Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

Giải pháp nhằm bảo tồn và khai thác có hiệu quả khu phố cổ trong các tour du lịch ở thủ đô

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (149.91 KB, 27 trang )

Lời mở đầu
Toàn cầu hoá hiện nay đang là một xu thế tất yếu đối với sự phát triển của
nhân loại trên nhiều lĩnh vực. Nó đã góp phần tạo cơ hội cho việc giao lu văn
hoá giữa các nớc trên thế giới. ở Việt Nam vấn đề này đã góp phần không nhỏ
trong quan hệ hợp tác với các quốc gia khác, tạo nền tảng cho việc phát triển
kinh tế, song mặt khác nó lại đặt ra những thách thức cho việc bảo vệ bản sắc
văn hoá dân tộc. Phố cổ Hà Nội là một trong những địa điểm bị xu hớng tân
thời hoá,a chuộng đồ ngoại làm cho biến dạng. Hiện nay trong quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hoá, để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt ngời dân phá bỏ nhà cũ
xây dựng những ngôi nhà mới theo phong cách, kiến trúc hiện đại, bên cạnh đó
những ngôi nhà cũ vài trăm tuổi cha bị phá bỏ thì ở trong tình trạng xuống cấp
nghiêm trọng. Tình trạng này đang làm Hà Nội dần mất đi một di sản văn hoá
đáng tự hào, ngành du lịch mất đi một nguồn tài nguyên văn hoá trong việc phát
triển du lịch văn hoá của thủ đô. Chính vì thế vấn đề cải tạo, bảo vệ và tôn tạo
khu di tích này hiện nay đang là vấn đề đáng quan tâm của chính quyền địa ph-
ơng và thành phố.
Là một sinh viên kinh tế sau này sẽ làm việc trong lĩnh vực du lịch, vấn đề
bảo tồn phố cổ đã thu hút sự quan tâm của em.
Trong bài viết này em xin phân tích phố cổ ở khía cạnh giá trị văn hoá của
nó đối với việc phát triển du lịch và vấn đề khai thác những giá trị đó vào các
tour du lịch của thủ đô trong hiện tại và tơng lai.
Em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Ngô Đức Anh đã hớng dẫn và giúp đỡ
em hoàn thành đề án này.
1
I. Phố cổ Hà Nội và nét hấp dẫn của phố cổ đối với du
khách
1. Vài nét về phố cổ Hà Nội:
Hà Nội không chỉ là trung tâm kinh tế, chính trị mà đây còn là trung tâm
văn hoá của nớc Việt Nam. Hà Nội là nơi hội tụ những tài nguyên tự nhiên và
nhân văn phong phú, đa dạng, với một bề dày lịch sử gần 1000 năm đã trở thành
một trong những điểm đến du lịch hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nớc.


