Tải bản đầy đủ (.doc) (20 trang)

Báo cáo “Giới với vấn đề thu nhập và ra quyết định trong gia đình nông thôn hiện nay” ppsx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (194.48 KB, 20 trang )

Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT


Báo cáo “Giới với vấn đề thu nhập và ra quyết định
trong gia đình nông thôn hiện nay”
1
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Hiện nay có tới 78% tổng số phụ nữ sống trong nông thôn, họ chiếm tới
70% lực lượng lao động trong nông thôn và được đánh giá là tạo ra 60% sản
phẩm của xã hội nông thôn. Người phụ nữ không chỉ đóng vai trò là lực lượng
sản xuất chính trong gia đình mà còn tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội.
Nhiều nghiên cứu nói lên rằng mặc dù phụ nữ là lực lượng lao động chính trong
gia đình tại nông thôn hiện nay nhưng quyền quyết định chính trong gia đình vẫn
là nam giới. Vấn đề đặt ra trong nghiên cứu này là thực trạng quyết định trong
gia đình nông thôn hiện nay như thế nào? Thu nhập có ảnh hưởng như thế nào
2
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
đến quyền quyết định của chồng và vợ? Phụ nữ cần làm gì để nâng cao vị thế của
mình trong gia đình cũng như tham gia vào việc ra quyết định trong gia đình?
Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
“Giới với vấn đề thu nhập và ra quyết định trong gia đình nông thôn hiện
nay”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Tìm hiểu về vấn đề thu nhập và quyền ra quyết định trong gia đình nông
thôn hiện nay.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thu nhập và quyền ra quyết định.


- Thực trạng thu nhập và quyền quyết định trong gia đình nông thôn hiện
nay.
- Giải pháp nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình, cũng như tham gia
vào việc ra quyết định trong gia đình.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động thu nhập của giới và sự ra quyết định trong gia đình đối với
mỗi giới
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: vấn đề giới với thu nhập và ra quyết định trong gia đình
nông thôn hiện nay
- Phạm vi không gian: xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy – Thái Bình
- Phạm vi thời gian: năm 2006 - 2008
3
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
PHẦN 2. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm
2.1.1 Giới
Là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới
và phụ nữ. Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam
giới các đặc điểm giới khác nhau. Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có
thể thay đổi được.
2.1.2 Thu nhập
4
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
Thu nhập là số lượng tiền, hàng hoá hoặc dịch vụ mà một cá nhân, công ty
hay một nền kinh tế nhận trong một khoảng thời gian nhất định (quý, tháng,
năm).
2.1.3 Ra quyết định
Ra quyết định là một quá trình lựa chọn có ý thức giữa hai hoặc nhiều

phương án để chọn ra một phương án và phương án này sẽ tạo ra được một kết
quả mong muốn trong các điều kiện ràng buộc đã biết.
2.1.4 Bình đẳng giới
- Bình đẳng giới được hiểu nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau,
cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng trong XH.
- Bình đẳng giới không đơn thuần chỉ là việc phụ nữ có nhiều vai trò giống
nam giới hơn mà còn là nam giới cũng sẽ có nhiều vai trò giống phụ nữ hơn.
2.2 Giới và vấn đề thu nhập
2.2.1 Nguồn thu nhập của gia đình
* Thu nhập bằng tiền
- Tiền lương: Mức thu nhập này tùy thuộc vào kết quả lao động của mỗi người
và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tiền thưởng: Phần thu nhập bổ sung cho những người lao động tốt, có năng
suất cao, kỉ luật tốt.
- Tiền phúc lợi: Do cơ quan, trường học… chi cho cán bộ viên chức trong những
dịp lễ tết, thăm hỏi, hiếu hỉ… từ quỹ phúc lợi.
- Tiền bán sản phẩm
- Tiền lãi tiết kiệm
* Thu nhập bằng hiện vật
Tùy từng địa phương mà có mỗi hình thức thu nhập riêng phù hợp với
điều kiện khí hậu, địa hình
2.2.2 Đặc điểm thu nhập của hộ nông dân
5
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
Thu nhập, đời sống của nông dân còn thấp và tăng chậm so với dân cư
thành thị. Nông hộ chủ yếu sống ở nông thôn, nơi có nhiều điều kiện khó khăn
như cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí thấp, dân trí tăng nhanh và thiếu việc làm.
Theo thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam thì khoảng cách về thu nhập
bình quân của 1 người 1 tháng giữa dân cư thành thị và dân cư nông thôn có xu
hướng gia tăng năm 1993 là 2 lần, năm 1994 tăng lên 2,55 lần, năm 1995 là 2,63

