Tải bản đầy đủ (.pdf) (19 trang)

CHẨN BỆNH QUA CÁC DẤU HIỆU BÁO BỆNH ppt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (148.65 KB, 19 trang )

CHẨN ĐOÁN HỌC
PHỤ LỤC : CHẨN BỆNH QUA CÁC
DẤU HIỆU BÁO BỆNH

9; Trong phần này, chúng tôi xin giới thiệu 1 phương pháp chẩn bệnh,
tương đối mới, dựa theo 1 số những tài liệu xuất bản gần đây.
Phương pháp này, có quan hệ rất lớn đối với Tứ chẩn của YHCT
nhưng đào sâu vào 1 số khía cạnh riêng biệt và độc đáo hơn.
Để giúp cho việc chẩn bệnh được hoàn hảo và chính xác hơn, cần biết
1 số yếu tố sau :
1 Biết nguyên tắc báo bệnh.
2 Biết ý nghĩa các loại dấu hiệu báo bệnh.
3 Biết vị trí liên hệ đến vùng xuất hiện các dấu hiệu báo bệnh.
A NGUYÊN TẮC BÁO BỆNH
Các nhà nghiên cứu sinh học nhận thấy rằng : chung quanh cơ thể mỗi
sinh vật đều có năng lượng điện. Năng lượng này có thể đo được bằng cách
đặt 1 điện kế ở gần hoặc trên da. Cường độ năng lượng điện này thay đổi
hàng giờ, hàng ngày (xem thêm phần 'Giờ Vượng Suy Của Các Kinh Lạc'
trong chương 'Học Thuyết Kinh Lạc'). Thời gian mà 1 người cảm thấy khỏe
mạnh hoặc nhọc mệt đều có thể đo được bằng cách đo năng lượng điện.
(Đây là 1 phương cách chủ yếu trong việc áp dụng đo các Nguyên huyệt của
các đường kinh).
Ngay từ năm 1940, Kirlian, trong khi chụp hình các sinh vật, đã tình
cờ khám phá thấy năng lượng điện này và gọi nó là chất Plasma sinh học
(còn gọi là hào quang). Kirlian đã chụp được ở chung quanh các sinh vật có
1 giải ánh sáng đỏ, xanh trắng và vàng. Những lá cây vừa bị bứt ra khỏi cành
cũng có biểu hiện đó, nhưng để lâu thì không còn.lá của những cây khỏe
mạnh thì tỏa sáng, trong khi đó, lá của những cây bị bệnh biểu hiện bằng
những màu sắc khác hẳn. Một hôm, 1 người khách nhờ Kirlian chụp hình 2
chiếc lá giống hệt nhau, Kirlian cố gắng chụp suốt cả đêm nhưng vẫn không
làm sao không 2 lá giống nhau được. Kirlian nghĩ rằng ông đã thất bại. Ngày


hôm sau, khi đưa những tấm ảnh ông đã chụp và giải thích sự cố gắng vô
vọng của ông cho người khách thì người khách lại hết sức hài lòng và giải
thích rằng : sự khác nhau giữa 2 lá cây trên là do 1 chiếc lá được bứt ra ở 1
cây có bệnh và chiếc còn lại ở cây không bệnh. Tại Liên Xô, khi nghiên cứu
các tấm ảnh chụp cơ thể con người, các nhà nghiên cứu tại đại học Kiep
nhận thấy rằng có những chấm ánh sáng mạnh hơn ở 1 số cơ thể. Những bộ
phận phát ra ánh sáng đều giống nhau ở mọi người. Khi đem so sánh các tấm
ảnh với những huyệt của khoa châm cứu thì thấy 700 huyệt của khoa châm
cứu hoàn toàn trùng với những điểm có ánh sáng mạnh mà Kirlian đã chụp
được.
Hiện nay có 1 cách chụp ảnh bằng cách đổi nhiệt ra các màu sắc khác
nhau. Những bức ảnh nhiệt đó cũng thể hiện 1 thứ hào quang chung quanh
cơ thể : những bộ phận "chết" như móng tay, tóc thể hiện ra màu đen còn
các màu khác hiện ra màu xanh lục, đỏ da cam Nếu bộ phận nào của cơ thể
bị bệnh thì màu sắc thay đổi, căn cứ vào sự thay đổi màu sắc, có thể phần
nào biết được tình trạng của sự rối loạn cơ thể. Ngoài những biểu hiện về
nhiệt lượng, màu sắc, ngày nay, các nhà nghiên cứu còn tìm thấy nhiều sự
thay đổi khác như thay đổi điện trở (Điện trở vùng huyệt bệnh xuống thấp
hơn vùng khác) thay đổi trạng thái (trở nên mềm, hoặc cứng hoặc đau đớn
hơn chỗ khác), hoặc xuất hiện 1 số dấu hiệu riêng biệt (tàn nhang, mụn ruồi,
vết ban ) những dấu hiệu báo bệnh này đang được các nhà nghiên cứu chú
ý đến và trong 1 ngày gần đây cơ chế của những lý thuyết này sẽ được loan
báo 1 cách rõ ràng và hoàn hảo hơn.
Tuy nhiên, cho đến nay, những nhà nghiên cứu chỉ mới có thể cho biết
rằng : các vùng ánh sáng thể hiện trong cơ thể chính là những bộ phận trong
con người chúng ta biết được những thay đổi, thí dụ : thay đổi về điện trong
không khí, về từ trường của trái đất, về sự xáo trộn của các bộ phận, cơ quan
tương ứng vùng phát điện Những thay đổi này nhiều khi quá nhỏ bé đến
nỗi ta không cảm nhận hết tất cả những thay đổi đó, mà chỉ cảm nhận được 1
phần nào thôi. Thế nhưng, nếu ta rèn luyện và nắm được 1 số những nguyên