Lịch sử ngàn năm Quốc Đô - Thăng Long Hà Nội bắt đầu từ đời Lý Công
Uẩn (1010) khi ông quyết định dời đô từ Hoa L (Ninh Bình) ra Thăng Long (Hà
Nội). Nhận thấy đây là một địa thế ở giữa khu vực trời và đất, có thế rồng cuộn
hổ ngồi nên ông đã cho xây dựng đô thị Thăng Long với cấu trúc tam trùng
thành quách (trong thành ngoài thị). Trải qua chiều dài thời gian trong di sản
đô thị Hà Nội , toà thành cổ hầu nh đã tan biến và chỉ còn hiện diện bởi những
công trình kiến trúc đơn lẻ. Song nó lại đợc đặc trng bởi một cơ cấu đô thị hết
sức đặc thù - đó là khu phố cổ hay còn gọi là khu vực 36 phố phờng. Trớc đây
dới triều đại Lý, Trần, Hậu Lê đây là trung tâm thơng mại của Thăng Long, là
phần thị trong kiến trúc xã hội tam trùng thành quách.
Khi thực dân Pháp xâm chiếm Hà Nội năm 1886, chúng đã phá huỷ gần
nh toàn bộ hệ thống các di tích văn hoá, kiến trúc truyền thống nằm xung quanh
khu vực hồ Hoàn Kiếm để lấy chỗ xây dựng khu phố Tây. Song song với việc
hoàn thiện khu vực trung tâm hồ Hoàn Kiếm, ngời Pháp đã tiến hành chỉnh sửa
trong khu vực 36 phố phờng của Hà Nội. Nhng do ảnh hởng của phơng thức
xây dựng mới vẫn còn ở mức độ hạn chế, ngời Hà Nội vẫn tiếp tục phơng thức
xây dựng Việt Nam truyền thống trong sửa chữa và xây dựng mới những ngôi
nhà của mình. Đó là những ngôi nhà kết cấu gỗ là chủ yếu, mái lợp ngói ta,
chiều rộng nhà hẹp và phát triển sâu vào phía trong lô đất bằng những lớp nhà
kế tiếp những lớp sân trong. Chính vì vậy, nhìn chung khu phố này vẫn mang
nét truyền thống quen thuộc bên cạnh khu phố Tây đang hình thành với
những đờng nét qui hoạch và kiến trúc đợc du nhập từ châu âu. Sau này hai khu
2
vực này đợc gọi là khu phố cổ và khu phố cũ làm nên niềm tự hào của cả
Hà Nội mà không phải bất cứ thành phố nào ở Việt Nam cũng nh nhiều nớc
khác có nổi. Hai thuật ngữ này mới chỉ ra đời từ năm 1995, là một qui ớc để
tiện cho việc nghiên cứu và tìm giải pháp bảo vệ. Thành phố Hà Nội tạm thời
qui định khu phố cổ là khu phố có hình tam giác (nhng kỳ thực là hình
thang), hai cạnh ngang là phố Hàng Đậu và dãy phố Hàng Bông Hàng Gai
Cầu Gỗ Hàng Thùng. Hai cạnh dọc là phố Trần Nhật Duật và dãy phố

Hàng Cót Hàng Gà - Hàng Điếu Hàng Da. Còn khu phố cũ gồm ba khu
vực: khu nhợng địa, khu thành cũ và khu nam Hồ Gơm.
Khu nhợng địa hình chữ nhật, hai cạnh dài là đờng Bạch Đằng và phố Lê
Thánh Tông Trần Thánh Tông, hai cạnh ngang là đoạn đầu phố Tràng Tiền
và phố Nguyễn Huy Tự. ở đây gồm những công trinh kiến trúc kiểu chính
thống, mái lợp ngói đá đen, mặt bằng có hành lang chạy bốn xung quanh, nhà
cuốn hình cung.
Khu thành cũ gồm các phố Phan Đình Phùng, Hùng Vơng, Hoàng Diệu,
Điện Biên Phủ, Lê Hồng Phong, Chu Văn An, Trần Phú. Các biệt thự ở đây th-
ờng theo kiến trúc miền Bắc nớc Pháp, mái dốc, các chi tiết trang trí ở cửa sổ, ở
nóc diêm dúa, tỉ mỉ.
Khu nam Hồ Gơm là một hình chữ nhật mà hai cạnh dài là Tràng Thi
Tràng Tiền và Trần Hng Đạo, hai cạnh ngang là Phan Bội Châu và Phan Châu
Trinh. Khu vực này đợc xây dựng đồng thời với khu vực thành cũ song qui
trình, qui hoạch có chậm hơn vì phải giải toả nhiều làng xóm. ở khu vực này đa
số cũng là biệt thự nhng mái không dốc, nhiều cửa theo kiến trúc Nam Pháp.
Hai khu vực này đã tạo nên một công trình kiến trúc đô thị mang phong
cách á - âu, đợc xây dựng thích nghi với môi trờng truyền thống và thiên nhiên
của Hà Nội mà ngời xa gửi lại cho chúng ta và truyền cho đời sau.
2. Nét hấp dẫn của phố cổ đối với du khách:
Hà Nội 36 phố phờng là một di sản văn hoá của dân tộc. Nó có giá trị
rất lớn trong lĩnh vực kinh doanh du lịch. Các di tích lịch sử văn hoá trong khu
3
phố cổ đã làm cho sản phẩm du lịch đặc trng 3H của Hà Nội là: Hà Nội lịch sử
(history), Hà Nội anh hùng (heroism), Hà Nội mến khách (hospitality) càng
thêm hấp dẫn.
Điểm thu hút đầu tiên của khu phố này mang đến cho khách du lịch không
chỉ giá trị văn hoá vật thể mà còn có cả giá trị văn hoá phi vật thể bao gồm
trong nó.
2.1. Giá trị văn hoá vật thể.

