Tải bản đầy đủ (.doc) (68 trang)

Gia Pha ho pham nguyen - hung ha - thai binh pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.51 MB, 68 trang )

Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
LờI TựA
P
hàm lệ: Việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ; tục thanh minh con cháu đi nhận mộ,
ngày Tết năm đầu vợ chồng mới cới đi nhận họ; tục con giai mang lễ nhà thờ đến bên
nhà gái trớc ngày cới. Những phong tục ấy ở thôn làng nào cũng có, nhà nào cũng
theo đạo ấy mà làm. Đó là Đạo Cơng Thờng có từ vạn cổ. Để ai cũng biết và làm
đúng với đạo này tất phải có Gia phả.
Nhà chép gia phả ví nh quốc gia chép sử vậy. Quốc sử chép nguồn gốc đất n-
ớc, dân tộc, gia phả chép về nguồn gốc dòng họ. Đó là lịch sử, là bản sắc, là truyền
thống.
Gia phả nhằm ghi lại nguồn gốc xuất sứ của thuỷ tổ một cách có cứ liệu; hệ
thống lại từ đời này sang đời kia, từ ngời này tới ngời khác, để rồi các đời nhận biết đ-
ợc về nhau, con cháu muôn đời mới nhớ đợc tới công đức tổ tông. Để ngời sau lấy g-
ơng ngời trớc, làm rạng rỡ thêm cho dòng họ của mình. Để ai cũng biết rõ cái tình
thâm huynh đệ.
Gia phả giúp ta biết ngời trên kẻ dới, ngời thân kẻ sơ; biết ngày sinh, ngày mất,
biết ngày giỗ chạp; biết công lao tài trí, đức độ ngời xa để từ đó soi mình; con cháu
các đời sẽ vun đắp cho tổ tông mình ngày thêm cờng thịnh. Gia phả giúp anh em
trong họ đoàn kết yên vui, để từ xa hoá gần, từ sơ hoá thân mà cùng chung lo việc
phụng hiếu. Ngời xa nói: Kẻ nào biết đọc gia phả họ mình kẻ đó ắt sinh lòng hiếu
để.
Không có gia phả, quan hệ thân sơ mơ hồ, con cháu ngày một cách xa, lâu rồi
không còn phân biệt đợc gốc tích nữa dẫn đến kỉ cơng nghiêng ngả, gia phong lu mờ.
Khi đó còn đâu là tình huyết thống nữa!
Vậy nên gia phả cần đợc ghi chép tỉ mỉ, rõ ràng, liên tục để sau này con cháu
các đời mới có cơ hồ nhận biết về nhau.
Lại nghĩ: Không có gia phả thì công đức của các bậc liệt tông, liệt tổ không đợc
minh chứng, có khác nào ngời đời sau đang hởng phúc lộc mà không hay biết đến
công đức tổ tiên. Nh thế há chẳng phải vô tình quá hay sao!!!
Phàm ngời xa ghi gia phả theo lối văn cổ, tuy cô đọng đấy nhng ngời bây giờ


khó hiểu. Vậy nếu cái cũ đã có ta nên giữ gìn. Ngời xa dùng chữ Hán, chữ Nôm thì
giờ ta phiên ra chữ Việt cho dễ hiểu. Nên có nhuận sắc kèm theo nhng không làm mất
đi tính nội hàm của tác phẩm.
Ngày nay ta ghi bằng chữ Việt. Nên ghi cụ thể, chi tiết và hàm súc để ai cũng
hiểu đợc, ai cảm thấy đây nh một áng văn mang tính lí trí, có tính nhân văn của họ
mình. Đồng thời thể hiện đợc là một cuốn sử kí qua từng thời đại của tổ tông; gắn liền
giữa các cá nhân con ngời với gia đình; giữa gia đình với gia tộc; giữa gia tộc với dân
tộc Qua đó chúng ta hiểu rõ hơn về thân thế sự nghiệp của các thành viên trong họ
qua các đời, các triều đại với các thể chế chính trị khác nhau. Chỉ có làm đợc nh thế
1
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
thì chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau mới hiểu đợc những gì ngời trớc đã làm
và những ngời sau đó biết mình phải làm gì, làm nh thế nào cho Danh gia vọng tộc.
Thiết nghĩ, những gì đã biết, đã viết về cội nguồn mà không đợc chỉ dẫn thấu
đáo tỏ tờng, há chẳng phải là một thiếu xót đó sao?
Ngày xa gia phả viết một cuốn, để lại từ đờng. Ôi! Nếu chẳng may có sự biến gì
mà thất lạc đi thì lấy gì mà tra cứu nữa. Vậy nên bây giờ gia phả nên truyền bá rộng
rãi, viết thành nhiều quyển phân cho các chi các ngành hoặc cá nhân nào muốn sao
chép cũng là điều đáng khuyến khích. Nh thế phòng khi vật đổi sao rời, sau này kẻ xa
ngời gần khi muốn tìm lại về nhau còn có cơ hồ thấy đợc. Đó chẳng phải phép bền
gốc sâu rễ đó sao!
Vạn vật trong tự nhiên, ai không theo quy luật ấy mà làm cho cái sự nghiệp của
cộng đồng mình đang sống để gốc rễ không đợc tỏ tờng, trong ngoài lẫn lộn, trên dới
mập mờ thì giờng cột ngả nghiêng . Lâu dần con cháu chia lìa thì còn đâu nữa là sự
vững bền muôn thuở và rồi tìm đâu đ ợc vẻ vàng son của các đấng tiên liệt xa, để
muôn đời con cháu nêu gơng và nh thế ai là ngời sẽ tiếp tục làm rạng danh tiên tổ để
mãi mãi bồi đắp cho gia tộc mình ngày một vững bền và phát triển.
Cây có cội, nớc có nguồn, con ngời có tổ có tông. Đó là đạo lí uống nớc nhớ
nguồn. Vậy nên ai cũng nên biết và đọc gia phả của họ mình để cùng chung lo cho
cái nền đức trờng tồn muôn thuở trong mỗi con ngời, trong từng gia đình và gia tộc.

Ngẫm lại, họ Phạm Nguyễn ta, theo nh các cụ kể lại: Nơi phát tích họ nhà là ở
Vị Bổng, Th Trì (sau này là Thọ Lộc, Thọ Khang). Thuỷ tổ là quan Nghè Nguyễn
Hữu Thăng.
2
Gia Tộc Phạm Nguyễn trong ngày Thanh Minh năm 2000
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Cụ Nguyễn Hữu Thủy - nguyên tổ họ Phạm Nguyễn ta ngày nay là con thứ ba
của cụ Nguyễn Hữu Hài sinh tại Thọ Lộc, Thọ Khang, Th Trì. Từ cụ Hữu Thuỷ tính
ngợc lên cụ Hữu Thăng là bao nhiêu đời thì không rõ vì trong chính biên không có. T
liệu này do thông tin truyền lại từ đời các cụ. Thiết nghĩ, dù là câu chuyện kể mà còn
lu lại đợc đến bây giờ âu cũng là có ý nghĩa cho đời nay lắm lắm. Còn về sau, ai hiểu
thế nào, theo cách lí giải của cá nhân mình cũng là điều chính nghĩa.
Ngày ấy, lâu lắm rồi, có một viên quan đi kinh lí qua vùng đất này. Ông thấy
đồng đất phì nhiêu, màu mỡ, làng mạc có sông lớn bao quanh; giữa có nhiều gò đống
tự nhiên, dân tình lại tha thớt. Vị quan này có ý muốn khai khẩn vùng đất này. Sau kì
kinh lí, ông về bàn với bạn đồng môn ý tởng trên.
Nguyễn Hữu Thuỷ cùng cả gia đình sau đó đã chuyển c từ xã Thọ Khang
Th Trì sang vùng đất Duyên Hà sinh sống. Thời bấy giờ còn gọi là Trang ấp, cha có
làng xã nh sau này.
Ngày đầu tới lập c, cụ đã qua vùng đất bên kia sông Đại Giang là An Khoái lu
lại đấy một thời gian. Sau rồi cụ chuyển sang vùng Ngọc Đình để ở. Nơi ấy cách chùa
Ngọc Đình chừng 3 cây số. Tại đây, các cụ lập làng, dựng đình và đặt tên là Cúc
Đình. Chẳng bao lâu thì sinh loạn. Đạo tặc nổi lên khắp vùng. Gia đình cụ đi lánh nạn
ở Nhâm Lang thuộc tổng Hiệu Vũ, xã Quan Hà, cách nơi ở chừng 10km. Tình hình
yên ổn dần, gia đình chuyển về gần chùa Long Phúc xã Trung Lập sinh sống. Vùng
này cách nơi ở cũ khoảng 5km. Khi cuộc sống đã yên hàn, cụ Hữu Thuỷ cùng gia
đình chuyển về quê cũ làm ăn. Lúc này cụ đã già yếu nhng các con cụ đã trởng thành.
Hữu Thai và Hữu Dung là con trai vừa gánh vác việc cày bừa đồng áng vừa chăm chỉ
học hành nên đều thành đạt và đã thay cụ đảm đơng công việc gia đình, làng xóm. Tại
Từ Đờng họ Phạm Nguyễn, trong sắc phong thần bản hạt văn khấn có ghi: Húy Hữu

