Tải bản đầy đủ (.doc) (21 trang)

Bài dự thi 80 năm ngày truyền thống ngành tổ chức xây dựng đảng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (255.42 KB, 21 trang )

BÀI DỰ THI TÌM HIỂU 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG NGÀNH TỔ
CHỨC XÂY DỰNG ĐẢNG
Họ và tên: Trịnh Ngọc Tuấn
Năm sinh: 1975
Địa chỉ: Núi Đèo – Thuỷ Nguyên – Hải Phòng
Nghề nghiệp:
Số điện thoại:
Câu hỏi 1: Hãy nêu những mốc lịch sử quan trọng đánh dấu sự trưởng thành và
phát triển của Ngành Tổ chức xây dựng Đảng từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt
Nam đến nay?
Ngày 3 - 2 - 1930 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu một bước ngoặt vô cùng
quan trọng trong lịch sử của cách mạng Việt Nam, mở đầu truyền thống vẻ vang của Đảng,
đồng thời cũng mở đầu cho sự hình thành và phát triển của công tác tổ chức xây dựng Đảng.
Ngày 14 tháng 10 đến cuối tháng 10 năm 1930, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương
lâm thời của Đảng đã được tiến hành ở Hương Cảng, Trung Quốc. Hội nghị thông qua Luận
cương chính trị của Đảng do đồng chí Trần Phú khởi thảo; các nghị quyết về tình hình và
nhiệm vụ cần kíp của Đảng, về vận động các giới quần chúng; đổi tên Đảng Cộng sản Việt
Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương; bầu đồng chí Trần Phú làm Tổng Bí thư đầu tiên
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Đồng chí Nguyễn Ái Quốc và những chiến sỹ cộng sản lúc đó vừa là những nhà lãnh đạo
cách mạng, vừa là những cán bộ tổ chức đầu tiên của Đảng, đặt nền móng cho công tác xây
dựng Đảng, để các thế hệ chiến sỹ cách mạng nối tiếp tiến hành phát triển và từng bước hoàn
thiện đường lối cách mạng Việt Nam, hoàn thiện đường lối và phương pháp công tác tổ chức
của Đảng, xây dựng Đảng ta không ngừng lớn mạnh.
1- Công tác tồ chức xây dựng đảng trong thời kỳ Đảng lãnh đạo nhân dân xây
dựng lực lượng cách mạng và đấu tranh giành chính quyền 1930-1945.
a) Giai đoạn 1930-1935: Sau khi thành lập, Đảng đã phát động cao trào cách mạng
1930-1931. Địch khủng bố trắng, Đảng lãnh đạo khôi phục phong trào. Công tác tổ chức xây
dựng đảng trong năm 1930 và năm 1931 là thông qua công tác tuyên truyền, vận động quần
chúng tham gia các phong trào đấu tranh với các hình thức và khẩu hiệu khác nhau để lựa
chọn những người ưu tú kết nạp đảng viên; xây dựng, củng cố các tổ chức của Đảng. Khi


mới thành lập, Đảng mới có 50 chi bộ với hơn 200 đảng viên, đến tháng 4 năm 1931 đã có
250 chi bộ với hơn 2.400 đảng viên. Các tổ chức quần chúng cách mạng (Công hội, Nông
hội, Phụ nữ liên hiệp hội, Hội cứu tế Đỏ ) do Đảng lãnh đạo cũng lần lượt ra đời. Đoàn
Thanh niên Cộng sản Đông Dương được thành lập ngày 26-3-1931.
* Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng họp tại Ma Cao (Trung Quốc) từ ngày 27 đến
ngày 31-3-1935, có 13 đoàn đại biểu thay mặt các tổ chức đảng ở trong nước và hoạt động ở
nước ngoài tham dự. Đại hội đã đề ra nhiệm vụ chính trị của Đảng lúc này là: thu phục
quảng đại quần chúng lao động, chống chiến tranh đế quốc, ủng hộ Liên Xô và cách mạng
Trung Quốc; khôi phục lại hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung ương đến cơ sở; thống nhất
lãnh đạo, chuẩn bị cho cánh mạng Đông Dương chuyền sang giai đoạn mới.
b) Giai đoạn 1936-1939: Đảng lãnh đạo cuộc vận động dân chủ, chống bọn phản động
thuộc địa và tay sai, chống đế quốc chiến tranh, đòi tự do cơm áo, hòa bình.
Các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 3 và tháng 9-1937 tập trung rút
kinh nghiệm về công tác tổ chức của Đảng. Ngày 26-3-1937, Ban Chấp hành Trung ương
công bố cuốn sách về "Chủ trương tổ chức mới của Đảng" với tư tưởng chủ đạo là: "Hoàn
1
cảnh mới, nhiệm vụ mới bắt buộc Đảng ta phải có con đường chính trị mới, con đường chính
trị mới lại bắt buộc phải có một đường lối tổ chức mới".
Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 11-1939), do đồng chí
Nguyễn Văn Cừ chủ trì, đã nhấn mạnh mục tiêu chuyển hướng chiến lược "Đánh đổ đế quốc
Pháp và bọn phong kiến thối nát, giải phóng các dân tộc Đông Dương" và quyết định thành
lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.
Qua cao trào dân chủ 1936-1939, uy tín của Đảng được tăng cường, công tác tổ chức
của Đảng trưởng thành thêm một bước.
c) Giai đoạn 1940-1945: Đảng trực tiếp lãnh đạo chuẩn bị khởi nghĩa và tổng khởi
nghĩa giành chính quyền.
Từ tháng 9 năm 1940, Nhật chiếm Đông Dương; Nhật Pháp cấu kết với nhau đàn áp
cách mạng nước ta. Trước tình hình đó, Trung ương chủ trương chuyển các tổ chức đảng
vào hoạt động bí mật một cách nhanh chóng, triệt để.
Tháng 2-1941 , đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách

mạng Việt Nam, triệu tập Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa I tại
Pắc Pó, Cao Bằng vào tháng 5-1941.
Ngày 1-12-1941, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị về công tác tổ chức của
Đảng, nêu phương châm công tác tổ chức lúc bấy giờ là: “rộng rãi, thực tế, khoa học" và
phải tập trung hoàn thành tốt những nhiệm vụ chủ yếu.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt
Nam ngày nay ra đời ngày 22 tháng 12 năm 1944.
Ngày 13-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, Tuyên Quang, nhận
định cơ hội cho nhân dân ta giành chính quyền đã tới, nêu chủ trương kịp thời lãnh đạo toàn
dân khởi nghĩa, quyết định lập ủy ban khởi nghĩa toàn quốc.
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đồng Nam Á là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; của đường lối độc lập tự chủ đầy sáng tạo của Đảng về
cách mạng Việt Nam; đồng thời, cũng là thành tựu rất to lớn về công tác tổ chức của Đảng
và về tổ chức phong trào cách mạng của quần chúng đấu tranh giải phóng dân tộc.
Trong mười lăm năm (1930-1945), Đảng ra đời và từng bước vượt qua nhiều khó khăn,
thử thách. Công tác tổ chức của Đảng đã có bước phát triển lớn, tích lũy được nhiều kinh
nghiệm quý báu về xây dựng đảng và tổ chức, vận động quần chúng tham gia các phong trào
cách mạng, với nhiều hình thức đấu tranh sinh động.
2- Công tác tổ chức xây dựng Đảng trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân
Pháp (1945-1954).
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến cuộc kháng chiến toàn quốc mở đầu vào
cuối năm 1946.
Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh của gần một
triệu người, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn độc
lập, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
Ngày 6-1-1946 diễn ra cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời đã phải đứng trước những
thử thách: "ngàn cân treo sợi tóc".
Công tác tổ chức của Đảng trong giai đoạn này là tập trung sức tổ chức thực hiện thắng

lợi những nhiệm vụ mới của cách mạng trên các mặt: củng cố, xây dựng và bảo vệ chính
quyền dân chủ nhân dân; tiến hành tổng tuyển cử, đồng thời tổ chức phát động phong trào
cứu đói, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm và xây dựng đời sống mới; phát triển Mặt trận
2
và các đoàn thể cứu quốc; xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang; bảo vệ và phát triển Đảng
gấp rút đào tạo đội ngũ cán bộ của Đảng, chính quyền, đoàn thể và lực lượng vũ trang.
Trong những năm 1947-1954: Kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.
Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược bùng
nổ. Công tác tổ chức của Đảng trong giai đoạn này đã góp phần quan trọng vào việc xây
dựng và tổ chức thực hiện đường lối của Đảng là tập trung toàn bộ công sức tiến hành hai
nhiệm vụ vừa kháng chiến vừa kiến quốc với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, vì độc lập
tự do. Các cơ quan Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ rời Hà Nội, lên chiến khu Việt
Bắc.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II họp từ ngày 11 đến ngày 19-2- 1951 tại xã Vinh
Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đại hội đề ra nhiệm vụ cơ bản của cách mạng
Việt Nam là lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, đánh
đuổi đế quốc xâm lược đất nước hoàn toàn độc lập và thống nhất, xóa bỏ hình thức bóc lột
phong kiến, thực hiện khẩu hiệu "người cày có ruộng". Đại hội đã thông qua Báo cáo chính
trị; Báo cáo về tổ chức và Điều lệ Đảng; quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai và lấy
tên là Đảng Lao động Việt Nam.
Nhìn chung công tác tổ chức xây dựng đảng ở giai đoạn này cùng với việc tiến hành
các mặt công tác khác của Đảng và Nhà nước đã đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cuộc kháng
chiến, động viên sức mạnh của toàn dân quyết một lòng hy sinh chiến đấu vì độc lập tự do,
tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới, góp phần quan trọng vào chiến thắng
trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược. Thắng lợi
của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là thắng lợi của đường lối đúng đắn và sáng tạo
của Đảng ta về kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện, tự lực cánh sinh. Đồng thời cũng
là thắng lợi của công tác tổ chức xây dựng đảng, xây dựng quân đội, xây dựng chính quyền
nhân dân và xây dựng các đoàn thể quần chúng trong thời kỳ vừa kháng chiến vừa kiến
quốc.

