản tóm tắt có thể là văn bản liền mạch hoặc
văn bản rời rạc. Quá trình tóm tắt có thể chia thành 3 pha: phân tích văn bản đầu
vào, biến đổi, tổng hợp chỉnh sửa cho phù hợp với yêu cầu đầu ra.
Phân tích
Tài liệu
Biến đổi
Tổng hợp kết quả
Văn bản
tóm t

t

7

1.2.1 Các phương pháp áp dụng trong pha phân tích
Trong pha này, văn bản nguồn được phân tích để xác định các đơn vị ngữ liệu
và các đặc trưng của chúng, kết quả của pha này là đầu vào cho pha biến đổi. Các
phương pháp áp dụng trong pha này bao gồm:
a)Phương pháp thống kê
Các phương pháp thuộc loại này sử dụng các số liệu thống kê về độ quan trọng
của các từ, cụm từ, câu hoặc đoạn văn. Các phương pháp thống kê gồm:
- Dựa vào vị trí:
+ Chủ đề, tiêu đề: tiêu đề hay chủ đề của các đoạn văn thường chứa các từ và
ngữ quan trọng.
+ Câu ở đầu hoặc cuối đoạn: xác suất câu đầu đoạn hay câu cuối đoạn chứa ý
chính của cả đoạn là rất lớn, đặc biệt là câu đầu đoạn. Ngoài ra các đoạn đầu và cuối

văn bản cũng quan trọng hơn các đoạn giữa.
+ Minh hoạ, chú thích: trong các câu chú thích, câu minh hoạ cho ảnh hay đồ
thị thường chứa các thông tin quan trọng.
- Dựa vào cụm từ dấu hiệu: Các cụm từ dấu hiệu có đặc điểm thống kê rất tốt.
Sau các cụm từ này thường là các từ hay câu quan trọng. Có hai loại cụm từ dấu
hiệu : thứ nhất là các cụm từ mang ý nhấn mạnh, sau cụm từ này đoạn văn quan
trọng; chẳng hạn “nói chung là”, “đặc biệt là”, “tóm lại”, “cuối cùng thì”, “trong bài
viết này tôi muốn chỉ ra”, “bài viết nói về”, “nội dung gồm” Thứ hai là các cụm từ
không quan trọng, sau cụm từ này là các thành phần không có nhiều giá trị trong
việc tóm tắt, chẳng hạn: “hiếm khi mà”, “bài này không nói đến”, “không thể
nào…”
- Dựa vào thống kê tần suất từ: Độ quan trọng của từ phụ thuộc vào số lần
xuất hiện của từ đó trong văn bản. Có thể dùng các kĩ thuật như tf-idf, tập thuật ngữ
thường xuyên (frequent item set) để xác định tần suất từ.
b) Phương pháp cấu trúc
Các phương pháp này sử dụng các mối liên hệ cấu trúc - ngữ pháp - ngữ nghĩa
để xác định các đơn vị ngữ liệu quan trọng. Tư tưởng chính của các phương pháp
này là những đơn vị ngữ liệu nào có chứa các thành phần liên quan nhiều với các
thành phần khác sẽ có mức độ quan trọng cao. Việc đánh giá các mối quan hệ sẽ
dựa trên các mạng ngữ nghĩa hoặc các quan hệ cú pháp.
- Phương pháp sử dụng quan hệ giữa câu, đoạn
Phương pháp này xác định mối quan hệ giữa các đoạn trong văn bản hay các
câu trong đoạn với nhau thông qua việc tính toán mức độ liên quan giữa chúng. Các
8

