Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Phương pháp chẩn đoán bệnh cột sống, tủy sống (Kỳ 2) ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (219.8 KB, 6 trang )

Phương pháp chẩn đoán bệnh
cột sống, tủy sống
(Kỳ 2)
2.1.1.4. Tiến triển đau:
+ Chấn thương cột sống đơn thuần gây giãn rách dây chằng lún cột sống
nhẹ, đau cấp tính bất động và thuốc giảm đau tiến triển tốt giảm dần hết đau.
+ Chấn thương cột sống có xẹp và di lệch rõ: đau - khỏi - đau mãn tính khi
thay đổi thời tiết.
+ TVĐĐ: đau thắt lưng mở màn có thể khỏi hoặc không, sau đó đau đến rễ
thần kinh hông to do xung đột đĩa, rễ, viêm dính rễ thần kinh (đau hai pha).
+ U tuỷ: đau tại chỗ mở màn xu hướng càng đau tăng kèm theo các triệu
chứng khác liệt 1/2 người - hạ kiệt. Cũng có khi u rễ thần kinh lại đau ở cơ hoặc
da ở vùng rễ thần kinh chi phối trước, sau đó dần dần mới thấy đau ở lưng rồi tiếp
tục bại yếu chi dưới.
2.1.2. Các triệu chứng chủ quan khác.
+ Dị cảm: là cảm giác chủ quan của người bệnh không phải do kích thích từ
bên ngoài vào. Biểu hiện dị cảm có thể là: tê tê, buồn buồn, nóng rát, kiến bò, kim
châm điển hình là hội chứng bỏng buốt (Causangie - Causis là bỏng, Algos là
đau). Khi có bỏng rát khu trú ở cùng dây thần kinh chi phối cũng có khi vượt ra
ngoài dây thần kinh chi phối mang tính chất "bít tất tay, bít tất chân" nguồn gốc
đau bỏng này được giải thích là do đứt quãng hay tổn thương không hoàn toàn
đường dẫn truyền thần kinh kết hợp kích thích đó bằng đường thần kinh giao cảm.
Theo M.I Axtratxaturop đau cháy căn bản là do kích thích quá mức ở đồi thị.
Các bệnh lý có thể gặp hiện tượng bỏng buốt là:
- U rễ thần kinh (Neuvrinoma).
- TVĐĐ lâu ngày có viêm dính thần kinh, hoặc TVĐĐ lỗ ghép (hiếm).
- Di chứng chấn thương cột sống-tuỷ sống: gây viêm dính rễ và màng tuỷ
Đôi khi vị trí của dị cảm ban đầu gợi ý cho ta vị trí rễ thần kinh hoặc
khoanh tuỷ bị tổn thương ví dụ: dị cảm xuất hiện ở vùng ngón 1 bàn chân, mu
chân và mặt ngoài cẳng chân tương ứng với rễ L
5