lần, năm 1996 là 2,7 lần, năm 1999 là 3,7 lần, năm 2001 là 4 lần đến 2003 giảm
xuống nhưng vẫn ở mức 2,3 lần.
Nguồn thu nhập của hộ nông dân phong phú đa dạng: hoạt động sản xuất
kinh doanh của hộ nông dân bao gồm các hoạt động sản xuất nông nghiệp và sản
xuất phi nông nghiệp trong nông hộ: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản,
kinh doanh, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp, làm thuê, xuất khẩu lao động…
Thu nhập của nông hộ vẫn chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp.
Thu nhập của hộ nông dân không đều do mỗi vùng có 1 nguồn tài nguyên,
điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường, tổ chức quản lý khác nhau. Sự đa dạng về
quy mô và trình độ phát triển đã tạo ra sự khai thác nguồn lực không đồng đều
giữa các hộ nông dân trong vùng. Những hộ biết tận dụng mọi khả năng sẵn có,
biết học hỏi kinh nghiệm và có khả năng đầu tư sẽ đem lại hiệu quả cao và thu
nhập cao, ngược lại.
Thu nhập của hộ nông dân chưa loại trừ hết chi phí sản xuất. Trong nông
hộ thu nhập không chỉ là lợi nhuận kinh doanh mà nó bao gồm cả chi phí lao
động gia đình. Nguồn lao động sử dụng 1 cách linh hoạt 1 người có thể làm được
nhiều công việc, tuỳ theo thời vụ, công việc mà sắp xếp nên khó tính chi phí lao
động của gia đình.
2.2.3 Vai trò đóng góp kinh tế của phụ nữ đối với gia đình
Chức năng kinh tế là một chức năng đặc biệt và quan trọng nhất ở thiết
chế gia đình. Người phụ nữ có đặc trưng về sinh học: là mẹ, là vợ, họ đảm trách
6
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
các công việc thường nhật của gia đinh, tuy nhiên họ cũng còn phải đóng góp thu
nhập vào kinh tế gia đình. Có quan điểm cho rằng công việc nhà là công việc
“đương nhiên” của phụ nữ. Tuy nhiên chúng ta biết rằng sự phân công lao động
theo giới là một sản phẩm xã hội. Ph.ăng-ghen trong tác phẩm nổi tiếng Nguồn
gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước, khi nói về sự phân công lao
động theo giới trong thời kỳ bộ lạc đã cho rằng: “ Sự phân công lao động là hoàn
toàn có tính chất tự nhiên, nó chỉ tồn tại giữa nam và nữ. Đàn ông đi đánh giặc,