3- Công tác tổ chức xây dựng Đảng trong thời kỳ cả nước thực hiện hai nhiệm vụ
chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước (1955-1975).
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, thi hành Hiệp định Giơnevơ, nước ta tạm
thời bị chia làm 2 miền: miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ cải tạo và
xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam còn bị sự thống trị của chế độ thuộc địa kiểu mới của
đế quốc Mỹ. Cách mạng nước ta đứng trước thời kỳ lịch sử mới đầy khó khăn và thử thách.
Tại Hội nghị lần thứ 10, họp vào tháng 9 năm 1956, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa II) đã nghiêm khắc kiểm điểm và vạch rõ: " trong cuộc vận động này chúng ta đã
phạm những sai lầm nghiêm trọng trên một số vấn đề có tính chất nguyên tắc”. Đó là vi
phạm đường lối giai cấp của Đảng, vận dụng máy móc kinh nghiệm của nước ngoài một
cách "tả khuynh" trong quá trình thực hiện cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức; vi phạm
nặng các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; rơi vào "chủ nghĩa thành phần" trong công
tác phát triển đảng viên, v.v Những sai lầm, thiếu sót đó đã làm cho lực lượng của Đảng bị
suy yếu, tổn thất, uy tín của Đảng bị giảm sút.
Ba năm tiếp theo (1958-1960), công tác tổ chức tập trung phục vụ việc hoàn thành kế
hoạch cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư doanh, đưa đại bộ
phận nông dân, những người lao động thủ công vào các hợp tác xã, v.v
Ở miền Nam, ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, vào tháng 10 năm 1954,
Xứ ủy Nam Bộ và Khu ủy khu V được thành lập theo nghị quyết của Bộ Chính trị (tháng 9-
3
1954). Tháng 8 năm 1956, đồng chí Lê Duẩn soạn thảo đề cương "Đường lối cách mạng
miền Nam".
Trong không khí sôi sục căm thù và khí thế vùng dậy của quần chúng, trong tháng 1 và
tháng 5-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có cuộc họp quan trọng tại Hà Nội (Hội
nghị Trung ương 15 khóa II), ra Nghị quyết có ý nghĩa lịch sử xác định cách mạng Việt Nam
lúc này có hai nhiệm vụ chiến lược song song tiến hành, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng tiến hành tại Hà Nội từ ngày 5 đến
10-9-1960, Đại hội đã vạch ra đường lối cách mạng của thời kỳ mới là: tăng cường đoàn kết

toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện
thống nhất nước nhà . . . ". Đại hội cũng đã tổng kết 30 năm công tác xây dựng đảng, nhấn
mạnh phải tăng cường tính chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng, lấy chủ
nghĩa Mác-lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng.
Ở miền Bắc, trong những năm từ 1961 đến 1965, công tác tổ chức tập trung phục vụ
việc triển khai thực hiện kế hoạch nhà nước năm năm lần thứ nhất, tiến hành các cuộc vận
động lớn, chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam và làm nhiệm vụ quốc tế,
góp phần tạo ra nhiều phong trào thi đua yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, v.v Từ 5-8-1964
bắt đầu diễn ra của quân và dân miền Bắc chống chiến tranh phá hoại bằng không quân và
hải quân của đế quốc Mỹ, công tác tổ chức của Đảng đặc chuyển hướng phục vụ việc hoàn
thành tốt nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu và chi viện cho miền Nam. Ban Tổ chức
Trung ương và cơ quan tổ chức các ngành, các cấp đã kết hợp chặt chẽ với ban thống nhất
Trung ương và Bộ Quốc phòng thực hiện tốt nhiệm vụ: đào tạo, điều động, tăng cường cán
bộ, chiến sỹ vào tham gia chiến đấu và công tác ở miền Nam, phát triển giao thông vận tải,
tổ chức tiếp đón nhiều cán bộ, chiến sỹ miền Nam ra Bắc chữa bệnh, học tập, v.v. . .
Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 của quân và dân miền Nam,
đế quốc Mỹ buộc phải chấp nhận đàm phán tại Hội nghị Paris. Ngày 2-9-1969, một sự kiện
đau thương vô hạn đối với toàn Đảng, toàn dân ta: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Bác Hồ kính yêu
qua đời. Những năm tiếp theo cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam (1969-1975),
công tác tổ chức tập trung vào việc thực hiện các nghị quyết Hội nghị Trung ương: Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương về "hoàn thành cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc"; Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 22 Ban Chấp hành Trung ương về "nhiệm vụ, phương hướng khôi phục và phát
triển kinh tế miền Bắc trong hai năm 1974-1975"; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 23 Ban Chấp
hành Trung ương về “tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng"
Sau phong trào đồng khởi năm 1960, cách mạng miền Nam chuyển sang giai đoạn
mới. Trung ương cục miền Nam được thành lập lạị theo Nghị quyết của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng ngày 23-1-1961 để trực tiếp lãnh đạo cách mạng ở miền Nam, từng bước
đánh bại chiến lược “chiến tranh đặc biệt" đến chiến lược “chiến tranh cục bộ" và chiến lược

"Việt Nam hóa chiến tranh".
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (từ năm 1955 đến năm 1975) là
thắng lợi của đường lối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn và cũng là thắng lợi trong
công tác tổ chức tài tình của Đảng ta. Trong 20 năm đó, các cơ quan tổ chức và đội ngũ cán
bộ làm công tác tổ chức đểu tỏ rõ lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, vượt qua mọi khó
khăn, gian khổ, hy sinh, nỗ lực phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ.
4
4- Công tác tổ chức xây dựng Đảng trong thời kỳ cả nước thống nhất đi lên chủ
nghĩa xã hội và tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước (từ năm 1975 đến nay).
a) Giai đoạn 1975-1986: cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội.
Ngay sau ngày miền Nam được giải phóng, thực hiện các nghị quyết của Ban Chấp
hành Trung ương, Bộ Chính trị, công tác tổ chức của Đảng đã nhanh chóng giải quyết hàng loạt
những vấn đề cấp bách trước mắt, như xây đựng và củng cố hệ thống chính trị thống nhất của cả
nước, trong đó bao gồm việc xây dựng và củng cố tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể ở các
cấp trong các vùng mới được giải phóng thực hiện sự thống nhất đất nước về mặt Nhà nước,
bầu Quốc hội của cả nước (25-4-1976).
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng tiến hành từ ngày 14 đến ngày 20-12-
1976 tại Hà Nội, Đại hội tổng kết 16 năm thực hiện đường lối chính trị của Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ III, đề ra đường lối chung và đường lối phát triển kinh tế trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam
thành Đảng Cộng sản Việt Nam.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng tiến hành từ ngày 27 đến ngày 31-3-
1982 tại Hà Nội, Đại hội khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung và đường lối kinh tế
do Đại hội IV vạch ra, đồng thời phê phán những sai lầm, khuyết điềm trong chỉ đạo thực
hiện đường lối Đại hội IV của Đảng; chỉ ra những mục tiêu, nội dung của chặng đường trước
mắt, khẳng định những mặt tích cực và kết quả đã đạt được, vạch rõ những mặt còn yếu kém
trong công tác tổ chức của Đảng những năm qua. Sau Đại hội, công tác tổ chức xây dựng
đảng tập trung vào việc củng cố hệ thống tổ chức của Đảng, tiến hành xây dựng các quy chế
làm việc của cấp ủy và tổ chức đảng, đề cao trách nhiệm của tập thể và cá nhân, khắc phục

những yếu kém, nhất là tính thụ động, ỷ lại cấp trên kết hợp sự tăng cường lãnh đạo của
Đảng với việc kiện toàn các cơ quan chính quyền, cải tiến tổ chức và cơ chế quản lý, nâng
cao tính chiến đấu của đội ngũ đảng viên.
b) Giai đoạn từ năm 1986 đến nay. Tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng tiến hành từ ngày 15 đến ngày 18-12-
1986 tại Hà Nội, Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đánh dấu bước ngoặt có ý nghĩa
rất quan trọng trong quá trình cách mạng ở nước ta. Đại hội vừa khẳng định những kết quả
to lớn đã đạt được trong công tác xây dựng Đảng thời gian qua, vừa phân tích phê phán
những sai lầm, khuyết điểm mà "sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách
lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện", trong đó "những khuyết điểm trong
hoạt động tư tưởng, tổ chức và công tác cán bộ của Đảng. Đây là nguyên nhân của mọi
nguyên nhân". Đại hội vạch rõ phương hướng, nhiệm vụ của công tác xây dựng đảng là:
"Xây dựng Đảng thật sự ngang tầm một đảng cầm quyền có trọng trách lãnh đạo toàn dân
thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược. Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư
tưởng và tổ chức là nhân tố quyết định sự phát triển của cách mạng nước ta". Đảng phải "đổi
mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới
phong cách lãnh đạo và công tác".
* Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng tiến hành từ ngày 24 đến ngày 27-6-
1991 tại Hà Nội, Đại hội khẳng định và nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với chủ nghĩa
Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (1991-
2000) và Điều lệ Đảng (sửa đổi) Về công tác xây dựng Đảng, báo cáo của Ban Chấp hành
Trung ương đã chỉ rõ: "Để lãnh đạo thắng lợi công cuộc đối mới cũng như toàn bộ sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta phải tự đổi mới và chỉnh đốn để có
5
kiến thức, năng lực và sức chiến đấu mới, khắc phục có hiệu quả các hiện tượng tiêu cực và
mặt yếu kém, khôi phục và nâng cao uy tín của Đảng trong nhân dân. Đảng phải được xây
dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, thật sự là đội tiên phong của giai cấp
công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả
dân tộc".

* Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng tiến hành từ ngày 28- 6 đến ngày
1-7-1996 tại Hà Nội, Đại hội khẳng định tính chất đúng đắn của đường lối đổi mới toàn diện
do Đại hội VI đề ra, được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII và Hội nghị đại biểu toàn
quốc giữa nhiệm kỳ của Đảng tiếp tục bổ sung và phát triển. Đại hội đã chỉ ra sáu bài học
chủ yếu qua mười năm thực hiện đổi mới. Trong đó, có bài học tăng cường vai trò lãnh đạo
của Đảng, lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đảng là nhiệm vụ then
chốt.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiến hành tại Hà Nội từ ngày 19 đến
ngày 22-4-2001 , Đại hội đã thông qua Báo cáo chính trị với chủ đề "Phát huy sức mạnh
toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Việt Nam xa hội chủ nghĩa". Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội, phần về công tác xây dựng
đảng đã khẳng định những thành tựu đạt được, đồng thời nghiêm khắc kiểm điểm về "một số
mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ
cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức
lối sống " Căn cứ vào tình hình và yêu cầu mới, Đại hội quyết định tiếp tục tăng cường
công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng, nâng cao năng học lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng,
củng cố mối quan hệ mật thiết với nhân dâm tập trung làm tốt bốn công tác quan trọng là:
giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; tiếp tục
đổi mới công tác cán bộ; xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng; kiện toàn tổ chức, đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
* Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng họp từ ngày 18/4/2006 đến ngày
25/4/2006 tại Hà Nội. Đại hội X khẳng định chủ đề Đại hội là "Nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc
đổi mới sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển". Đại hội xác định những mặt
công tác cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt trong công tác xây dựng Đảng như: Nâng
cao bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ của Đảng; kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ
chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc
tập trung dân chủ trong Đảng; đổi mới tổ chức bộ máy, cán bộ và phương thức lãnh đạo của
Đảng. Đặc biệt là tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá X họp từ ngày
14 đến 22/1/2008 đã nghiêm túc kiểm điểm đánh giá đúng tình hình, thẳng thắn chỉ ra những