tắc kỹ thuật, ta có thể nhận được những thông tin đó, có thể biết và cũng có
thể diễn đạt được.
B QUY LUẬT BÁO BỆNH
Khi cơ thể có sự xáo trộn (bệnh), sự xáo trộn đó được thông tin ra
ngoài cơ thể dưới nhiều hình thức khác nhau, dựa theo 1 số quy luật nhất
định. Dựa vào thông tin đó, có thể tìm ra được vị trí sự rối loạn và biết cách
điều chỉnh lại cho hết rối loạn.
1 Luật cục bộ : Xuất hiện ngay tại vùng bệnh.
Thí dụ : Dây thần kinh tọa đau : xuất hiện những thống điểm tại huyệt
Hoàn Khiêu hoặc dọc theo mặt ngoài chân (theo đường kinh Đởm).
2 Luật lân cận : Xuất hiện gần hoặc quanh vùng bệnh.
Thí dụ : vùng sau gáy đau : xuất hiện thống điểm (điểm đau) tại huyệt
Phong Trì, Thiên Trụ hoặc quanh vùng đó.
3 Luật đối xứng : Xuất hiện ở vùng đối xứng với vùng bệnh
(phương pháp này được áp dụng trong cách châm đối xứng theo trường phái
của Nhật, và được mô tả trong Thiên "Mậu Thích" của sách Nội Kinh Tố
Vấn.
4 Luật phản chiếu : Khi cơ thể bệnh, các dấu hiệu báo bệnh sẽ xuất
hiện ở những bộ phận cơ quan hoặc vùng phản chiếu tương ứng (các vùng
phản chiếu gồm : mặt, tai, đầu, mũi, lòng bàn tay, lòng bàn chân).
Thí dụ : Bệnh ở phổi sẽ xuất hiện dấu báo bệnh ở :
- Vùng giữa má trên khuôn mặt.
- Vùng giữa xoắn tai dưới ở trong tai.
- Vùng phía dưới ngón tay giữa, trên đường đi của Tâm đạo.
C DẤU HIỆU BÁO BỆNH
Khi cơ thể có sự rối loạn (bệnh), ở các vùng tương ứng thường thấy có
dấu hiệu báo bệnh. Vì khuôn khổ tài liệu có hạn, chúng tôi chỉ xin giới thiệu
1 số dấu hiệu báo bệnh thường gặp trên lâm sàng thôi (muốn rõ chi tiết, xin
tham khảo thêm ở các sách chuyên đề).
1 Đau