đi săn bắt và đánh cá, tìm nguyên liệu dùng làm thức ăn và kiếm những công cụ
cần thiết cho việc đó. Đàn bà chăm sóc việc nhà, chuẩn bị cái ăn và cái mặc, họ
làm bếp và may vá (trích nguồn Các Mác và Ph.ăng-ghen, 1984:243-). Trong kết
quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, quan niệm mức độ hài lòng về hôn
nhân của người phụ nữ cũng nhấn mạnh tới chức năng kinh tế của bất hoà về
ứng xử và dẫn đến rạn nứt gia đình. Có đến 46,1% đưa ra lý do khó khăn về kinh
tế khi được hỏi về nguyên nhân dẫn tới bất hoà trong gia đình (trích nguồn Bộ
văn hoá thể dục thể thao và du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia đình và giới,
Unicef 2008 ).
(Nguồn: Tạp chí nghiên cứu giới và gia đình số 4 năm 2010)
Quyền quyết định của người phụ nữ trong gia đình cũng ngày càng được
tăng lên. Có nhiều người vợ quyết định cùng chồng những công việc quan trọng
trong gia đình. Trong “Kết quả điều tra gia đình năm 2006” cho thấy đến 53% số
phụ nữ ở thành thị đứng tên một giấy tờ đăng ký sản xuất kinh doanh (trích
nguồn Bộ văn hoá thể dục thể thao và du lịch, Tổng cục thống kê, Viện gia đình
và giới, Unicef 2008 ).Ở các thành phố vai trò trụ cột kinh tế hiện nay đã không
còn là đặc quyền của chồng. Các số liệu của Nguyễn Thị Hoà và Trần Thị Vân
Anh,2007 đã góp phần chứng minh điều đó. Ví dụ nghiên cứu của Nguyễn Thị
Hoà cho thấy 64,5% người vợ đóng góp công sức nhiều nhất cho kinh tế gia đình
so với 30,8% là người chồng. Sự đóng góp của người vợ không có gì khác biệt
7
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
theo vùng miền. Tương tự kết quả nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh cho thấy tỷ
lệ nữ tự đánh giá về việc có đóng góp vào thu nhập gia đình của bản thân là
92,5%. Và đánh giá của những người chồng về việc có đóng góp vào thu nhập
gia đình của phụ nữ cũng chiếm tỷ lệ tương tự là 94,5%. Như vậy con số thống
kê này cho thấy người vợ có xu hướng đóng góp nhiều cho kinh tế gia đình.
Nhìn nhận vai trò kinh tế một cách thoả đáng giúp phụ nữ thể hiện rõ vai trò kinh
tế của họ. Xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi đặc biệt là giai đoạn đổi mới năm
1986. Những thay đổi xã hội tác động tới vai trò của giới trong gia đình. Các kết

quả nghiên cứu về phân công lao động trong gia đình đã phản ánh khá rõ vai trò
của phụ nữ và chức năng kinh tế của gia đình. Một câu hỏi được đặt ra như
người phụ nữ Việt Nam có vai trò như thế nào trong không gian một gia đình?
Một kết quả nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu dân số gia đình thuộc Đại học
Michighen của Hoa Kỳ công bố trước đây cho thấy ở Việt Nam người vợ là
người chủ yếu nắm giữ “túi tiền’’ của gia đình. Mặc dù người phụ nữ được nắm
giữ tài chính nhưng họ không phải là người đưa ra các quyết định quan trọng
trong gia đình.
2.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
Giáo dục - đào tạo: Vẫn còn những thách thức lớn trong công tác giáo dục
và phát triển nguồn nhân lực. ở khu vực miền núi, vùng nông thôn, sự chệnh lệch
về giới trong tỷ lệ học sinh đến trường cao hơn những vùng khác, đặc biệt đối
với các dân tộc thiểu số. Mặc dù đã có nhiều cố gắng lớn về đào tạo cho dân số
nông thôn, trình độ chuyên môn và trình độ kỹ thuật của họ vẫn còn ở mức thấp.
Năm 2002, cứ 100 dân số nữ từ 15 tuổi trở lên thì có 25,5 người tốt nghiệp tiểu
học, 25,8 người tốt nghiệp THCS và 9,4 người tốt nghiệp THPT; các tỷ lệ tương
ứng ở dân số nam là 27,3; 29,5 và 12. Bậc trung học chuyên nghiệp không có sự
khác biệt lớn, nữ đạt 2,9% và nam 2,8%; bậc cao đẳng và đại học nữ đạt 2,7% và
8
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
nam đạt 4,2%. Riêng bậc trên đại học, tỷ lệ nữ thấp hơn 3 lần so với nam, cụ thể
nữ đạt 0,04% và nam 0,13%.
Lao động và việc làm: Về ngành nghề lao động, thống kê cho thấy lao
động nữ có xu hướng tập trung lao động ở các ngành nông nghiệp và dịch vụ,
trong khi lao động nam lại tập trung cao ở ngành thuỷ sản và xây dựng.
Trình độ chuyên môn, phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng
và giáo dục đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia
đình, điều kiện để nâng cao chuyên môn ít hơn nam giới. Có số liệu cho thấy lao
động nữ qua đào tạo chỉ bằng 30% so với lao động nam. Bồi dưỡng nghiệp vụ về
quản lý nhà nước đối với nữ cũng chỉ chiếm tỷ lệ 30%. Do đó trong đa số trường