Thai Khán Thủ Tiền bản trang Phủ quân Thần chủ.
Sau này sang đến đời thứ t họ Nguyễn Hữu đợc đổi thành họ Phạm Nguyễn.
Vậy nên chi họ Phạm Nguyễn ngày nay tiền thân là họ Nguyễn Hữu xa dòng họ
đầu tiên về đây mở đất lập làng. Lí do việc đổi họ này không đợc ghi trong chính biên
cũng nh trong truyền miệng. Đến năm 2000 trong khi biên soạn cuốn Gia phả năm
2000 đã có cuộc hội thảo về vấn đề này và đã sơ lợc đa ra nhận định nh đã ghi trong
phần Nguyên nhân đổi họ Nguyễn Hữu sang họ Phạm Nguyễn (Gia phả 2000). Đến
nay khi trao đổi vấn đề này để bổ sung cho gia phả 2010 đã có ý kiến cho rằng: Việc
đổi họ từ Nguyễn Hữu sang Phạm Nguyễn là do nạn kiêu binh xảy ra ở vùng châu thổ
Bắc bộ giữa những ngời lãnh đạo khởi nghĩa họ Nguyễn và các thế lực họ Trịnh ở
vùng này.
Lại nói về cuốn Gia phả họ Phạm Nguyễn (cuốn đầu tiên). Vào những năm đầu
của thập niên 90 thế kỉ XX, những ngời sinh ra thuộc đời thứ năm không còn nhiều và
tuổi lại cao vậy nên thế hệ thứ sáu là lực lợng chủ yếu. Họ đợc học tập văn hoá - hầu
nh đều học hết cấp II (lúc đó còn là hiếm); đợc trang bị lí luận bằng t duy biện chứng.
Song ở thời điểm này cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nớc đang ở giai đoạn gay go,
khốc liệt nhất. Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, giải phóng miền Nam thống
3
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
nhất đất nớc là nhiệm vụ hàng đầu của họ. Chính vì thế mà đại đa số thanh niên đã
xung phong lên đờng nhập ngũ. Chiến tranh ác liệt, kẻ mất ngời còn. Phải tới năm
1975 họ mới dần đợc trở về với gia đình với quê hơng. Sau chiến tranh, nền kinh tế
của toàn xã hội đều vô cùng khó khăn. Mọi ngời lao vào xây dựng cuộc sống mới nên
việc họ hàng có phần bị mờ nhạt. Một phần do những quan niệm sai lệch một thời:
mọi tục lệ đều bị coi nhẹ và đợc xem nh một hành vi phong kiến, mê tín dị đoan. Phần
nữa, một số ngời sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã không trở về quê sinh sống mà
chuyển c đi nơi ở mới nh toàn bộ chi thứ 3 (Cụ Phạm Nguyễn ánh) di c vào phía
Nam, ông trởng họ Phạm Nguyễn Oánh chuyển vào Bình Phớc; thông tin liên lạc thì
hạn chế Đó là những nguyên nhân đã tạo ra sự rệu rã một thời gian dài trong mối
quan hệ họ hàng.

Trớc những hiện thực trên, một số ngời ở đời thứ 6 sau khi về quê đã phải nghĩ
tới việc tìm biện pháp chấn hng kỉ cơng gia tộc. Mở đầu là việc thiết lập lại tục cúng
Thanh minh để tập hợp anh em con cháu xa gần. Qua đây nhằm tạo cơ hội để hớng
dẫn và định hớng về mặt họ hàng. ý tởng này là do ông Phạm Nguyễn Khải đề xớng
và đã đợc hiện thực hoá vào Thanh minh năm 1990. Tiếp đó là bàn tới Gia phả. Trớc
hết thống nhất là họ nhà có gia phả nhng không biết có còn hay không, nếu còn thì ai
giữ? Ông Oánh là trởng tộc ở Sông Bé giữ hay ông Cẩn là con thứ ở Tuyên Quang
giữ? Vì trớc đó vào những năm 1960 cụ Phạm Nguyễn Trí chuyển gia đình đi khai
hoang ở Tuyên Quang, ông Oánh đi bộ đội sau khi xuất ngũ lại định c ở miền Nam.
Mặt khác việc đi lại, liên lạc ở thời kỳ này là rất khó khăn do đó để tìm lại gia phả là
một việc không dễ. Trớc hoàn cảnh đó, anh em ở quê bàn bạc và quyết định su tầm t
liệu, viết lại gia phả. Ông Khải đợc giao là chủ bút. Trong lúc đang thu thập thông tin
thì ông Khải mất. Công việc bị đình lại. Ngót 10 năm sau công việc mới đợc tiếp tục.
Lúc này ông Quý làm chủ biên. Do hồng phúc gia tộc cao dầy và linh ứng của tổ tiên
nên trong lúc mọi ngời đang dốc sức cho công việc và bản phác thảo đang đợc hình
thành thì ông Phạm Nguyễn Cẩn trong lần về thăm quê (năm 1998) đã gửi lại cuốn
gia phả bằng chữ Nho cho anh em ở nhà nghiên cứu và dịnh thuật. Cuốn gia phả này
đã đợc nghiên cứu và tạm lợc dịch vào đầu năm 1999 do cụ Phạm Nguyễn Liệu và cụ
Nguyễn Văn Gần ở Đông Hải. Đến năm 2000 cuốn gia phả đợc Lơng y - cụ Nguyễn
Đình Xuyền ngời thôn Ngọc Liễn chính thức biên dịch ra văn bản chữ Việt (ông
Phạm Nguyễn Quý ghi lại và nhuận sắc, hiệu đính). Tiếp theo đó là bản dịnh của ông
Chu Trọng Thu Cao học Hán Nôm, giảng viên Khoa Hán Nôm, trờng Đại học
Thành phố Hồ Chí Minh. Bản dịch đã đợc ông Bùi Tất Tơm Cao học Hán Nôm,
Giám đốc nhà xuất bản Giáo dục khu vực phía Nam nhuận sắc. Các bản dịch đều đạt
tới độ chính xác cao; tuy có nhuận sắc cho rõ ràng hơn song đều trung thành với nội
dung của nguyên tác. Dựa trên những cơ sở đó, cuối năm 2000, cuốn gia phả đã đợc
in ấn và phổ biến rộng rãi (do đời thứ sáu thực hiện) với tên gọi là Gia Phả gia tộc
Phạm Nguyễn năm 2000 (1795 2000) Thôn Cúc Đình Tổng Hà Lý
Huyện Duyên Hà Tỉnh Thái Bình . Nội dung gồm:
4

Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
1. Lời nói đầu
2. Nguồn gốc xuất sứ họ Phạm Nguyễn
3. Phần dịch: Biên dịch từ cuốn gia phả chữ Hán có tên Gia phả họ Nguyễn
Hữu ra chữ Việt. ở phần này, ngời xa ghi từ cụ nguyên tổ đến cụ Phạm Nguyễn
Chính (Trởng tộc đời 4) thì dừng lại. Khi đã dịch ra chữ Việt, chúng tôi soạn tiếp phần
còn lại của đời 4 và ghi tiếp từ đời 5 cho đến hết năm 2000 một cách có hệ thống.
Cuốn gia phả này (theo nh kể lại) đợc viết vào cuối đời thứ hai do cao tổ Nguyễn Hữu
Thai thực hiện. Sau đó đợc các đời sau là đời 3 và đời 4 bổ sung thông tin.
Cuốn gia phả năm 2000 do ông Phạm Nguyễn Quý là chủ biên chính và đợc in
tại Văn phòng công ty Xây lắp Tây Ninh, do ông Phạm Nguyễn Du khi đó là Phó
giám đốc công ty đảm nhận.
* Số lợng in: 5 bản bằng giấy A4, bìa màu đỏ, chữ nền vàng.
* Phân bổ, quản lý:
1 quyển - cụ Phạm Nguyễn ánh Trởng Chi 3, ngụ tại Quận I TP Hồ Chí
Minh.
1 quyển - ông Phạm Nguyễn Oánh Trởng tộc đời 6, ngụ tại Bình Long
Tỉnh Bình Phớc.
1 quyển - ông Phạm Nguyễn Du Thị xã Tây Ninh Tỉnh Tây Ninh.
1 quyển - ông Phạm Nguyễn Mùi Trởng chi 2, ngụ tại thôn Cúc Đình xã
Thống Nhất Hng Hà - Thái Bình
1 quyển ông Phạm Nguyễn Xởng ở quê giữ để nghiên cứu, tập hợp bổ sung.
- Bản chính (gốc) cuốn gia phả chữ Hán do cụ Phạm Nguyễn Phu (đời thứ 5)
chi 3, ngụ tại phờng Phú Giáo, quận 5, TP Hồ Chí Minh lu giữ.
- Bản dịch từ chữ Hán ra chữ Việt do ông Phạm Nguyễn Quý lu giữ.
- Bản chữ Hán (photo) do ông Phạm Nguyễn Xởng lu giữ đến khi hoàn thành
cuốn gia phả 2012 đã chuyển lại cho ông Oánh quản lý (8 2012)
Sau khi hoàn chỉnh cuốn Gia phả năm 2000, họ đã thống nhất: từ năm 2000 thì
cứ 10 năm lại bổ sung gia phả 01 lần.
Năm 2010 là năm bổ sung gia phả với tiêu chí:

