Tải bản đầy đủ (.pdf) (127 trang)

Đề Tài: Khảo sát thành phần hóa học của cây ngâu rất thơm ( Aglaia adoratissima BI. ) và vỏ cây dứa Delpy ( Garcinia delpyana Pierre) pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.96 MB, 127 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN



HOÀNG ĐÌNH DŨNG



KHẢO SÁT THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA
CÂY NGÂU RẤT THƠM (Aglaia odoratissima Bl.)
VÀ VỎ CÂY BỨA DELPY (Garcinia delpyana Pierre)




LUẬN VĂN THẠC SĨ HÓA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: HÓA HỮU CƠ
MÃ SỐ: 60 44 27





NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM ĐÌNH HÙNG
PGS.TS. NGUYỄN DIỆU LIÊN HOA



THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2010




LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
• PGS.TS. Nguyễn Diệu Liên Hoa, người hướng dẫn, tấm gương nghiên cứu
khoa học, đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, quan tâm và động viên em
trong quá trình học tập tại trường.
• PGS.TS. Phạm Đình Hùng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kinh
nghiệm quý báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành luận văn
này.
• Nghiên cứu viên Đặng Văn Sơn, Viện Sinh học Nhiệt đới Tp. Hồ Chí Minh
đã giúp thu hái cây và xác định tên khoa học của cây
ngâu rất thơm (Aglaia
odoratissima Bl.)
và cây bứa Delpy (Garcina delpyana Pierre).
• Tất cả quý thầy cô Khoa Hóa, đặc biệt quý thầy cô Bộ môn Hóa hữu cơ đã
giảng dạy và tạo mọi điều kiện tốt để em hoàn thành luận văn này.
• Các anh chị nghiên cứu sinh, học viên cao học khóa trước, các bạn cùng
khóa và các em sinh viên đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
• Và cuối cùng là lòng biết ơn sâu sắc đến Ba Mẹ, cũng như tất cả những
người thân yêu trong gia đình đã luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất về tinh thần
lẫn vật chất giúp con hoàn thành tốt luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn.
MỤC LỤC
Trang
1 MỞ ĐẦU 1
2 TỔNG QUAN 2
2.1 Chi Aglaia 2
2.1.1 Đặc điểm thực vật và công dụng 2

2.1.2 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học 2
2.2 Cây ngâu rất thơm 12
2.2.1 Đặc điểm thực vật 12
2.2.2 Các nghiên cứu hóa học trước đây 13
2.3 Chi Garcinia 13
2.3.1 Đặc điểm thực vật và công dụng 13
2.3.2 Thành phần hóa học 14
2.4 Cây bứa Delpy 20
2.4.1 Đặc điểm thực vật 20
2.4.2 Các nghiên cứu hóa học trước đây 20
3 NGHIÊN CỨU 22
3.1. Khảo sát hóa học cây ngâu rất thơm (Aglaia odoratissima Bl.) 22
3.1.1 16β–Hydroxylupeol 3-O-caffeat (98) 23
3.1.2 Dehydrozingeron (99) 28
3.1.3 Curcumin (100) 31
3.2 Khảo sát hóa học cây bứa Delpy (Garcina delpyana Pierre) 34
3.2.1 7-O-Metylgarcinon E (101) 36

3.2.2 Cowaxanthon (102) 38
3.2.3 Mangostenol (103) 40

3.2.4 1,7-Dihydroxyxanthon (104) 42
3.2.5 Oblongixanthonon (105) 44
3.2.6 Fuscaxanthon E (106) 48

3.2.7 p-Hydroxybenzaldehyd (107) 50


3.3 Thực nghiệm 51
3.3.1 Khảo sát cây ngâu rất thơm 51

3.3.1.1 Thu hái mẫu và điều chế cao 51
3.3.1.2 Phân lập chất 51
3.3.2 Khảo sát cây bứa Delpy 53
3.3.2.1 Thu hái mẫu và điều chế cao 53
3.3.2.2 Phân lập chất từ cao eter dầu hỏa 53
3.3.2.3 Phân lập chất từ cao acetat etyl 57
4 KẾT LUẬN 60
5 TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC
Bản thảo bài báo “Một triterpenoid este mới từ lá và cành cây ngâu rất thơm
(Aglaia odoratissima)” gởi đăng Hội nghị Hóa học Toàn quốc lần thứ V và đã được
nhận đăng ngày 11/08/2010.