độ Cosine, Jaccard… được chọn để xác định độ tương đồng giữa các câu hay đoạn
văn bản đó. Sau đó, ta chọn ra đoạn hay câu có độ liên quan lớn nhất.
+ Phương pháp chuỗi từ vựng (lexical chains)
Phương pháp liên kết từ vựng sử dụng các từ điển quan hệ từ vựng để xây
dựng các chuỗi từ liên kết với nhau về mặt ngữ nghĩa. Sau khi xây dựng được chuỗi

các từ vựng này, ta đánh giá độ mạnh của chúng và chọn ra những câu phù hợp.
Morris và Hirst (1991) là những người đưa ra mô hình tính chuỗi từ vựng đầu tiên.
Chuỗi từ vựng không những chỉ dùng trong tóm tắt văn bản mà còn được coi là lý
thuyết tổng quát của vấn đề ngữ nghĩa trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên
+ Phương pháp liên kết tham chiếu (word coreferences)
Phương pháp này gọi là phương pháp trích chọn trùng lặp (anaphora-based
method). Theo phương pháp này, các cụm trùng lặp được chọn ra, phân rã xem đâu
là từ (cụm từ) tham chiếu và từ (cụm từ) được tham chiếu. Sau khi phân tách các
cụm trùng lặp, chúng ta tạo chuỗi các từ (cụm từ) tham chiếu đến cùng một từ được
tham chiếu. Chuỗi dài nhất sẽ được coi là trọng tâm của đoạn, các câu chứa các từ
trong chuỗi này có một độ ưu tiên nào đó thì sẽ được chọn.
Kết thúc pha phân tích sẽ là việc tổng hợp các chỉ số đánh giá độ quan trọng
của các đơn vị ngữ liệu và thực hiện việc chọn các đơn vị ngữ liệu nào có độ quan
trọng lớn làm đầu vào cho pha sau. Có thể nhận thấy các phương pháp thống kê dễ
cài đặt hơn các phương pháp cấu trúc. Việc cài đặt các phương pháp thống kê đơn
thuần chỉ là các công thức toán học, còn để cài đặt các phương pháp cấu trúc thì lại
cần thực hiện rất nhiều kĩ thuật về cấu trúc dữ liệu và thậm chí là các kĩ thuật trong
lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
1.2.2 Các phương pháp áp dụng trong pha biến đổi
Pha biến đổi có nhiệm vụ biến đổi đơn vị ngữ liệu được trích xuất trong pha
phân tích như cụm từ, câu, đoạn văn. Thông thường pha biến đổi thực hiện rút gọn
bản thân bên trong một câu, rồi có thể rút gọn đoạn mà không gây ảnh hưởng đến
độ chính xác. Các phương pháp trong pha biến đổi gồm: [7].
a) Giản lược về cấu trúc câu
Lược bỏ các thành phần thừa, ít mang ý nghĩa trong câu, giúp cấu trúc câu
được thu gọn lại. Công việc này thường dựa trên phân tích cú pháp và phân tích ngữ
nghĩa các thành phần trong câu. Áp dụng phân tích cú pháp chúng ta được các cấu
trúc của câu, qua đó ta có thể thay thế thành phần bằng những thành phần tương
đương, ghép thành phần có nghĩa tương đương theo một luật nào đó. Phương pháp
này có thể làm câu ngắn gọn hơn, tuy nhiên khó bảo toàn được văn phong.

