Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Tiểu luận: Chức năng hoạch định trong doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (181.29 KB, 15 trang )

TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
TIỂU LUẬN
Chức năng hoạch định
trong doanh nghiệp vừa
và nhỏ ở Việt Nam hiện
nay
Cao Thị Bình_DHKT1
1
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC

MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI NÓI ĐẦU 2
1. NỘI DUNG: 4
1.1 Cơ sở lí luận: 4
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động của các Doanh nghiệp nói chung và các Doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng ngày
càng quan trọng đối với quá trình phát triển nền kinh tế của nước ta, đặc biệt là trong giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam đã có bước phát triển mạnh với số lượng tăng nhanh góp phần vào việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế, tạo việc làm làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn, từng bước nâng
cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nhân dân. Việt Nam đã và đang từng bước thực hiện
chính sách theo hướng tự do hóa, mở cửa đổi mới cơ cấu kinh tế, cải cách kinh tế xã hội. Quá
trình hội nhập đã có những tác động mạnh đến nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp vừa
và nhỏ nói riêng, nhờ đó tạo được môi trường kinh doanh thuận tiện giúp cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên xuất phát từ quy mô nhỏ, nguồn
vốn và lao động hạn chế năng lực cạnh tranh thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn gặp khó
khăn trong công tác hoạch định vì vậy mà vẫn còn hàng ngàn doanh nghiệp rơi vào tình trạng
Cao Thị Bình_DHKT1
2


TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
biến mất trên thị trường. Công tác hoạch định có một vị trí quan trọng trong sự phát triển của
doanh nghiệp không chỉ trong ngắn hạn mà còn trong dài hạn, vì vậy mà các doanh nghiệp,
không chỉ những doanh nghiệp lớn mà còn các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng cần phải chú
trọng đến công tác hoạch định của doanh nghiệp. Thiếu tư duy chiến lược, thiếu khả năng
hoạch định thì hoạt động kinh doanh sẽ không thể phát triển lâu bền. Việc nhận diện được
công tác hoạch định ở các doanh nghiệp hiện nay là rất cần thiết, giúp chúng ta nắm bắt được
thực trạng từ đó đưa ra những biện pháp kiến nghị để thực hiện tốt công tác hoạch định.
Từ những lí do trên mà em chọn đề tài nghiên cứu là “chức năng hoạch định ở các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay”.
• Mục đích nghiên cứu:
 Khảo sát thực trạng thực hiện công tác hoạch định ở các doanh nghiệp vừa và nhở
hiện nay
 Trên cơ sở phân tích thực trạng đó rút ra những tồn tại, nguyên nhân, một số kiến
nghị và giải pháp để khắc phục.
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
 Công tác hoạch định ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung ở Việt Nam hiện nay
Cao Thị Bình_DHKT1
3
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
1. NỘI DUNG:
1.1 Cơ sở lí luận:
1.1.1 Khái niệm:
Hoạch định là quá trình ấn định những mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất để thực hiện
những mục tiêu đó
1.1.2 Tác dụng của hoạch định:
Trong điều kiện môi trường kinh doanh ngày nay thay đổi rất nhanh chóng, quá trình hoạch
định có thể đem lại cho tổ chức những lợi ích sau đây:
 Nhận diện thời cơ kinh doanh trong tương lai
 Dự kiến trước và tránh khỏi những nguy cơ, khó khăn

 Triển khai kịp thời các chương trình hành động
Khi những lợi ích cơ bản này được tận dụng, tổ chức sẽ có cơ hội tốt hơn để đạt được các mục
tiêu đã định.
1.1.3 Phân loại hoạch định:
 Phân loại theo thời gian gồm:
 Hoạch định dài hạn: là kế hoạch cho thời kỳ 5 năm trở lên
 Hoạch định trung hạn: cho thời kỳ 1 đến 5 năm.
 Hoạch định ngắn hạn: cho thời kỳ dưới 1 năm
 Phân loại theo cấp hoạch đinh:
 Hoạch định chiến lược: thời gian từ 2 đến 3 năm trở lên, tác động đến các
mảng hoạt động lớn, liên quan đến tương lai của toàn bộ tổ chức. Mục tiêu
chiến lược thường cô đọng và tổng thể, thiên về định tính
 Hoạch định tác nghiệp: thường là một năm trở xuống, phạm vi hoạt động
hạn hẹp ở trong một mảng hoạt động nào đó. Mục tiêu của hoạch định tác
nghiệp thường cụ thể chi tiết thiên về định lượng.
 Phân loại theo hình thức thể hiện
 Chiến lược
 Chính sách
 Thủ tục
 Quy tắc
 Chương trình
 Ngân quỹ
Cao Thị Bình_DHKT1
4
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
 Phân loại theo cách phân loại của J.stoner:
1.1.4 Mục tiêu:
Mục tiêu là nền tảng của hoạch định
Khái niệm: Mục tiêu là những mong đợi mà nhà quản trị muốn đạt được trong tương lai cho
tổ chức của mình, là phương tiện để đạt tới sứ mạng.