khuyết điểm yếu kém của tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần khắc phục;
đồng thời Hội nghị Trung ương thông qua Nghị quyết " Về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên". Đây là một dấu
mốc quan trọng, thể hiện sự quyết tâm của Trung ương tập trung, dồn sức hướng mạnh về cơ
sở, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất
đạo đức cách mạng; tạo bằng được bước chuyển mang tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức ở cơ sở.
Công tác tổ chức xây dựng đảng kể từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả
nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội luôn có vai trò, vị trí quan trọng trong xây dựng,
hoạch định và từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng. Nhìn lại 80 năm
qua công tác tổ chức xây dựng đảng luôn luôn bám sát đường lối chính trị của Đảng và thực
tiễn tình hình đất nước. Cùng với sự phát triển của cách mạng hệ thống các cơ quan tổ chức
6
và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng ngày càng trưởng thành, tích luỹ
được nhiều kinh nghiệm phong phú từ thực tiễn sinh động của quá trình cách mạng và của
công tác xây dựng Đảng qua các thời kỳ, góp phần to lớn vào những thắng lợi vẻ vang trong
sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc ta.
Câu hỏi 2: Những bài học kinh nghiệm chủ yếu về công tác tổ chức xây dựng Đảng
trong 80 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam?
Thứ nhất là, giữ vững bản chát giai cấp công nhân và tăng cường tính tiên phong của
Đảng là yêu câu cơ bản, có tính nguyên tắc đối với công tác xây dựng đảng về chính trị, tư
tưởng và tổ chức.
Vì nếu Đảng không giữ được bản chất giai cấp công nhân và không thể hiện được tính
tiên phong về tư tưởng và hành động thì Đảng không còn là một Đảng Cộng sản chân chính,
không hoàn thành được vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng ở nước ta mà dân nhân giao
phó. Ngày nay, với đường lối đổi mới toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế; với cơ sở xã hội và giai cấp biến đổi phức tạp, các mặt tích cực và tiêu cực đan
xen với nhau, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch vẫn tăng cường thực hiện chiến lược
diễn biến hòa bình, lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, dân chủ để kích động

ly khai, phân hóa, chia rẽ nội bộ nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, hòng xoá bỏ vai trò
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì vấn đề giữ vững bản chất giai cấp công nhân và
tăng cường tính tiên phong của Đảng cộng trở thành yêu cầu cấp thiết của công tác xây dựng
đảng trong thời kỳ mới.
Thứ hai là, công tác xây dựng đảng về tổ chức phải xuất phát từ đường lối chính trị của
đảng và kết hợp chặt chẽ với công tác xây dựng đảng về tư tưởng.
Thực tiễn đã chứng tỏ sức mạnh của Đảng là sức mạnh tổng hợp của đường lối chính
trị đúng đắn, nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên thống nhất; tổ chức của Đảng được
xây dựng và củng cố thật sự vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân, hành động trong
toàn Đảng là nhất quán và có hiệu quả. Trong tất cả các thời kỳ, phải luôn chăm lo xây dựng
hệ thống tổ chức của Đảng ở các cấp từ Trung ương đến các cấp ủy địa phương và cơ sở;
đặc biệt là phải xây dựng, củng cố các tổ chức cơ sở đảng và các chi bộ thật sự vững mạnh,
nơi trực tiếp nối liền mối quan hệ giữa Đảng và các tầng lớp nhân dân, đáp ứng yêu cầu lãnh
đạo nhân dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ, mỗi cơ sở cụ thể.
Kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị là thước đo chủ yếu đối với kết quả của công tác tổ
chức.
Báo cáo cính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IV (tháng 12/1976) đã chỉ rõ: “Quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng ta
trước hết là tăng cường lãnh đạo chính trị và lãnh đạo tổ chức, xây dựng đường lối chính
sách đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ và tổ chức thắng lợi đường lối ấy’’. Nhìn lại chặng
đường xây dựng và trưởng thành của Đảng, chúng ta có thể tự hào và nhận thấy, trong
những điều kiện vô cùng khó khăn, phức tạp của cách mạng nước ta và cách mạng thế giới
cũng như trước sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu thì
đường lối chính sách của Đảng luôn luôn đúng đắn, sáng tạo trên tất cả các lĩnh vực. Đường
lối ấy vừa quán triệt tinh thần cách mạng tiến công, cách mạng triệt để, vừa thấm nhuần tính
khoa học nghiêm túc trong việc phân tích lực lượng so sánh giữa ta và địch trong phạm vi
nước ta và trên thế giới; vừa có sự chuyển hướng mạnh bạo, kịp thời nhằm mục tiêu cụ thể
7
lại có sách lược và phương pháp thích hợp, nhờ vậy mà đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta
giành thắng lợi trong 2 cuộc kháng chiến và đạt được nhiều thành tựu to lớn qua hơn 20 năm

đổi mới, xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Thứ 3 là, nhận thức và thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ tự phê
bình và phê bình, chăm lo xây dựng khối đoàn kết thống nhất trong đảng.
Đảng ta luôn xác định nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức
và hoạt động của Đảng. Đó là nguyên tắc tổ chức cơ bản của một Đảng Mác- Lênin chân
chính mang bản chất cách mạng và khoa học của giai cấp công nhân. Đảng cần thường
xuyên nâng cao nhận thức của các tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên và những căn
cứ khoa học và thực tiễn của nguyên tắc tập trung dân chủ và mối quan hệ biện chứng giữa
tập trung và dân chủ; trong đó phát huy đúng mức dân chủ là cơ sở để đảm bảo sự lãnh đạo
tập trung đúng đắn; đồng thời phải có sự lãnh đạo tập trung đúng mức mới có thể đảm bảo
cho quyền dân chủ trong Đảng được thực hiện có kết quả.
Theo Hồ Chí Minh, tự phê bình và phê bình là cơ sở để xây dựng khối đoàn kết thống
nhất trong Đảng, là quy luật phát triển của Đảng, là biện pháp có hiệu quả để giáo dục, rèn
luyện cán bộ, đảng viên. Qua tự phê bình và phê bình, từng tập thể và mỗi cá nhân làm rõ ưu
điểm để phát huy; phát hiện khuyết điểm để sửa chữa ngăn chặn, đẩy lùi các mặt tiêu cực và
sự suy thoái, phấn đấu làm cho các tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự trong
sạch, vững mạnh.
Thường xuyên chăm lo củng cố khối đoàn kết thống nhất của toàn Đảng và của từng tổ
chức đảng. Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng ta và của nhân dân ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công,
đại thành công". Khối đoàn kết thống nhất ấy được xây dựng dựa trên cơ sở Cương lĩnh,
đường lối chính trị, Điều lệ Đảng và tình cảm cách mạng trong sáng. Thực tiễn đã cho thấy
khi trong tổ chức của Đảng có tình trạng mất đoàn kết là do không kiên quyết đấu tranh
chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, bè phái; không thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung
dân chủ, chế độ tự phê bình và phê bình; thực hiện chính sách cán bộ thiếu nhất quán và
công bằng.
Thứ tư là, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa đảng với nhân dân, bồi dưỡng phát huy
tinh thần yêu nước và truyền thống cách mạng, quyền làm chủ và lợi ích thiết thực của nhân
dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng.
Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp

của quần chúng nhân dân. Đảng Cộng sản Việt nam là đội tiên phong, người đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Sức
mạnh của Đảng chính là do Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân vận động nhân dân thực
hiện nhiệm vụ của mình và đã làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Khi chưa
giành được chính quyền, Đảng liên hệ trực tiếp nhân dân chủ yếu thông qua đảng viên, đoàn
viên hội viên của các đoàn thể yêu nước để vận động nhân dân đấu tranh giành chính quyên.
Khi đã giành được chính quyền và Đảng trở thành Đảng cầm quyền, Đảng liên hệ với nhân
dân bằng nhiều hình thức và biện pháp chủ yếu là thông qua cán bộ, đảng viên, công chức
hoạt động trong bộ máy nhà nước đồng thời thông qua cán bộ, đảng viên và những người
nòng cốt hoạt động trong các đoàn thể nhân dân ở các cấp.
Có liên hệ chặt chẽ với nhân dân, Đảng mới ngày càng được xây dựng và hoàn thiện
hơn, phát huy được thành công, hạn chế được khuyết điểm yếu kém; ngăn ngừa tệ quan liêu,
tham nhũng, xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân; đổi mới sự lãnh đạo của Đảng và
phương thức quản lý của Nhà nước, đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt Trận Tổ quốc và
8
các đoàn thể quần chúng. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân Đảng có thêm khả năng phát hiện
và có sức mạnh đập tan âm mưu thủ đoạn chống Đảng của các thế lực thù định, bảo vệ
Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
Quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân mãi mãi là vấn đề chiến lược có ý nghĩa sống
còn đối với sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, các tổ chức đảng cần có kế hoạch và tạo điều kiện
thuận lợi để nhân dân tham gia ý kiến trong công tác xây dựng đảng; giám sát, phê bình cán
bộ, đảng viên; giới thiệu quần chúng ưu tú ngoài Đảng để tổ chức đảng xem xét, kết nạp;
giới thiệu những người có đủ tiêu chuẩn để được bầu cử hoặc được bổ nhiệm vào các cơ
quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Đồng thời phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác xây
dựng đảng với công tác xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và việc giáo dục
lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ, không ngừng bổ sung lực lượng kế tục trung thành với sự
nghiệp cách mạng của Đảng.
Thứ năm là, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm
chất chính trị, đạo đức cách mạng, năng lực lãnh đạo và hoạt động thực tiễn đáp ứng yêu cầu
của từng thời kỳ cách mạng, bảo đảm tính kế thừa và phát triển.