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

s Mũi đơn (singlet)
d Mũi đôi (doublet)
t Mũi ba (triplet)
q Mũi bốn (quartet)
m Mũi đa (multiplet)
br Mũi rộng (broad)
J
Hằng số ghép cặp (coupling constant)
cs Cộng sự
pđ Phân đoạn
đnc Điểm nóng chảy
RP
18
Silica gel pha đảo (Reversed Phase C
18

)
SKBM Sắc ký bản mỏng
SKC Sắc ký cột
HR-MS Khối phổ phân giải cao
(High Resolution – Mass Spectroscopy)
NMR Phổ cộng hưởng từ hạt nhân
(Nuclear Magnetic Resonance spectroscopy)
DEPT Distortionless Enhancement by Polarization Transfer
HSQC Heteronuclear Single Quantum Correlation
HMBC Heteronuclear Multiple Bond Correlation
COSY COrrelation SpectroscopY

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Số liệu phổ
1
H NMR,
13
C NMR và tương quan HMBC của 98 26
Bảng 3.2 Số liệu phổ
1
H NMR,
13
C NMR và tương quan HMBC của 99 30
Bảng 3.3 Số liệu phổ
1
H NMR,
13
C NMR và tương quan HMBC của 100 33
Bảng 3.4 Số liệu phổ

1
H và
13
C NMR của 7-O-metylgarcinon E (101) 37
Bảng 3.5 Số liệu phổ
1
H và
13
C NMR của cowaxanthon (102) 39
Bảng 3.6 Số liệu phổ
1
H và
13
C NMR của mangostenol (103) 41
Bảng 3.7 Số liệu phổ
1
H và
13
C NMR của 1,7-dihydroxyxanthon (104) 43
Bảng 3.8 Số liệu phổ
1
H và
13
C NMR của oblongixanthonon (105) 47
Bảng 3.9 Số liệu phổ
1
H và
13
C NMR của fuscaxanthon E (106) 49
Bảng 3.10 Số liệu phổ

1
H và
13
C NMR của p-hydroxybenzaldehyd (107) 50
Bảng 3.11 Kết quả SKC cao AcOEt của cây ngâu rất thơm
trên silica gel (eter dầu hỏa-AcOEt 0-100%) 52
Bảng 3.12 Kết quả SKC cao eter dầu hỏa của vỏ cây bứa Delpy
trên silica gel (eter dầu hỏa-aceton 0-100%) 54
Bảng 3.13 Kết quả SKC phân đoạn DelH 4.3 trên silica gel
(eter dầu hỏa-aceton 0-100% ) 55
Bảng 3.14 Kết quả SKC cao acetat etyl của vỏ cây bứa Delpy
trên silica gel (eter dầu hỏa-aceton 0-100%) 57


DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Trang
Hình 2.1 Hình cây và hoa ngâu rất thơm (Aglaia odoratissima) 13
Hình 2.2 Hình lá và quả bứa Delpy (Garcinia delpyana) 20
Hình 3.1 Tương quan HMBC và COSY của hợp chất 98 25
Hình 3.2 Tương quan HMBC trong dehydrozingeron (99) 29
Hình 3.3 Tương quan HMBC trong dây nhánh 3-metyl-2-butenyl thứ nhất
của hợp chất 105 45
Hình 3.4 Tương quan HMBC của các dây nhánh với khung xanthon
trong 105 46
Sơ đồ 1 Sơ đồ cô lập 98-100 từ cao acetat etyl của cây ngâu rất thơm 53
Sơ đồ 2 Sơ đồ cô lập 101-103 từ cao eter dầu hỏa vỏ cây bứa Delpy 56
Sơ đồ 3 Sơ đồ cô lập 104 từ cao acetat etyl của vỏ cây bứa Delpy 58
Sơ đồ 4 Sơ đồ cô lập 105-107 từ cao acetat etyl của vỏ cây bứa Delpy 59
DANH MỤC PHỤ LỤC PHỔ
\

Phụ lục 1. Phổ UV của 16β–hydroxylupeol 3-O-caffeat (98)
Phụ lục 2. Phổ IR của 16β–hydroxylupeol 3-O-caffeat (98)
Phụ lục 3. Phổ
1
H NMR của 16β–hydroxylupeol 3-O-caffeat (98)
Phụ lục 4. Phổ
13
C NMR của 16β–hydroxylupeol 3-O-caffeat (98)
Phụ lục 5. Phổ DEPT 90 và DEPT 135 của 16β–hydroxylupeol 3-O-caffeat (98)
Phụ lục 6. Phổ HSQC của 16β–hydroxylupeol 3-O-caffeat (98)
Phụ lục 7. Phổ HMBC của 16β–hydroxylupeol 3-O-caffeat (98)
Phụ lục 8. Phổ COSY của 16β–hydroxylupeol 3-O-caffeat (98)
Phụ lục 9. Phổ
1
H NMR của dehydrozingeron (99)
Phụ lục 10. Phổ
13
C NMR của dehydrozingeron (99)
Phụ lục 11. Phổ HSQC của dehydrozingeron (99)
Phụ lục 12. Phổ HMBC của dehydrozingeron (99)
Phụ lục 13. Phổ
1
H NMR của curcumin (100)
Phụ lục 14. Phổ
13
C NMR của curcumin (100)
Phụ lục 15. Phổ DEPT 90 và DEPT 135 của curcumin (100)
Phụ lục 16. Phổ
1
H NMR của 7-O-metylgarcinon E (101)