Giá trị văn hó vật thể đợc thể hiện ở công trình kiến trúc độc đáo trong khu
phố. Trớc khi thực dân Pháp xâm lợc các ngôi nhà trong khu phố đều có chung
một dáng dấp đó là những ngôi nhà ống. Nhà nh một cái ống bề ngang hẹp,
chiều dài sâu có khi thông ra một ngõ khác, phố khác. Bố cục cũng tơng tự
nhau: gian ngoài là chỗ bán hàng hoặc làm hàng. Tiếp đó là một khoảng sân lộ
thiên để lấy ánh sáng, ngời dân thờng gọi là giếng trời là nơi giao hoà giữa
đất và trời, là một nét văn hoá trong triết lý âm dơng của ngời Hà Nội xa.
Gian nhà trong mới là nơi ăn ở và nối vào đó là khu phụ. Đa số là nhà một tầng
lợp bằng những viên ngói cong hình mũi hài, đợc sắp xếp khéo léo vừa chống
nắng, che ma vừa tạo hình vảy rồng rất hấp dẫn. Đây là kiểu nhà dân dụng và
phổ biến của ngời dân Thăng Long xa. Nhà vừa là xởng sản xuất thủ công vừa
là cửa hàng và là nơi sinh hoạt của gia đình. Các ngôi nhà xây sát cạnh nhau thể
hiện văn hoá cộng đồng, làng xã của ngời Việt Nam. Cái hấp dẫn du khách của
khu phố cổ chính là ở chỗ này, ở cái tổng thể do ngời xa đã sắp xếp thành một
cơ thể đầy sống động, khăng khít, gắn bó kề tựa nhau mà tồn tại, sinh sôi
4
Quang cảnh một góc phố Hàng Bạc năm 1883 trớc khi thực dân Pháp
tiến hành tu sửa
Khi thực dân Pháp tiến hành chỉnh sửa lại khu phố, các ngôi nhà đợc xây
lại kiên cố nhng vẫn theo kiến trúc cổ. Các ngôi nhà vẫn đợc xây dựng theo
hình ống với bề rộng rất hẹp quay mặt ra phố, từ 3-5 m, chiều sâu vài chục mét,
chiều cao thờng là tầng rỡi đôi khi là hai tầng. Tuy hình thức trang trí bên ngoài
theo lối kiến trúc châu âu có làm biến dạng khu phố nơi ít, nơi nhiều, song
bóng dáng của thời xa (dù chỉ là của thế kỷ 19) vẫn còn lu lại ở dăm căn nhà
này, ở vài đoạn phố kia và đặc biệt là ở cái không gian văn hoá vẫn đậm đà h-
ơng vị cổ. Dới đây là một góc kiến trúc phố Hàng Đào vào năm 1926.
5
Khách du lịch đến khu phố cổ cũng nhận thấy đợc cơ cấu kiến trúc đô thị
Thăng Long xa qua những dãy phố hẹp, chi chít dọc ngang liên kết với nhau theo
kiểu bàn cờ. Chính tỉ lệ không gian kiến trúc phù hợp với tỉ lệ kích thớc đờng phố,