- Chỉnh lí, bổ sung một số nội dung mới đợc xác thực.
- Biên soạn tiếp những thông tin, những sự kiện mới trong vòng 10 năm qua.
- Thống nhất tên gọi cuốn gia phả là Gia phả họ Phạm Nguyễn năm 1795 -
2012 Cúc Đình Thống Nhất H ng Hà Thái Bình.
- Việc biên soạn lần này có kết hợp giữa phơng pháp ghi gia phả truyền thống
đồng thời có thay đổi cách đặt số thứ tự theo mã số nhằm mục đích để các thế hệ sau
dễ tra cứu.
5
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Con cháu là nguyên khí truyền đời của dòng họ. Vậy nên viết, bổ sung và
truyền bá gia phả họ mình là việc làm cần thiết, thờng xuyên đối với các thế hệ trong
họ.
Do những yếu tố khách quan trong việc thu thập thông tin nên tới tháng 8 năm
2012 cuốn gia phả năm 2010 mới đợc hoàn thiện do vậy các thông tin đợc cập nhật tới
hết tháng 8 năm 2012. Tuy nhiên vẫn còn nhiều thông tin cha đợc cập nhật.
Việc bổ sung lần này, ngời viết đã cố gắng cụ thể và đầy đủ mọi vấn đề của họ
trong 10 năm qua song chắc chắn cha thật thoả đáng. Rất mong các thành viên trong
họ tiếp tục đóng góp, bổ sung thêm để cuốn gia phả ngày đợc hoàn thiện hơn.
Cúc Đình, tháng 8 năm 2012
Đề tựa
Phạm Nguyễn Xởng
PHầN II
CHíNH BIÊN
CHíNH PHổ GIáP Tý, CHI Họ Tý
ĐờI THứ NHấT - ĐờI NGUYÊN Tổ
6
Gặp mặt đầu xuân Xuân Đinh Hợi (2007)
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Cụ Nguyễn Hữu Thuỷ: Cụ trớc đây sinh sống tại xã Thọ Khang, huyện Th
Trì, là con trai của cụ Nguyễn Hữu Hài (Hữu Thao, Hữu Trạch, Hữu Thuỷ). Ngời vợ

đầu của Thuỷ là con gái họ Bùi trong làng tên là Bùi Thị Gián con cụ Bùi Công Dẫn.
Hai cụ sinh đợc hai con trai: Trởng nam Hữu Thai, thứ nam Hữu Dung; con gái có Thị
Vi lấy ông đồ Xuân ở Hải Dơng, Thị Nhị lấy ông Nguyễn Vĩnh Cờng ngời cùng làng,
Thị Hợi lấy ông Đoàn Chiểu ngời Trung Lập, Thị Diệu mất năm 18 tuổi (nay thờ
chung ở từ đờng) giỗ ngày 7 tháng Giêng.
Ngời vợ thứ hai của cụ Thuỷ là Đinh Thị Vạn, quê ở Đô Kỳ. Cụ sinh đợc hai
con trai là Hữu Biểu và Hữu Trà.
A. Nguyễn Hữu Thai là cao tổ họ Phạm Nguyễn sau này.
B. Nguyễn Hữu Dung - Ngời vợ đầu của cụ là Nguyễn Thị Nga, ngời Lang
Nhân. Cụ sinh đợc một con gái là nguyễn Thị Cẩm, 15 tuổi thì chết. Mộ phần của cụ
Nga đặt tại khúc quanh xứ Đống Giáp, giỗ ngày 24 7.
Ngời vợ lẽ của cụ Dung là Đinh Thị Thông, ngời cùng làng, sinh đợc con trai
là Hữu Khang, chết lúc 16 tuổi và một bà con gái là Thị Trâm, đợc gả cho ông Phạm
Văn Lãm, ngời cùng làng và sinh đợc 2 trai, một gái. Mộ phần của cụ Thông đặt ở
Đống Miễu, cửa Chùa, giỗ ngày 4 8.
Cụ Dung làm nghề nông, mất năm 56 tuổi, Thụy hiệu Hữu Bảo, phần mộ tại
góc Đông nam đờng trớc cửa Thổ Tinh. Giỗ ngày 7- 10, giao Hữu Đa thờ cúng.
C. Nguyễn Hữu Biểu - Vợ cụ Hữu Biểu là Nguyễn Thị Hoàn ở An Khoái sinh
đợc một con trai là Hữu Tỉnh. Phần mộ cụ Hoàn đặt ở Xứ Đống Mạ, đờng Con Nhạn.
Giỗ ngày 30 6.
Hữu Tỉnh về sau lấy bà Bùi Thị Hạt là con nuôi ông Bùi Đình Hoạt, ngời cùng
làng. Có hai con gái, một là Thị Chi gả cho ông Nguyễn Văn Khả ng ời An Khoái
có con trai, con gái. Một ngời là Thị Nhờng, gả cho ông Phạm Văn Nhu, ngời trong
làng, sinh đợc 2 con trai là Phạm Văn Thát, Phạm Văn Chín, một gái lấy chồng ở
Cầu Dành. Hữu Tỉnh mất năm 46 tuổi .
D. Nguyễn Hữu Trà Cụ lấy vợ ng ời xã Đôn Mỹ sinh đợc 3 con gái sau rời về
xứ Quan Hà sinh sống (nay là xã Cộng hòa H ng Nhân). Mộ để tại xứ này.
Cụ Nguyễn Hữu Thuỷ làm nghề nông, có cuộc sống thanh bần. Cụ hởng linh 49
tuổi. Thụy hiệu Phúc Thực Phủ Quân, giỗ ngày 17 12. Mộ phần tại cửa Hoả
Tinh, xứ Đống Vải, đờng Lá Cờ, xã Trung Lập. Mộ thuộc ngôn Ngọ, hớng Tý (Phát

phúc bắt đầu từ đây).
Cụ Bùi Thị Gián hiệu Từ Thiện Nhũ Nhân, giỗ ngày 18 8. Về sau, vào
năm Nhâm Thìn, chắt nội Phạm Nguyễn Chính đã bốc táng phần mộ tới núi Lê Xá,
huyện Vụ Bản, Nam Định cùng với mộ mẹ ông Nguyễn Hữu Do, ngời Cao Đà, Nam
Xơng.
Cụ Đinh Thị Vạn Ngời vợ thứ hiệu là Từ Hoà Nhũ Nhân, giỗ ngày 6
2. Mộ ngôn ất, hớng Tân, ở Khúc Mộc, xứ Đồng Mạ.
7
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Hết phần dịch
Một số thông tin về mộ tổ đời I và tổ cô đời II
Theo truyền miệng từ đời 5 kể lại thì ở Chấp Trung và ở Phủ Dầy Nam Định
có đặt phần mộ của các cụ Mọi chuyện nh là cổ tích. Con cháu trớc đó cũng hiểu là
thế. Đời 5 và đời 6 liền kề, tuy nhiên do những biến động của thời thế: Kháng chiến
chống Pháp, chống Mỹ, cải cách rộng đất, thời bao cấp khó khăn, thiếu đói, những
năm cuối của thế kỷ thứ 20 đã làm những thông tin về các ngôi mộ: Nguyên tổ, cao tổ
không đợc liền mạnh. Với t duy bài phong cực đoan, quy chụp mê tín dị đoan nên các
tập tục lễ bái từ sau cải cách ruộng đất cộng với việc thất lạc gia phả nên thông tin về
các ngôi mộ tổ bị đứt đoạn, con cháu kể từ đời thứ 6 không biết chính xác vị trí để
thăm viếng. Sang thế kỷ 21 con cháu đời thứ sáu do sự thúc đẩy nội tâm đã dựa trên
một số thông tin truyền miệng và thông tin có đợc từ cuốn gia phả mới đợc dịch năm
2000 để đi tìm mộ tổ.
Năm 2003, 2004 và 2006 nhiều lần chắt đời thứ 6 là Phạm Ngọc Đức và Phạm
Chiến Thắng đi tìm ở núi Gôi Nam Định nhng cha có kết quả.
Thế hệ thứ 6 ở quê đã bàn bạc và quyết định căn cứ vào thông tin từ cuốn gia
phả năm 2000 kết hợp với chỉ dẫn của các nhà ngoại cảm để tổ chức đi tìm.
Ngày 26/4/2008 tức 21 3 năm Mậu Tý, anh em trong họ thuộc đời thứ 6 đã
đi tìm, hỏi thông tin tại nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Thắng ở huyện Tiên Lữ, tỉnh Hng
Yên và bớc đầu đã có kết quả:
Mộ cụ Nguyên Tổ Nguyễn Hữu Thuỷ:

Thầy Thắng cho biết ngôi mộ cụ nguyên tổ đời 1 để tại địa chỉ ghi trong gia
phả. Mộ còn nguyên chỗ cũ, coi bị mất nấm
Theo hớng dẫn, ngày 30 4 2008, Phạm Xởng, Phạm Phung đã đi khảo sát
và kết luận: địa hình cũ không còn, đống đã bị san lấp, cải tạo. Địa hình bằng phẳng,
hiện là ruộng cấy. Ngày 1 5 đến ngày 5 - 5 2008 tổ chức thuốn tìm nhng không
kết quả. Các cháu tham gia là Phạm Hanh, Phạm Nam, Phạm Tiêu, Phạm Khiếu (đời
7) cùng các ông Phạm Xởng, Phạm D (đời 6). Ngày 6 5 về điện thầy Thắng hỏi lại.
Đến chiều ngày 7 5 2008 tìm tiếp và nhận đợc mộ cụ vào lúc 15 giờ. Sơ bộ
thấy: tiểu còn, nằm sát bờ ruộng, đầu gối về đền Tiên La, nhìn về chùa làng Cúc Đình.
Những ngời có mặt: Phạm Phung, Phạm D, Phạm Quý, Phạm Xởng, Phạm phùng,
Phạm Phan, bà Xanh, bà Phung, bà Nhâm, bà Phan (đời 6). Các cháu đời 7: Nhì, Nam,
Hanh, Tiêu. Lễ tạ mộ sau khi nhận đợc vào chiều 9 5 2008 ( làm lễ: bà Xanh,
bà Ma, bà Nhâm; chụp ảnh định vị: Phạm Xởng; dẫn tiêu: Phạm Phung).
Lăng cụ tổ đợc động thổ xây dựng vào lúc 12 giờ tra ngày 30 10- 2008.
Khởi công ngày 7 11 2008 (ngày giờ do Phạm Phùng chỉ đạo). Chịu trách
nhiệm xây dựng: Phạm Phan, cháu (đời 7) Phạm Hanh. Trớc khi xây có khảo sát tiểu,
thấy quách ngoài bằng gỗ màu đen thẫm, còn tốt; chiều dài 0,6m, rộng 0,4m, nằm sát
8
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
ria bờ ruộng. Hớng để TâyBắc - Đông Nam. Thống nhất: xây tại chỗ, không di chuyển
vị trí mộ, không khai quật bên trong.
Thiết kế: xuống móng ngang bằng đáy tiểu, thân mộ cao 0,95m, dài 1,8m rộng
1,2m. Từ mặt mộ dựng 4 cột tròn cốt sắt, xung quanh để trống. Trên đổ mái che uốn
cong 4 góc. Chiều cao đỉnh mái là 2,5m, trên nóc đặt Lỡng Long vọng Nguyệt. Bia đá
nguyên khối, cao 1,5m, rộng 0,75m, dầy 0,06m. Hoa văn xung quanh chạm nổi, chữ
Việt khắc chìm (bia đá sản xuất tại Xí nghiệp chế tác đá Hoa L Ninh Bình). Vật
liệu xây dựng: gạch đỏ, cát vàng, xi măng, đá dăm, sát 8 + 12. Nội dung bia:
Mộ cụ Tổ cô Nguyễn Thị Diệu (đời thứ 2)
Trong gia phả ghi là mộ cụ Tổ Cô Nguyễn Thị Diệu, để ở xứ Đống Mốc xã
Trung Lập (nay cũng thuộc thôn Chấp Trung, xã Đoan Hùng). Hoàn cảnh và diễn

