Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Viêm ruột thừa cấp trong thai kỳ (Kỳ 1) pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (121.48 KB, 5 trang )

Viêm ruột thừa cấp trong thai kỳ
(Kỳ 1)

Viên ruột thừa cấp là một bệnh ngoại khoa thường gặp trong thai kỳ. Tỷ lệ
mắc phải từ 0.06 đến 0.1%, hoặc chiếm 1 trong 1500 thai phụ. Về biểu hiện lâm
sàng và chẩn đoán của bệnh thì giống như những bệnh viêm ruột thừa cấp ở phụ
nữ không có thai. Điều này không bàn đến trong bài viết này. Tuy nhiên, có những
điểm chắc chắn áp dụng cho thai phụ như:
Có sự tăng nhẹ tỷ lệ mắc phải viêm ruột thừa cấp ở thai phụ vào ba tháng
giữa thai kỳ hơn trong ba tháng đầu và ba tháng cuối thai kỳ hoặc trong thời kỳ
hậu sãn. Một cái ruột thừa bị viêm nhiễm thì thường dễ vỡ hơn trong suốt thai kỳ,
đặc biệt là trong ba tháng cuối thai kỳ, có lẽ bởi vì sự chậm trễ trong việc chẩn
đoán hoặc can thiệp sớm.

Cơn đau bụng vùng hố chậu phải là triệu chứng thường nhất trong viêm
ruột thừa và nên báo động cho thầy thuốc quan tâm hơn đối với sãn phụ, sự cân
nhắc kỹ cho việc chẩn đoán bệnh. Mặc dù vị trí của ruột thừa di chuyển một vài
centimet về phía đầu do sự lớn dần của tử cung, nhưng không cần quan tâm đến
giai đoạn nào của thai kỳ thì hầu hết triệu chứng thường gặp của viêm ruột thừa là
đau hố chậu phải, xuất hiện gần điểm McBurney trong phần lớn thai phụ.

Về chẩn đoán phân biệt, nó bao gồm các nguyên nhân của đau bụng cấp
trong những phụ nữ không có thai(bảng 1), ví dụ như là cơn co tử cung, sẩy thai,
thai ngoài tử cung hoặc vỡ tử cung. Ba bệnh sau cùng thì trái ngược với viêm ruột
thừa, nó thường liên quan đến chảy máu tử cung. Thêm vào đó, sẩy thai hoặc vỡ tử
cung thường liên quan đến bất thường nhịp tim thai. Chứng cao huyết áp thai kỳ
hoặc hội chứng HELLP cũng có liên quan đến đau bụng, nhưng nó thường đau ở
vùng hạ sườn phải hoặc vùng thượng vị.

Việc chẩn đoán bệnh viêm ruột thừa cấp ở thai phụ đang chuyển da thì đặc
biệt khó khăn và cần có sự nghi ngờ cao. Cơn đau trong chuyển dạ có thể lệch chỗ,


sốt nếu có viêm màng ối kèm theo, tăng bạch cầu, và ói.
Sự thay đổi về sinh lý trong thai kỳ có thể làm cho lúng túng trong việc
chẩn đoán.
Ví dụ, một thai phụ bình thường có bạch cầu từ 6000 đến 16000 con/mm3
trong ba tháng đầu và giữa thai kỳ và có thể tăng cao lên 20000 đến 30000
con/mm3 trong suốt lúc chuyển dạ.
Do đó, việc tăng bạch cầu có thể là dấu chứng bình thường của thai phụ.
Điều này được minh chứng bởi một nghiên cứu hồi cứu trong 66993 ca sinh đẻ
liên tiếp nhau, trong đó gồm 67 thai phụ với chẩn đoán có thể viêm ruột thừa. Thai
phụ với một chẩn đoán chắc chắn viêm ruột thừa có bạch cầu 16400 con/mm3 so
với 14000 con/mm3 ở thai phụ với ruột thừa bình thường.
Chứng khó tiêu, ruột không hoạt động đều, buồn nôn/ói, và một cảm giác
khó chịu là triệu chứng thường gặp trong cả thai phụ viêm ruột thừa và thai phụ
bình thường.
Trong viêm ruột thừa, buồn nôn và ói, nếu có xảy ra, sẽ theo sau sự hoành
hành của cơn đau, ngược lại buồn nôn và ói bình thường lại liên quan đến thai kỳ
mà không liên quan đến cơn đau.

Thai phụ với triệu chứng tiểu mủ có thể được điều trị trong bệnh nhiễm
trùng tiểu và có thể bỏ đi sự theo dõi thêm nữa, và trong những ca thực sự có viêm
ruột thừa thì có thể sẽ bị bỏ sót.
Thật là quan trọng để nhớ rằng một ruột thừa bị viêm nhiễm thì thường
nằm gần bàng quang và tử cung, và như thế, chứng tiểu máu và tiểu mủ thấy được
ở một phần ba thai phụ bị viêm ruột thừa cấp.

Dấu chứng viêm phúc mạc có thể ít nổi bật ở thai phụ bình thường hơn bởi
vì tử cung có thai nâng và căng thành bụng lên thoát khỏi cái ruột thừa bị viêm. Từ
đó tạo ra sự trở ngại trong việc tiếp xúc giữa vùng viêm và phúc mạc thành, và sẽ
có ít phản ứng cũng như đề kháng thành bụng hơn. Tử cung có thai cũng có thể
ngăn cản sự tiếp xúc giữa mạc nối và ruột thừa viêm.


×