với con ngời và các hoạt động đa dạng của con ngời ở những thời kỳ cha có phơng
tiện cơ giới đã tạo nên sự thu hút và quan tâm của khách du lịch. Họ không chỉ
nhìn ngắm những dấu tích lịch sử mà muốn tìm hiểu sâu về kiến trúc tổng thể mà
cha ông ta đã bố trí không chỉ để sống, sinh hoạt mà còn để phòng vệ trớc các cuộc
chiến tranh. Cơ cấu phố cổ nh mộ bức tờng thành vững chắc bao bọc, che chở cho
phần đô nằm bên trong.
Bên cạnh đó trong khu phố cổ còn rất nhiều công trình đền, chùa, miếu
nằm rải rác trong nhiều đờng phố cổ kính, sang trọng thể hiện một khía cạnh
trong tâm hồn Hà Nội xa luôn tìm cách hoà đồng với một thế giới tâm linh. Các
di tích đình, đền là sản phẩm sáng tạo độc đáo, thiêng liêng của mỗi làng quê,
là sự kết tinh, tồn đọng văn hoá làng xã Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử
dân tộc. Theo thống kê trên phạm vi 100ha của khu phố cổ đã từng có 100 di
tích là nơi thờ tự của các phờng cũ, nơi thờ tổ nghề, Thành Hoàng Hà Nội. Hiện
nay chỉ còn lại 54 ngôi đình, 6 chùa, 22 đền, 3 miếu. Trong đó có một số di tích
đợc xếp hạng nh đền Bạch Mã, đình Thanh Hà, chùa Cầu Đông rất thu hút đ -
ợc du khách tới thăm, tìm hiểu những chứng tích đô thị của một nớc châu á gốc
nông nghiệp dẫu đã ra phờng phố nhng vẫn giữ những tín ngỡng tôn giáo (mà
chủ yếu là đạo phật).
6
Các ngôi chùa, đền ở đây đợc xây dựng theo lối kiến trúc rất đặc trng của Việt
Nam. Các mái đền, chùa đều đợc uốn cong và chạm trổ hình đầu rồng rất cầu kỳ.
Các chi tiết trang trí từ hình dáng bên ngoài nh mái chùa, cổng chùa cho đến
những chi tiết bên trong nh hơng án, cột gỗ đều rất tinh xảo, khéo léo, có giá trị
nghệ thuật cao. Trong chùa còn lu giữ nhiều cổ vật đáng giá:
Chùa Cầu Đông còn lu giữ bốn tấm bia có các niên đại 1624, 1639, 1711,
1816. Đặc biệt là bia 1624 có tên là Đông Môn tự ký do nhà s Nguyễn Văn
Hiệp dựng, kể lại việc chính ông mua thêm đất mở rộng khuôn viên và xây
dựng mở mang chùa. Ngoài ra trong chùa còn có một quả chuông đúc năm
1800 còn nguyên niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8.
Còn ở đền Bạch Mã có di vật quý là pho tợng thần Long Đỗ bằng đồng, t-