biến của mộ cụ Tổ cô tơng tự nh mộ cụ đời 1: cũng đợc tìm tại điện thầy Thắng do
Phạm Nguyễn Xởng thực hiện từ ngày 15 5 2008. Địa hình cũ theo nh chỉ dẫn
cách cây đa Đống Mốc chừng 10m về phía Tây Bắc. Nhng thực địa không còn, hiện
tại là ruộng cấy. Qua sự khảo sát, thấy cạnh đó còn có một doi đất dài 5m, rộng
khoảng hơn 1m nằm sát bờ đỗi to. Theo ý kiến của dân địa phơng cung cấp cùng với
sự hớng dẫn của thầy Thắng, sau nhiều ngày tìm thuốn, tới ngày 15 giờ ngày 18 5
2008 thì nhận đợc. Nh thầy Thắng: Mộ vẫn còn nguyên chỗ cũ, mất nấm, tiểu bị
vỡ.
Tạ mộ khi đã nhận đợc vào chiều 21 - 5 2008, gồm: Bà Sự, ông Phung, bà
Xanh, ông Xởng, bà Ma, bà Dự (đời 6), cháu Nhì (đời 7). Mộ đợc khảo sát sau đó và
thấy: tiểu nghiêng ra ngoài ruộng, nằm sát bờ, không còn gạch đậy. Hớng sử lý khi
xây: Khai quật lên, giữ nguyên tiểu cũ, đa vào quách mới (vì tiểu cũ bị gẫy), chuyển
mộ lùi vào trong đống khoảng 0,8m rồi xây. Thiết kế quy cách và nh phần mộ cụ
nguyên tổ. Ngày giờ khởi công cùng với mộ cụ nguyên tổ. Chuyển tiểu vào quách lúc
16 giờ ngày 7 11 2008 do cụ Phạm Nguyễn Phu (đời 5) chỉ đạo.
Mộ hớng Bắc Nam, cạnh làng Chấp Trung.
Những ngời tham gia khi tìm và lúc đào chuyển gồm: cụ Phạm Nguyễn Phu đại
diện đời 5 chi 3 ở thành phố Hồ Chí Minh, các ông: Phạm Xởng, Phạm Quý, Phạm
9
NGUYÊN Tổ
NGUYễN HữU THUỷ
Tạ thế 11 12
Cúc Đình Thống Nhất
Hng Hà Thái Bình
Lập bia 10 - 2008
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
D, Phạm Phùng, Phạm Phung, Phạm Phan, (đời 6), các chắt: Phạm Thuận, Phạm
Hanh, Phạm Nhì, Phạm Mạnh (đời 7).
HƯớNG DẫN ĐịA Lý
* Phần mộ cụ Nguyễn Hữu Thuỷ - Đặt tại địa chỉ thờng gọi của dân địa phơng:

Khu đống Muống, thôn Chấp Trung, xã Đoan Hùng, huyện Hng Hà, tỉnh Thái Bình.
Lấy thị trấn Hng Hà làm trung tâm, trên đờng 39, đến ngã t La, rẽ trái về Đống
Ba (theo đờng 224), đi tiếp tới thôn Cầu Dành, hỏi xuống khu đống Muồng. Lăng cụ ở
dới ruộng, cách chân đống chừng 10m về phía bắc.
* Phần mộ cụ Tổ cô Nguyễn Thị Diệu - đặt tại xứ Đống Mốc, thôn Chấp Trung
(Trung trên), xã Đoan Hùng. Cách tìm: Lấy thị trấn Hng Hà làm trung tâm, trên đờng
39, đến ngã t La, rẽ trái về Đống Ba (theo đờng 224), rẽ trái theo trục đờng từ Đống
Ba đi Miếu Trúc, tới đầu làng hỏi khu Đống Mốc thôn Chấp Trung. Mộ cụ ở cánh
đồng giáp làng, trên đờng đi xuống nhìn về phía bắc.
Cụ nguyên tổ Bùi Thị Gián
Cũng trong hoàn cảnh nh mộ các cụ tổ, đến khi dịch cuốn gia phả 2000 thì mới
rõ có để ngôi mộ của cụ tổ bà. Nhng Lê Xá ở đâu, mộ thế nào thì gia phả không ghi
và cũng cũng cha ai đợc biết!
Từ ngày 23 đến 26 tháng 3 năm Mậu Tý (4 2008), Phạm Nguyễn Xởng thực
hiện cuộc đi tìm theo hớng tâm linh (điện ông Hằng xã Trung An, huyện Vũ Th). Tại
đây ngài cho biết phần mộ này vẫn còn và tìm đợc. Phần mộ để ở nơi có nhiều đền
phủ. Ông đã vẽ cho một sơ đồ với hớng dẫn: Đi tới đền Phủ Dầy, vào đền Công Đồng
thắp hơng rồi sang đền Mẫu Thợng. Xuống chân núi đền Mẫu đi theo hớng tay phải
và hỏi để tìm.
Ngày 3 4 2008, tức 3 3 Mậu Tý, Phạm Nguyễn Xởng, Phạm
Nguyễn D, Phạm Nguyễn Phung cùng các cháu Phạm Hanh, Phạm Thạo, Phạm Luân
(đời 8) đi khảo sát và đợc biết vùng này xa là đồi đất hoang vu, nhng ở những năm 90
thế kỉ trớc họ xây dựng Xí nghiệp ngói nên thực địa đã thay đổi, nhiều ngôi mộ đã bị
di chuyển. Riêng ở góc đồi gần đờng còn một gò đất tự nhiên, từ xa tới giờ vẫn nh
vậy. Theo ý kiến cụ Phụng - ngời trong làng ra hớng dẫn - cho biết thì ở đó có một
ngôi mộ.
Ngày 5 3 Mậu Tý (14 4 2008), khảo sát lần 2 nhng cha có kết quả.
Sau khi tham khảo lần thứ ba ở điện ông Hằng thì đến ngày 7 3 Mậu Tý (16 - 4
2008), bằng phơng pháp đặt trứng trên đũa do chắt Phạm Nhì đời 7 thực hiện, kết
quả linh ứng (hình ảnh đã đợc cụ Phu chụp lại). Lúc đó là 16 giờ cùng ngày. Sau đó

vào ngày 10 3 Mậu Tý tức 15 4 2008 họ tổ chức lễ tạ và đắp mộ cụ.
Những ngời tham gia: Cụ Phạm Nguyễn Phu đại diện đời 5 chi 3 ở thành phố Hồ
Chí Minh, các ông Phạm Xởng, Phạm D, Phạm Phùng, Phạm Phung, Phạm Phan, bà
Trần, bà Ma, bà Dự, bà Mùi, bà Quý, bà Phan, bà Nhâm, bà Phung; các chắt Phạm
10
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Nam, Phạm Nhì, Phạm Tiêu, Phạm Hanh, Phạm Thuận, Phạm Mạnh, chắt Huyền,
chắt Huế (đời 7), chắt Hiển (đời 8). Dâng sớ: Bà Sự; quay phim: Phạm Nam(đời 7).
Lễ động thổ xây lăng cụ tổ bà vào 8 giờ sáng 20 9 Mậu Tý (18. 10.
2008). Khởi công từ ngày 24 9 Mậu Tý, hoàn thành 3 10 Mậu Tý.
- Phụ trách tổ chức, đối ngoại: Cụ Phạm Nguyễn Phu.
- Định ngày giờ: Phạm Nguyễn Phùng
- Kĩ thuật xây dựng: Phạm Nguyễn Phan, cháu Phạm Hanh
- Phụ trách thi công: Phạm Nguyễn D
Mẫu lăng: thống nhất nh lăng cụ nguyên tổ Nguyễn Hữu Thủy.
- Tổng kinh phí 13 000 000 (mời ba triệu đồng).
Trớc khi xây đã khảo sát: Mộ nằm dới chân núi Lê Xá, giáp đờng đi vào chùa
Lê Xá, cách chùa khoảng 100m. Hớng mộ song song với hớng chùa (hớng Tây Bắc -
Đông Nam), đầu gối vào hớng núi Đọ, nhìn về núi An Lão, tỉnh Hà Nam. Mộ nằm
trên gò đất, sờn mộ phía nam có vỉa đá tự nhiên, 3 mặt xếp đá tảng xung quanh. Trên
mặt tiểu đậy đá tảng nên không khai quật để khảo sát bên trong. Thống nhất không di
chuyển mộ, xây tại chỗ và xây bao quanh vỉa đá. Mộ xây xong đợc dựng bia cùng
khuôn mẫu với bia cụ Nguyên tổ Nguyễn Hữu Thủy.
HƯớNG DẫN ĐịA Lý
- Mộ đặt tại địa chỉ: Dới chân núi Lê Xá về phía Tây Bắc, thuộc thôn Lê Xá, xã
Tam Thanh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
11
(C Phm Nguyn Phu v ụng Phm Nguyn Xng thp hng ti lng m t Bựi Th Giỏn
Lờ Xỏ - Nam nh, thỏng 11 nm 2008)
nh: Phm Nguyn Nam

Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
- Khi xây, mộ nằm trên khu đất thầu 50 năm của vợ chồng ông Trần Văn
Quang Nguyễn Thị Thuỷ thôn Lê Xá.
- Hớng đi: Từ đền Phủ Dầy đến chân núi Mẫu Thợng về thôn Lê Xá, hỏi chùa
Lê Xá. Từ chùa đi theo hớng Tây Bắc chừng 100m là tới mộ cụ. Bên phải là núi, bên
trái là cánh đồng lúa. Cạnh mộ cụ là hai ngôi mộ nhỏ, mình xây để hởng phúc.
Tổng hợp đời 1
Cụ Nguyễn Hữu Thuỷ
Cụ bà Bùi Thị Gián
Cụ bà Đinh Thị Vạn
ảnh chụp tại gia đình ông Oánh ở Bình Phớc (năm 2008)
ĐờI THứ 2
* Nguyễn Hữu Thai
12
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Là con trởng của cụ Nguyễn Hữu Thuỷ và Bùi Thị Gián. Vợ của cụ Thai là Vũ
Thị Ngạn - con gái của cụ Vũ Công Bằng ngời cùng làng. Sinh đợc 3 con trai : Hữu L
(Lợi), Hữu Đa, Hữu San.
Cụ Hữu Thai sinh năm Bính Thìn (1795), năm Cảnh Thịnh thứ t Triều Tây
Sơn. Cụ tính tình đôn hậu, thông minh, nhà nghèo nhng hiếu học. Khi trởng thành có
làm việc trong làng nhng cha bao giờ tranh cãi với ngời khác. Tất cả đều phó mặc tự
nhiên. Lúc nhàn rỗi cụ thờng dậy con cái: Trai không vo mà tròn, gái không vê mà
nhọn, tất cả mọi vật đều nh vậy, ta không đòi hỏi khắt khe. Chẳng bao lâu thì xẩy ra
loạn lạc (vào giữa niên hiệu Gia Long), đạo tặc nổi nên khắp vùng. Cụ bèn đi ẩn c tại
chùa Long Phúc (xã Trung Lập). Mời năm sau thì trở về làng cũ. Cụ mất khi tuổi già
ngày 19 11, Mậu Thân (1847), thuộc đời vua Tự Đức, triều Hoàng Nguyên.
Các con cụ đều cơ bần mà phụng dỡng mẹ. Chịu khó cày bừa và học hành, sau
đều trởng thành. Cụ hởng linh 53 tuổi. Về sau, vào ngày 9 2 năm Đinh Dậu, mộ
phần đợc bốc táng tới xứ Đờng Con Phợng, thôn Chu Linh, xã Ngô Xá, tổng Lạc
Chánh, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định. Từ lòng đất cấn khí nhập huyệt, mộ thuộc ngôi

Giáp, hớng Canh Gia Dần Thân.
Cụ bà họ Vũ, huý Ngạn, hiệu Từ Huyên Nhụ Nhân. Sinh Tuất, khắc ngày 14
3 Quý Hợi (1802). Mất Kỉ Mão (1878) - Đời Tự Đức. Hởng thọ 77 tuổi. Về sau
chắt nội Phạm Nguyễn Chính chuyển táng tới xứ Con Phợng, làng Chể, huyện Lục
Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Hết phần dịch
Một số thông tin bổ sung
Phần mộ Cao Tổ Nguyễn Hữu Thai cũng nh các cụ trớc đó, chỉ sau khi dịch
xong gia phả năm 2000 thì mới biết rõ. Còn theo truyền miệng thì chỉ biết mộ cụ ở
núi Gôi. Và theo các cụ già ở Gôi kể rằng, ngay từ xa các thầy phong thủy đã xác
định núi Gôi là cuộc đất tốt, có hình dáng Ngô Công. Sau núi có 2 bia hớng dẫn địa
lý: Một là HậU THổ SƠN, hai là THổ SINH THƯ. Hai bia này đã đợc ông
Phạm Ngọc Đức chắt đời thứ 6 ở thành phố Hồ Chí Minh chụp lại.
Ngày 15 2 Mậu Tý (22 3 2008), hậu duệ đời thứ 6 là Phạm Nguyên
Xởng thực hiện việc đi tìm lại nơi nghỉ của các cụ tổ. Mở đầu là đi tìm cụ Hữu Thai
tại điện thờ của nhà ngoại cảm Nguyễn Văn Thắng, huyện Tiên Lữ, Hng Yên. Cùng
đi có Trần Đức Quế - con rể bà Hoà ở Ngọc Đình là con gái cụ Tú Chính. Tại đây,
thầy Thắng cho biết: Mộ còn, mất nấm, đặt tại đờng con Phợng (một nghĩa địa cổ
thuộc Núi Gôi, Vụ Bản, Nam Định). Cách mộ nhà bác Xuân chừng 10m.
Ngày 21 2, Mậu Tý (28 3 2008) bắt đầu thực hiện cuộc đi tìm kiếm
theo địa danh gia phả cũ đã ghi, gồm: Phạm Xởng, Phạm D, Nguyễn Đức Nhiên (con
trai bà Hoà ở Ngọc Đình). Đi từ Vụ Bản tới ý Yên, hỏi thăm thôn Chu Linh, xã Ngô
Xá, tổng Lạc Chánh, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định thì ngời dân địa phơng ở đây cho
biết đó là những tên cũ, hiện nay không còn gọi nữa, hơn nữa vùng đó không thể xác
13
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
định là ở Vụ Bản hay ý Yên bởi vùng giáp gianh này đã nhiều lần phân chia lại địa
giới hành chính (Núi Gôi trớc là vùng giáp gianh, nay thuộc huyện Vụ Bản). Đến buổi
chiều cùng ngày, đoàn đi quay lại chân núi Gôi, tìm gặp bác Xuân ngời địa phơng
(theo hớng dẫn của thầy Thắng). Gia đình cho biết có ngôi mộ bà để ở khu nghĩa

trang cổ nhng sau khi đi sơ tán về thì tìm không thấy nữa và họ đã chỉ cho chỗ ngôi
mộ bị thất lạc đó. Ngày hôm sau, khi về nhà, có điện hỏi lại thầy Thắng. ông cho biết:
Hôm trớc đã đến đúng chỗ và đã gặp đúng bà Xuân. Từ khu vực mộ nhà bà Xuân nhìn
theo hớng cổng vào, gặp ngay hai ngôi mộ đã xây và ốp đá, có tờng bao. Bên ngoài t-
ờng bao đó là mộ cụ nhà mình. (hai ngôi mộ xây đó là của ông Trần Quốc Kính và
Vũ Thị Nhẻn).
Nhân ngày đi tạ mộ cụ nguyên tổ bà ở Lê Xá 10 3 Mậu Tý, toàn họ đã về
nghĩa trang núi Gôi với mục đích biết sơ bộ nơi yên nghỉ của cụ tổ Hữu Thai (vì cha
nhận đợc cụ thể). Nhng may thay, khi điện thoại cho thầy Thắng, ông đã cho biết:
Mọi ngời đã tới nơi để mộ cụ rồi. Từ chỗ đứng gọi điện bớc lên ba bớc chân, có hai
ngời phụ nữ đang cầm hơng, cạnh đó là mộ cụ (hai ngời là bà Xanh và bà Nhâm).
Trên mặt mộ dới lớp cỏ có ba viên đá nhỏ.
Nh vậy ngày 10 3 là ngày đi tạ mộ cụ ở Lê Xá đồng thời lúc 3 giờ chiều
cũng nhận đợc mộ cao tổ ở núi Gôi. Thật là vui sớng! Anh em con cháu ngay lập tức
đã đắp lại phần mộ cụ.
Ngày 10 3 Mậu Tý (15 4 2008) đã đi vào lịch sử họ Phạm Nguyễn
đời 6 nh một dấu ấn không bao giờ phai nhạt trong tâm khảm mỗi ngời đối với tiên
tổ.
Những ngời có mặt trong phút giây lịch sử đó gồm: Cụ Phạm Nguyễn Phu đại
diện đời 5 chi 3 ở thành phố Hồ Chí Minh, các ông Phạm Xởng, Phạm Phùng,
Phạm Phung, Phạm D, Phạm Phan; bà Sự, bà Dự, bà Phan, bà Nhâm, bà Trần, bà Mùi,
bà Quý (đời 6); các cháu: Phạm Nam, Phạm Tiêu, Phạm Hanh, Phạm Chiến, Phạm
Mạnh, Phạm Huyền, Phạm Thạo(đời 7) và cháu Phạm Hiển (đời 8).
Chụp ảnh định vị: Phạm Nguyễn Phu
Quay phim: Phạm Văn Thạo, Phạm Bình Nam
Lăng cụ khi tổ chức xây đã đợc khảo sát kĩ lỡng. Ngày 14 10 2008 ông
Xởng và cháu Nhì thuốn kiểm tra lần 1, phát hiện có vỉa đá. Ngày 16 10 hai ngời
tiếp tục thuốn lần 2 phát hiện tiểu gỗ nằm bên trong vỉa đá, ở độ sâu 0,65m, chiều dài
tiểu khoảng 0,6 0,7m, rộng khoảng 0,4m. Một góc vỉa đá nằm sát vũng nớc cạnh t-
ờng bao ngôi mộ họ Trần.