Công tác cán bộ của Đảng phải dựa trên cơ sở quán triệt lập trường giai cấp công nhân;
nắm vững quan điểm, nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc, Đảng phải thống nhất lãnh đạo
công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, bám sát yêu cầu nhiệm vụ chính trị của từng thời
kỳ để có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ một cách thường
xuyên. Xây đựng đội ngũ cán bộ vững mạnh đồng bộ ở các cấp, các ngành chú trọng xây
dựng những cán bộ chủ chốt vững vàng, mẫu mực. Tiến hành đổi mới, trẻ hóa cán bộ trên cơ
sở tiêu chuẩn và có sự chuẩn bị chu đáo, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, kế thừa
và phát triển, giữ vững đoàn kết nội bộ và sự ổn định về chính trị.
9
Cụ thể hóa, thể chế hóa nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác cán bộ, giữ vững
chế độ làm việc tập thể của các cơ quan lãnh đạo trong việc xem xét quyết định về cán bộ;
xây dựng, thực hiện các chế độ, chính sách cán bộ một cách nhất quán, công bằng, có lý, có
tình; khuyến khích phát huy những người có tài, trân trọng những cán bộ có công, phù hợp
với điều kiện cụ thể của đất nước. Đồng thời phải xây dựng các cơ quan tham mưu giúp việc
vững mạnh để giúp cấp ủy làm tốt công tác cán bộ và công tác bảo vệ chính trị nội bộ.
Thứ sáu là, thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố các cơ quan và đội ngũ cán bộ
làm công tác tổ chức thật sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách
mạng và của công tác xây dựng Đảng.
Sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang diễn ra toàn điện
trên tất cả các lĩnh vục của đời sống xã hội. Là đảng cầm quyền, Đảng không chỉ chăm lo
xây dựng tổ chức và đội ngũ cán bộ cho riêng Đảng, mà lo cho cả hệ thống chính trị. Bởi
vậy, phải xây dựng, củng cố các cơ quan và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức đủ mạnh để
làm tốt công tác tham mưu cho Đảng.
Chăm lo xây dựng, củng cố các cơ quan và đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức của
Đảng, từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan tổ chức các cấp;
tích cực đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức thật sự vững
vàng về chính trị, có kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn trên nhiều lĩnh vực, nhất là
về các mặt công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên; có đạo đức
cách mạng, công tâm, trung thực, khách quan, làm việc có hiệu quả, được các tổ chức đảng

và nhân dân tin yêu là việc làm thường xuyên của Đảng và các cấp ủy.
Phải coi công tác tổ chức xây đựng đảng là một khoa học; tăng cường tổng kết thực
tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác này, để từng bước hình thành những căn cứ khoa học,
làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đề xuất về phương hướng, chủ trương, giải pháp của công
tác xây dựng đảng nói chung và xây dựng đảng về tổ chức nói riêng một cách đúng đắn và
sáng tạo trong thơi kỳ mới.
Câu hỏi 3: Theo đồng chí để xây dựng đội ngũ cán bộ có đức, có tài đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ mới, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh
đạo, sức chiến đấu của Đảng, công tác tổ chức cán bộ cần được đổi mới như thế nào?
* Nhận thức chung về xây dựng đội ngũ cán bộ có đức, có tài đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ:
Trong bất cứ thời kỳ nào, giai đoạn nào của sự nghiệp cách mạng, cán bộ cũng là vấn
đề nổi lên hàng đầu và giữ vai trò hết sức trọng yếu. Nó chẳng những có ý nghĩa quyết định
đối với công tác xây dựng đảng và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn có ý nghĩa
quyết định cả sự thành bại của cuộc đấu tranh cách mạng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có những con
người xã hội chủ nghĩa. Người còn nói: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Điều đó có
nghĩa là cán bộ, công tác cán bộ là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với
toàn bộ sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo, đối với sự hoạt động và trưởng thành của
Đảng. Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng đã khẳng định: "Cán bộ là nhân tố quyết đinh sự thành
bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chê độ, là khâu then
chốt trong công tác xây dựng Đảng ".
- Công tác cán bộ phải xuất phát từ đường lối chính trị và nhiệm vụ tổ chức của đảng
trong từng thời kỳ và phục vụ đường lối nhiệm vụ đó. Đường lối chính trị quyết định nhiệm
vụ tổ chức, trong đó có công tác cán bộ. Có đường lối chính trị và nhiệm vụ tổ chức đúng thì
mới có phương hướng và nộí dung đúng để xây dựng đội ngũ cán bộ, ngược lại đội ngũ cán
bộ có chất lượng cao bảo đảm cho tổ chức đảng và nhà nước phát huy được hiệu lực và
đường lối chính trị của đảng mới được thực hiện thắng lợi; do đó phải từ đường lối chính trị
mà suy nghĩ và giải quyết vấn đề cán bộ. Toàn bộ công tác cán bộ, chính sách cán bộ phải

đảm bảo cho đường lối chính trị của Đảng được thực hiện thắng lợi cho cuộc sống.
- Nhiệm vụ cách mạng “đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng dược một đội ngũ cán bộ
ngang tầm”, đảm bảo thực hiện đường lối chính trị đổi mới của Đảng, tiêu biểu cho đường
lối chính trị đó, tuyệt đối trung thành với đường lối chính trị đó, quán triệt sâu sắc, kiên
quyết đấu tranh thực hiện thắng lợi đường lối chính trị đó và những nhiệm vụ chính trị do
Đảng đề ra với một lập trường nguyên tắc không gì thay đổi nổi, với quyết tâm cao nhất với
đầy đủ những tri thức cần thiết, với khả năng chấp hành đường lối cách mạng của Đảng một
cách sáng tạo
- Vấn đề cán bộ cần được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với tổ chức Đảng, Nhà
nước, đoàn thể chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, văn hóa, tổ chức quần chúng, tổ chức trong
mọi lĩnh vực của đời sống và hoạt động xã hội. Nói đến tổ chức trong hoạt động xã hội là
nói đến các mối quan hệ và sự phối hợp giữa các hoạt động, giữa các bộ phận của một chỉnh
thể; là hệ thống lãnh đạo và quản lý các cấp, các ngành từ trên xuống dưới. Do vậy nói tới
cán bộ không thể nói ra ngoài tổ chức, bởi cán bộ là một nhân tố sống động và có tính quyết
định. Tổ chức do con người lập ra; con người là nhân tố chủ yếu cấu thành tổ chức; tổ chức
không hoạt động nếu không có con người. Song, khi đã là một tổ chức, chính tổ chức lại có
tác động quyết định trở lại với con người; quy định con người giữ vị trí nào, có nhiệm vụ
chức năng nào trong guồng máy hoạt động; quy định phương hướng và mục tiêu hoạt động
của con người, điều khiển hoạt động của con người…; Trong quá trình đó tổ chức sẽ làm
nảy sinh ở con người những đặc tính và đức tính nhất định, rèn luyện con người theo đường
lối chính trị và đáp ứng yêu cầu thực hiện thắng lợi đường lối chính trị đó. Khả năng và hoạt
động của con người phụ thuộc vào tổ chức và tổ chức nhân sức mạnh của con người lên gấp
bội. Chi bộ mạnh cấp ủy mạnh thì đảng viên mạnh. Tổ chức đảm bảo cho từng người mạnh,
và từng người mạnh khiến cho cả tổ chức mạnh.
- Vấn đề cán bộ và tổ chức là những vấn đề đặc biệt khó khăn phức tạp và do Đảng
trực tiếp thống nhất lãnh đạo trong điều kiện Đảng nắm chính quyền. Vấn đề đặc biệt quan
trọng này, luôn luôn được các đại hội toàn quốc của Đảng đề cập tới và thể hiện tương đối
tập trung trong các Ngị quyết Hội nghị Trung ương 3 (Khóa VII) và Hội nghị Trung ương 3
(khóa VIII…,) Trong các kỳ đại hội Đảng đều chỉ rõ những quan điểm và nội dung, nhiệm
vụ công tác cán bộ.

- Tình hình và nhiệm vụ mới đặt ra rất nhiều yêu cầu cho công tác cán bộ. Toàn Đảng,
toàn dân phải hết sức chăm lo thật tốt cho công tác cán bộ, chú trọng xây dựng đội ngũ cán
bộ chủ chốt các cấp, chuẩn bị tốt đội ngũ kế cận có bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực
trình độ chuyên môn ngang tầm với tình hình phát triển mới của đất nước.
* Để xây dựng đội ngũ cán bộ có đức, có tài, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với tình hình nhiệm vụ mới của cách mạng Việt
Nam hiện nay, góp phần xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của Đảng thì công tác tổ chức cán bộ trong tình hình hiện nay cần tập trung
đổi mới và làm tết các nội đung cơ bản sau:
- Thứ nhất: Đảng phải chăm lo đào tạo, bố trí cán bộ cho cả hệ thống chính trị, trên tất
cả các lĩnh vực hoạt động xã hội. Đảng phải thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý
cán bộ; đồng thời phải phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính
trị đối với công tác cán bộ, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ đi đôi với phát huy trách
nhiệm cá nhân trong công tác cán bộ.
- Thứ hai: Trên cơ sở đảm bảo tiêu chuẩn về đội ngũ cán bộ, để có chiến lược đổi mới
về công tác cán bộ; thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ, đồng thời kết hợp tết các độ tuổi, bảo
đảm tính liên tục, phát triển trong đội ngũ cán bộ.
Có một cơ chế, chính sách đoàn kết, tập hợp rộng rãi các loại cán bộ, phát hiện và
trọng dụng cán bộ có đức có tài. Cán bộ của thời kỳ mới phải là những người có phẩm chất
chính trị vững vàng, trung thành với lý tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, có trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn, có ý thức tổ chức kỷ luật,
gương mẫu trong đạo đức và lối sống (vừa hồng vừa chuyên). Khẩn trương xây dựng một hệ
thống tiêu chuẩn thống nhất cho từng loại cán bộ, cho từng loại chức danh cán bộ, công chức
ở các ngành, các cấp, trên cơ sở đó để đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ, chấm dứt tình trạng bố
trí cán bộ theo kiểu quen thân, cảm tính, chủ quan hoặc có biểu hiện chạy quyền chạy chức
như hiện nay nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu cán bộ trong tình hình mới của đất nước để giữ
vững sự ổn định chính trị, sự vững vàng về đường lối và sự phát triển bền vững của đất
nước.
- Thứ ba: Đổi mới công tác đào tạo đội ngũ cán bộ một cách toàn diện cả về lý luận
chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn.