ơng truyền có từ thế kỷ 18.
ở các đình chùa còn lu giữ nhiều pho tợng phật rất đẹp và có giá trị. Nh
vậy phố cổ không chỉ mang những nét kiến trúc chung đặc trng của xã hội nông
nghiệp Việt Nam mà nó còn có những nét riêng biệt của khu đô thị Thăng Long
làm nên sức hấp dẫn và thu hút của khu phố.
2.2. Giá trị văn hoá phi vật thể
Khi đến phố cổ khách du lịch đều cảm thấy thú vị và tò mò trớc hàng loạt
dãy phố bắt đầu bằng từ Hàng: Hàng Bạc, Hàng Bè, Hàng Bài, Hàng Bông,
Hàng Đào Nhìn ở góc độ văn hoá, đây là sự hiện diện của một nền văn minh
nông nghiệp châu thổ sông Hồng mà Hà Nội là tâm điểm. Khu vực 36 phố ph-
ờng chính là nơi giao lu buôn bán, trao đổi hàng hoá, là nơi tập trung tất cả các
sản vật có tiếng của miền núi, miền đồng bằng và miền biển. Nhng nét đặc biệt
là mỗi phố Hàng đều buôn bán một loại tơng ứng với tên phố nh: Hàng Đào
bán lụa, Hàng Trống bán trống Các sản phẩm đ ợc buôn bán và trao đổi đều là
những đồ dùng thiết yếu có quan hệ mật thiết với sản xuất lúa nớc, sản phẩm
nông nghiệp và nghề sông nớc nh: muối, khoai, cuốc, bừa, bồ, cót
Có thể nói khu vực này hội tụ hầu hết các ngành nghề thủ công truyền
thống của Việt Nam ở khắp mọi miền đất nớc. Những ngời thợ thủ công đã đa
ngành nghề của quê hơng mình lên Hà Nội làm ăn. ở chốn kẻ chợ xầm uất này
sự cạnh tranh đọ sức đua tài diễn ra rất mạnh mẽ, phải nghề tinh tài cao mới trụ
nổi và phát triển đợc. Vì vậy những cái còn lại và phát triển là những cái tiêu
7
biểu, tinh hoa của các vùng trong nớc. Để giúp nhau trong sản xuất và buôn bán
cũng nh trong việc giữ gìn nghề tổ những ngời thợ thủ công liên kết với nhau
tạo ra những phờng hội - đó là những phố Hàng mà chúng ta thấy ngày nay.
Mỗi phố Hàng có tính đặc thù và tính chuyên biệt cao. Một khách nớc ngoài
khi đến thăm phố cổ đã rất ngạc nhiên viết: Mỗi loại hàng hoá đều có một phố
riêng. ở phố Bát Sứ tất cả đều xanh. Tiếp đến phố Bát Đàn tất cả đều đỏ.
Rồi đến phố Hàng Đồng lấp lánh kim vàng chói. Phố Hàng Thêu và phố Hàng
Tranh màu sắc tơi vui rực rỡ. Điều này thoạt nhìn có vẻ vô lý về phơng diện th-

ơng mại, nhng nó lại là cách tổ chức có lợi cho ngời bán. Họ có điều kiện tơng
trợ giúp đỡ nhau trong việc định giá, giữ giá, vay mợn hàng, giới thiệu khách
hàng cho nhau Đây là một biểu hiện cụ thể của tính cộng đồng của ng ời Việt
Nam Buôn có bạn, bán có phờng. Môi trờng sống này đã đi vào văn hoá và để
lại dấu ấn không phai mờ về một khía cạnh đắc sắc của nền văn hoá nông
nghiệp điển hình ở phơng Đông. Ngày nay các sản phẩm đợc bán ở các phố đã
thay đổi phong phú và nhiều loại hơn, không chỉ đơn thuần là một mặt hàng nh
trớc đây. Chính những sản phẩm thủ công truyền thống đã giúp cho sự phát
triển của hệ thống các cửa hàng bán đồ lu niệm, tạo ra một khu vực shopping lý
tởng cho du khách đến thăm và mua đồ lu niệm.
Phố cổ cần còn có nhiều món ăn truyền thống nh:
Chả cá lã vọng là món ăn đặc biệt của phố Chả Cá. Nó ra đời ở cuối thế kỷ
19, do một gia đình họ Đoàn ở số nhà 14 phố này nghĩ ra cách chế biến. Món
ăn này dần dần đợc ngời Hà Nội a thích, trở nên nổi tiếng đến nỗi tranh đoạt đ-
ợc cả tên gọi cổ truyền của dãy phố.
ở phố Hàng Than thì nỗi tiếng với món bánh cốm đợc chế biến từ nếp non.
Đây nguyên là thứ bánh cới, thay cho cánh thiếp báo hỷ đánh dấu những ngày
vui của các cặp vợ chồng mới.
Ngoài ra phố cổ còn nhiều món ăn đặc trng khác, nó không chỉ thể hiện ở
sự tinh diệu trong nghệ thuật ẩm thực Hà Nội, mà nó còn thể hiện nét văn hoá
ăn uống của chốn kinh kỳ xa. Điều đó không chỉ thúc đẩy động cơ đi du lịch
tìm hiểu nghiên cứu mà nó còn thu hút các đối tợng khác muốn thởng thức hơng
vị món ăn xa của ngời Việt Nam.
8
Phố cổ là nơi buôn bán sầm uất nhất, là nơi qui tụ ngời dân ở khắp miền tổ
quốc nên các lễ hội dân gian trong khu phố cũng rất phong phú. Đó là những nghi
thức, lễ tiết nông nghiệp thờ nớc, thờ lúa cùng các sản phẩm của cây lúa điển hình
nh lễ tế xuân ngựu, với tục đả xuân ngu ở phờng Đông Hà xa đợc trải dài trên
phố Hàng Chiếu đến tận Hàng Gai bây giờ. Lễ hội thể hiện khía cạnh tâm linh của
ngời Hà Nội xa muốn tìm kiếm một năng lợng vô hình mà họ tin tởng, thể hiện lòng