Phụ lục 17. Phổ
13
C NMR của 7-O-metylgarcinon E (101)
Phụ lục 18. Phổ DEPT 90 và DEPT 135 của 7-O-metylgarcinon E (101)
Phụ lục 19. Phổ
1
H NMR của cowaxanthon (102)
Phụ lục 20. Phổ
13
C NMR cowaxanthon (102)
Phụ lục 21. Phổ
1
H NMR của mangostenol (103)
Phụ lục 22. Phổ
13
C NMR của mangostenol (103)
Phụ lục 23. Phổ DEPT 90 và DEPT 135 của mangostenol (103)
Phụ lục 24. Phổ
1
H NMR của 1,7-dihydroxyxanthon (104)
Phụ lục 25. Phổ
13
C NMR của 1,7-dihydroxyxanthon (104)
Phụ lục 26. Phổ
1
H NMR của oblongixanthonon (105)
Phụ lục 27. Phổ
13
C NMR của oblongixanthonon (105)
Phụ lục 28. Phổ DEPT 90 và DEPT 135 của oblongixanthonon (105)

Phụ lục 29. Phổ HSQC của oblongixanthonon (105)
Phụ lục 30. Phổ HMBC của oblongixanthonon (105)
Phụ lục 31. Phổ
1
H NMR của fuscaxanthon E (106)
Phụ lục 32. Phổ
13
C NMR của fuscaxanthon E (106)
Phụ lục 33. Phổ DEPT 90 và DEPT 135 của fuscaxanthon E (106)
Phụ lục 34. Phổ
1
H NMR của p-hydroxybenzaldehyd (107)
Phụ lục 35. Phổ
13
C NMR của p-hydroxybenzaldehyd (107)
-1-

1. MỞ ĐẦU
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, là điều kiện thuận lợi cho
việc phát triển các loài thực vật. Từ xa xưa, nhân dân ta đã biết sử dụng nhiều loài
cây cỏ để làm hương liệu, gia vị thực phẩm và đặc biệt là làm thuốc chữa bệnh.
Việc chiết xuất, cô lập và xác định cấu trúc các hợp chất tự nhiên là giai đoạn
đầu tiên trong quá trình tìm kiếm và điều chế ra các loại thuốc từ nguồn tự nhiên
nhằm phục vụ sức khỏe của con người
Ngày nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của các loài
thực vật trên thế giới cũng như ở Việt Nam, không những tìm hiểu về hóa- thực vật
mà còn tìm kiếm những hợp chất có hoạt tính sinh học nhằm phục vụ đời sống con
người.
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi khảo sát thành phần hóa học của lá và cành
cây ngâu rất thơm (Aglaia odoratissima) thuộc họ Xoan (Meliaceae) và thành phần

hóa học của vỏ cây bứa Delpy (Garcinia delpyana) thuộc họ Bứa (Guttiferae) với
hy vọng đóng góp vào sự hiểu biết về thành phần hóa học của hai loài cây này.

Phần 1. MỞ ĐẦU
-2-
2. TỔNG QUAN
2.1. Chi Aglaia
2.1.1. Đặc điểm thực vật và công dụng
Aglaia là một chi lớn của họ Xoan với khoảng 130 loài, phân bố ở vùng nhiệt
đới và cận nhiệt đới như Đông Nam Á, Sri-Lanka, phía nam lục địa Trung Quốc và
quần đảo Thái Bình Dương [1].
Ở Việt Nam theo GS. Phạm Hoàng Hộ, chi Aglaia có 32 loài phân bố rộng khắp
từ bắc tới nam như gội nước (A. aquatica), gội giống nhãn (A. euphoroides), ngâu
tuyệt (A. eximia), ngâu rất thơm (A. odoratissima). Chúng thuộc loại thân gỗ có thể
là đại mộc, tiểu mộc hay bụi nhỏ [2].
Trong y học dân gian nhiều loài thuộc chi Aglaia được dùng để chữa bệnh. Lá
cây ngâu A. duperreana dùng trị ghẻ ngứa, hột chữa suyễn, lá và hoa trị vàng da,
sốt. Hoa ngâu có mùi thơm dễ chịu nên được dùng để ướp trà, ủ thơm quần áo. Lá
cây ngâu mũm (A. spectapilis) dùng để đắp chỗ sưng. Rễ cây ngâu rừng (A.
pleuropteris) có tác dụng hạ nhiệt. Vỏ trái ngâu dịu (A. edulis) dùng trị tiêu chảy.
Hoa cây ngâu tàu (A. odorata) trị ho, bầm dập, ung thư bạch huyết và có tính kháng
khuẩn. Ngâu Ruxburgh (A. ruxburghiana) chứa ordoriol chống vi khuẩn, viêm và
bướu [3,4].
2.1.2. Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học
Cho tới nay thành phần hóa học của hơn 30 loài thuộc chi Aglaia đã được khảo
sát. Các nghiên cứu này cho thấy chi này chứa chủ yếu triterpenoid,
cyclopenta[b]benzofuran, cyclopenta[bc]benzopyran, benzo[b]oxepin, bisamid,
pregnan steroid, lignan, sesquiterpenoid và flavonoid [1].
Các triterpenoid hiện diện phổ biến nhất trong chi Aglaia. Năm 1997, Akira
Inada và cs cô lập được năm cycloartan triterpenoid từ lá cây A. harmsiana thu hái