Quan tâm chú trọng bồi dưỡng đào tạo tất cả đội ngũ cán bộ lãnh đạo, đội ngũ cán bộ
quản lý, các nhà doanh nghiệp, các chuyên gia, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ
thống chính trị; coi trọng cả đức và tài trong đó đức là gốc.
Đảng phải chăm lo đào tạo đội ngũ cán bộ trong phong trào thực tiễn và ngay từ trong
các trường học; coi trọng công tác bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, chủ nghĩa Mác Lê nin và
tư tưởng Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ. Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở tất
cả các hệ thống đào tạo các trường ở trong nước, đồng thời chú trọng và từng bước lựa chọn,
tuyển chọn những cán bộ cốt cán, những cán bộ trẻ có năng lực, có phẩm chất đưa đi đào tạo
ở nước ngoài; nhanh chóng khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ về lý luận, non kém về kinh
nghiệm thực tiễn hiện nay trong cán bộ quản lý các cấp các ngành.
Việc học tập của đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt nói riêng là một nghĩa
vụ, phải được quy định thành một chế độ và thực hiện nghiêm ngặt. Mọi cán bộ phải thường
xuyên nâng cao trình độ mọi mặt, rèn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, lòng trung thành
với lý tưởng cách mạng của Đảng; ý chí kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu trong đạo đức, lối sống; kết hợp hài hòa giữa lợi ích
cá nhân với lợi ích chung; khi mâu thuẫn lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể thì phải đặt lợi
ích tập thể lên trên hết và trước hết.
- Thứ tư: Phải đổi mới quan niệm và phương pháp tiến hành công tác cán bộ, trước hết
là đánh giá, bố trí cán bộ, theo hướng thật sự dân chủ và theo một quy trình hết sức nghiêm
ngặt.
Mở rộng dân chủ trong công tác cán bộ. Bảo đảm nguyên tắc tập thể cấp ủy, tập thể
ban lãnh đạo xem xét các vấn đề về công tác cán bộ. Mỗi cấp ủy đảng cần có biện pháp quản
lý cán bộ và nắm chắc quá trình phát triển của cán bộ. Đánh giá cán bộ phải căn cứ vào
những việc làm cụ thể của mỗi người, cả ưu điểm và khuyết điểm, trong từng thời gian nhất
định. Những nhận xét, kết luận về cán bộ, mọi công việc về nhân sự nhất thiết phải do tập
thể có thẩm quyên quyết định. Xây dựng quy trình và thực hiện đúng quy trình về giời thiệu,
đề bạt, bố trí sắp xếp cán bộ. Khắc phục cách làm đơn giản, thành kiến, thiếu công tâm và
dân chủ hình thức.
- Thứ năm: Bố trí sử dụng cán bộ phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn và sở trường .
Đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải đúng lúc, giao việc phù hợp vời sở trường, năng lực của

cán bộ, thay thế kịp thời những cán bộ không đảm bảo được nhiệm vụ chính trị được giao.
Xây dựng quy chế bầu cử có nhiệm kỳ, bổ nhiệm có thời hạn. Có chế độ phù hợp cho cán bộ
được từ chức, hoặc rút chức để nhận công việc thích hợp, cải tiến một bước chính sách đãi
ngộ cho cán bộ cơ sở; bãi bỏ những chế độ chính sách không phù hợp, không công bằng,
công khai hóa các chính sách, chế độ đãi ngộ cán bộ. Kiên quyết bãi miễn và đưa ra khỏi
cương vị lãnh đạo và quản lý ở mọi cấp những cán bộ kém phẩm chất và năng lực, không
đảm đương được nhiệm vụ. Bố trí lại những cán bộ phân công không hợp lý; không bố trí
điều chuyển cán bộ từ ngành này sang ngành khác, vị trí khác nếu người đó không phù hợp
với nhiệm vụ công tác được giao. Xây dựng một quy chế tuyển chọn, bố trí, sắp xếp cán bộ,
nhân tài một cách chặt chẽ và khoa học.
- Thứ sáu: Có chính sách sử dụng đúng đắn, chính sách tiền lương và đãi ngộ hợp lý
đối với các loại cán bộ.
Khắc phục tình trạng không muốn công tác ở cơ quan đảng, đoàn thể, tình trạng "chảy
máu chất xám" của khu vực nhà nước. Có biện pháp tích cực chủ động bảo vệ cán bộ, không để
cán bộ bị các thế lực đen tối mua chuộc, lôi kéo, khống chế hoặc bôi nhọ.
Công tác cán bộ phải đạt được mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ và có chất
lượng mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ chủ chốt của các ngành, các cấp và cơ sở, trước hết là
đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, có đủ phẩm chất và năng lực, bảo đảm thực hiện thắng lợi
đường lối đổi mới và mọi sự vững vàng của Đảng trước mọi sự khó khăn thử thách.
Đổi mới và thực hiện tốt các nội dung trên, công tác tổ chức cán bộ sẽ góp phần quan
trong xây dựng được đội ngũ cán bộ có đức có tài đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, góp phần
xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
Đảng./.
Những người làm công tác tổ chức là một bộ phận trong đội ngũ cán bộ của Đảng, có
chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền các cấp về công tác
tổ chức, cán bộ. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này là tiền đề nâng cao chất lượng
hoạt động của cả hệ thống chính trị. Đất nước ta đang chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chủ động hội nhập quốc tế, đòi hỏi phải xây dựng được
một đội ngũ cán bộ ngang tầm, đáp ứng tốt những yêu cầu mới đặt ra.
Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay, Nghị quyết Hội nghị

Trung ương 3, khoá VIII, nêu: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ hiện nay, xét về chất lượng, số
lượng và cơ cấu có nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá”(1) và một trong những nguyên nhân của những yếu kém, khuyết
điểm là: “Cơ quan làm công tác tổ chức cán bộ chậm đổi mới, chưa chú trọng nghiên cứu
khoa học; trình độ lý luận và tổng kết thực tiễn, tham mưu đề xuất những vấn đề chiến
lược về cán bộ còn hạn chế. Một số cán bộ làm công tác tổ chức chưa gương mẫu về đạo
đức, phẩm chất, thiếu khách quan, yếu về năng lực”(2). Văn kiện Hội nghị Trung ương 9,
khoá X, nhấn mạnh: “Nhìn chung, việc đổi mới công tác cán bộ chưa toàn diện và còn
chậm so với đổi mới kinh tế-xã hội”(3).
Để xây dựng được đội ngũ cán bộ tổ chức vững về chuyên môn, có đạo đức cách mạng
trong sáng, cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau:
Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp uỷ đảng và lãnh đạo các cấp về xây
dựng đội ngũ cán bộ tổ chức. Cần hiểu rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng
đội ngũ cán bộ tổ chức, từ đó có dự báo đúng tình hình, bám sát yêu cầu của nhiệm vụ
chính trị, có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị tốt cho trước mắt và lâu dài.
Việc quản lý cán bộ làm công tác tổ chức, trước hết là của cấp uỷ và lãnh đạo đơn vị.
Những vấn đề chủ trương, chính sách về công tác cán bộ nhất thiết phải do cấp uỷ có
thẩm quyền quyết định theo đa số. Thực tiễn cho thấy, ở đâu nhận thức đúng và coi trọng
công tác tổ chức, cán bộ thì ở đó cán bộ tổ chức phát huy được năng lực, sở trường công
tác, đóng góp có hiệu quả cho thành tích của đơn vị và nếu ngược lại, cán bộ tổ chức sẽ
không phát huy được, mà còn làm cho đơn vị phát sinh tiêu cực, mất đoàn kết, nội bộ
không ổn định.
Hai là, xác định tiêu chuẩn của cán bộ tổ chức. Trong khi đảm bảo tiêu chuẩn cán bộ theo
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khoá VIII, Hội nghị Trung ương 6, khóa IX cần xác định
có các tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ tổ chức: Thứ nhất, đó là nắm chắc quan điểm,
đường lối của Đảng trong xây dựng hệ thống chính trị, trong công tác cán bộ và xây dựng
đội ngũ cán bộ. Thứ hai, phải công tâm. Có công tâm, tâm trong sáng mới giữ được công
bằng, thi hành công việc một cách ngay thẳng, không thiên vị, biết đặt sự nghiệp chung, lợi
ích chung của cách mạng lên trên hết. Thứ ba, phải có tầm. Tầm là yêu cầu về năng lực,
chuyên môn, là tài năng của người cán bộ tổ chức, giúp nắm vững các biện pháp nghiệp

vụ, có kinh nghiệm trong việc đánh giá chính xác con người, đảm bảo chọn đúng người,
xếp đúng việc. Thứ tư, có tình thương yêu đồng chí, đồng bào, đây là sự thể hiện đạo làm
người cách mạng mà mỗi cán bộ tổ chức phải thấm nhuần và thực hành nhất quán trong
công việc, trong đời tư v.v… Cần quan tâm đến tính đặc thù của nghề tổ chức và những
tiêu chuẩn riêng cần có đối với người làm công tác tổ chức, cán bộ là để đào tạo, huấn
luyện những người có những tố chất phù hợp với nghề. Đặc biệt lưu ý đến năng lực, sự
tinh thế, nhạy cảm trong nhìn nhận, đánh giá, phát hiện, đoán định được xu hướng phát
triển của con người. Người làm công tác tổ chức không chỉ cần có kiến thức về con người,
về chức năng, nhiệm vụ tổ chức bộ máy, mà còn cần am hiểu cơ chế hoạt động cùng
những đặc điểm của từng lĩnh vực mà mỗi cán bộ đang hoạt động. Phải có kiến thức xã
hội rộng, nhiều trải nghiệm mới có thể thấu hiểu, đánh giá xác đáng con người. Phải có
các phẩm chất như kín đáo mà vẫn hoạt, sâu sắc mà vẫn cởi mở, linh hoạt mà vẫn chắc
chắn; kiên định, dám chịu trách nhiệm, biết lắng nghe và thấu hiểu, có sức cảm hoá lòng
người; biết giữ bí mật và nguyên tắc.
Ba là, xây dựng quy chế, đổi mới công tác đánh giá, tuyển chọn cán bộ tổ chức. Xây dựng
các quy chế bảo đảm cho công tác cán bộ, quản lý cán bộ đi vào nền nếp, là căn cứ cho
đội ngũ cán bộ tổ chức làm tốt chức năng tham mưu cho cấp uỷ đảng theo đúng quan
điểm, chủ trương của Đảng. Hoàn thiện và thực hiện nghiêm quy chế đánh giá cán bộ sẽ
giúp toàn bộ quy trình trong công tác cán bộ chính xác, hiệu quả không bỏ sót người tốt,
chọn nhầm người xấu, tạo ra động lực tích cực cho cán bộ phấn đấu tiến bộ, góp phần
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Vì vậy, đối với cán bộ tổ chức, càng phải được nhận
xét, đánh giá thường xuyên, nhất là trước khi đề bạt, bổ nhiệm. Tuyển chọn cán bộ tổ
chức trên cơ sở các tiêu chuẩn một cách dân chủ, công khai. Tuyển chọn cán bộ tổ chức,
nên chọn những cán bộ đã được đào tạo, bồi dưỡng, có kinh nghiệm thực tiễn, theo
hướng trẻ hoá, kết hợp tốt các độ tuổi, khắc phục tuyển cán bộ theo kiểu thân quen; kiên
quyết điều chuyển hoặc giải quyết nghỉ chế độ đối với những cán bộ mà phẩm chất, năng
lực, sức khoẻ không đáp ứng yêu cầu.
Bốn là, đổi mới cơ chế, chính sách và điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ tổ chức. Đổi
mới và hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ nhất là tiền lương, nhà ở, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, năng lực và