Kiều cụ ở điện bà Khánh (Dân Chủ), cụ cho biết là đã tìm đúng, nhng khi xây
thì xây hết phần đất có 3 hòn đá trên mặt nh đã tìm thấy.
Trong quá trình xây dựng, tổ thợ đã khai quật tới tận mặt tiểu. Xác định: tiểu gỗ
đen, còn tốt (nhng không bộc lộ nắp tiểu). Kích thớc của tiểu gỗ dài 0,65m, rộng
0,35m. Hớng tiểu nằm song song với sờn núi Gôi hớng Tây Nam - Đông Bắc (đầu
gối hớng núi đền Mẫu Thợng quần thể đền Phủ Dầy nhìn ra hớng biển).
14
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Lễ động thổ vào lúc 10 giờ tra 20 9 Mậu Tý (18 10 2008), gồm
Phạm Xởng, Phạm Phung, Phạm Phan, Phạm Thuận, Phạm Hanh. Khởi công ngày 24
9 Mậu Tý (22 10 2008).
Chỉ đạo chung: cụ Phạm Nguyễn Phu (đời 5)
Chỉ đạo thi công: Phạm D (đời 6)
Ngày giờ: Phạm Phùng (đời 6)
Kĩ thuật: Phạm Phan (đời 6), Phạm Hanh, Phạm Thuận(đời 7)
Thiết kế: Thân mộ cao 0,95m, dài 3,5m rộng 2,5m. Tổng độ cao từ cốt 0 lên là
2,5m. Từ mặt mộ dựng 4 cột tròn cốt sắt, xung quanh để trống. Trên đổ mái che uốn
cong 4 góc. Trên nóc đặt Lỡng Long vọng Nguyệt. Bia đá nguyên khối, cao 1,5m,
rộng 0,75m dầy 0,06m. Hoa văn xung quanh chạm nổi, chữ Việt khắc chìm (bia đá
sản xuất tại Xí nghiệp chế tác đá Hoa L Ninh Bình). Vật liệu xây dựng: gạch đỏ,
cát vàng, xi măng, đá dăm, sát 8 +12. Nội dung bia:
HƯớNG DẫN ĐịA Lý
- Mộ cụ đặt tại địa chỉ: Nghĩa trang nhân dân Văn Thị, thị trấn Gôi, huyện Vụ
Bản, tỉnh Nam Định
Đến thị trấn Gôi, tại ngã ba có barie, vợt qua đờng sắt, đi vào chừng 100m, tới
ngã ba thôn Văn Thị, rẽ phải là tới nghĩa trang.
Vào trong nghĩa trang, đứng ở sân nhà thờ quan Thần linh, nhìn xuôi theo chiều
thoải của núi Gôi, đi theo đờng mòn lát gạch thì tới sau mộ cụ. Vợt lên trớc tìm bia sẽ
thấy.
Cao tổ bà Vũ Thị Ngạn

15
CAO Tổ
NGUYễN HữU THAI
1795 1847
Cúc Đình Thống Nhất
Hng Hà - Thái Bình
Lập bia 10 - 2008
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Theo hớng dẫn của thầy Thắng thì mộ cụ còn cách mộ nhà Đào Văn Hùng
(làng Chể, xã Phợng Sơn, Lục Ngạn, Bắc Giang) chừng 5m (năm đó Hùng khoảng 45
tuổi). Ngày 9 4 Mậu Tý (13 5 2008), đi Lục Ngạn khảo sát lần 1 gồm:
Phạm Xởng, Phạm Quý, Phạm D, cháu Phạm Bình, bớc đầu xác định mộ trên lng
chừng núi Phựơng Sơn; thuộc đất nhà anh Tuấn (khoảng 40 tuổi) quản lí. Hiện tại trên
đó có nhiều mộ, trong đó có 2 ngôi mộ tứ đại nhà anh Đào Hùng nằm song song
nhau, cạnh bờ dậu giữa vờn nhà anh Hùng và anh Tuấn.
Ngày 13 5 2008, Phạm Xởng, Phạm Phung, Phạm Hanh. Phạm Thạo đi
tìm lần 2, đã thuốn thăm dò nhng không kết quả.
Ngày 4 8 Mậu Tý (3 4 2008), Phạm Xởng về Điện bà Khánh ở Dân
Chủ kiều hỏi, cụ cho biết: Trong hai ngôi mộ nằn song song nhau mà thầy bảo là mộ
tứ đại của nhà Hùng, trong đó có một ngôi của cụ. Ngôi mộ không có cỏ mọc, đàng
sau có gốc cây to, giáp bờ dậu. Lí do vì đa cụ lên để đất trên này, song đờng xá xa
xôi, không có ngời trông nom, cụ đã độ cho nhà ấy cho nó trông giữ, bây giờ là mộ
của nhà nó nên không phải tìm và cũng không nhận đợc. Thỉnh thoảng có lên thì thăm
thôi, còn việc trông nom đã có nhà nó ở trên ấy.
Đến cuối năm 2008 thì nhà Hùng đã xây cả hai ngôi mộ này.
Ngày 1 10 Mậu Tý (29 10 2008). Cụ Phạm Nguyễn Phu cùng ông
Phạm Xởng, cháu Nam, Nhì, Thạo đã lên thắp hơng và xác nhận địa hình thực tế, ý
định sau này sẽ xây một bia tởng niệm cụ trên đó.
Ngày 15 11 2008, Phạm Xởng, Phạm D, cháu Nam, cháu Thạo đi lên nhà
anh Tuấn thơng lợng việc xây bia tởng niệm. Anh Tuấn nhất trí và đã gửi kinh phí lại.

Do không thống nhất đợc ý kiến trong họ về việc xây bia nên ngày 18 11
2008, Phạm Xởng đã lên nhà Tuấn thơng thảo lại và rút tiền về.
Tháng 3 2009, Phạm Xởng và cháu Phạm Thuận lên thăm mộ cụ và thắp h-
ơng tuởng niệm.
HƯớNG DẫN ĐịA Lý
Địa chỉ: Núi Phợng Sơn, làng Chể, xã Phợng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Băc
Giang.
Mộ nằm trên lng chừng đồi thuộc địa phận đất nhà anh Nguyễn Văn Tuấn (vợ
họ Vũ, có 4 con: 2 gái lớn và 2 trai). Từ cổng nhà anh Tuấn lên tới lng đồi, có hai ngôi
mộ song song, cách nhau chừng 2m. Mộ đợc xây từ cuối năm 2008. Theo hớng đi lên
thì mộ cụ nằm bên tay trái, giáp bờ dậu hai nhà Hùng và Tuấn.
Hớng đi: Qua thành phố Hải Dơng, tới Sao Đỏ đi theo tỉnh lộ 293 tới thị trấn
Đồi Ngô, huyện Lục Nam, về phố Kim thuộc xã Phợng Sơn huyện Lục Ngạn. Hỏi về
làng Chể cách đó chừng 3 km. Hoặc từ Lục Nam qua phà Tam Giang là tới chùa Chể.
Từ chùa Chể vào nhà Tuấn khoảng 4km.
Phần mộ cụ Nguyễn Hữu Dung đợc tìm và nhận lại ngay 18 4 Nhâm Thìn
(8 5 2012), do ông Xởng, ông Phung thực hiện. Hiện mộ vẫn ở nguyên vị trí cũ
nh trong gia phả đã ghi. Lễ tạ, nhận mộ ngày 21 4 Âm lịch (11 5 2012.
16
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Phần mộ hai cụ bà Nguyễn Thị Nga và Đinh Thị Thông (vợ cụ Dung) cũng đã
tìm và nhận đợc vào ngày 6 4 (nhuận) năm Nhâm Thìn (26 5 2012). Mộ vẫn
ở nguyên vị trí cũ nh trong gia phả đã ghi. Do ông Xởng và ông D thực hiện. Lễ tạ,
nhận mộ vào sáng ngày 28 5 2012.
Mộ của các cụ sẽ đợc hậu duệ đời 5 6 7 xây dựng và lập bia tại nơi để cũ
vào tháng 10 2012.
Tổng hợp đời thứ hai
1. Nguyễn Hữu Thai cụ bà Vũ Thị Ngạn
2. Nguyễn Hữu Dung Cụ bà Nguyễn Thị Nga và Đinh Thị Thông
3. Nguyễn Thị Vi

4. Nguyễn Thị Nhị
5. Nguyễn Thị Hợi
6. Nguyễn Thị Diệu
7. Nguyễn Hữu Biểu
8. Nguyễn Hữu Trà
MộT VàI Sự KIệN TRọNG YếU trong hành trình
tìm về cội nguồn đầu thế kỉ xxi
17
Tìm và đắp lại mộ cụ Nguyễn Hữu Thai tại nghĩa trang Văn Thị, thị trấn Gôi lúc
15 giờ ngày 15 4 2008.
ảnh: Phạm Nguyễn Nam
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
- Cuộc hành trình tìm về cội nguồn đã đợc các thế hệ con cháu đời 5, đời 6, đời 7 và
đời 8 thực hiện vào đầu thế kỷ XXI:
+ Năm 2003, các ông Phạm Ngọc Đức, Phạm Chiến Thắng từ Sài Gòn ra thực hiện
+ Tháng 7 2004 do ông Phạm Chiến Thắng từ Sài Gòn ra thực hiện.
+ Tháng 4 2005 tìm tại Lê Xá do ông Quý, ông Phung và ông Xởng thực hiện.
+ Tháng 5 2006 do ông Phạm Ngọc Đức từ Sài Gòn ra thực hiện.
+ Tháng 10 2007, ông Thắng và ông Xởng thống nhất việc tìm mộ ở núi Gôi
+ Ngày 28 3 2008 do ông Phạm Nguyễn Xởng, ông Phạm Nguyễn D, ông
Nguyễn Đức Nhiên thực hiện.
+ Tháng 5 năm 2008, thực hiện tìm mộ cụ ở Bắc Giang gồm: Phạm Quý, Phạm X-
ởng, Phạm D (đời 7), Phạm Bình (đời 8).
- Để tiến tới việc xây dựng mộ các cụ, trớc đó cụ Phạm Nguyễn Phu (đời 5) và tr-
ởng tộc Phạm Nguyễn Oánh (đời 6) đã gửi th kêu gọi anh em con cháu xa gần đồng
tâm hợp lực thực hiện công việc hết sức trọng đại này (có nội dung th kèm theo).
- Hội nghị gia tộc đợc chia thành hai khu vực:
* Khu vực phía nam đợc tổ chức vào ngày 29 6 2008 tại nhà ông Oánh ở
Bình Phớc do cụ Phu chủ trì. Thành phần tham dự gồm cụ Phu, ông Oánh, ông Phi,
ông Xởng. Tiếp theo là một cuộc vận động tại nhà cụ Phu (phờng Phú Giáo, quận 5,