hợp lao động nữ không có trình độ chuyên môn cao bằng nam giới nên dễ dẫn
đến chênh lệch trong thu nhập so với nam giới.
Vùng địa lý: Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở nước ta duy trì ở mức
cao, năm 2003, tỷ lệ này ở nữ là 68,5%, còn ở nam là 75,8%. Giữa các vùng có
sự khác biệt lớn về tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế. Năm 2003, tỷ lệ nữ hoạt
động kinh tế là cao nhất ở Tây Bắc, đạt 80%, tiếp theo là Tây Nguyên, đạt 78%.
Tỷ lệ nữ tham gia hoạt sđộng kinh tế thấp nhất được ghi nhận ở Đông Nam Bộ,
đạt 60%, theo sau là đồng bằng sông Cửu Long, đạt 64%. Đặc biệt, đây cũng là
hai vùng có mức chênh lệch lớn nhất về tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của nam
và nữ.
Nếu phân biệt theo khu vực thành thị và nông thôn thì tỷ lệ có việc làm
thường xuyên ở thành thị thấp hơn ở nông thôn. Năm 2003, tỷ lệ nữ ở thành thị
có việc làm thường xuyên là 94,5% còn ở nông thôn là 95,8%; các tỷ lệ tưng ứng
ở nam là 95,8% và 96,3%. Trong thời kỳ 2000-2003, trong khi tỷ lệ thất nghiệp
của nam có xu hướng giảm thì tỷ lệ thất nghiệp nữ tăng lên, năm 2003, tỷ lệ thất
nghiệp của nữ là 6,9%, còn tỷ lệ thất nghiệp của nam là 4,4%.
9
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
Chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới: Bình đẳng giới trong
lĩnh vực lao động có nghĩa là bình đẳng về quyền, trách nhiệm, cơ hội, đối xử và
đánh giá đối với mỗi người không phân biệt giới tính của họ về pháp lý. Việt
Nam đã quy định sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới tại điều 24 Hiến pháp
Việt Nam khuyến khích cho doanh nghiệp sử dụng đông lao động nữ như tín
dụng ưu đãi, giảm thuế và cải thiện điều kiện việc làm cho lao động nữ. Đào tạo
và chuyển lao động nữ đang làm các công việc độc hại nguy hiểm có hại cho
việc sinh con và chăm sóc con cái của phụ nữ sang các công việc khác phù hợp
hơn,cải thiện điều kiện lao động và giảm thời gian làm việc.
Tuy nhiên, còn có những yếu tố hạn chế phụ nữ tham gia vào lĩnh vực việc
làm chính thức và hưởng lợi một cách bình đẳng từ việc làm. So với mức độ phát
triển của đất nước thì Việt Nam có nhiều chính sách lao động "bảo vệ" cho lao

động nữ như chính sách phúc lợi hưu trí, sinh đẻ, hạn chế hoặc cấm phụ nữ làm
các công việc nặng nhọc, nguy hiểm
Nhóm các yếu tố khác: Tình trạng sức khoẻ có quan hệ với thời gian lao
động, khối lượng và chất lượng công việc thực hiện nên nó có quan hệ tỷ lệ
thuận đối với thu nhập của người lao động.
Xây dựng chiến lược thúc đẩy bình đẳng giới là nhiệm vụ đầy thách thức.
Giáo dục, chuyên môn và đào tạo, là những nhu cầu cần hướng tới của một nền
kinh tế và một xã phát triển. Bên cạnh đó, nâng cao hiểu biết tiến bộ về giới là
một điều kiện tiên quyết quan trọng đối với nhiều ưu tiên chính sách. Bởi các
chiến lược để thúc đẩy bình đẳng giới phải giải quyết những ý tưởng và định
kiến lâu nay về quan hệ giới và chuẩn mực của nữ giới và nam giới trong xã hội.
2.3 Giới và ra quyết định trong gia đình
2.3.1 Quyền ra quyết định về tiếp cận và kiểm soát nguồn lực
- Nguồn lực: là tất cả những gì mà con người cần để thực hiện công việc
mà họ muốn
10
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
- Lợi ích: là những thứ giúp con người hoặc đem đến cho họ những điều
tốt đẹp
- Tiếp cận: là việc sử dụng
- Kiểm soát: Là có quyền định đoạt/ quyết định việc sử dụng
- Phụ nữ góp công lớn cho gia đình nhưng không phải là người quyết định
các khoản chi lớn
- Nam giới thường nắm quyền quyết định về việc sử dụng các nguồn lực
như đất đai, nhà cửa…
- Phụ nữ thường làm những công việc thấp so với nam giới
2.3.2 Một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề ra quyết định trong gia đình
Thực tế nhiều nghiên cứu đã nghiên cứu tại các vùng nông thôn trên cả
nước ở các thời điểm khác nhau đều chỉ ra rằng trong các công việc đã có sự bàn
bạc giữa hai vợ chồng, nhưng việc ra quyết định chính vẫn là do người chồng và