Dấu hiệu thông thường nhất là đau. Khi ấn vào vùng nào đó thấy đau,
tùy theo quy luật báo bệnh và vị trí tạng phủ liên hệ, có thể biết tạng phủ, cơ
quan liên hệ đến vùng đó có sự rối loạn cần điều chỉnh. Thí dụ : ấn vào
huyệt Phế du thấy đau, có thể đoán là Phế (phổi) người đó có sự rối loạn
(cần điều chỉnh), phổi bị bệnh cách nào đó (theo quy luật cục bộ).
- Ấn vào vùng gò má trên mặt thấy đau, có thể đoán là Tim người đó
có sự rối loạn (theo quy luật phản chiếu)
Tùy theo tính chất ĐAU, có thể đoán chính xác hơn tính chất bệnh.
Thường có thể dựa theo tiêu chuẩn sau :
a) Ấn vào đau nhiều, đau dữ dội là biểu hiện của bệnh cấp tính thuộc
thực chứng.
b) Ấn vào đau ít, đau ê ẩm là biểu hiện của bệnh mãn tính thuộc hư
chứng.
Đau ở đây phải hiểu là vùng hoặc huyệt chỗ ta dùng que dò ấn vào để
kiểm tra thấy chỗ đó đau nhiều hơn chỗ khác.
Tại sao khi bộ phận, cơ quan bị đau hoặc rối loạn, các vùng tương ứng
cũng xuất hiện dấu hiệu đau ?
YHCT cho rằng : đau là do khí huyết trong cơ thể không lưu thông
được 1 cách bình thường, bị ứ trệ gây nên đau, do đó, trong sách Nội kinh có
ghi : "Thông tắc bất thống, thống tắc bất thông" (Lưu thông thì không đau,
đau là do không thông).
YHHĐ cho rằng : đau là do sự kích thích chất tinh thể lắng đọng ở
vùng thần kinh phản xạ của bộ phận hoặc cơ quan bị đau và sự đau là sự lưu
thông không hợp giữa các chất lỏng truyền từ thần kinh phản xạ ở vùng
tương ứng đến bộ phận cơ quan đang bị xáo trộn.
Mỗi cơ thể là 1 sinh vật có sức sống khác biệt, do đó tính chất đau
cũng biểu hiện khác nhau : có người có cảm giác đau nhiều, có người chỉ
thấy hơi đau, có người lại cảm thấy đau rất ít so với các vùng khác.
Do đó tạm thời có thể đưa ra 1 số nhận xét sau :
- Khi dò (ấn) tìm huyệt (điểm) đau, cần phải tìm nhiều vùng khác

nhau để tránh tình trạng khai mơ hồ của người bệnh (ấn đâu cũng thấy đau).
- Vùng (huyệt, điểm) nào càng đau nhiều, càng phản ảnh bệnh lý rõ và
nặng hơn.
- Trong khi điều trị, nếu sự đau giảm dần, nghĩa là lúc đầu ấn vào rất
đau, sau khi điều trị, sự đau giảm dần, có thể hiểu rằng bệnh hoặc sự xáo
trộn ở các cơ quan, bộ phận tương ứng đã giảm. Ngược lại, sau khi điều trị
các điểm đau vẫn còn thì phải xét lại phương pháp chẩn bệnh (có thể đã chẩn
sai) hoặc cũng có thể là do kỹ thuật điều trị (châm cứu, dùng thuốc), chưa
đạt yêu cầu.
Qua các điều trình bày trên, ta thấy đau là 1 phương thế tự nhiên báo
cho ta biết cơ thể đang gặp sự rối loạn, trục trặc, để giúp ta tìm cách điều
chỉnh lại thế quân bình cho cơ thể.
2 Thay đổi điện trở ở da
Theo các nhà nghiên cứu về sinh lý học, con người luôn mang trong
cơ thể dòng điện, khi cơ thể bệnh, (có sự xáo trộn về sinh lý) điện trở trong
người cũng theo đó mà thay đổi. Dựa vào đặc tính trên, với các thiết bị khoa
học, các nhà kỹ thuật đã chế tạo ra các máy dò Huyệt.
Khi cơ thể bệnh, vùng huyệt tương ứng với các bộ phận, cơ quan bệnh
sẽ bị giảm điện làm cho điện trở vùng huyệt đó sẽ bị giảm xuống và sự thay
đổi này được các máy dò huyệt khám phá thấy. Từ những vùng tương ứng
nhất định, ta sẽ có thể suy đoán ra cơ quan, bộ phận liên hệ bệnh.
Thí dụ : Nơi người bình thường, huyệt Hợp cốc có điện trở 70-90
Ohm (W ) khi đo thấy điện trở ở huyệt này lên trên 100-200 Ohm (W ), có
thể nghĩ rằng Kinh Đại trường và Đại trường của người đó bị trở ngại gì đó
(vì Hiệp cốc là nguyên huyệt của kinh Đại trường).
Ngoài ra, dựa vào 1 số biểu hiện ngoài da, trên lâm sàng hay gặp các
dấu hiệu sau:
3 Vết Ban
Ban là những nốt nhỏ xuất hiện trên da, thường có màu đỏ hoặc trắng
(trên lâm sàng, thường gặp nhất là loại Ban màu đỏ). Vì hình dáng và màu