ở Indonesia, trong đó có hai hợp chất mới là (24R)-cycloartan-3β,24,25,28-tetrol (1)
và (24R)-cycloartan-3α,24,25-triol (2) [5].
Phần 2. TỔNG QUAN
-3-
HO
H
CH
2
OH
OH
OH
(1)
HO
H
CH
3
OH
OH
(2)
3
20
24
25
3
20
24
25

Năm 1997 Akira Inada và cs tiếp tục tìm thấy hai cycloartan hydroperoxid là hợp
chất 3 và 4 [6].

OOH
HO
H
OOH
HO
H
(3)
(4)

Gần đây năm 2008, Nantiya Joycharat và cs nghiên cứu lá cây A. forbesii và
phát hiện một cycloartan triterpenoid mới là 23,24,25-trihydroxycycloartan-3-on (5)
[7].
Ngoài cycloartan, các triterpenoid có khung dammaran cũng rất phổ biến trong
chi Aglaia. Năm 1998, D. Roux và cs đã tìm thấy năm dammaran từ vỏ cây A.
foveolata thu hái ở Malaysia là 3-epi-ocotillol (6), acid eichlerianic (7), acid shoreic
(8) và hai chất mới là foveolin A (9) và foveolin B (10) [8].
(5)
OH
O
H
OH
OH
H
HO
O
OH
H
H
(6)


Phần 2. TỔNG QUAN
-4-
HOO
(7) 24S
(8) 24R
O
OH
C
H
HOO
24
24
(9) 24S
(10) 24R
O
OH
C
H
HO

Năm 1999 Khalit Mohamad cùng cs phân lập từ cao etanol của lá cây A. lawii
được ba dammaran là cabraleon (11), acid eichlerianic (7) và acid shoreic (8) cùng
với hai 3,4-secodammaran mới là aglinin A (12) và aglinin B (13) [9].
24
(11)
O
OH
H
O
H

24
(12) R = H
(13) R

= Me
O
OH
C
H
HO
R
1
OO

Năm 2008 Nantiya Joycharat và cs cô lập được từ lá cây A. oligophylla hai
hydroxydammaran triterpenoid là 20S,25-epoxy-24R-hydroxy-3-dammaranon (14)
và 20S,25-epoxy-24R-hydroxydammaran-3α-ol (15) [10].
O
OH
H
O
3
20
24
(14)(15)
O
OH
H
HO
3

20
24

Các glabretal triterpenoid cũng được tìm thấy khá nhiều trong chi Aglaia. Năm
2006, từ cao metanol của vỏ cây A. crassinervia thu hái ở Indonesia, Bao–Ning Su
cùng các cộng sự đã tìm thấy aglaiaglabretol A (16) và aglaiaglabretol B (17), là hai
glabretal triterpenoid mới [1].
Phần 2. TỔNG QUAN
-5-
(16)
H
O
H
OH
O
HO
O
H
HH
O
(17)
H
H
OH
HH
O
O
OH
OH


Năm 1994 Abdelilah Benosman và cs đã phân lập được hai secotirucallan
triterpenoid mới từ vỏ cây A. leucophylla thu hái ở Malaysia năm 1990 là acid
(24Z)-3,4-secotirucalla-4(28),7,24-trien-3,26-dioic (18) và acid (24Z)-3,4-
secotirucalla-4(28),7,24-trien-3-metyloat-26-oic (19) [11]. Năm sau cũng từ vỏ cây
này một tirucallan triterpenoid mới là 23(Z)-25-metoxytirucall-7,23-dien-3-on (20)
cũng được nhóm này tìm thấy [12].
(18) R = H
(19) R = Me
RO
2
C
HO
2
C
(20)
OMe
O

Gần đây năm 2009 Otmar Hofer và cs phát hiện một dimer triterpen alkaloid từ
cây A. silvestris thu hái ở Thái Lan là silvaglenamin (21) [13].
O
N
H
O
O
O
H
H
H
H

H
H
H
H
H
H
HO
OH
(21)
20
24
20'
24'
HO
H
H
OH
H
H
(22)