b) Giản lược về mặt ngữ nghĩa
9

Thay thế hoặc loại bỏ các từ, cụm từ có ý nghĩa cụ thể bằng những từ, cụm từ
ý nghĩa lúc này sẽ tổng quát, điển hình là:
- Trừu trượng hoá khái niệm: thay thế các khái niệm cụ thể bằng khái niệm
chung.
- Thay thế ngữ tương đương: thay thế các ngữ đóng vai trò như nhau trong câu
bằng một ngữ chung.
1.2.3 Các phương pháp trong pha tổng hợp kết quả
a) Phương pháp hiển thị phân đoạn
Các đơn vị ngữ liệu được trích xuất hay giản lược từ các pha trước được liên
kết lại thành đoạn theo đúng thứ tự trong văn bản gốc, không thêm bớt từ nối và
cũng không sắp xếp lại. Văn bản kết quả của phương pháp này có độ dễ đọc và dễ
hiểu kém, thậm chí lủng củng vì các đơn vị ngữ liệu có thể bị mập mờ tham chiếu,
không có từ nối hoặc thừa từ.
b) Phương pháp hiển thị liên kết
Với phương pháp này, ta sẽ đưa thêm các thông tin bổ sung vào văn bản tóm
tắt. Hai phương pháp thường được áp dụng trong sử dụng mẫu (template) ngữ liệu
huấn luyện (corpus).
1.3 Các phương pháp đánh giá
Đánh giá một bản tóm tắt là một công việc khó bởi không tồn tại một bản tóm
tắt lý tưởng cho một (hoặc một tập) văn bản đưa ra [11]. Hơn nữa, việc đánh giá nội
dung tóm tắt cũng rất khó khăn. Trường hợp kết quả là một câu trả lời cho một câu
hỏi, ta có thể xác định được câu trả lời đó đúng hay sai, nhưng trong các trường hợp
khác, thật khó trả lời liệu đầu ra là phải một kết quả đúng hay không? Thực tế luôn
có khả năng một hệ thống sinh ra một bản tóm tắt tốt nhưng lại sai khác với bản tóm
tắt do người thực hiện. Bên cạnh đó, khi việc đánh giá được thực hiện bởi con người
thì chi phí đánh giá sẽ rất cao. Mặt khác, tóm tắt văn bản còn liên quan đến tỉ lệ nén
văn bản, do đó, việc đánh giá bản tóm tắt cần phải quan tâm đến vấn đề này, khi đó

độ phức tạp và chi phí đánh giá sẽ tăng cao [18]. Có nhiều kiểu đánh giá khác nhau
tuỳ thuộc vào kiểu tóm tắt của hệ thống. Có thể là đánh giá trong (intrinsic) – tập
trung vào chất lượng bản tóm tắt và đánh giá ngoài (extrinsic) – tập trung vào nhiệm
vụ (McKeown 1998).
Các tiêu chí đánh giá:
- Độ mạch lạc (Coherence): đánh giá mức độ rõ ràng của văn bản tóm tắt, tính
súc tích, khả năng có thể đọc và hiểu được của bài viết…
10

- Độ hàm chứa thông tin (Informationess): tỉ lệ thông tin của văn bản gốc
trong văn bản tóm tắt.
- Độ liên quan (Relevance): xác định mức độ phù hợp của văn bản tóm tắt với
chủ đề cho trước (chủ đề có thể là một câu truy vấn).
- Độ dễ đọc hiểu (Reading Comprehence): một người được giao việc đọc văn
bản kết quả, sau đó trả lời các câu hỏi, hệ thống sẽ phải cho điểm và từ đó đưa ra
phần trăm những câu trả lời đúng.
1.3.1 Các phương pháp đánh giá trong
a) So sánh với văn bản tóm tắt khác
Ý tưởng cơ bản của phương pháp này là đem văn bản do hệ thống tóm tắt so
sánh với các bản tóm tắt khác (có thể do hệ thống tóm tắt khác thực hiện hoặc do
con người thực hiện). Thông thường là đem so sánh với văn bản tóm tắt do con
người thực hiện. Việc so sánh giữa các bản tóm tắt này có thể do con người thực
hiện hoặc có thể thực hiện tự động. Khi so sánh, có thể sử dụng một số độ đo sau
[18]:
- Độ chính xác (Precision) và độ bao phủ (Recall). Tuy nhiên, 2 độ đo này
chưa đủ để phân biệt các bản tóm tắt, các bản tóm tắt khác nội dung nhưng vẫn có
cùng độ đo.
- Độ đo hạng câu (Sentence Rank): thay thế cho độ bao phủ, khi đó, một bản
tóm tắt được đặc trưng bởi hạng của các câu trong các bản tóm tắt thích hợp. Hạng
của các câu trong bản tóm tắt do hệ thống thực hiện và trong các bản tóm tắt dùng

