Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Thăm khám bệnh mạch máu ngoại vi (Kỳ 2) pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (219.25 KB, 5 trang )

Thăm khám bệnh mạch máu ngoại vi
(Kỳ 2)
1.1.2.4. Nghe:
Dùng ống nghe đặt trên đường đi của động mạch hoặc lên vùng nghi có tổn
thương động mạch để xác định có tiếng thổi hay không, nếu có thì phải xác định
đó là tiếng thổi một thì (thường là thì tâm thu) hay hai thì (thì tâm thu mạnh hơn
tâm trương).
Phải di chuyển ống nghe theo đường đi của động mạch để xác định hướng
lan của các tiếng thổi, sự thay đổi cường độ của tiếng thổi ở các vị trí khác nhau.
1.1.2.5. Đo:
Có thể dùng thước dây để đo kích thước chi ở các vùng nhất định và so
sánh với bên lành, qua đó đánh giá được một phần mức độ phù nề hoặc biến dạng
của chi bên tổn thương.
1.1.2.6. Một số nghiệm pháp đánh giá chức năng van tĩnh mạch chi
dưới:
+ Đánh giá van các tĩnh mạch nông:
- Nghiệm pháp Schwartz: người khám dùng ngón tay gõ từng nhịp vào tĩnh
mạch giãn, tay kia đặt lên tĩnh mạch đó ở đoạn dưới. Nếu van của đoạn tĩnh mạch
đó bị mất cơ năng thì sẽ có cảm giác các “sóng mạch” đập vào ngón tay ở đoạn
dưới khi gõ vào tĩnh mạch ở đoạn trên (nghiệm pháp dương tính).
- Nghiệm pháp Trendelenburg: cho bệnh nhân nằm ngửa, nâng cao chân 30
- 45
o
để máu trong tĩnh mạch hiển to dồn hết vào tĩnh mạch sâu. Sau đó, đặt garo
(chỉ ép tĩnh mạch) hoặc dùng ngón tay chẹn vào chỗ đổ của tĩnh mạch hiển to vào
tĩnh mạch sâu. Tiếp đó, cho bệnh nhân đứng dậy. Bình thường sẽ không thấy tĩnh
mạch hiển trong đầy máu trở lại trong vòng 30 giây dù có bỏ hay không bỏ garo
(nghiệm pháp âm tính). Nếu bỏ garo mà thấy nó đầy trở lại rất nhanh từ trên xuống
dưới trước 30 giây thì chứng tỏ các van của tĩnh mạch hiển trong đã bị suy
(nghiệm pháp dương tính). Nếu không bỏ garo mà vẫn thấy tĩnh mạch hiển trong
đầy trở lại trước 30 giây thì có thể là do suy van của một số tĩnh mạch xuyên.


+ Đánh giá van các tĩnh mạch xiên:
- Nghiệm pháp garo từng nấc: thực hiện giống như nghiệm pháp
Trendelenburg, nhưng không garo ở chỗ tĩnh mạch hiển trong đổ vào tĩnh mạch
sâu mà garo từng đoạn từ thấp lên cao ở chân. Đánh giá cũng giống như trong
nghiệm pháp Trendelenburg: nghiệm pháp dương tính ở đoạn nào thì kết luận có
mất cơ năng của van tĩnh mạch xiên ở đoạn đó.
- Nghiệm pháp Pratt: để bệnh nhân nằm, dùng cuộn băng thun thứ nhất
cuốn từ dưới bàn chân lên đùi, tiếp đó dùng cuộn băng thun thứ hai băng tiếp cho
đến bẹn để ép hết máu tĩnh mạch nông vào tĩnh mạch sâu. Sau đó giữ nguyên băng
ép ở nếp bẹn của cuộn băng thứ hai và mở dần từng vòng cuộn băng thứ nhất từ
trên xuống. Quan sát các tĩnh mạch nông ở vùng giữa hai cuộn băng nói trên: nếu
các tĩnh mạch này giãn to ra ngay thì chứng tỏ van của các tĩnh mạch xiên ở đoạn
đó đã bị suy (nghiệm pháp dương tính).
+ Đánh giá van các tĩnh mạch sâu:
Nghiệm pháp Perthes: dùng băng thun băng ép các tĩnh mạch nông ở
khoảng 1/3 giữa đùi, sau đó cho bệnh nhân đi đều trong 3 - 5 phút rồi quan sát:
nếu các tĩnh mạch sâu bị tắc thì sẽ thấy các tĩnh mạch nông giãn to ra và bệnh
nhân kêu đau tức chân (nghiệm pháp âm tính).
1.2. Các phương pháp thăm khám không xâm nhập:
1.2.1. Đo huyết áp động mạch bằng huyết áp kế:
Phương pháp dùng huyết áp kế thông thường (có bộ phận đo áp lực kiểu
đồng hồ hoặc cột thuỷ ngân) để đo huyết áp động mạch đã được áp dụng rất rộng
rãi. Hiện nay tuy đã có nhiều phương pháp hiện đại khác (siêu âm, đo biến đổi thể
tích máu…) để đo huyết áp động mạch nhưng việc đo bằng huyết áp kế thông
thường vẫn là phương pháp đơn giản và thuận tiện nhất trong lâm sàng, mặc dù độ
chính xác còn bị hạn chế.
Thường đo ở động mạch cánh tay (đặt bao bơm khí ép ở ngay trên nếp
khuỷu), trong những trường hợp đặc biệt có thể đo ở động mạch khoeo (đặt bao đo
ở ngay trên hõm khoeo). Cần đo cả hai chi để so sánh.
+ Huyết áp tối đa (huyết áp tâm thu): thường thay đổi theo tuổi, tuổi càng

cao thì huyết áp tâm thu có xu hướng càng cao hơn.
+ Huyết áp tối thiểu (huyết áp tâm trương): thông thường bằng 1/2 huyết áp
tối đa + 10.
+ Huyết áp động mạch trung bình: được tính bằng công thức.

HATĐ -
HATT
Huyết áp trung bình = HATT +
2
(HATT: huyết áp tối thiểu; HATĐ: huyết áp tối đa)
Trong các trường hợp động mạch bị cản trở hoặc tắc thì huyết áp của động
mạch đo ở dưới chỗ bị bệnh sẽ bị giảm xuống.

×