Phần 2. TỔNG QUAN
-6-
Ngoài triterpenoid, các sesquiterpenoid cũng hiện diện trong chi Aglaia. Năm
2000 Akira Inada và cs đã cô lập được một aromadendran sesquiterpenoid là
4β,10α-dihydroxyaromadendran (22) từ lá cây A. grandis hái ở Indonesia [14].
Chi Aglaia cũng chứa nhiều các hợp chất flavaglin gồm các dẫn xuất
cyclopenta[b]benzofuran (rocaglamid), cyclopenta[bc]benzopyran (aglain) và
benzo[b]oxepin (epimeric), rất có ý nghĩa trong y học. Từ khi dẫn xuất đầu tiên của
cyclopenta[b]benzofuran là rocaglamid (23) được cô lập vào năm 1982 từ cây A.

elliptifoliai, nhiều dẫn xuất tương tự cũng được tìm thấy trong các loài khác của chi
Aglaia. Đặc biệt các hợp chất này có hoạt tính kháng sâu bệnh và có độc tính mạnh
với các dòng tế bào ung thư người. Năm 1999, B.W. Nugroho và cs phát hiện tám
dẫn xuất rocaglamid từ lá và cành non cây A. odorata thu hái ở Indonesia, ví dụ như
C-3'-metoxylrocaglaol (24) và C-3'-hydroxydidemetylrocaglamid (25) [15].
O
OH
OH
CON(CH
3
)
2
CH
3
O
OCH
3
OCH
3
A
B
C
(23)
O
OH
OH
R
1
CH
3

O
OCH
3
OCH
3
R
2
A
B
C
(24) R
1
= H, R
2
= OCH
3
(25) R
1
= CONH
2
, R
2
= OH

Năm 1999 từ nghiên cứu của Chaidir và cs trên hoa của cây A. duperreana thu
hái ở Việt Nam, nhóm đã cô lập được mười ba dẫn xuất rocaglamid đều có hoạt tính
kháng sâu Spodoptera littoralis, trong đó có năm hợp chất mới. Ví dụ như 1-O-
acetyldidemetylrocaglamid (26), 1-O-acetylmetylrocaglat (27) và một dẫn xuất
rocaglamid có mang vòng pyrimidinon ở vị trí C
1

và C
2
(28) 16].
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả này nhận thấy khi thay nhóm –OH ở
vị trí C-8b bằng nhóm –OC
2
H
5
hay khi thay thay thế vòng furan bằng vòng pyran
thì hoạt tính kháng sâu giảm đi rất nhiều [16].
Phần 2. TỔNG QUAN
-7-
A
B
C
O
OCOCH
3
OCH
3
OCH
3
R
CH
3
O
OH
(26) R = CONH
2
(27) R = COOCH

3
O
OCH
3
HO
OCH
3
CH
3
O
OH
N
N
O
(28)

Năm 2000, C. Schneider và cs cô lập được từ vỏ cây A. spectabilis thu hái ở đảo
Phú Quốc mười một dẫn xuất rocaglamid, ví dụ như 1-O-fomyl-3'-
hydroxymetoxymetylrocaglat (29) và 1-O-acetyl-4'-demetoxy-3',4'-metylenedioxy
metoxymetylrocaglat (30) [17].
A
B
C
(29)
O
OH
OCHO
OCH
3
HO

OCH
3
COONCH
3
CH
3
O
A
B
C
O
OH
OCOCH
3
OCH
3
COOCH
3
CH
3
O
O
O
(30)

Năm 1999, B.W. Nugroho và cs tìm thấy từ lá và cành non cây A. odorata bốn
dẫn xuất cyclopenta[bc]benzopyran (aglain) như C-3'-hydroxyaglain C (31) và C-
19-hydroxy, C-3'-metoxyaglain C (32) [15].
O
OCH

3
CH
3
O
OH
N
O
H
H
OCH
3
HO
O
A
B
C
(31)
A
O
OCH
3
CH
3
O
OH
N
O
O
H
H

OCH
3
CH
3
O
OH
B
C
(32)

Năm 1999, từ cây A. edulis Markus Bacher cùng cs đã phân lập được nhiều hợp
chất có hoạt tính. Ngoài hai dẫn xuất rocaglamid đã biết còn có chín flavaglin mới
Phần 2. TỔNG QUAN
-8-
trong đó có sáu dẫn xuất cyclopenta[bc]benzopyran (thapsakin), ví dụ như
isothapsakin B (33) và thapsakon A (34). Ngoài ra dẫn xuất benzo[b]oxepin
(thapoxepin) như thapoxepin A (35) và homothapoxepin A (36) cũng được tìm thấy
[18].
O
OCH
3
OH
O
N
O
N
O
OCH
3
H

O
O
A
B
C
O
OCH
3
OH
H
HO
N
O
N
O
OCH
3
H
O
O
A
B
C
(33)
(34)