để so sánh có thể tính bằng độ đo tương quan. Độ do này áp dụng đối với hệ thống
tóm tắt dạng trích xuất.
- Độ đo dựa trên nội dung (Content-Based): dựa trên sự tương tự về mặt từ
vựng, và có thể áp dụng đối với cả 2 dạng tóm tắt. Tuy nhiên, độ đo này hữu dụng
với các bản tóm tắt trích xuất, hoặc với các bản tóm tắt dạng abstract nhưng có mức
độ cắt-dán cao (tức là văn bản tóm tắt được tạo bởi nhiều từ, cụm từ, câu nguyên
dạng trong văn bản nguồn).
b) So sánh với văn bản nguồn
Với phương pháp này, ta đem so sánh văn bản tóm tắt với văn bản nguồn để
xác định mức độ hàm chứa thông tin của văn bản tóm tắt [18]. Các độ đo dựa trên
nội dung như trên có thể sử dụng để đánh giá. Paice và Jones (1993) đã đưa ra
phương pháp sử dụng thống kê để xác định mỗi thuật ngữ có phải là thuật ngữ trung
tâm hay không phải thuật ngữ trung tâm. Tiếp đó, phân loại vào các nhóm Chính
xác (Correct), không chính xác (Incorrect) và thiếu (Missing).
11

Hệ thống tóm tắt TIPSTER SUMMAC đánh giá các bản tóm tắt dạng Q&A
(Question and Answer – Hỏi và trả lời) (Mani, Firmin, House, Chrzanowski, Klein,
Hirschman, Sundhem, Obrst (1998). Hệ thống này thay vì biểu diễn các khái niệm ở
mức sâu thì chỉ xác định xem trong văn bản tóm tắt có hay không những khái niệm
then chốt trong văn bản nguồn. Theo phương pháp tóm tắt này thì ta đưa vào một
văn bản nguồn và một chủ đề, rồi thực hiện tóm tắt dựa trên chủ đề đó để trả lời cho
câu hỏi. Khi đó, ta có thể xác định xem câu trả lời có Chính xác (chứa câu trả lời
đúng), hoặc Đúng một phần (chứa một phần câu trả lời) hay Thiếu (không chứa câu
trả lời).
1.3.2 Các phương pháp đánh giá ngoài
Ý tưởng cơ bản của các phương pháp đánh giá ngoài là đánh giá tác dụng của
bản tóm tắt với các nhiệm vụ khác nhau [18].
- Đánh giá mức độ liên quan (relevance): ý tưởng của phương pháp này là đưa
ra một văn bản và một chủ đề, đánh giá xem mức độ liên quan của văn bản với chủ

đề đó.
- Đánh giá mức độ đọc hiểu: trước tiên, một người được đọc các văn bản tóm
tắt từ một hoặc nhiều văn bản, sau đó trả lời các câu hỏi kiểm tra. Hệ thống tự động
tính điểm các câu trả lời và đánh giá tỉ lệ trả lời đúng. Nếu bản tóm tắt cho phép trả
lời các câu hỏi giống như khi đọc toàn bộ văn bản nguồn thì bản tóm tắt đó có khả
năng cung cấp thông tin cao.
Hovey và Marcu (1998) thực hiện đo mức độ cung cấp thông tin dựa trên việc
người ta có thể khôi phục lại các thông tin quan trọng trong văn bản khi đọc bản
tóm tắt của văn bản đó. Bằng thực nghiệm, tác giả tiến hành dựng lại văn bản gốc
dựa trên việc đọc văn bản tóm tắt kết hợp phỏng đoán.
12