. Nếu dị cảm ở ngón 5 bờ ngoài
mu chân và mặt sau ngoài cẳng chân tương ứng với rễ S
1
.
+ Bại yếu chân, tay một bên, hai bên đột ngột hoặc từ từ tuỳ theo rễ thần
kinh và khoanh tuỷ bụng với mức độ bệnh lý và tính chất bệnh lý quyết định.
+ Ảnh hưởng của bệnh lý tới lao động, sinh hoạt của người bệnh như thế
nào ? Lưu ý những rối loạn về bài tiết phân và nước tiểu như: bí hoặc són
Những triệu chứng này cho người ta biết được tiên lượng bệnh lý.
2.1.3. Tiền sử.
+ Bệnh mang tính chất gia đình: Scheuermann, Bechterew.
+ Nghề nghiệp liên quan tới bệnh lý: những lao động nặng như: bốc vác, lái
xe liên quan đến chấn thương hoặc vi chấn thương là tiền đề thuận lợi của thoái
hoá cột sống và trong những hoàn cảnh nhất định có thể gây lên TVĐĐ.
+ Các bệnh lý khác kết hợp (u tuỷ nguyên phát hay là di căn của ổ nguyên
phát khác, lao cột sống và lao thứ phát ).
+ Đặc điểm tâm lý nhân cách bệnh như thế nào?
2.2. Khám khách quan:
Có nhiều vấn đề trong khám khách quan nhưng ở đây chỉ tập trung vào các
hội chứng chính:
2.2.1. Hội chứng cột sống:
- Khám xét trục cột sống nhằm xem đường cong sinh lý còn hay mất, có gù
lệch, vẹo và ưỡn quá mức không, hình bậc thang trong trước cột sống thắt lưng.
+ Mất độ cong sinh lý: cố định trong bệnh Bachterew, co cứng cơ cạnh
sống hay gặp trong bệnh lý đĩa đệm.
+ Ưỡn quá mức: tăng ưỡn trong trượt thân đốt sống, khi sờ có thể thấy chỗ
lõm của mỏm gai. Ưỡn quá mức còn có thể gặp do phản xạ bù trừ của bệnh cột
sống đoạn ngực gây ra như lao cột sống ngực, chấn thương gãy cột sống lưng,
bệnh Scheuermann
+ Gù (có hai loại gù): gù nhọn thường gặp trong bệnh lý gây tổn thương

cục bộ hoặc hai thân đốt sống như gãy xẹp thân đốt sống do chấn thương cột sống
tuỷ sống. Gù tròn hay gặp trong lao đốt sống có kèm theo áp xe lạnh, ung thư cột
sống, hoặc gặp ở người già hư đĩa đệm lâu năm có thể kèm theo nhiều hạch sụn
kiểu Schmorl. Người trẻ gù tròn ở thắt lưng có thể thấy trong một số bệnh thiểu
năng cơ hoặc thể thắt lưng của bệnh Scheuermann.
+ Vẹo cột sống: TVĐĐ từ giai đoạn 3B trở đi thường thấy có vẹo cột sống
rõ. Đây là một tư thế chống đau thường kèm theo co cứng cơ cạnh sống một bên
hoặc hai bên. Tuỳ theo tư thế vị trí đĩa đệm và sự xung đột đĩa rễ như thế nào mà
đau vẹo cùng bên hay khác bên.
- Xác định điểm đau, vùng đau trên cột sống và cạnh sống.
+ Dùng ngón tay ấn vào gai sau hoặc khe liên gai sau.
+ Dùng ngón tay ấn vào cạnh sống cách đường giữa 2 - 3 cm là nơi xuất
chiếu rễ thần kinh có một số triệu chứng và nghiệm pháp sau:
. Triệu chứng mỏm gai: (I. Ia Rajdonsky) đau khi gõ vào mỏm gai có u
bằng búa phản xạ hay phần mềm bàn tay có thể bệnh nhân đau tăng lên hoặc có
khi xuất hiện dị cảm đặc biệt (cảm giác luồng điện: Cassir, Lhermitle, Trumphop).
. Dấu hiệu chuông bấm: Khi ấn vào cạnh sống nơi xuất chiếu của rễ thần
kinh (hoặc ấn vào khe liên đốt) bệnh nhân thấy đau lan truyền hoặc giật mạnh
xuống dọc theo dây thần kinh gọi là dấu hiệu chuông bấm (+) (Irger, Cimonescu,
Arcenia, Phan Chúc Lâm).
- Các nghiệm pháp khám tầm hoạt động của cột sống:
+ Nghiệm pháp khoảng cách ngón tay nền nhà: bình thường từ 0 - 5 cm ở
thanh niên Việt Nam (chỉ số theo Ngô Thanh Hồi và Lê Gia Vinh).
+ Nghiệm pháp và chỉ số Schober: bình thường ở người Việt Nam 1 là:
14,5 - 15cm/10.
+ Ngửa cột sống: bình thường là 25 - 30
0
(lấy mốc là đường nối 2 gai chậu
trước trên).
+ Nghiêng phải, nghiêng trái cột sống: bình thường 25 - 30

0
mốc là mỏm
gai S
1
.

×