bản lĩnh cho cán bộ; thực sự khuyến khích những cán bộ có tài, trân trọng những cán bộ
có công; có biện pháp tích cực và chủ động trong việc bảo vệ cán bộ làm đúng, không để
cán bộ bị mua chuộc, lôi kéo, khống chế hoặc bôi nhọ danh dự; xử lý nghiêm minh, kịp
thời những cán bộ có sai phạm, thoái hoá biến chất, cơ hội chủ nghĩa. Đổi mới điều kiện
làm việc cho cán bộ tổ chức là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng công tác. Vì
vậy, các cấp uỷ đảng, lãnh đạo các ban tổ chức cần quan tâm đầu tư trang bị phương tiện
kỹ thuật; đào tạo cán bộ để làm chủ được các phương tiện, thiết bị và biến thành những
công cụ hữu hiệu phục vụ cho công tác tổ chức, cán bộ.
Năm là, đổi mới và chỉnh đốn bộ máy ban tổ chức. Thực tiễn cho thấy, tổ chức mạnh khiến
từng người mạnh và từng người mạnh giúp cho cả tổ chức mạnh. Xây dựng tổ chức phải
đi đôi với xây dựng con người và xây dựng con người phải gắn với xây dựng tổ chức. Văn
kiện Hội nghị Trung ương 9, khoá X, nhấn mạnh: “Các cấp uỷ, tổ chức đảng thường xuyên
lãnh đạo chăm lo kiện toàn bộ máy và đội ngũ cán bộ làm tham mưu về công tác tổ chức,
cán bộ”(4). Hiện nay, việc đổi mới, chỉnh đốn bộ máy và đội ngũ cán bộ tổ chức chưa thực
sự theo kịp với yêu cầu mới, biểu hiện ở sự chồng chéo, phân công không rành mạch, sự
phối kết hợp chưa ăn khớp. Công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và chất lượng
nghiên cứu, tham mưu của đội ngũ cán bộ tổ chức còn hạn chế. Cho nên, cần tổ chức sắp
xếp lại bộ máy hệ thống các ban tổ chức theo hướng tinh, gọn, chuyên sâu, hoạt động có
chất lượng và hiệu quả, gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tổ chức. Đồng thời
với việc bổ sung, hoàn thiện quy chế làm việc đưa mọi hoạt động vào nền nếp, đổi mới
phong cách, phương pháp công tác, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, tổng kết
thực tiễn.
Sáu là, đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ tổ chức. Phải
xây dựng và lấy tiêu chuẩn cán bộ tổ chức làm căn cứ quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng.
Trong đó, cần quan tâm xây dựng kế hoạch, nội dung, phương thức đào tạo, bồi dưỡng
cho từng loại cán bộ. Phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức để đánh giá
đúng thực trạng đội ngũ cán bộ hiện có, dự kiến nhu cầu và khả năng phát triển của đội
ngũ cán bộ để chủ động có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ tổ chức các cấp phải toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực thực tiễn; chú ý bồi dưỡng các kiến thức như tâm lý

xã hội, quản lý hành chính, quản lý kinh tế, ngoại ngữ, tin học; kết hợp bồi dưỡng tại
trường lớp với rèn luyện trong thực tiễn. Sử dụng cán bộ tổ chức phải đảm bảo đúng tiêu
chuẩn, phù hợp với sở trường. Thực hiện bổ nhiệm có thời hạn, chế độ từ chức, bãi
nhiệm; kiên quyết đưa ra khỏi đội ngũ những cán bộ kém phẩm chất, năng lực; bố trí lại
những cán bộ phân công không hợp lý.
Bảy là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và quản lý cán bộ làm công tác tổ chức.
Thông qua đó, giúp cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan tổ chức phát hiện xử lý kịp thời những vấn
đề nảy sinh, làm cho đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức hoạt động đúng nguyên tắc, quy
định; nắm chắc tình hình, diễn biến về tư tưởng, hoạt động của cán bộ.
Công tác tổ chức, cán bộ là một nghề, vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật cao
về chọn người và dùng người. Công tác tổ chức, cán bộ là chìa khoá thành công của công
cuộc đổi mới đất nước. Nhiệm vụ đặt ra hiện nay đòi hỏi người cán bộ tổ chức phải vừa
“hồng”, vừa “chuyên”, có “tâm”, đủ “tầm” để nhìn xa, trông rộng, biết đánh giá đúng và
chọn đúng người. Vì vậy, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ này vừa mang tính
cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài trong công tác cán bộ của Đảng ta
Câu hỏi 4: Hãy viết về một tấm gương tiêu biểu nhất trong đội ngũ cán bộ đã hoặc
đang làm công tác tổ chức xây dựng Đảng mà đồng chí biết?
Câu hỏi 5: Hiện nay, người cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng cần phải có
những tiêu chẩn, phẩm chất gì?
1- Cán bộ, công tác cán bộ là một trong những vấn đề cơ bản có tầm quan trọng quyết
định đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Bởi vì: "Cán bộ là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi
hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ để
đặt chính sách cho đúng”. Cán bộ của Đảng là người góp phần tích cực vào quá trình xây
dựng, giữ gìn, cụ thể hoá, phát triển và tổ chức thực hiện thắng lợi mọi đường lối, chính sách
của Đảng. Còn công tác tổ chức cán bộ là việc tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,
bố trí, sử dụng, quản lý, cất nhắc, đề bạt cán bộ. Công tác cán bộ có quan hệ chặt chẽ với
chính sách cán bộ vì cùng nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng có số lượng đủ,
chất lượng cao, cơ cấu đồng bộ, đáp ứng với yêu cầu cách mạng ở từng thời điểm cụ thể.
"Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại là do cán bộ

tốt hay kém". Nếu có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây dựng đường lối sẽ đúng đắn
và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi. Không có đội ngũ
cán bộ tốt thì dù đường lối chính sách đúng cũng khó có thể biến thành hiện thực được. Hồ
Chủ tịch cũng đã chỉ rõ: "Khi đã có chính sách đúng thì sự thành công và thất bại của chính
sách đó là do cách tổ chức công việc, do nơi lựa chọn cán bộ, do nơi kiểm tra. Nếu ba điều
ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích!”.
2- Tiêu chuẩn cán bộ "là sự thể hiện yêu cầu về phẩm chất và năng lực để hoàn thiện
nhiệm vụ, phải luôn luôn được bổ sung, cụ thể hoá phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
cách mạng".
Tiêu chuẩn cán bộ là vấn đề quan trọng đầu tiên của công tác cán bộ. Tiêu chuẩn cán
bộ đúng đắn là cơ sở chính xác để xem xét, đánh giá, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử
dụng, đề bạt cán bộ. Tiêu chuẩn cán bộ phải được cụ thể hoá cho phù hợp với yêu cầu của
từng thời kỳ cách mạng và tình hình của đội ngũ cán bộ.
Xây dựng tiêu chuẩn cán bộ phải căn cứ vào:
- Những quan điểm, nguyên tắc của Chủ nghĩa Mác-lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
của Đảng ta về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ;
- Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ và thực tiễn kinh tế,
chính trị, xã hội, con người Việt Nam,
- Phải căn cứ vào vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng loại cán bộ, từng chức danh
cán bộ
Hội nghị Trung ương 3 khoá VIII đã đặt ra tiêu chuẩn chung của cán bộ bao gồm các
nội dung cơ bản là:
- Thứ nhất, có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước.
- Thứ hai, Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Không tham nhũng và kiên quyết
đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật. Trung thực không cơ hội, gắn bó
mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
- Thứ ba, có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng,
chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hoá, chuyên môn, đủ năng lực và sức

khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Đây là 3 tiêu chuẩn của người cán bộ nói chung, các tiêu chuẩn đó có quan hệ mật thiết
với nhau, coi trọng cả đức và tài, đức là gốc. Ngoài ra, cần chú ý tiêu chuẩn về trình độ
ngoại ngữ, luật pháp, tin học; khả năng tiếp cận, nắm bắt và xử lý những vấn đề mới; về khả
năng đoàn kết, quy tụ, hội nhập; phong cách làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát, dám nghĩ,
dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng có thể hiểu đó là những người làm công
tác tổ chức cán bộ trong các cơ quan Đảng, trong các cấp uỷ Đảng từ Trung ương tới địa
phương, trong các trường chính trị, quân sự, công an …
Người cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng cũng cần phải có những tiêu chuẩn,
phẩm chất của người cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân nói chung như:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối
trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có
năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường
lối, chính sách, pháp luật; thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện. Có ý thức và khả năng
đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
- Gương mẫu về đạo đức, lối sống. Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập
hợp quần chúng, đoàn kết cán bộ.
- Có kiến thức về khoa học lãnh đạo, quản lý. Đã học tập có hệ thống ở các trường
Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân; trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả.
3- Tuy nhiên, do tính chất công tác đặc thù nên tiêu chuẩn, phẩm chất của người cán bộ
làm công tác tổ chức xây dựng Đảng ngoài việc phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tiêu
chuẩn, phẩm chất nêu trên, còn phải chú ý đảm bảo một số yêu cầu đặc biệt như:
- Có hiểu biết sâu sắc và biết vận dụng sáng tạo các nguyên tắc tổ chức xây dựng
Đảng, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt về công tác cán bộ, công
tác có chức, đánh giá cán bộ, đảng viên. . .
Nắm vững các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng; hiểu rõ mối quan
hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân, giữa Đảng với Nhà nước và các tổ chức
chính trị xã hội khác trong Hệ thống chính trị . . .
Nắm rõ và vận dụng một cách linh hoạt, khoa học, hợp lý những chính sách, quy trình

về lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, cất nhắc, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán
bộ.
- Có khả năng đánh giá con người một cách cơ bản về phẩm chất, năng lực, trình độ, sở
trường, sở đoản. Do tính chất công tác của người làm công tác tổ chức xây dựng Đảng cần
phải thường xuyên nắm tình hình đội ngũ cán bộ đối với từng cá nhân; người cán bộ tổ chức
cần có sự đánh giá khách quan đối với từng cá nhân về phẩm chất, năng lực, sở trường, các
mặt hạn chế Đó là một cơ sở quan trọng để đánh giá cán bộ thường xuyên, để tham mưu
với cấp trên có thẩm quyền tiến hành quy hoạch, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ vào
những vị trí, nhiệm vụ hợp lý, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ và phát huy được thế mạnh
của từng cá nhân.
- Có tầm nhìn chiến lược, khả năng dự báo tốt. Đây là điều kiện rất cần thiết để người
cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ có thể đề xuất lên cấp trên có thẩm quyền trong việc quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đảm bảo có nguồn cán bộ kế cận kịp thời và đáp ứng
được các yêu cầu, nhiệm vụ mới.
- Có khả năng tổng hợp, tham mưu, tổ chức tốt.
Người cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng có nhiệm vụ chính là tham mưu
cho cấp uỷ có thẩm quyền các vấn đề về tổ chức cán bộ, do vậy, người cán bộ làm công tác
tổ chức xây dựng Đảng ngoài yêu cầu về kiến thức chuyên môn và thường xuyên nắm tình
hình đội ngũ cán bộ và cơ cấu của tổ chức đảng, còn phải có khả năng tham mưu, tổng hợp
tốt.
Công tác tham mưu của người cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng lại được
tiến hành trên phương diện tổ chức cán bộ, là vấn đề con người. Đây là mặt công tác cực kỳ
quan trọng và cũng hết sức phức tạp, nhạy cảm và khó khăn. Vì thế, người cán bộ công tác
chuyên môn trên lĩnh vực này yêu cầu phải có khả năng tổ chức tốt, tức là có kỹ năng, kinh
nghiệm về hoạt động bố trí, sắp xếp khoa học, hợp lý; có tư duy độc lập, khả năng phân tích,
tổng hợp tốt, đề xuất được những phương án lựa chọn người, sắp xếp, bố trí vào những công
việc hợp lý để họ có thể phát huy được phẩm chất và năng lực thực tế của họ.
- Phải công tâm, trung thực, khách quan và dân chủ.
Như đã nói ở trên, lĩnh vực công tác tổ chức cán bộ là một công tác hết sức nhạy cảm
liên quan đến lợi ích chính trị của các cá nhân. Và cũng vì thế mà công tác này rất dễ nảy