định kiến giới chính là yếu tố ảnh hưởng tới việc ra quyết định trong gia đình.
Nhiều nghiên cứu cũng cho rằng mô hình về quyền quyết định trong gia
đình hiện nay đó là người đàn ông vẫn có quyền quyết định nhiều hơn người vợ.
Mặc dù trong gia đình người vợ là người phải đảm nhận hầu hết các công việc,
thậm chí họ còn là người mang lại thu nhập chính cho gia đình, nhưng phần lớn
quyền quyết định chính thuộc về người chồng, người vợ chỉ là người thực thi các
quyết định đó (Đặng Thị Hoa, 2001; Mai Huy Bích và Lê Thị Kim Lan, 1999).
Lý giải cho điều này các nghiên cứu chỉ ra rằng đây là do ảnh hưởng của định
kiến giới vẫn còn tồn tại trong gia đình nông thôn, do tư tưởng trọng nam kinh
nữ, đề cao vai trò địa vị của nam giới.
Thu nhập là một trong nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến việc ra quyết định
trong gia đình, đặc biệt là đối với người phụ nữ nông thôn. Một số lý thuyết như
Kinh tế học, lý thuyết giai cấp và địa vị đã khẳng định thu nhập là cơ sở của
quyến lực, cũng là cơ chế ra quyết định trong gia đình. Các nghiên cứu có chung
11
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
nhận định rằng trong nông thôn người vợ thường đảm nhiệm hầu hết các công
việc nhưng thu nhập bằng tiền thường thấp hơn người chồng nên người chồng
thường có vai trò quyết định đối với các công việc chính.
Tác giả Hoàng Bá Thịnh trong cuốn Vai trò của người phụ nữ nông thôn
trong công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn đã dẫn chứng một nghiên cứu về
việc phân công lao động nội trợ trong gia đình ở Việt Nam cho thấy người vợ
làm 4,6 trong 6 công việc nội trợ, điều này phản ánh thực tế rằng công việc nội
trợ là trách nhiệm chủ yếu của người vợ. Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Bình và
Lê Ngọc Lân về vấn đề Phụ nữ ngèo nông thôn trong điều kiện kinh tế thị
trường cho thấy tỷ lệ đóng góp về thu nhập của người phụ nữ luôn thấp hơn
người chồng. Xuất phát điểm thu nhập thấp hơn người chồng nên người phụ nữ
trong nôn thôn thường ít có quyền quyết định trong các công việc quan trọng của
gia đình. Vì vậy, các tác giải cũng nhấn mạnh rằng trong thu nhập của người vợ
cần tính đến cả thu nhập dưới dạng đóng góp công sức cho việc nội trợ và chăm