Chương 2
BÀI TOÁN TÓM TẮT VĂN BẢN TIẾNG VIỆT
Chương này trình bày về một số hướng tiếp cận bài toán tóm tắt văn bản tiếng
Việt. Đồng thời cũng đưa ra những đặc trưng quan trọng cần chú ý của tiếng Việt
dưới góc độ của lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên, từ đó lựa chọn phương pháp cho
bài toán tóm tắt văn bản tiếng Việt.
2.1 Một số hướng tiếp cận bài toán tóm tắt văn bản
Tại Việt Nam hiện nay, lĩnh vực xử lý ngôn ngữ tự nhiên đã có được thành
tích trong các bài toán phân tách từ, phân lớp và phân nhóm văn bản. Tuy nhiên bài
toán tóm tắt văn bản chưa có nhiều nghiên cứu và đa phần các công trình nghiên
cứu đều sử dụng hoặc cải tiến các phương pháp dựa trên thống kê, cũng có một số
nghiên cứu có dựa trên ngữ nghĩa để nâng cao độ chính xác.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:
Đỗ Phúc, Hoàng Kiếm (2006) [5] đã sử dụng cây hậu tố để phát hiện các dãy
từ phổ biến trong các câu của văn bản, dùng từ điển đồng nghĩa và WordNet tiếng
Việt để giải quyết vấn đề nghĩa của từ, rồi dùng kĩ thuật gom cụm để gom các câu
trong văn bản (vector đặc trưng cho câu) và hình thành các vector đặc trưng cụm,
sau đó rút ra câu chứa nhiều thành phần của các vector đặc trưng cụm.

Vương Toàn (2007) [8] đã đề xuất quy trình tóm tắt văn bản khoa học. Theo
đó, đầu tiên cho máy đọc lướt văn bản và tìm xem có sẵn những đoạn văn mang
tính chất “tóm tắt” hay không; tiếp theo là định chủ đề, xác định 4-5 tiêu đề đề mục
hoặc từ khoá để máy tự động chọn lưu tất cả những câu có các từ khoá đó.
Công trình nghiên cứu của Nguyễn Trọng Phúc, Lê Thanh Hương (2008) [6]
lại sử dụng cấu trúc diễn ngôn để tóm tắt văn bản. Theo đó, xây dựng cây cấu trúc
diễn ngôn biểu diễn mỗi quan hệ diễn ngôn giữa các đoạn văn bản (như các quan hệ
nhân-quả, liệt kê, diễn giải,…), rồi từ cây cấu trúc diễn ngôn này đánh giá được độ
quan trọng của các đoạn văn bản và tiến hành trích xuất tạo ra tóm tắt nội dung cho
văn bản.
Với hướng tiếp cận tóm tắt đa văn bản dựa vào trích xuất câu, Trần Mai Vũ
(2009) [9] đã xây dựng đồ thị quan hệ thực thể để tăng cường tính ngữ nghĩa cho độ
tương đồng câu để áp dụng cho tóm tắt đa văn bản tiếng Việt.
Nguyễn Việt Cường (2007) [2] đã sử dụng phương pháp phân đoạn văn bản
dựa trên chuỗi từ vựng kết hợp với phương pháp sinh tiêu đề dựa trên chủ đề của
câu chủ đề nhằm thực hiện sinh tự động mục lục cho văn bản.
13

2.2 Đặc điểm tiếng Việt
2.2.1 Đặc điểm chung
Tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình từ và âm tiết tính tức là mỗi một tiếng
(âm tiết) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết [1]. Hai
đặc trưng này chi phối toàn bộ tổ chức bên trong của hệ thống ngôn ngữ Việt và cần
được chú ý khi xử lý tiếng Việt trên máy tính.
Tiếng [1] là đơn vị cơ sở của cấu tạo ngữ pháp Việt Nam. Tiếng có thể có
nghĩa, phai nghĩa và không có nghĩa; hơn nữa giữa 3 hiện tượng này có thể xuất
hiện sự chuyển hoá lẫn nhau. Tiếng tham gia vào hệ thống ngôn ngữ với tư cách
một thành tố trong các cơ chế cấu tạo từ (từ đơn, từ láy, từ ghép…). Theo Từ điển
tiếng Việt – Hoàng Phê (1998) thì tiếng Việt hiện đại sử dụng 6718 âm tiết.
Hiện nay, có nhiều tranh luận khi định nghĩa từ trong tiếng Việt. Theo Ngữ