sinh các vấn đề tiêu cực. Tuy nhiên, công tác tổ chức xây dựng Đảng lại được xác định là
một công tác hết sức quan trọng; nếu làm tốt công tác tổ chức xây dựng Đảng sẽ góp phần
tăng cường sức mạnh của từng tổ chức đảng nói riêng và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức
chiến đấu của toàn Đảng nói chung, ngược lại, nếu để xảy ra sai lầm, tiêu cực trong khi tiến
hành công tác này sẽ dẫn đến những hậu quả hết sức to lớn. Chính vì vậy đòi hỏi công tác tổ
chức xây dựng Đảng phải được tiến hành nghiêm túc, khoa học và hiệu quả. Muốn như vậy, đòi
hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ xây dựng Đảng trong công tác phải hết sức công
tâm, trung thực và khách quan. Tránh cá nhân chủ nghĩa, chủ quan hay có biểu hiện tiêu cực
trong công tác.
Để đảm bảo nâng cao hiệu quả và có cơ sở vững chắc cho công tác tổ chức cán bộ,
người cán bộ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng cần phải biết phát huy dân chủ, tranh thủ
các ý kiến góp ý, đề xuất, từ đó tổng hợp lại và có cái nhìn tổng quát, khách quan với vấn về
công tác tổ chức cán bộ, là cơ sở quan trọng để đưa ra hành động đúng.
- Am hiểu thực tế, có kiến thức và kinh nghiệm sâu về lĩnh vực tổ chức cán bộ để có thể
tham mưu đúng và trúng ý của cấp uỷ, của lãnh đạo. Am hiểu thực tế là am hiểu công việc
và những con người mà mình phụ trách. Tìm hiểu tính cách của một con người là một quá
trình lâu dài, không thể có cách nhìn thiển cận, qua loa, bề nổi. Nếu không có kinh nghiệm
sâu về lĩnh vực này rất dễ làm sai sẽ bị trả giá cho những việc mình làm.
Ngoài ra người cán bộ làm công tác xây dựng Đảng cũng cần phải biết lắng nghe những
ý kiến khác nhau về xem xét, đánh giá phẩm chất, năng lực của người cán bộ biết phân biệt
được những ý kiến đúng, những ý kiến sai, ghi nhận và làm theo những ý kiến đúng. Muốn
vậy, người cán bộ phải có lối sống, phong cách gần gũi, thân mật với mọi người. Bởi vì làm
bất kỳ công việc gì cũng rất cần hiểu quần chúng, biết lắng nghe ý kiến của quần chúng.
4- Việc xác định tiêu chuẩn của người cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ xây dựng
Đảng có ý nghĩa hết sức quan trọng, cơ sở để lựa chọn, đào tạo cán bộ làm công tác xây
dựng Đảng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
Trải qua cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, các cơ quan làm công tác tổ
chức ở các cấp đã được xây dựng, củng cố và phát triển từng bước; các thế hệ cán bộ làm công
tác tổ chức của Đảng ở các cấp đã tỏ rõ lòng trung thành với Đảng và lý tưởng cách mạng;
nhiều đồng chí đã chiến đấu, hy sinh dũng cảm cống hiến cả cuộc đời cho tổ quốc thân yêu, để

lại những tấm gương sang và những kinh nghiệm quý báu về công tác tổ chức cho các thế hệ
cán bộ làm công tác tổ chức sau này noi theo.
Trong gian đoạn hiện nay, nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động
hội nhập quốc tế, chúng ta đang đứng trước những thời và cũng không ít những thách thức.
Bên cạnh những thành tựu còn nảy sinh rất nhiều vấn đề tiêu cực phức tạp. Vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày càng nâng lên, vấn đề nâng cao năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng là một yêu cầu quan trọng và thiết yếu, trong đó việc đảm bảo xây dựng
đội ngũ cán bộ tài năng, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng vững mạnh là vấn đê được Đảng ta
hết sức chú ý tiến hành. Chính vì thế, vấn đề xác định tiêu chuẩn, phẩm chất của người can bộ
làm công tác tổ chức xây dựng Đảng là rất quan trọng vả không ngừng hoàn thiện, bổ sung
cho phù hợp.
Chúng ta phải tiếp tục và thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố các cơ quan và đội
ngũ cán bộ làm công tác tổ chức của Đảng. Từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt
động của các cơ quan tổ chức các cấp; tích cực đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ
làm công tác tổ chức thực sự vững vàng về chính trị, có kiến thức và năng lực hoạt động
thực tiễn trên nhiêu lĩnh vực nhất là về mặt công tác tổ chức, cán bộ, xây dựng cơ sở đảng và
đội ngũ đảng viên; có đạo đức cách mạng, công tâm, trung thực, khách quan, làm việc có
hiệu quả, được các tổ chức đảng và nhân dân tin yêu.
Đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức của Đảng phải luôn cố gắng học tập, noi gương
các thế hệ đi trước, nguyện là người chiến sĩ cách mạng trung thành với Đảng, hết lòng phấn
đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao trong thời kỳ mới của cách mạng nước ta./.
Cau 5
Công tác tổ chức, cán bộ giữ vị trí trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng. Đội ngũ cán bộ tổ chức,
cán bộ là chỗ dựa tin cậy của cấp uỷ đảng, trực tiếp tham mưu cho các cấp uỷ đảng về tổ chức bộ máy và
xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ.
Bởi vậy, để nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị, xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới nhất thiết phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ nâng cao phẩm chất, năng
lực đội ngũ cán bộ tổ chức xây dựng Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khoá VIII) đã nhấn mạnh: “Việc bố trí và sử dụng cán bộ đúng tiêu chuẩn, phù hợp với sở trường. Đề bạt

cán bộ phải đúng lúc, đúng người, đúng việc”. Bố trí đúng người, đúng việc, đúng sở trường là tìm được cán
bộ đúng tiêu chuẩn, có phẩm chất và năng lực đáp ứng cương vị công tác được giao xứng đáng với tài năng
của họ. Bố trí, bổ nhiệm, phân công cán bộ còn phải đúng chỗ, đúng nơi công tác. Nhiều khi cán bộ không
phát huy được năng lực, không gây được uy tín lại có nguyên nhân từ vị trí, môi trường công tác chưa phù
hợp. Bố trí cán bộ còn đòi hỏi phải đúng lúc, khi cán bộ đang độ sung sức, phát triển phù hợp với chức danh
đảm nhiệm, lúc cán bộ có khả năng làm việc, khả năng cống hiến tốt nhất. Hết sức tránh bố trí khi cán bộ đã
bắt đầu chững lại, có dấu hiệu “xuống dốc”, không đảm đương được nhiệm vụ ở nơi này sang nhận nhiệm
vụ tương đương hoặc cao hơn ở nơi khác.
Người làm công tác tổ chức cán bộ ngoài những tiêu chuẩn cán bộ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương
3 khoá VIII, cần nhấn mạnh vào một số điểm sau:
Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thử thách, luôn kiên định
Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững bản chất cách mạng và thực hiện tốt vai trò của
mình trong sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo; trong xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN, chủ động mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế; có quan điểm, chính kiến rõ ràng, không mơ
hồ, lẫn lộn trước những biến đổi xã hội; có tính quyết đoán đối với công việc; có bản lĩnh chống tham nhũng
và bản thân không tham nhũng, không nhận hối lộ; có ý chí khắc phục khó khăn, đứng vững trước những
cám dỗ, sức ép trong công việc, bảo vệ cái đúng, bảo vệ được cán bộ tốt; dám nghĩ, dám làm, dám chịu
trách nhiệm và mạnh dạn đổi mới, không trì trệ, bảo thủ.
Hai là, trung thực, khách quan, công tâm, công bằng, dân chủ, không thiên tư, thiên vị. Người cán bộ tổ
chức, cán bộ không báo cáo, phản ánh tình hình sai sự thật, không lựa chiều theo lối “dĩ hoà vi quý”. Khi
nhận xét, đánh giá cán bộ, người cán bộ tổ chức không được nói khác những điều mình biết, mình nghĩ và
cho là đúng. Những nhận xét, đánh giá về cán bộ phải luôn dựa trên những căn cứ pháp lý, theo tiêu chuẩn
cán bộ của Đảng, Nhà nước và căn cứ vào việc làm, hiệu quả công tác. Người cán bộ tổ chức làm việc phải
công tâm, công khai, công bằng, dân chủ, không phân biệt thân sơ, sang hèn, không địa phương cục bộ,
không giấu giếm, bao che hay thổi phồng khuyết điểm, ưu điểm; không xen tình cảm riêng tư, động cơ cá
nhân “Yêu nên tốt, ghét nên xấu” mà phải xem xét con người với đúng bản chất, trong hoàn cảnh lịch sử cụ
thể một cách biện chứng.
Ba là, nhân ái, bao dung và gần gũi với mọi người, giải quyết công việc trên cơ sở có lý, có tình. Lý là
luôn dựa vào những quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước làm thước đo, làm căn cứ để giải quyết
mọi công việc. Tình là giải quyết công việc dựa trên cơ sở tình cảm giai cấp, giữa những người đồng chí với