Nhóm nghiên cứu của Soyoung Kim và các cộng sự vào năm 2005 đã tìm ra hai
dẫn xuất benzo[b]oxepin đã biết là edulison A (35A) và edulison B (35B) [19].
O
O

O
O
OMe
N
O
NH
O
O
Meo
OMe
13
(35) 35Α=13S, 35B=13R
3
4
O
O
O
O
OMe
N
O
NH
O
O
Meo
OMe
13
3
4
(36)


Ngoài sự hiện diện của triterpenoid hay các flavaglin thì trong chi Aglaia cũng
xuất hiện rất nhiều bisamid. Năm 1999, Ekarin Saifah cùng cs đã phân lập được ba
bisamid mới từ lá cây A. edulis thu hái ở Thái Lan năm 1995. Trong các hợp chất
này có hai bisamid có chứa lưu huỳnh đầu tiên tìm thấy trong chi này là
aglaithiodulin (37) và aglaidithiodulin (38) có chứa đơn vị putrescin (1,4-
butandiamid) [20].
Phần 2. TỔNG QUAN
-9-
NH
O
NH
O
SCH
3
NH
O
NH
O
SCH
3
H
3
CS
(38)
(37)

Năm 2008 Harald Greger và cs cô lập được hai bisamid mới có chứa lưu huỳnh
từ cây A. tenuicaulis là pyrrolotenin (39) và secopyrrolotenin (40) cùng với hai
putrescin bisamid cô lập từ lá cây A. spectabilis là secoisoodorinol (41) và

secoisopiriferino (42) [21].
N
O
H
N
O
S
N
O
H
N
H
O
S
(40)
(39)


N
O
H
N
H
O
OH
(42)
N
O
H
N

H
OOH
(41)

Cũng trong nghiên cứu này trên cây A. tenuicaulis, ngoài các bisamid ở trên
nhóm tác giả còn cô lập được sáu amid ester như tenucaulin A (43), tenaglin (44) và
một amid alcol là aglatenol (45) [21].
N
O
H
O
O
S
(43)
N
O
H
O
O
(44)

Phần 2. TỔNG QUAN
-10-
N
O
H
S
CH
2
OH

(45)

Các bisamid này cũng có thể kết hợp với các aglain như trong hợp chất
grandiamid A (46) do Akira Inada và cs tìm thấy vào năm 2000 từ lá cây A. grandis
[14].
O
H
CO
OCH
3
CH
3
O
OH
OCH
3
CH
3
OCO
NH
NH
CO
H
H
H
(46)

Cùng với các putrescin bisamid, một dạng bisamid khác cũng được tìm thấy
trong chi Aglaia là aminopyrrolidin bisamid, điển hình như odorin (47) và odorinol
(48) [15]. Ngoài ra 48 còn được tìm thấy trong cây

A. testicularis [22] và cây A.
odorata [23].
Năm 1993 Chang-Yih Duh và cs cô lập được dehydroodorin (49), một hợp chất
mới từ lá cây A. formosana có hoạt tính kháng các dòng tế bào ung thư A-549, HT-
29 và P-388 [24].
N
O
H
NH
O
R
(47) R = H
(48) R = Me
N
O
H
NH
O
(49)

Năm 1999 B.W. Nugroh và cs đã tìm thấy syringaresinol (50), một lignan quen
thuộc từ lá và cành non cây A. odorata [15].
Phần 2. TỔNG QUAN
-11-
O
O
H
H
OCH
3

HO
CH
3
O
OCH
3
OH
OCH
3
(50)
.
Năm 2002 Bin-Gui Wang cùng cs phân lập từ cao metanol của vỏ cây A.
cordata được ba lignan mới ví dụ như aglacin G (51) và một norlignan là aglacin H
(52) [25].
(51)
(52)
CH
3
O
CH
3
O
OCH
3
CH
3
O
OCH
3
OCH

3
OH
O
CH
3
O
CH
3
O
OCH
3
CH
3
O
OCH
3
OCH
3
OH
O
H

Steroid có trong chi Aglaia thường là các pregnan. Nghiên cứu của Akira Inada
và cs năm 1997 trên lá cây A. grandis cho thấy cây này chứa ba pregnan mới là
2β,3β-dihydroxy-5α-pregnan-16-on (53), 2β,3β-dihydroxy-5α-pregn-17(20)-(Z)-
en-16-on (54) và 2β,3β-dihydroxy-5α-pregn-17(20)-(E)-en-16-on (55) [26].
OH
HO
HO
H

(53)
R
2
OH
HO
HO
H
R
1
(54) R
1
= Me, R
2
= H
(55) R
1
= H, R
2
= Me

Năm 1999, B.W. Nugroho và cs đã tìm thấy từ lá và cành non cây A. odorata
được ba flavonoid là 3′-hydroxy-5,7,4′-trimetoxyflavon (56), 3,3′-dihydroxy-5,7,4′-
trimetoxyflavon (57) và 3′-hydroxy-3,5,7,3′,4′-pentametoxyflavon (58) [15].
Phần 2. TỔNG QUAN
-12-
(56)
(57)
O
O
OMe