pháp tiếng Việt [1] thì xét ở phương diện ngữ pháp có thể định nghĩa từ là đơn vị
nhỏ nhất mà có nghĩa và có thể hoạt động tự do (trong câu), từ là đơn vị trung tâm
của ngữ pháp Việt Nam, chi phối toàn bộ cú pháp tiếng Việt, đảm nhận và san sẻ
các chức năng năng cú pháp trong câu và góp phần đưa câu vào các cấu tạo ngôn
ngữ lớn hơn câu. Từ đây trở đi, khái niệm từ được dùng với nghĩa trên khi nói về
tiếng Việt, còn đối với các ngôn ngữ châu Âu (ví dụ tiếng Anh), từ (word) vẫn được
hiểu theo nghĩa là “cụm kí tự được ngăn cách bởi một hoặc nhiều dấu cách”.
Cụm từ là những kiến trúc gồm hai từ trở lên kết hợp “tự do” với nhau theo
những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu. Cụm từ
hoạt động trong câu mới mọi chức vụ ngữ pháp nhất định.
Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn.
Ví dụ:
Từ ‘học’ là một từ gồm một tiếng
Từ ‘đại học’ là một từ gồm hai tiếng
Cụm từ ‘khoa học máy tính’ gồm 2 từ hay 4 tiếng
Trong các hệ thống xử lý ngôn ngữ trên các tiếng châu Âu, để xác định các từ
đặc trưng cho văn bản người ta có thể đơn giản lấy khoảng trắng làm ranh giới phân
tách từ. Đối với tiếng Việt thì ta lại không thể làm tương tự bởi nếu ta chỉ dựa vào
khoảng trắng để phân tách thì kết quả ta chỉ có được các “tiếng” vô nghĩa và do đó
độ chính xác của hệ thống có thể sẽ rất thấp. Theo Ngữ pháp tiếng Việt - Nguyễn
Hữu Quỳnh (2001) thì tiếng Việt có đến 80% là các từ 2 tiếng.
Từ tiếng Việt không có hiện tượng biến hình (ngôn ngữ đơn lập) bằng những
phụ tố mang ý nghĩa ngữ pháp bên trong từ như các ngôn ngữ Ấn – Âu. Dĩ nhiên,
14

tiếng Việt cũng có một số hình thức biến hình như trường hợp thêm tiếng “sự
trước một động từ để biến nó thành danh từ tương đương, ví dụ như động từ “lựa
chọn” và danh từ “sự lựa chọn” hay thêm tiếng “hoá” sau một danh từ để biến nó
thành động từ tương đương như danh từ “tin học” và động từ “tin học hoá”. Phụ tố
cấu tạo từ tồn tại hiển nhiên hơn ở cơ chế láy với những quy tắc ngữ âm khái quát