nhau, luôn có lòng nhân ái, vị tha, bao dung, không hẹp hòi, thành kiến. Lý không làm mất tình và tình không
làm mờ lý. Người cán bộ tổ chức phải có khả năng thuyết phục, quy tụ được mọi người, là trung tâm của sự
đoàn kết trong cơ quan, đơn vị.
Bốn là, phải luôn luôn tỉnh táo, sáng suốt, biết phân biệt người tốt, kẻ xấu; phải trái phân minh, không
khuất tất, mờ ám. Nếu không tỉnh táo, sáng suốt phân biệt rõ phải - trái, đúng - sai, vàng - thau, tốt - xấu… thì
không những xa cách cán bộ tốt, mà còn để cho bọn cơ hội chui vào hàng ngũ lãnh đạo hoặc không loại bỏ
được những phần tử thoái hóa, biến chất ra khỏi Đảng. Muốn vậy, người cán bộ tổ chức phải có sự nhạy
cảm nghề nghiệp, có tư duy độc lập, khả năng phân tích, tổng hợp, có vốn sống và kinh nghiệm ứng xử
phong phú, tinh tế; kiên trì rèn rũa đức tính thận trọng, tỉ mỉ, chính xác. Phải có tâm và có tài. “Tâm” ở người
cán bộ tổ chức chính là đạo đức cách mạng “chí công, vô tư”, ít lòng ham muốn tiền bạc và danh lợi, toan
tính cá nhân thiệt hơn. “Tài” ở người cán bộ tổ chức chính là trí tuệ, tầm nhìn xa trông rộng, toàn diện và cụ
thể, chu đáo, chọn được người tài, sắp xếp đúng người, đúng việc.
Năm là, có phương pháp làm việc khoa học. Người cán bộ tổ chức phải có tác phong sâu sát, không làm
việc theo kiểu bàn giấy, phải đi sâu điều tra, khảo sát, phân tích một cách khoa học mọi vấn đề liên quan đến
công tác tổ chức, cán bộ. Phải có nhiều phương án để xây dựng bộ máy và nhân sự một cách tích cực, chủ
động, chính xác. Thẩm tra, xác minh, tìm hiểu kỹ cán bộ trước khi đề bạt, bổ nhiệm và trong quá trình quản
lý, sử dụng. Phải tránh cách làm việc quan liêu, chú trọng vào các thủ tục hành chính, hồ sơ mà ít tiếp xúc,
tìm hiểu cặn kẽ hoàn cảnh, điều kiện làm việc, khả năng, nguyện vọng và tâm tư tình cảm của cán bộ. Tránh
nghe thông tin một chiều, không chú ý lắng nghe và tiếp thu dư luận quần chúng đánh giá về cán bộ. Phải có
thói quen phân tích, so sánh, kiểm tra các thông tin nhận được để tránh nhận xét, đánh giá một cách chủ
quan, giản đơn, không phù hợp với thực tế dẫn tới bỏ sót người tốt, để lọt kẻ cơ hội, bố trí, sử dụng không
đúng người, vận dụng tiêu chuẩn cán bộ một cách chủ quan, tùy tiện, lúc này, với người này thì cứng nhắc,
với người khác lại châm chước, xuê xoa.
Sáu là, có trình độ, kiến thức về khoa học tổ chức, nắm vững nguyên tắc, đồng thời có kinh nghiệm, kỹ
năng, thực hiện các quy trình công tác cán bộ. Công tác tổ chức, cán bộ là một khoa học và là một nghệ
thuật ứng xử đối với con người, đòi hỏi người cán bộ tổ chức phải được đào tạo cơ bản về chuyên môn,
nghiệp vụ công tác tổ chức, những kiến thức về tâm lý học, kỹ năng hiểu biết, đánh giá, sử dụng con người,
kiến thức quản lý nhà nước.
Bảy là, biết người và dùng người đúng chỗ. Phải có cách xem xét cán bộ đúng đắn, quyết không nên
chấp nhất mà phải biến hoá. Sự biến hóa không phải là một sự tuỳ tiện, vô nguyên tắc, do lòng yêu, ghét của

mình, mà phải dựa trên cơ sở khoa học, hiểu biết con người trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Khéo
dùng cán bộ là phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ, làm cho cán bộ vui vẻ, thoải mái,
yên tâm làm tốt mọi công việc, cống hiến được nhiều nhất cho sự nghiệp chung. Tìm người tài, hiểu được
người tài đã khó, dám dùng, biết dùng người tài còn khó hơn nhiều, vì người tài thường có cá tính. Vì vậy,
người cán bộ tổ chức phải rộng lượng, bao dung và cũng phải là người có tài dùng người. Phải biết xem xét,
xử lý đúng mối quan hệ giữa tài và tật, biết làm cho cái tài được phát huy tối đa và hạn chế thấp nhất cái tật
trong cán bộ.
Không ngừng tu dưỡng về đạo đức và lối sống, yêu cái thiện, ghét cái ác; phải “dĩ công vi thượng” luôn
đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cá nhân; trung thực và tận tụy với công việc
chung; nói đi đôi với làm, không nói nhiều, làm ít, nói một đằng, làm một nẻo. Bởi hơn bất cứ nghề nghiệp
nào, công tác tổ chức, cán bộ là một nghề khó khăn, phức tạp vì đối tượng tác động tới chính là con người,
mỗi người có hoàn cảnh gia đình, môi trường giáo dục, văn hoá khác nhau với các mối quan hệ xã hội đa
dạng và phức tạp. Phải thường xuyên tự phê bình và phê bình, coi đó “như cơm ăn, nước uống và rửa mặt
hằng ngày”. Làm công tác tổ chức là công việc liên quan trực tiếp tới những lợi ích của một tập thể, của mỗi
cá nhân và do vậy dễ va chạm, khó tránh khỏi mắc khuyết điểm, sai lầm. Hơn ai hết, những người cán bộ tổ
chức phải thực sự tự phê bình và phê bình thẳng thắn, thân ái và xây dựng. Phê bình là để mọi người học
lẫn nhau và giúp nhau sửa chữa. Có phương pháp phê bình đúng, cụ thể, thiết thực, thân ái, phải xuất phát
từ tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, thật sự khách quan, không nghi kỵ, định kiến, cố chấp hoặc sử dụng
phê bình như những thủ đoạn để làm mất uy tín của nhau. Thông qua tự phê bình và tiếp thu phê bình
thường xuyên từ trên xuống, từ cán bộ và nhân dân sẽ giúp cho người cán bộ tổ chức ngày càng bớt đi
khuyết điểm, ưu điểm tăng dần để không ngừng tiến bộ.
Gương điển ình
Công tác chính trị, tư tưởng được coi là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác xây dựng đảng nhằm không ngừng nâng cao
trình độ lý luận chính trị và nhận thức cho cán bộ, đảng viên, được các chi bộ đưa vào trong nội dung các đợt học chính
trị, các buổi sinh hoạt đảng bằng nhiều hình thức thích hợp như: Tổ chức các lớp học tập, nghiên cứu, quán triệt
nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương và ngành cao-su; tổ chức tốt các hoạt động có ý nghĩa giáo dục
truyền thống và đạo đức cách mạng trong dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị trọng đại của Ðảng, đất
nước và quê hương. Qua đó, các cấp ủy Ðảng đã bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước; giáo dục, nâng cao nhận
thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối, chủ
trương của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Mười năm qua, Công ty đã cử 105 cán bộ, đảng viên theo học các lớp đại học về chuyên ngành, cử nhân và cao cấp
chính trị; hơn 50 cán bộ, đảng viên theo học trung cấp chuyên ngành và chính trị. Trong số 117 cán bộ, đảng viên lao
động gián tiếp của Công ty, có hơn 80% số cán bộ, đảng viên có trình độ đại học và trên đại học. Cán bộ, đảng viên
sau khi được đào tạo trở về làm việc đã phát huy năng lực trong thực tiễn sản xuất kinh doanh. Hiện nay trình độ mọi
mặt của đội ngũ cán bộ, đảng viên công ty đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ hội nhập.
Ðảng bộ Công ty Cao-su Quảng Trị còn chú ý quan tâm đến công tác phát triển đảng nhằm không ngừng trẻ hóa đội
ngũ đảng viên, nâng tỷ lệ đảng viên ở các nông trường, xí nghiệp mười năm qua, các chi bộ đảng của công ty đã kết
nạp 220 đảng viên và hoàn chỉnh các thủ tục chuẩn bị kết nạp nhiều đảng viên mới. Công tác tổ chức cán bộ được
chăm lo thường xuyên, đã có những chuyển biến quan trọng. Tổ chức Ðảng, Công đoàn, Ðoàn thanh niên, Hội cựu
chiến binh không ngừng được kiện toàn, củng cố và hoạt động có hiệu quả. Công tác đề bạt, bổ nhiệm, bố trí, khen
thưởng, kỷ luật cán bộ được thực hiện bảo đảm đúng quy trình, dân chủ và công khai, tạo được sự đồng thuận trong
toàn Ðảng bộ.
Từ hiệu quả hoạt động thực tiễn, Ðảng bộ Công ty đã rút ra được kinh nghiệm quý báu: Ðể nâng cao vai trò lãnh đạo
của Ðảng bộ và sức chiến đấu của đội ngũ đảng viên, các cấp ủy đảng phải nắm vững yêu cầu nội dung, phương châm
đổi mới và chỉnh đốn đảng; đánh giá đúng thực trạng tình hình để có chương trình hành động sát đúng, phù hợp; xác
định những công việc trọng tâm cần tập trung giải quyết dứt điểm trong từng thời gian; bảo đảm lời nói phải đi đôi với
việc làm, đem lại niềm tin, tạo được sự đồng tình của cán bộ, đảng viên và công nhân lao động. Phải gắn liền việc chỉ
đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng đảng với các nhiệm vụ khác của Ðảng, nhất là đối với nhiệm vụ trọng tâm sản xuất,
chế biến và tiêu thụ sản phẩm cao-su, việc thực hiện các chính sách và cơ chế quản lý mới như giao khoán vườn cây,
đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, thực hành tiết kiệm, phát triển kinh tế hộ gia đình để đối phó với ảnh hưởng của
khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Xây dựng đảng, chính quyền, đoàn thể vững mạnh; lấy kết quả sản xuất, kinh doanh,
nâng cao đời sống cán bộ, công nhân viên, giữ vững ổn định chính trị làm mục tiêu và thước đo của công tác xây dựng
đảng. Các chi bộ đảng không chỉ khuyến khích cán bộ, đảng viên lao động sản xuất nâng cao đời sống mà còn quan
tâm giúp đỡ những hộ công nhân nghèo, đời sống gặp khó khăn, thiếu kinh nghiệm sản xuất có điều kiện vươn lên.
Nghị quyết Ðại hội Ðảng bộ Công ty Cao-su Quảng Trị đề ra chiến lược phát triển dài hạn là: Phát huy năng lực và lợi
thế hiện có, tiếp tục đầu tư để nâng cao năng suất, chất lượng vườn cây và chất lượng sản phẩm. Tích cực chuyển dịch
cơ cấu sản xuất, kinh doanh theo hướng đa ngành, đa nghề, chủ động hội nhập, mở rộng thị trường, tạo việc làm, cải
thiện đời sống cho cán bộ, công nhân. Ðồng thời tăng cường công tác an ninh - quốc phòng, văn hóa - xã hội, hoàn
thành các nghĩa vụ đối với Nhà nước, đưa Công ty phát triển ổn định và vững chắc. Tiếp tục đổi mới công tác quản lý,
lấy năng suất, chất lượng, hiệu quả làm mục tiêu; tranh thủ thời cơ, mạnh dạn đầu tư phát triển một cách vững chắc,

bảo đảm cho sự tăng trưởng liên tục và ổn định
Với những thành tích đạt được trong công tác xây dựng đảng, nhiều năm liền Ðảng bộ Công ty Cao-su Quảng Trị được
công nhận là "Ðảng bộ trong sạch, vững mạnh".

×