sóc các thành viên trong gia đình.
Theo nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Thụy, Hội Liên hiệp Phụ nữ
Bình Định thực hiện trong năm 2002-2003; “Là những vấn đề rất quen thuộc
trong mỗi gia đình nhưng có những khía cạnh gây bất ngờ, thú vị cho các nhà
quản lý, các nhà lãnh đạo”. Nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng giới trong tổ
chức cuộc sống gia đình theo nghiên cứu là do vẫn còn ảnh hưởng của tư tưởng
phong kiến gia trưởng cùng sự biến đổi chậm chạp của ý thức xã hội, các thiên
kiến về giới bám rễ lâu đời trong một số tầng lớp nhân dân, do việc xem trọng
gia đình của người phụ nữ và hầu như nam giới chưa thay đổi quan niệm trụ cột
của mình với gia đình. Chính họ đã tự đặt cho mình trọng trách lớn, phụ nữ còn
tự ti luôn nghĩ mình là người hỗ trợ cho vai trò trụ cột của chồng. Đối với những
gia đình nông thôn, sự chuyển dịch nhân công lao động từ nông thôn ra thành thị
(thường diễn ra với nam) đã làm cho những người phụ nữ ở lại địa phương thêm
12
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
gánh nặng: đảm nhận cả lao động sản xuất lẫn việc nội trợ . Trình độ học vấn
cũng góp phần quan trọng trong việc tạo quyền quyết định cho nam hay nữ. Nếu
trong gia đình cả hai vợ chồng có học vấn cao thì sự bàn bạc, thỏa thuận chiếm
tỷ lệ lớn, ngược lại người vợ có trình độ thấp thì quyền quyết định mọi mặt chủ
yếu vẫn là chồng.
2.3.3 Nguyên nhân ảnh hưởng đến vấn đề ra quyết định.
- Thu nhập là một trong nhiều yếu tố có ảnh hưởng đến việc ra quyết định
trong gia đình, đặc biệt là đối với người phụ nữ nông thôn
Nguyên nhân sâu xa của tình trạng bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam là
do trong những năm qua, Việt Nam đã chọn mô hình trăng trưởng và cơ chế
phân bổ nguồn lực chưa hợp lý. Việc định hướng ưu tiên phân bổ nguồn lực cho
doanh nghiệp, ngành và dự án dùng nhiều vốn, ưu ái các vùng có khả năng tăng
trưởng cao đã tạo ra sự bất cân đối giữa các vùng miền và làm gia tăng bất bình
đẳng giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực tư nhân.
Thêm vào đó, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa đã dẫn đến tình

trạng mất đất của nông dân. Ở Đồng bằng sông Mêkông, 1/3 người nghèo nông
thôn không có đất, và tỷ lệ người dân mất đất đã tăng gấp đôi. Hệ quả là nguồn
thu nhập chính của họ bị giảm sút mạnh, khiến khoảng cách nông thôn và thành
thị ngày càng gia tăng. Đó là chưa kể quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch
hóa tập trung sang cơ chế thị trường cũng tạo ra những cú sốc và tổn thương đối
với tầng lớp lao động và người nghèo ở nước ta. Do vậy, hạn chế trong khả năng
tiếp cận với hệ thống an sinh xã hội cũng làm gia tăng bất bình đẳng.
Cơ chế xin cho, bao cấp, môi trường kinh doanh nghiệp bình đẳng, thông
tin thiếu minh bạch đã tạo kẽ hở cho một số người giầu lên nhờ đầu cơ (đất đai,
chứng khoán…), buôn lậu, tham nhũng, trốn thuế…. Trong khi một bộ phận dân
cư không có cơ hội làm giầu hoặc bị chèn ép vì không có “quan hệ” tốt.
13
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
- Ảnh hưởng của chế độ phụ hệ
Chế độ phụ hệ là chế độ mà người phụ nữ trong gia đình không được nắm
giữ quyền lực, quyền lãnh đạo. Hầu hết mọi quyền lực đều nằm trong tay người
chồng, người phụ nữ chỉ là người thực thi quyết định hoặc nếu có thì cũng chỉ là
người được tham gia một phần ý kiến.
- Nếp sống gia trưởng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các gia đình ở nông
thôn
2.4 Các ví dụ cụ thể
* Vai trò của giới trong quyết định di cư
Theo điều tra về người quyết định việc di cư trong tạp chí Nghiên cứu giới
và Gia đình quyển 20 số 1 của Phạm Thị Huệ thì có tới 80,3% nam giới trả lời
họ di cư là do chính bản thân họ quyết định. Trong khi đó tỉ lệ này ở nữ là
59,8%, ít hơn nam giới đến 20,5%. Trong khi đó chỉ có 12,2% nam giới trả lời cả
gia đình cùng tham gia bàn bạc quyết định chuyện di cư của họ, tỉ lệ này ở nữ là
28,1%, cao gấp 2,3 lần so với nam giới. Đặc biệt chỉ có 1,3% nam giới cho rằng
họ di cư là do vợ mình quyết định. Như vậy, có tiếng nói quyết định trong các
công việc gia đình, quyền quyết định của nam giới tự mình quyết định di cư