OH
MeO
OMe
O
O
OMe
OH
MeO
OMe
OH

Gần đây năm 2007, Dương Ngọc Tú và cs đã cô lập được ba flavonoid từ một số
loài Aglaia ở Việt Nam như (-)-epicatechin (59) từ vỏ cây A. duppereana, 4′,5,7-
trimetoxydihydroflavonol (60) từ lá cây A. oligophylla và 4′,5,7-tri-O-
metylkaempferol (61) từ lá cây A. oligophylla và cây A. abbriviata. Trong đó 60 có
khả năng ức chế vi khuẩn E. coli ở nồng độ 12–14 mm [27].
(59)
(60)
(61)
O
OH
OH
HO
OH
OH
O
O
OMe
MeO
OMe

H
H
OH
O
O
OMe
MeO
OMe
OH
(58)
O
O
OMe
MeO
OMe
OMe
OMe

2.2. Cây ngâu rất thơm (Aglaia odoratissima Bl.)
2.2.1. Đặc điểm thực vật
Cây ngâu rất thơm có tên khoa học là Aglaia odoratissima Bl., thuộc họ Xoan
(Meliaceae).
Cây thuộc loại đại mộc cao 5–12 m, lá kép, sóng có vảy hình sao, mang 5 lá phụ
thon, to 6-8 × 3-3.5 cm, nhọn hai đầu, không lông, mặt trên có vảy, gân phụ 6 cặp,
cuống phụ 8 mm. Chùm tán tụ ở nách lá, hoa nhiều, nhỏ, cao 1 mm. Cánh hoa dính
nhau ở đáy phì quả xoan to 8 x 6 mm [2].
Phần 2. TỔNG QUAN
-13-

Hình 2.1. Hình cây và hoa ngâu rất thơm (Aglaia odoratissima Bl.)

2.2.2. Các nghiên cứu hóa học trước đây
Cây ngâu rất thơm chỉ mới được khảo sát về tinh dầu chứ chưa được nghiên cứu
về các thành phần hóa học khác. Các khảo sát này cho thấy tinh dầu của vỏ rễ cây
A. odoratissima chứa chủ yếu 2-pentanon, n-hexan, β-caryophyllen, longifolen và
một số sesquiterpen [28]. Tinh dầu hạt A. odoratissima có chứa chủ yếu
aromadendren (50%), cineol (10%), α-terpinen (12.5%) và citral (7%) [29]. Còn
trong dầu béo trích bằng eter dầu hỏa của hạt A. odoratissima chứa hỗn hợp các
acid béo là acid linoleic (35,11%), acid oleic (42,81%), acid palmitic (14,1%) và
acid stearic (7,98%) [30].
2.3. Chi Garcinia
2.3.1. Đặc điểm thực vật và công dụng
Garcinia là một chi lớn thuộc họ Bứa (Măng cụt, Guttiferae, Clusiceae) với hơn
400 loài khác nhau, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi, New
Caledonia và Polynesia [31]. Theo GS. Phạm Hoàng Hộ, ở Việt Nam Garcinia là
chi lớn nhất của họ Bứa với 29 loài phân bố từ bắc tới nam. Chúng thường là đại
mộc có chiều cao trung bình khoảng 8-30 m như bứa nhà (G. cochinchinensis), sơn
vé (G. merguensis), bứa bentham (G. benthami). Một số ít là đại mộc nhỏ như bứa
lửa (G. fusca), bứa đồng (G. schomburgkiana) và cũng có thể là thân bụi như bứa ít
hoa (G. oligantha) [2]
Chi Garcinia có nhiều ứng dụng trong đời sống con người, để làm thức ăn như
măng cụt
(G. mangostana) cho trái ăn rất ngon, tai chua (G. cowa) có lá non và quả
Phần 2. TỔNG QUAN
-14-
dùng nấu canh chua. Nhiều loài dùng làm phẩm nhuộm, lấy gỗ làm nhà, làm cầu và
dùng chạm trỗ rất đẹp.
Đặc biệt nhiều loài được dùng trị bệnh. Vỏ cây bứa nhà (G. cochinchinensis)
dùng trị mẫn ngứa, dị ứng, lá giã nát đắp trị sâu quảng, búp non nhai ăn chữa động
thai. Vỏ quả tai chua (G. cowa) sắc uống trị sốt, lá non và cành non dùng làm thuốc
giải độc. Vỏ cây bứa Delpy (G. delpyana) được dùng làm thuốc sổ. Mủ đằng hoàng