sắc trên, nên thường lầm lẫn với nốt muỗi cắn. Tuy nhiên có điểm khác biệt
như sau :
TÍNH
CHẤT
VẾT BAN VẾT MUỖI ĐỐT
Màu
sắc
Đỏ hoặc hồng Hồng
Kích
thước
Nhỏ, không có lan
tỏa
To và có tác dụng lan
Sức ấn Ấn mạnh vào không
giảm màu
Ấn mạnh vào có màu
trắng, lợt hơn
Ý nghĩa : Khi có vết Ban xuất hiện thì đó là dấu hiệu sắp phát bệnh.
Thí dụ : vùng phổi ở mặt (ở giữa má), tự nhiên có vết Ban xuất hiện, có
nghĩa là phổi người người đó sẽ gặp trục trặc và sẽ xuất hiện trong vài ngày
tới (có thể là ho, tức ngực, đờm ) tùy theo màu sắc (đậm hoặc lợt), có thể
đoán được thời gian xảy đến :
+ Màu lợt : xuất hiện bệnh chậm, có thể vài ngày sau.
+ Màu đậm : bệnh xuất hiện đến nơi.
Dấu hiệu báo bệnh càng đậm, thời gian xuất hiện bệnh càng nhanh,
(về cơ chế xin xem thêm phần "Bì Chẩn - Xem Da").
4 Tàn nhang
Tàn nhang là những vết nằm sát mặt da, sờ không thấy nổi cộm, nhỏ,
mọc đơn hoặc thành từng đám lấm tấm trên da, màu đen, màu nâu đậm hoặc
lợt, giống như màu của cây nhang sau khi đốt cháy để tàn (tro) lại, do đó gọi

là tàn nhang (tro của cây nhang).
Đây là loại báo bệnh thường gặp trên lâm sàng nhất. Một vết tàn
nhang, dù nhỏ hoặc rất nhạt đều là dấu chỉ của 1 bệnh đã và đang xảy ra.
Dấu vết càng lớn, màu càng đậm thì cơ quan tạng phủ ở vùng tương ứng
càng bị nặng, bệnh lâu.
Thí dụ : Tàn nhang xuất hiện ở vùng lưng, ngang huyệt Vị du, có thể
chẩn đoán là bao tử người đó đã và đang bị trở ngại, xáo trộn, có bệnh cách
nào đó.
5 Mụn ruồi
Mụn ruồi là 1 loại mụn mọc nổi trên da, nhìn xa xa thấy giống hình
dáng con ruồi, nên đặt tên là mụn ruồi.
Nhiều người phân ra loại mụn ruồi sống (sinh) và mụn ruồi chết (tử).
Tuy nhiên, trên lâm sàng, hầu như cả 2 loại này đều cùng 1 biểu thị như
nhau (chỉ có khác biệt trong ngành tướng số học là thấy rõ hơn).
Mụn ruồi báo hiệu 1 tình trạng bệnh nặng, xấu.
Khi mụn ruồi xuất hiện ở vùng nào thì cơ quan, tạng phủ liên hệ đã bị
bệnh 1 thời gian khá lâu rồi.
Ghi chú :
a) 1 số người nêu lên yếu tố tàn tật khi gặp mụn ruồi. Cụ thề là khi có
dấu hiệu báo bệnh mụn ruồi xuất hiện ở vùng tương ứng, với tay, chân ở
vùng phản chiếu trên khuôn mặt (Lông mày, cằm ) thì cho là tay chân có
thể bị tật, gẫy, cụt Cần hết sức lưu ý và cẩn thận khi nêu lên yếu tố tàn tật
này, vì thực tế trên lâm sàng cho thấy, có nhiều người có mụn ruồi ở các
vùng trên, cho đến chết vẫn không thấy xuất hiện tật gì cả.
b) Dấu hiệu mụn ruồi có 1 đặc điểm khác thường là hay xuất hiện theo
luật đồng bộ. Giả sử : vùng lông mày trên khuôn mặt (tức là tính theo quy
luật phản chiếu) có dấu hiệu mụn ruồi thì ở cánh tay cơ thể cũng xuất hiện
mụn ruồi ở vùng tương ứng. Cũng có nhiều trường hợp không xảy ra theo
đúng quy luật trên nhưng tỷ lệ đạt được khá cao, thường từ 80-85% xảy ra
theo quy luật trên. (Đây cũng là điều cần lưu ý nghiên cứu thêm).