nhiều hơn phụ nữ. Sự tham gia của người vợ hay gia đình đến việc di cư của nam
giới là không đáng kể. Ngược lại, phụ nữ tự quyết định di cư ít hơn nam giới. Sự
tham gia của người chồng và gia đình đến quyết định di cư của phụ nữ nhiều hơn
nam giới. Điều này có thể liên quan đến quyền quyết định của người chồng trong
gia đình. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng người chồng là người phụ nữ đã cải
thiện nhưng vẫn còn hạn chế (Phạm Thị Huệ 2007, Đỗ Thị Bình 2001). Nguyên
nhân là nam giới có quyền quyết định nhiều hơn trong gia đình và không bị ràng
buộc công việc nhà như phụ nữ.
14
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
* Châu Chiêu Ý, Đại Học An Giang “Tìm hiểu vai trò của người phụ nữ
trong nông nghiệp, nông thôn thị trấn Vĩnh Thuận, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên
Giang” Phụ nữ nông thôn tham gia kinh doanh dịch vụ buôn bán (%, n=20)
Hoạt động Nam Nữ Nam và Nữ
Trực tiếp bán hàng 15,00 60,00 25,00
Hướng kinh doanh 45,00 40,00 15,00
Chuẩn loại hàng hóa và số lượng hàng
hóa
20,00 70,00 10,00
Quản lý thu chi 35,00 45,00 20,00
Vận chuyển hàng hóa 85,00 15,00 0,00
Đi mua hàng 20,00 80,00 0,00
* Trong Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Võ Ngọc Thanh về : ‘‘Thực trạng
việc làm, thu nhập và đời sống của lao động động nữ vùng Nan Lương Sơn tỉnh
Hoà Bình” có viết:
Việc quyết định các công việc quan trọng trong gia đình như xây dựng nhà
mới và tài sản, số con, định hướng nghề nghiệp cho con cái… đều do người
chồng quyết định là chủ yếu. Ở nhóm lao động nữ trẻ, chưa ở riêng thì bố mẹ là
người đưa ra quyết định, nhóm lao động nữ có gia đình nhưng vẫn sống chung
với bố mẹ chồng thì thường bố chồng là người ra quyết định. Mặc dù nói rằng

phụ nữ và nam giới bình đẳng nhưng để đạt đến sự ngang bằng về vị trí và vai
trò trong gia đình thực sự còn 1 bước khá dài. Người phụ nữ trong gia đình
không phải là người quyết định cuối cùng, người quyết định các công việc trong
gia đình là chồng (20,46%), vợ (9,01%), cả 2 vợ chồng (56,81%), những người
khác (13,63%).
15
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
PHẦN 3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình dân số và lao động của xã Thụy Dân
Tính đến ngày 31/12/2008 toàn xã có 5068 nhân khẩu với 1381 hộ. Dân số
xã Thụy Dân phân bố không đều ở các thôn tập trung đông nhất ở khu vực trung
tâm xã (thôn An Tiêm 1 là 1273 nhân khẩu, An Tiêm 2 là 1216 nhân khẩu).
16
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
Những năm qua dưới sự chỉ đạo của cấp Đảng Ủy, chính quyền xã, kế
hoạch hóa gia đình được tuyên truyền một cách tích cực nên tỉ lệ sinh giảm, hạn
chế sinh dày và sinh con thứ ba. Tỉ lệ sinh tự nhiên năm 2007 giảm 0,72% so với
năm 2005.
Mặc dù mức sinh đã giảm nhưng kết quả chưa thật vững chắc, tỉ lệ tăng
dân số tự nhiên còn cao, từ đó kéo theo nhiều sức ép về việc làm, đời sống, y tế,
văn hóa, giáo dục, trật tự xã hội cũng như vấn đề sử dụng đất, đây là thách thức
lớn đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong sự phát triển
chung của xã hội.
Về lao động, có thể nói Thụy Dân có nguồn lao động khá dồi dào, song
chất lượng lao động chưa thật cao, lao động phổ thông chiếm đa số, lao động qua
đào tạo chiếm tỉ trọng nhỏ và thường chỉ được đào tạo ngắn hạn, chưa cơ bản.