TP Hồ Chí Minh), gồm cụ Phu, ông Xởng, ông Đức, ông Thắng.
* Khu vực phía bắc: nghe th của cụ Phu và ông Oánh; bàn biện pháp huy động
vốn; thành lập bộ phận chỉ đạo.
- Hội nghị đã thống nhất:
Quyết tâm xây toàn bộ các phần mộ tổ đã tìm đợc.
Nguồn vốn là huy động sự đóng góp tự nguyện của các thành viên trong họ
tộc; không phân bổ.
Mộ tìm thấy ở đâu, xây ngay tại đó, không di chuyển. Trớc khi xây phải làm
việc với chính quyền địa phơng và khảo sát thực địa, kiểm chứng tính xác thực.
Hình thức các lăng xây theo một mẫu thống nhất, còn kích thớc thì tuỳ theo
địa hình.
- Nhận đợc mộ cụ ở Lê Xá: 4giờ chiều ngày 12 4 2008
- Tạ mộ cụ ở Lê Xá: sáng 15 4 2008
- Nhận và đắp mộ cụ ở núi Gôi: 3 giờ chiều ngày15 4 2008
- Ngày 30 11 2008 khánh thành việc xây lăng các cụ tổ.
- Sau 4 năm yên ổn, ngày 13, 14 3 2011, toàn họ (gồm các đời 5, 6, 7, 8) tổ
chức thăm và tạ các phần mộ tổ.
- Tháng 12 2010 Phạm Ngọc Đức, Phạm Chiến Thắng (Đời 6 chi 3) từ
thành phố Hồ Chí Minh về thăm và lễ tạ mộ tổ.
18
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
DANH SáCH ĐóNG GóP XÂY Mộ Tổ (bằng tiền mặt)
STT Tên và địa chỉ
Số tiền
(VN đồng)
1.
Gia đình ông Phạm Nguyễn Oánh ở Bình Phớc 2 000 000
2.
Gia đình cụ Phạm Nguyễn ánh, Phạm Nguyễn Phu ở TP HCM 22 000 000
3.

Gia đình bà Phạm Thị Văn ở Bình Phớc 5 000 000
4.
Gia đình cháu Ông Phạm Nguyễn D Thái Bình 1 000 000
5.
Gia đình ông Phạm Nguyễn Du ở Tây Ninh 1 000 000
6.
Gia đình Cháu Phạm Nguyễn Toản Tây Ninh 200 000
7.
Gia đình ông Phạm Nguyễn Ngọ An Giang 1 000 000
8.
Gia đình Ông Phạm Nguyễn Xởng Thái Bình 1 000 000
9.
Gia đình Bà Phạm Thị Điệp Thái Bình 1 000 000
10.
Gia đình Bà Phạm Thị Trần Thái Bình 500 000
11.
Gia đình cháu Phạm Nguyễn Nam Thái Bình 100 000
12.
Gia đình cháu Phạm Thị Chi Thái Bình 100 000
13.
Gia đình Bà Nguyễn Thị Khải Thái Bình 1 000 000
14.
Gia đình Bà Phạm Thị Lê Thái Bình 500 000
15.
Gia đình Bà Phạm Thị Lý Thái Bình 500 000
16.
Gia đình Ông Phạm Nguyễn Diệp Thái Bình 1 000 000
17.
Gia đình Bà Phạm Thị Chuyên Thái Bình 200 000
19

Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
18.
Gia đình Bà Phạm Thị Mạc Thái Bình 250 000
19.
Gia đình Bà Phạm Thị Lợc Thái Bình 200 000
20.
Gia đình Ông Phạm Nguyễn Mùi Thái Bình 200 000
21.
Gia đình Ông Phạm Nguyễn Quý Thái Bình 1 000 000
22.
Gia đình cháu Phạm Nguyễn Nhì Thái Bình 100 000
23.
Gia đình cháu Phạm Nguyễn Hùng Thái Bình 100 000
24.
Gia đình cháu Phạm Văn Dũng Thái Bình 100 000
25.
Gia đình cháu Phạm Nguyễn Kim Thái Bình 100 000
26.
Gia đình Ông Phạm Nguyễn Phùng Thái Bình 1 000 000
27.
Gia đình Ông Phạm Nguyễn Phung Thái Bình 1 000 000
28.
Gia đình Ông Phạm Nguyễn Phan Thái Bình 1 000 000
29.
Gia đình cháu Phạm Nguyễn Hanh Thái Bình 100 000
30.
Cháu Phạm Nguyễn Thuận Thái Bình 100 000
31.
Gia đình cháu Bà Phạm Thị Nhâm Thái Bình 100 000
32.

Gia đình ông Phạm Nguyễn Phong ở TP Hồ Chí Minh. 500 000
33.
Gia đình cháu Bà Phạm Thị Từ Thái Bình 200 000
34.
Gia đình cháu Ông Nguyễn Đức Nhiên Thái Bình 100 000
35.
Gia đình cháu Bà Nguyễn Thị Huê Thái Bình 100 000
(Ghi chú: Cụ Phu còn một số khoản chi phí khác không thanh toán trong mục này).
20
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
CHI PHổ MậU Tý CHI Họ Tý
ĐờI THứ 3
CHI THứ NHấT
I. Nguyễn Hữu Lợi Là con trởng cụ Nguyễn Hữu Thai và Vũ Thị Ngạn. Cụ
Lợi sinh giờ Mùi ngày 19 6 năm Tân Mão (1831) năm Minh Mạng 12
Hoàng Triều Nguyễn.
21
(Ngày giỗ Nguyên tổ Nguyễn Hữu Thuỷ - 12 tháng 12 nm 2011)
nh: Phm Nguyn Nam
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Cụ làm nghề nông, chịu khó cày bừa, chăm chỉ học hành. Về sau, tuy có học
rộng nhng không làm việc làng. Cuộc sống thanh bần, thích giao du bạn bè. Cụ đợc
lập Thần chủ thờ tại Từ đờng.
Cụ bà là ngời cùng làng, tên Phạm Thị Tấn, sinh năm Bính Thân con gái cụ
Phạm Đình Cẩm (Hàng Nhị). Hai cụ sinh đợc các con là:
I.1. Phạm Nguyễn Thờng
I.2. Phạm Nguyễn Trạch
I.3. Phạm Nguyễn Dự
I.4. Phạm Nguyễn Mạo
I.5. Phạm Nguyễn Dực

I.6. Phạm Thị Lớn
I.7. Phạm Thị Con
Cụ Lợi mất ngày 18 4 Mậu Tuất (1913), thọ 83 tuổi.
Cụ bà Tấn mất ngày 6 9 Bính Ngọ (1920), thọ 61 tuổi. Hiệu Từ Hoà
Nhu Nhân, phong Thần chủ bản gia.
Mộ hai cụ trớc không ghi lại ở xứ nào. Ngày 25 11 2008, Phạm Xởng
hỏi tại điện thầy Thắng ở Hng Yên thì đợc biết mộ hai cụ ở Đống Giáp. Mộ hai cụ đã
đợc xây dựng tại nơi để, không di chuyển. Khởi công ngày 25 11 2008, hoàn
thành ngày 18 12 2008. Đã dựng bia. Khi xây có khảo sát: Tiểu sành, gạch đậy
còn, hớng mộ nhìn về Đông Đông Nam, bên cạnh là mộ cháu nội Tuy, Bé và mộ ông
Duy, phía trớc là mộ tổ họ Nguyễn Văn (theo đạo thiên chúa).
CHI THứ HAI
II. Nguyễn Hữu Đa Là con thứ hai cụ Nguyễn Hữu Thai. Cụ Đa sinh tháng
6 nhuận năm ất Mùi (1835), năm Minh Mạng - Hoàng Đế. Cụ lấy vợ ngời làng là
Đinh Thị Lục, con cụ Đinh Trọng Mai. Hai cụ sống bằng nghề canh nông. Nhờ cần cù
chịu khó nên gia đình khá giả. Tính tình hoà nhã, chăm lo con cháu. Cụ đã từng giữ
chức Lý Trởng trong làng. Hai cụ sinh đợc các con là:
II.1. Phạm Nguyễn ích
II.2. Phạm Nguyễn Thuần
II.3. Phạm Nguyễn Tuý
II.4. Phạm Nguyễn Nhĩ
II.5. Phạm Nguyễn Niêm
II.6. Phạm Thị Thục
II.7. Phạm Thị Thuỳ
II.8. Phạm Thị Ty
Cụ Đa mất ngày 8 8 Nhâm Dần (1912), thọ 68 tuổi. Phần mộ đã xây và
dựng tại đờng Cổng Gạo, đất làng.
22
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
Cụ Lục giỗ ngày 15 tháng Giêng. Phần mộ đặt tại đờng Võng, đống Trớc Cửa,