Ngoài ra, trên lâm sàng cũng có thể gặp loại mụn ruồi có lông, tức là
loại mụn ruồi nhưng lại mọc thêm lông.
Mụn ruồi có lông thường là dấu hiệu rất xấu, biểu hiện của bệnh nặng,
trầm trọng, kéo dài và khó có thể điều trị được.
Mụn ruồi có lông thường gặp ở người bị ung thư. Tùy vùng tương ứng
với vị trí xuất hiện mụn ruồi có lông có thể suy đoán ra bệnh ung thư hoặc
bệnh nặng ở cơ quan, tạng phủ liên hệ.
6 Vết Nám
Là 1 vùng da bị xám hoặc bầm lại.
Đây là loại dấu hiệu báo bệnh mãn tính, kéo dài lâu ngày thường gặp
ở những người bị bệnh gan, thận lâu ngày.
Tuy nhiên có 1 số điểm cần lưu ý :
- Diện tích vết nám to, rộng thì bệnh lâu.
- Vết nám đậm màu thì mức độ trầm trọng, càng đậm bao nhiêu thì
càng trầm trọng bấy nhiêu.
- Vết nám nhạt thì bệnh nhẹ, sắp khỏi.
Do đó, có thể dựa vào tính chất thay đổi của màu sắc mà kiểm tra diễn
tiến bệnh. Thí dụ : khi bắt đầu chữa, vết nám đậm màu, sau 1 thời gian điều
trị, vết nám nhạt màu dần thì có thể biết là bệnh đang trên đà tiến triển, có hy
vọng phục hồi. Ngược lại, sau 1 thời gian điều trị, vết nám không thay đổi
màu sắc hoặc đậm hơn dù có những triệu chứng bệnh giảm, có thể hiểu là
bệnh ở bên trong không tiến triển tốt, và bệnh đang phát triển ngầm cách nào
đó.
- Vết nám lan tỏa thì bệnh có tính cách lan tỏa ra các cơ quan bên
cạnh chứ không ở vào 1 cơ quan nhất định.
7 Tia máu dưới da
Có hình dạng như 1 đoạn tĩnh mạch hoặc động mạch nhỏ xuất hiện
dưới da.
Tĩnh mạch dưới da có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức rõ (nổi) hoặc
chìm (khó thấy), có người chỉ cần nhìn cũng thấy, có người phải đè căng da

mới thấy. Nếu xuất hiện ở vùng trán, 2 bên Thái dương, phía dưới ở mắt
hoặc ở gò má, hoặc ở vùng 2 bên nhân trung và đầu mũi thường dễ nhận
thấy hơn.
Tia máu dưới da thường biểu hiện bệnh mãn tính (lâu ngày) và trầm
trọng, hay gặp ở những Thần kinh suy nhược.
Dấu hiệu này xuất hiện ở đâu thì nơi đó thường có sự bế tắc về bài tiết
hoặc bài tiết quá độ.
Tia máu màu đỏ thường biểu hiện sự viêm nhiễm.
Tia máu màu xanh thường chỉ sự ứ trệ bài tiết.
Trên đây là 1 số những dấu hiệu báo bệnh thường hay gặp. Lẽ dĩ
nhiên còn rất nhiều hình thức báo bệnh khác trên lâm sàng có thể gặp mà vì
điều kiện chưa đủ để cho phép đề cập đến trong tài liệu này (Đây cũng là 1
điều rất đáng lưu ý và nghiên cứu thêm).
Tuy nhiên, cần lưu ý thêm 1 số vấn đề :
a) 1 số dấu hiệu báo bệnh có liên hệ đến yếu tố tuổi tác. Thí dụ : người
ta thấy rằng mụn cơm (Nevi) có liên hệ đến chứng lão suy, vì khi người ta
càng lớn tuổi thì những vết thâm nhiễm này càng không ngừng gia tăng, do
đó không thể căn cứ trên sự gia tăng đó mà chẩn đoán bệnh gia tăng hoặc
khó điều trị.
b) Bình thường cơ thể ta chịu đựng được với môi trường bên ngoài để
bảo tồn và phát triển cơ thể, nếu vì lý do nào đó, cơ thể bị suy kém, lập tức
có 1 sự "Điều tiết" cách nào đó cho thích nghi với môi trường bên ngoài và
qua sự điều tiết đó, ta có thể phát hiện ra sự rối loạn ở các cơ quan, tạng phủ
liên hệ.
Như vậy, tất cả các sự thay đổi ở da (vết nám, vết ban, mụn ruồi, mụn
cơm , tia máu ) đều có thể cho thấy sự rối loạn hoặc suy yếu của 1 bộ phận,
cơ quan, tạng phủ bên trong, tuy nhiên, không nên sợ hãi quá đáng về sự suy
yếu này, chỉ cần ghi nhớ là : những {cqan tạng phủ liên hệ cần được lưu ý
săn sóc đặc biệt hơn qua các dấu hiệu đó.
ƯU KHUYẾT ĐIỂM CỦA PHƯƠNG PHÁP CHẨN BỆNH MỚI