chứ không hẳn là những dạng thức cụ thể đồng loạt (ở những từ láy có phần gốc là
yếu tố còn rõ nghĩa, phần láy là yếu tố không rõ nghĩa).
2.2.2 Yếu tố ngoại lai trong từ tiếng Việt
Tiếng Việt có các yếu tố ngoại lai thuộc gốc Hán, gốc Pháp, Anh trong đó yếu
tố Hán vừa chiếm đa số vừa giữ vai trò khá quan trọng trong vốn từ và trong cấu tạo
từ Việt.
Các yếu tố gốc Ấn – Âu đi vào tiếng Việt phải chịu áp lực rất mạnh của sự âm
tiết hoá theo kiểu tiếng Việt. Sự Việt hoá về mặt âm tiết:
− Cắt từ nhiều âm tiết thành những âm tiết rời;
− Âm tiết hoá các tổ hợp phụ âm;
− Mỗi âm tiết nhận một thanh điệu thích hợp;
− Cấu tạo lại âm tiết theo các âm của tiếng Việt (như không chấp nhận l, h,
s… ở cuối âm tiết).
Ngoài ra, khi Việt hoá các từ ngoại lai Ấn – Âu có sự đơn tố hoá từ nhiều hình
vị (từ tố), tức là một số từ vốn là đa tố ở ngôn ngữ Ấn – Âu vào tiếng Việt được coi
như từ đơn tố, ví dụ: sulơ, xuyết vôn tơ, mát xa…; và có sự giản hoá về phát âm
như sứ (đại sứ quán), lốp (vỏ bánh xe) từ enveloppe…
2.2.3 Từ đồng nghĩa
Theo Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt - Mai Ngọc Chừ (1997) từ đồng nghĩa
là những từ tương đồng với nhau về nghĩa, khác nhau về âm thanh và có phân biệt
với nhau về một vài sắc thái ngữ nghĩa hoặc sắc thái phong cách, nào đó, hoặc
đồng thời cả hai. Những từ đồng nghĩa với nhau tập hợp thành một nhóm gọi là
nhóm đồng nghĩa.
Ví dụ: dễ, dễ dàng, dễ dãi là những nhóm từ đồng nghĩa.
Thực ra, từ đồng nghĩa không phải là những từ trùng nhau hoàn toàn về nghĩa.
Chúng nhất định có những dị biệt nào đó bên cạnh sự tương đồng (mặc dù phát hiện
sự dị biệt đó không phải lúc nào cũng dễ dàng).
Những từ đồng nghĩa với nhau không nhất thiết phải tương đương với nhau về
số lượng nghĩa, tức là các từ trong một nhóm đồng nghĩa không nhất thiết phải có
dung lượng nghĩa bằng nhau: Từ này có thể có một hoặc hai nghĩa, nhưng từ kia có

15

thể có tới dăm bảy nghĩa. Thông thường, các từ chỉ đồng nghĩa ở một nghĩa nào đó.
Chính vì thế nên một từ đa nghĩa có thể tham gia vào nhiều nhóm đồng nghĩa khác
nhau: Ở nhóm này nó tham gia với nghĩa này, ở nhóm khác nó tham gia với nghĩa
khác.
Ví dụ: Từ “coi” trong tiếng Việt là một từ đa nghĩa. Tuỳ theo từng nghĩa được
nêu lên để tập hợp các từ, mà “coi” có thể tham gia vào các nhóm như:
+ coi – xem: coi hát – xem hát
+ coi – giữ: coi nhà – giữ nhà
Trong mỗi nhóm từ đồng nghĩa thường có một từ mang nghĩa chung, được
dùng phổ biến và trung hoà về mặt phong cách, được lấy làm cơ sở để tập hợp và so
sánh, phân tích các từ khác. Từ đó gọi là từ trung tâm của nhóm.
Ví dụ: Trong nhóm từ “yếu, yếu đuối, yếu ớt”, từ “yếu” được gọi là từ trung
tâm.
Tuy nhiên, việc xác định từ trung tâm của nhóm không phải lúc nào cũng dễ
và đối với nhóm nào cũng làm được. Nhiều khi ta không thể xác định một cách dứt
khoát được theo những tiêu chí vừa nêu trên, mà phải dựa vào những tiêu chí phụ
như: tần số xuất hiện cao (hay được sử dụng) hoặc khả năng kết hợp rộng.
Chẳng hạn, trong các nhóm từ đồng nghĩa tiếng Việt như: hồi, thuở,
thời; hoặc chờ, đợi; hoặc chỗ, nơi, chốn, rất khó xác định từ nào là trung tâm.
Với bài toán tóm tắt văn bản thì từ đồng nghĩa cũng có một ý nghĩa khá quan
trọng bởi trong các câu, đoạn văn trong văn bản có các từ đồng nghĩa hoặc gần
nghĩa nhau và việc sử dụng từ đồng nghĩa sẽ làm nâng cao tính chính xác khi so
sánh về độ tương đồng ngữ nghĩa giữa các đơn vị văn bản.
2.2.4 Đặc điểm chính tả
Đặc điểm chính tả tiếng Việt có ý nghĩa quan trọng tiền xử lý dữ liệu văn bản.
Một số đặc điểm chính tả tiếng Việt cần quan tâm như [7]:
− Các tiếng đồng âm: như kĩ/kỹ, lí, lý… thường bị sử dụng lẫn nhau như: lý
luận, lí luận, kĩ thuật, kỹ thuật…