(G. hanburyi) được dùng để uống nhuận tràng, gôm nhựa trong y học Campuchia
dùng trị sổ mũi, viêm phế quản, ở Thái Lan dùng làm thuốc sổ, tẩy giun và cả sán
sơ mít. Vỏ quả măng cụt (G. mangostana) chứa nhiều mangostin, tannin nên nước
sắc vỏ thường làm thuốc chữa đau bụng tiêu chảy, lỵ và vàng da, hạ hoạt thần kinh,
trợ tim và làm tăng huyết áp. Lá sơn vé (G. merguensis) ở Campuchia dùng chữa
phù. Quả bứa mủ vàng (G. xanthonchymus) ở Ấn Độ được dùng trị bệnh scorbut, ở
Trung Quốc làm thuốc trục đĩa ra khỏi mũi. Bứa cọng (G. pedunculata) chứa nhiều
acid citric, acid tartric, acid malic trị bón, ăn không tiêu [32, 3].
2.3.2. Thành phần hóa học
Cho tới nay thành phần hóa học của hơn 60 loài thuộc chi Garcinia đã được khảo
sát. Các nghiên cứu này cho thấy thành phần hóa học của chi này chủ yếu là các
xanthon, benzophenon, depsidon, flavonoid, biflavonoid và triterpen.
Các xanthon hiện diện trong chi Garcinia chủ yếu là các xanthon tri- và
tetraoxygen hóa. Năm 2000 L H. D. Nguyen cùng cs đã phân lập từ vỏ cây
Garcinia vilersiana thu hái ở miền nam Việt Nam được sáu xanthon như
globuxanthon (62), 12b-hydroxy-des-D-garcigerrin A (63) và symphoxanthon (64)
[33].
O
OOH
OH
OH
(62)
O
OOH
OH OH
(63)
O
OOH
OH
OH

HO
(64)

Các xanthon mang nhóm thế alkyl thường gặp nhất là 3-metyl-2-butenyl (còn
gọi là isoprenyl hay prenyl). Năm 2006 Kanda Panthong cùng cs phát hiện từ cao
Phần 2. TỔNG QUAN
-15-
hexan của vỏ quả G. cowa thu hái ở miền nam Thái Lan được 15 xanthon
tetraoxygen hóa như cowaxanthon A (65) và l,6-dihydroxy-3,7-dimetoxy-2-(3-
metyl-2-butenyl)xanthon (66) [34].
O
OOH
HO OMe
OMe
(65)
O
OOH
HO OMe
MeO
(66)

Gần đây năm 2009, từ cành non cây G. staudtii thu hái ở núi Elunden,
Cameroon, Joseph Ngoupayo cùng cs phân lập được chín xanthon mang nhóm thế
prenyl như α-mangostin (67) và gartanin (68) [35].
O
OOH
HO OH
MeO
(67)
O

OOH
OH
OH
OH
(68)

Nhóm isoprenyl có thể đóng vòng với nhóm hydroxyl ở vị trí orto tạo thành hệ
thống vòng chromen như trong xanthon V
1
(69) và staudtiixanthon C (70) [35].
O
OOH
OH
OHO
(69)
O
OOH
O
OH
HO
(70)

Năm 1996 từ vỏ trái G. mangostana thu hái ở Bangkok, Thái Lan, Nattaya
Chairungsriler cùng các cộng sự đã cô lập được một xanthon mới là mangostanol
(71) có khả năng ức chế sự hoạt động của cAPM phosphodiesteraz [36].
Năm 1999 Soleh Kosela cùng cs cô lập từ lá cây G. dulcis thu hái ở Indonesia
được một pyranoxanthon là dulxanthon E (72) [37].
Phần 2. TỔNG QUAN
-16-
O

O
O
OMe
OMe
OMe
MeO
(72)
O
OOH
HO
MeO OH
O
(71)

Ngoài các xanthon prenyl hóa thì cũng thấy các xanthon polyprenyl hóa. Từ cao
metanol của cây G. scortechinii thu hái tại Thái Lan, Vatcharin Rukachaisirikul
cùng cs cô lập được ba xanthon lồng mới có kiểu mẫu tetraoxygen hóa là
scortechinon A-C (73-75) [38].
O
OOMe OH
O
H
O
R
O
(73) R = Me
(74) R = COOH
O
OOMe OH
O

H
O
COOH
O
OH
(75)

Năm 2008, từ cây G. hanburyi, Li Li Wang cùng các cộng sự đã cô lập được 12
xanthon trong đó có một xanthon lồng mới mang nhiều nhóm thế prenyl là
gambogic aldehyd (76) [39].
O
OH
O
OH O
O
CHO
(76)

Ngoài xanthon thì trong chi Garcinia cũng xuất hiện các dimer xanthon như
garcilivin A (77), garcilivin B (78) được Isabelle Sordat-Diserens cùng cs cô lập từ
cao diclorometan của rễ cây G. ivingstonei năm 1992 [40].
Phần 2. TỔNG QUAN

×