kính trọng của họ với Thành Hoàng, tổ nghề
Nói tóm lại khu phố cổ chủ yếu cổ ở cái qui hoạch thời xa của nó khách du
lịch vẫn có thể thấy nó cổ ở những phố ngắn, những con đờng hẹp đan xen nhau
nh một bàn cờ. Và nó vẫn giữ nét đặc biệt của 36 phố phờng từ xa là một khu vực
buôn bán sầm uất nhất thủ đô, là nơi hội tụ nhiều ngành nghề thủ công truyền
thống, là nơi du khách có thể thởng thức những món ăn độc đáo. Các giá trị của
phố cổ là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lịch nghiên cứu tìm
hiểu, du lịch theo chuyên đề cho những ngời có nhu cầu tìm hiểu về quá trình phát
triển của Thăng Long Hà Nội qua các thời đại.
II. Hiện trạng của phố cổ Hà Nội
1. Hiện trạng xây dựng và tu tạo phố cổ:
a. Hiện trạng xây dựng:
Nh chúng ta đã biết các ngôi nhà đợc xây dựng trong khu phố cổ từ thế kỷ
19 hoặc trớc đó đều có chung một kiến trúc là nhà hình ống. Không gian kiến
trúc này gần nh thống nhất, do đó không khí vẫn lu thông, ngôi nhà vẫn thở.
Tiếc rằng đến nay cơ cấu c dân một nhà ống + một gia đình hầu nh không còn
nữa. Trớc làn sóng di c ra đô thị ngày càng tăng đã làm cho dân số Hà Nội tăng
lên đáng kể mà tập trung nhiều nhất ở khu phố cổ. Theo thống kê hiện nay
trong khu phố cổ có khoảng 15270 hộ gia đình sinh sống với dân số thực tế th-
ờng trú là 66191 ngời trên diện tích đất ở là 326750 m
2
. Điều này đã dẫn đến
tình trạng có nhiều gia đình, thậm chí cả chục gia đình trú ngụ trong một ngôi
nhà ống, làm cho điều kiện sinh sống trở nên không chấp nhận đợc. Nhất là hệ
thống nớc và vệ sinh đợc xây dựng ở những thế kỷ trớc với t cách sinh hoạt thô
sơ đã không còn phù hợp. Cùng với sự tàn phá của thời gian, ma nắng, mối mọt
đã làm cho các ngôi nhà xuống cấp trầm trọng. Khu vực phố cổ trở thành nơi ô
9
nhiễm nặng nhất, c dân phải sống trong những căn nhà thiếu ánh sáng và không
khí, tối tăm và ngột ngạt. Ta có thể thấy rõ điều đấy qua bức tranh về quang

cảnh phố Hàng Buồm hiện nay.
Do đòi hỏi của sinh hoạt ngời dân đã phá nhà cũ xây nhà mới. Tuy Đảng
và nhà nớc có chủ trơng và chính sách đúng đắn và quan tâm đến việc bảo tồn
phát huy giá trị di tích lịch sử văn hoá, nhng trong quá trình đô thị hiện nay,
do yếu tố tự phát, tính tổ chức và tính pháp luật trong hoạt động đô thị yếu nên
các ngôi nhà đợc xây dựng không có qui hoạch. Nơi đây đã mọc lên nhiều nhà
3-4 tầng, cửa sắt khép kín, các mặt tiền ốp đá rửa pha tạp các kiểu dáng kiến
trúc du nhập từ Nhật, Pháp, Mỹ đã phá vỡ cơ cấu kiến trúc cổ của khu phố.
10

×