− Các từ địa phương: một số từ địa phương sử dụng thay cho các từ phổ thông,
chẳng hạn: cây kiểng/cây cảnh, đờn/đàn, đậu phộng/lạc…
− Vị trí dấu thanh: theo quy định đánh dấu tiếng Việt, dấu được đặt trên
nguyên âm có ưu tiên cao nhất. Tuy nhiên, khi viết văn bản nhiều bộ gõ văn bản
không tuân thủ theo đúng nguyên tắc trên nên xảy ra hiện tượng dấu được đặt ở các
vị trí khác nhau, chẳng hạn: toán, tóan, thuý, thúy…
16

− Cách viết hoa: theo quy định, chữ cái đầu câu và tên riêng phải viết hoa, tuy
nhiên vẫn tồn tại một số cách viết tuỳ tiện.
− Phiên âm tiếng nước ngoài: hiện nay, vẫn còn nhiều tranh cãi giữa việc
phiên âm tiếng nước ngoài thành tiếng Việt (Việt hoá), nên tồn tại nhiều cách viết
(giữ nguyên gốc tiếng nước ngoài, phiên âm ra tiếng Việt), ví dụ:
Singapore/Xin−ga−po.
− Từ gạch nối: do cách viết dấu gạch nối tuỳ tiện, không phân biệt được giữa
nối tên riêng hay chú thích.
− Kí tự ngắt câu: các kí tự đặc biệt như “.”, “;”, “!”, “?”, “…” ngăn cách giữa
các câu hoặc các vế câu trong câu ghép.
2.2.5 Bảng mã tiếng Việt trên máy tính
Hiện nay, việc đưa tiếng Việt vào máy tính không chỉ để soạn thảo văn bản mà
còn để xây dựng các phần mềm có giao diện tiếng Việt và cũng để xử lý tiếng Việt.
Tuy nhiên, hiện nay có nhiều cách mã hoá các kí tự tiếng Việt khác nhau, dẫn tới có
nhiều bảng mã khác nhau được sử dụng. Theo thống kê, có tới trên 40 bảng mã
tiếng Việt khác nhau được sử dụng, do đó, việc khai thác tài liệu cũng như xử lý dữ
liệu rất phức tạp.
Có thể kể đến một số bảng mã dưới đây [4].
- Mã dựng sẵn
+ Mã dựng sẵn một bảng fonts: TCVN 5712-VN1, VISCII, BachKhoa 1,
VietStar…: các bảng mã này mở rộng sang cả phần mã chuẩn, nên gây ảnh hưởng
nghiêm trọng trong truyền thông.

+ Mã dựng sẵn hai bảng fonts: TCVN 5712-VN3 (ABC), VietSea, VNU…: sử
dụng 2 bảng mã cho một kiểu chữ nên gây dư thừa và không hiện thực việc phân
biệt chữ hoa chữ thường trong các chương trình xử lý số liệu.
- Mã tổ hợp
Các bảng mã VietWare-X, Vni for Windows, TCVN 5712-VN2, BachKhoa II,
VS2, 3C25… và các trang mã 1258 (Microsoft), 1129 (IBM), ISO 10646 sử dụng
phương pháp mã tổ hợp.
Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng tiếng Việt trên máy tính vẫn chưa có sự
thống nhất cao về chuẩn mã tiếng Việt, gây khó khăn lớn cho việc thu thập, khai
thác và xử lý tiếng Việt. Đòi hỏi các hệ thống xử lý văn bản tiếng Việt cần phải có
bước tiền xử lý để nhận dạng và quy chuẩn các kí tự về một bảng mã chung.
Tóm tại, tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình từ và âm tiết tính, do đó, việc
phân loại từ (danh từ, động từ, tính từ…) và ý nghĩa từ là vấn đề khó, cần có nhiều

×