Qua phần trình bày trên ta thấy :
1 Ưu điểm
- Giúp cho việc chẩn đoán nhanh.
- Lợi hơn các phương pháp chẩn đoán khác vì không phải đòi hỏi
nhiều dữ kiện, yếu tố, ở đây chỉ cần xem xét những dấu hiệu báo bệnh, nắm
được nguyên tắc báo bệnh, ý nghĩa các dấu hiệu báo bệnh và vị trí vùng
tương ứng là đã có thể phần nào thấy được sự rối loạn của các bộ phận trong
cơ thể.
2 Khuyết điểm
a) Không cho biết rõ về sự rối loạn của cơ thể. Thí dụ : thấy vết Ban
hoặc tàng nhang ở vùng má (vùng phản chiếu của Phế trên khuôn mặt), có
thể biết là Phổi người đó đang bị trở ngại, bệnh, nhưng cụ thể là rối loạn làm
sao ? Bệnh gì ? (Viêm nhiễm, tràn dịch, tràn khí, đờm, áp xe Phổi) thì
phương pháp này không thể biết được. Nếu muốn biết rõ, cần phải áp dụng
phương pháp chẩn đoán khác.
b) Vấn đề khó khăn mà các nhà nghiên cứu đang tìm cách giải quyết
là :
b1. Các dấu hiệu báo bệnh xuất hiện vào thời điểm nào : trước hoặc
sau đang khi có sự xào trộn trong cơ thể.
b2. Đối với các vùng phản chiếu, vùng nào mang đặc tính báo hiệu
nhanh nhất và chính xác nhất. Thí dụ : khi cơ thể bệnh, dấu hiệu báo bệnh sẽ
xuất hiện ở mặt (theo cách phản chiếu ở mặt) hoặc ở tai (phản chiếu ở tai)
hoặc ở chân tay (phản chiếu ở tay chân) có khi dấu hiệu báo bệnh xuất
hiện ở mặt, nhưng để tai, tay, chân, đầu, lại không thấy có dấu hiệu báo bệnh
hoặc đôi khi ở 1 vùng nào đó có dấu hiệu báo bệnh mà vùng khác lại không
có. Như vậy vùng nào đáng được coi là thì cậy nhất để tập trung chẩn đoán
vào đấy ?
b3. Có những dấu hiệu báo bệnh, khi ta nhận thấy thì sự xáo trộn cơ
thể đã xảy ra rồi.
b4. Cũng có những trường hợp dấu hiệu báo bệnh tuy đã xuất hiện

nhưng chưa thấy có sự rối loạn ở bộ phận tương ứng.
b5. Có 1 số trường hợp, tuy có dấu hiệu báo bệnh nhưng dễ bị hiểu
lầm. Thí dụ : Nốt ruồi, có người sinh ra đã có ngay những nốt ruồi, vết bớt
khó có thể cho rằng họ đã hoặc sẽ bị bệnh liên quan đến nốt ruồi hoặc vết
bớt bẩm sinh đó được : nhiều người đã thấy có những dấu hiệu bẩm sinh đó
nhưng suốt đời không hề thấy bị bệnh ở vùng cơ quan, bộ phận có liên hệ
đến các dấu hiệu bẩm sinh đó.
KẾT LUẬN
Đây là 1 trong số nhưng phương pháp mới, vì mới nên chưa đủ điều
kiện để thỏa mãn hết mọi yêu cầu đề ra, tuy nhiên, vì sự say mê nghiên cứu,
cần đào tạo sâu hơn để phát triển phương pháp này cho hợp tình hợp lý hơn.

×