Hiện nay Thụy Dân có nhiều nghề được đưa vào nhằm giải quyết các lao động
lúc nông nhàn nên tình trạng đi nơi khác làm ăn chiếm tỉ lệ thấp, việc chất lượng
lao động còn nhiều vấn đề mà địa phương cần phải khắc phục. (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 Tình hình dân số và lao động của xã Thụy Dân (2006 – 2008)
Chỉ tiêu ĐVT
2006 2007 2008 Tốc độ phát triển (%)
SL
(ha)
CC
(%)
SL
(ha)
CC
(%)
SL
(ha)
CC
(%)
07/06 08/07 BQ
1. Tổng số hộ Hộ 1355 100 1367 100 1381 100 100,89 101,02 100,95
Hộ nông nghiệp Hộ 1276 94,2 1286 94,08 1300 94,13 100,78 101,09 100,94
Hộ phi nông nghiệp Hộ 79 5,83 81 5,92 81 5,87 102,53 100 101,26
2. Tổng số nhân
khẩu
Người 4964 100 5016 100 5068 100 101,05 101,04 101,04
Tổng số người chưa
đến tuổi lao động
Người 2666 53,7 2707 53,97 2753 54,32 101,54 101,7 101,62
Lao động nông
nghiệp

Người 2076 41,8 2077 41,41 2081 41,06 100,05 100,79 100,12
Lao động phi nông Người 222 4,47 232 4,62 234 4,63 104,5 100,86 102,67
17
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
nghiệp
(Nguồn: Ban thống kê xã Thụy Dân)
3.1.2.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Thụy Dân
Cùng với xu hướng phát triển của nền kinh tế nói chung, xã Thụy Dân đã
có những bước phát triển nhất định, được thể hiện ở các chỉ tiêu như cơ cấu kinh
tế của xã trong những năm qua đã có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tỉ trọng
ngành nông nghiệp giảm, tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ tăng, tốc độ tăng
trưởng kinh tế bình quân là 13,87%, lương thực bình quân đầu người tăng, tỉ lệ
đói nghèo giảm. Mặc dù đã có sự phát triển nhất định nhưng nhìn chung còn
chậm, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội còn thấp hơn mức trung bình của toàn tỉnh.
(Bảng 3.2)
Bảng 3.2 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Thụy Dân (2006 – 2008)
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 Tốc độ phát triển
SL (tỉ
đồng)
CC
(%)
SL (tỉ
đồng)
CC
(%)
SL (tỉ
đồng)
CC
(%)

07/06 08/07 BQ
1. Tổng giá trị sản xuất 35,096 100 47,74 100 56,94 100 136 119,3 127,4
- Nông nghiệp 15,496 44,1 16,768 35,2 18,894 33,2 108,2 112,7 110,4
- Trồng trọt 10,529 67,9 11,41 68,0 13,399 70,9 108,4 117,4 112,8
- Chăn nuôi 4,067 26,3 4,438 26,5 4,52 23,9 109,1 101,8 105,4
- Thủy sản 0,9 5,8 0,92 5,5 0,975 5,2 102,2 106,0 104.1
2. CN, TTCN, TM, DV 19,627 55,9 30,972 64,8 38,046 66,8 157,8 122,8 139,2
CN, TTCN, XDCB 10,857 55,3 11,829 57,6 21,825 57,4 164,2 122,4 141,7
TM, DV 8,77 44,7 13,143 42,4 16,221 42,6 149,9 123,4 136,0
(Nguồn:Ban thống kê xã Thụy Dân
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Xã Thụy Dân, Thái Thụy, Thái Bình
3.2.2 Phương pháp thu thập thông tin
18
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
- Thông tin thứ cấp (nguồn số liệu về tình hình dân số, lao động, việc làm
của nam giới và nữ giới trong xã…)
- Thông tin sơ cấp: điều tra hộ nông dân
3.3.3 Phương pháp phân tích thông tin
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp thống kê so sánh: để làm rõ sự khác nhau giữa thu nhập và
quyền ra quyết định của của các giới.
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình thu nhập của các hộ gia đình tại xã Thụy Dân
4.2 Thực trạng ra quyết định của chồng và vợ trong các gia đình tại xã Thụy Dân
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và quyền ra quyết định trong gia đình tại
xã Thụy Dân
4.3 Một số giải pháp nâng cao vị thế của người phụ nữ với vấn đề thu nhập và ra
quyết định trong gia đình

PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5.1 Kết luận
5.2 Kiến nghị
19
Nhóm 6 – lớp PTNT52 Giới và PTNT
20

×