cánh Đồng Dũng. Mộ đã nâng cấp năm 2007.
CHI THứ BA
III. Nguyễn Hữu San Là con út cụ Nguyễn Hữu Thai. Cụ San sinh ngày 24
8 - Canh Tuất, năm Minh Mạng Hoàng Đế. Thuở nhỏ cụ đợc học nhiều, t chất
thông minh, cần mẫn. Khi thi cụ đỗ đầu khoá nên đợc phong Kinh khoa Nhất trờng.
Về làng cụ làm Tiên Chỉ. Khi mất cụ đợc lập Thần chủ Bản trang Tiên chỉ, Bản giáp
trùm T Văn hội; Hội đồng Bản tổng.
Cụ có hai vợ: Bà cả là Nguyễn Thị Thấu ngời thôn An Khoái không có
con; giỗ ngày 1 8. Mộ để tại Đờng Xăng. Bà kế là Phạm Thị Ngàn con gái cụ
Phạm Văn Tốn, thôn Tam Kỳ - xã Xuần Cầu - huyện Văn Giang - tỉnh Bắc Ninh. Cụ
sinh đợc các con:
III.1. Phạm Nguyễn Cáp (Tự là Lý, Hiệu là Lói)
III.2. Phạm Nguyễn Nhiễm.
III.3. Phạm Nguyễn Thênh
III.4. Phạm Thị Viện
Cụ San mất ngày 21 10, Đinh Tỵ (1917). Cụ Ngân mất ngày 11 5, ất Sửu
(1925). Phần mộ hai cụ đã đợc cháu nội Phạm Nguyễn ánh xây cất năm 1998 tại
Đống Miễu, Cửa Chùa. Đến tháng 9 2006, Phạm Nguyễn Phu về nâng cấp.
Phần tổng hợp:
Đời 3 có 3 chi
Chi I: Nguyễn Hữu Lợi
Chi II: Nguyễn Hữu Đa
Chi III: Nguyễn Hữu San
CHI PHổ Họ CANH Tý CHI Họ Tý
ĐờI THứ 4 CHI THứ NHấT
I.1. Phạm Nguyễn Thờng (Tự Chính) Là con trởng cụ Nguyễn Hữu Lợi và cụ
Phạm Thị Tấn. Sinh giờ Tuất, ngày 2 4 năm Bính Thìn (1856), đời Tự Đức
Hoàng Đế. Cụ Chính đậu Tú tài khoa Mậu Dần, năm đó cụ 17 tuổi. Sau cụ theo một
thủ lĩnh khởi nghĩa ở Bất Bạt. Cuộc khởi nghĩa thất bại và tan rã tại Bần, Yên Nhân.
Cụ quay về Lý Nhân, Hà Nam là quê cụ bà. Lúc đó cụ Trần Nh Sơn đang tại vị. Cụ đ-

23
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
ợc bổ làm quan Trờng Tố Hơng S Chùm T Văn Hội huyện Lý Nhân. Tại đây cụ có
nhiều bạn bè và học trò nên đã hỗ trợ cụ trong việc đi tìm đất đặt mộ tổ sau này (vào
năm 1895, năm đó cụ khoảng 39 tuổi).
Ngời vợ đầu là Nguyễn Thị Ty, con cụ Nguyễn Văn Cấp (ngời thôn Ngọc
Đình), sinh đợc các con là:
I.1.1. Phạm Nguyễn Lĩnh
I.1.2. Phạm Thị Thính.
Ngời vợ kế là Nguyễn Thị Phúc, con cụ Nguyễn Công Bính ở Tiên La, sinh đợc
các con là:
I.1.3. Phạm Nguyễn Kính
I.1.4. Phạm Thị Năm
Ngời vợ thứ ba là Trần Thị Viễn, con cụ Trần Nh Sơn, ngời thôn Đà Xuyên
(thôn Chanh), huyện Nam Xơng (Lý Nhân), Hà Nam. Đã sinh đợc các con:
I.1.5. Phạm Nguyễn Trí
I.1.5. Phạm Thị Bản
I.1.6. Phạm Nguyễn Mẫn
I.1.7. Phạm Nguyễn Chỉnh
I.1.8. Phạm Thị Hoà
I.1.9. Phạm Thị Thực
Cụ ông Phạm Nguyễn Chính mất ngày 6 8 ất Sửu (1925) Triều Khải
Định thọ 70 tuổi. Phần mộ lúc đầu để ở đống Trớc Cửa, cánh Đồng Dũng, sau
chuyển về Đống Giáp (do Phạm Nguyễn Mẫn, Phạm Nguyễn Chỉnh cùng hai cháu là
Nguyễn Đức Nhiên, Nguyễn Đức Phi ở Ngọc Liễn thực hiện). Hớng để: nhìn về đình
An Khoái. Năm 1994, mộ đã xây. Đến năm 2007 mộ đợc nâng cấp với kinh phí
7500000 đồng (do bà Văn là cháu gái nội đầu t). Mẫu lăng: Nguyễn Đức Nhiên. Công
làm: con cháu đời 6 tham gia (Trần, Khải, Lê, Tán, Nhiên, Diệp, Chuyên, Điệp, X-
ởng, Huê, ).
Cụ bà Trần Thị Viễn, sinh năm 1874, mất ngày 29 2 Mậu Tý (1948). Phần

mộ lúc đầu để ở xứ Đống Gai, lần hai ông Trí, ông Mẫn, ông Chỉnh chuyển về sau
chùa, sau chuyển về khu Đống Đề (hiện nay là nghĩa trang nhân dân Đống Đề, thôn
An Khoái). Năm 1994, mộ cụ đã đợc xây và dựng bia do các ông, bà: Trần, Khải, Lê,
Tán, Nhiên, Chuyên, Điệp, Xởng thực hiện. Đến năm 2007 nâng cấp thành lăng
cũng với các thành viên trên và có thêm sự tài trợ của bà Phạm Thị Văn (Phi).
Hớng để: nhìn về đình làng thôn Hoành Đại. Phía trớc là mộ ông Thạch, ông Bàn
ngời cùng làng.
I.2. Phạm Nguyễn Trạch (Tự Huy) Là con trai thứ hai của cụ Nguyễn Hữu Lợi và
cụ Phạm Thị Tấn. Sinh năm Mậu Ngọ (1858), đời Tự Đức, Triều Hoàng Nguyễn. Cụ
học chữ Hán, đỗ thủ khoa Khoá sinh. Cụ mở lớp dạy học tại làng nên sau này có tên
24
Gia phaỷ hoù Phaùm Nguyeón 1795 - 2012
là cụ Đồ Huy. Đơng thời cụ đã cúng tiến vào chùa làng bức Đại tự. Trong Lạc khoản
có ghi: Thủ khoa Khoá sinh Nguyễn Hữu Huy. Nội dung Đại tự: Từ - Minh - Phổ.
Ngời vợ đầu là Tạ Thị Bổng, con gái cụ Tạ Bá Hiếu (xã Trung Lập).
Ngời vợ thứ là Trần Thị Tiễu, con gái cụ trần Đức Hinh (xã Trung Lập), sinh đ-
ợc các con:
I.2.1 Phạm Thị C
I.2.2 Phạm Thị Vu
I.2.3. Phạm Nguyễn Lạn
I.2.4. Phạm Nguyễn Hoán
I.2.5. Phạm Nguyễn Huyên
- Cụ Phạm Nguyễn Huy mất năm 1921 thọ 64 tuổi. Mộ để ở xứ Cổ Bầu, giỗ
ngày 18 tháng 8. Cụ bà Trần Thị Tiễu, giỗ ngày 7 tháng 5. Cụ bà Tạ Thị Bổng không
có thông tin.
- Năm 2002 mộ hai cụ đã đợc quy tập về xứ Đống Miễu cùng với mộ ông Phạm
Nguyễn Lạn (là con trai)
I.3. Phạm Nguyễn Dự Là con trai thứ ba của cụ Nguyễn Hữu Lợi và cụ Phạm Thị
Tấn. Có hai con là Hân và Hoán. Hiện không có thông tin.
I.4. Phạm Nguyễn Dực Là con trai thứ t của cụ Nguyễn Hữu Lợi và cụ Phạm Thị

Tấn. Cụ mở lớp dạy học ở Vang xã Dân Chủ, đồng thời lập gia đình tại đó. Có con
là Ngân, Hoán. Hiện cũng không có thông tin.
I.5. Phạm Nguyễn Mạo Là con trai thứ năm của cụ Nguyễn Hữu Lợi và cụ Phạm
Thị Tấn. Mất năm 6 tuổi, năm Giáp Thân, giỗ 14 7).
I.6. Phạm Thị Lớn Là con gái của cụ Nguyễn Hữu Lợi và cụ Phạm Thị Tấn. Lấy
chồng là cho Trần Khắc Lợng con ông Trần Khắc Thành ở xã Đa Xuyên, huyện Nam
Xơng, tỉnh Hà Nam. Sinh đợc các con là:
Trần Khắc Chới lấy vợ có con là có Trần Khắc Nghị, Trần Khắc Thảo.
Trần Thị Phỏng
Trần Thị Quyên
Trần Thị Thực
Trần Thị Hân
Trần Thị Hoán
I.7. Phạm Thị Con Là con gái của cụ Nguyễn Hữu Lợi và cụ Phạm Thị Tấn. Lấy
chồng là Nguyễn Văn Mùi ở Ngọc Đình. Hiện không rõ thông tin.
ĐờI THứ 4 CHI THứ HAI
II.1. Phạm Nguyễn ích - Là con đầu cụ Nguyễn Hữu Đa và Đinh Thị Lục (mất
năm 7 tuổi).
25

×