Phân loại mục tiêu: - Mục tiêu thât và mục tiêu tuyên bố
- Mục tiêu định tính và mục tiêu định lượng
Vai trò của mục tiêu: Mục tiêu là nền tảng của hoạch định nhằm xây dựng hệ thống quản
trị. Mục tiêu quản trị không phải là những điểm mốc cố định mà là linh hoạt phát triển với
những kết quả mong đợi ngày càng cao hơn trên cơ sở xem xét các nguồn lực hiện có hoặc sẽ
Cao Thị Bình_DHKT1
5
Kế hoạch chiến
lược
Kế hoạch tác
nghiệp
Kế hoạch đơn dụng
Kế hoạch thường trực
Nghân sách
Chính sách
Chương trình
Thủ tục
Quy định
Dự án
Mục tiêu
Cho các hành
động lặp lại
Cho các hành
động không
lặp lại
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
có của tổ chức. mục tiêu có vai trò hết sức quan trọng đối với các tiến trình quản trị, quyết
định toàn bộ diễn biến của tiến trình.
Quản trị bằng mục tiêu (Management by Objectives- MOB)
Quản trị bằng mục tiêu là cách quản trị thông qua việc mọi thành viên tự mình xác định mục

tiêu, tự mình quản lý và thực hiện các mục tiêu mà họ đề ra.
Quản trị mục tiêu được tiến hành theo các trình tự như sau:
- Đề ra mục tiêu
Trước hết các nhà quản trị cấp cao nhất của doanh nghiệp đề ra mục tiêu, phương hướng
hành động của tổ chức, sau đó các nhà quản trị cấp giữa đề ra mục tiêu cho bộ phân
mình và cuối cùng là đến lượt các nhân viên trong doanh nghiệp tự đề ra mục tiêu các
nhân trong phạm vi và mục tiêu của các cấp đã đề ra. Với cách này sẽ làm cho mục tiêu
của doanh nghiệp và mục tiêu của từng cá nhân sẽ được thống nhất với nhau.
- Thực hiện mục tiêu
Mỗi người trước hết có trách nhiệm tự quản lý và thực hiện mục tiêu của mình. Tuy
nhiên điều quan trọng là cần tranh thủ sự hiểu biết và giúp đỡ của cấp trên. Vì thế đòi
hỏi cấp dưới phải báo cáo phần công việc mà mình đang thực hiện cho cấp trên biết.
- Dự đoán và đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu
Các thành viên trong doanh nghiệp phải dự đoán và đánh giá xem bản thân đã đạt được
mục tiêu xây dựng đến đâu? Những vấn đề còn tồn tại? điều gì cần lưu ý khi vạch ra các
mục tiêu tiếp theo.
• Ưu điểm:
Cung cấp cho các nhà quản trị những dữ kiện hoặc mục tiêu để thực hiện hoạch định
Buộc nhà hoạch định phải biết chọn các mục tiêu cần ưu tiên thực hiện trong những thời
gian nhất định.
Xác định rõ nhiệm vụ , trách nhiệm và quyền hành đối với các nhân viên
Lôi kéo mọi thành viên tham gia vào quá trình xây dựng mục tiêu của tổ chức
Giúp cho việc kiểm tra trong doanh nghiệp được thực hiện dễ dàng và thuận lợi
Tạo điều kiện và cơ hội cho sự thăng tiến, phát huy năng lực cho mọi thành viên
Giúp cho các thành viên và các nhà quản trị hiều được nhau hơn
Có khả năng nâng cao chất lượng công tác quản trị và kết quả hoạt động của doanh
nghiệp.
• Nhược điểm:
Thời gian để xây dựng các mục tiêu thường bị kéo dài do phải họp bàn trao đổi ý kiến
Trong một số trường hợp và một số doang nghiệp việc tự đề ra mục tiêu của các cá nhân

khó thực hiện được vì thiếu sự hướng dẫn, giải thích cụ thể của nhà quản trị cấp cao
trong tổ chức.
Cao Thị Bình_DHKT1
6
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
Mọi người trong doanh nghiệp thường có khuynh hướng tập trung vào các công việc
hoặc các vấn đề trước mắt, ngắn hạn tại chỗ. Những kế hoạch mang tính dài hạn và
chiến lược thường ít quan tâm đúng mức.
1.1.5 Vai trò của hoạch định:
Hoạch định có những vai trò sau:
- Cho biết hướng đi của tổ chức
- Là công cụ phối hợp nỗ lực của các thành viên trong tổ chức
- Tập trung phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong các thời kỳ khác nhau
- Chủ động thích nghi và ứng phó với các yếu tố bất định trong tương lai
- Là khâu nối và nền tảng cho các chức năng còn lại
- Là thước đo năng lực của nhà quản trị
1.2 Nội dung chính:
1.2.1 Đôi nét về Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam:
1.2.1.1 Khái niệm:
Có nhiều quan niệm khác nhau về doanh nghiệp nhỏ và vừa, tuy nhiên, đa phần các định
nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa đều sử dụng số lượng lao động thường xuyên như là một
tiêu chí ưu tiên, ngoài ra còn sử dụng quy mô vốn, quy mô doanh thu v.v… Đối với đa phần
các quốc gia phát triển (Mỹ, Pháp, Nhật), những doanh nghiệp có số lao động từ 500 trở
xuống thì được coi là có quy mô vừa và nhỏ, trong số đó những doanh nghiệp có số lao động
200 trở xuống được coi là doanh nghiệp nhỏ. Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định tại Nghị
định 91/2001/CP-NĐ của Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2001 thì những doanh nghiệp
có số lao động nhỏ hơn 300 và có số vốn pháp định nhỏ hơn 10 tỷ đồng được coi là doanh
nghiệp nhỏ và vừa, trong đó không phân biệt doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa.
1.2.1.2 Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Ở mỗi nền kinh tế của mỗi quốc gia khác nhau thì vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng

khác nhau:
• Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường chiếm tỷ
trọng lớn, thậm chí áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt Nam chỉ xét các doanh
nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này là trên 95%). Vì thế, đóng góp của họ vào tổng sản
lượng và tạo việc làm là rất đáng kể.
• Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp nhỏ và
vừa là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ
tại các thời điểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định. Vì thế, doanh nghiệp nhỏ và
vừa được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế.
• Làm cho nền kinh tế năng động: vì doanh nghiệp nhỏ và vừa có quy mô nhỏ, nên dễ
điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết) hoạt động.
Cao Thị Bình_DHKT1
7
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
• Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: doanh nghiệp nhỏ và vừa
thường chuyên môn hóa vào sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một
sản phẩm hoàn chỉnh.
• Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những
trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại có mặt ở khắp các địa
phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công
ăn việc làm ở địa phương.
1.2.2 Thực trạng hệ thống Doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay:
1.2.2.1 Tình hình phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay:
Quá trình hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam diễn ra rừ khá
lâu, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố lịch sử xã hội. Giai
đoạn trước năm 1945, khi Việt Nam thuộc ách thống trị của thực dân Pháp thì đã tồn tại một
số luonwngj đáng kể doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu tập trung vào nông nghiệp, công
nghiệp thủ công truyền thống. Trong giai đoạn từ cách mạng tháng 8 thành công và cả nước
bước vào giai đoạn kháng chiến chống pháp thì doanh nghiệp vừa và nhỏ tồn tại khắp cả
nước, cả vùng ta và vùng địch, trong giai đoạn này doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò quan

trọng trong việc phục vụ nhu cầu thời chiến. cho đến nay thì doanh nghiệp tư nhân ngày càng
tăng và ngày càng thể hiện được tầm quan trọng, những đóng gớp của mình trong GDP. Sau
đây là số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ từ năm 1996 đến năm 2000
Năm 1996 1997 1998 1999 2000
Số lượng 20,272 21,032 20,078 22,767 29,519
Theo Cục Công nghiệp địa phương thuộc Bộ Công Thương, tính trong 5 năm gần đây, số
lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung và doanh nghiệp công nghiệp dân doanh nói riêng
đã phát triển mạnh về số lượng nhưng chỉ cải thiện một phần về chất.
Số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ doanh nghiệp dân doanh tăng một cách nhanh chóng
qua các năm, năm 2002 đến năm 2006, số doanh nghiệp dân doanh tăng gần 22%/năm làm
tăng số vốn lên 45%/năm. Năm 2006 cả nước có khoảng 245 nghìn Doanh nghiệp vừa và nhỏ
hoạt động trên mọi lĩnh vực nghành nghề.Ở năm 2007 là khoảng 310 nghìn doanh nghiệp,
năm 2008 là khoảng 335 nghìn doanh nghiệp gần 3 triệu hộ kinh doanh cá thể và gần 20
nghìn hợp tác xã. Đến cuối năm 2009 có khoảng 420 nghìn doanh nghiệp đăng kí kinh doanh
trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 97% . Tuy nhiên, số liệu này chỉ màng tính tương
đối vì một số doanh nghiệp vừa và nhỏ không đăng kí kinh doanh nên không thể thống kê hết
(Nguồn: />nho-ky-1.aspx)
Cao Thị Bình_DHKT1
8
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
Việc tăng lên về số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng góp phần quan trọng vào tốc
độ tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, tạo việc làm, cải thiện cuộc sống cho
người lao động góp phần thúc đầy tăng trưởng kinh tế xã của của đất nước. Theo Thứ trưởng
Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Ngọc Phúc, doanh nghiệp vừa và nhỏ ở VN hiện tại chiếm
khoảng 97% trong tổng số khoảng 200.000 doanh nghiệp đã thành lập trên toàn quốc. Các
doanh nghiệp này đang đóng góp khoảng 26% GDP, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp,
tạo ra khoảng 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, và 26% lực lượng lao động trong
cả nước.
Tuy nhiên sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng không đồng nghĩa với việc cải thiện chất lượng ở
các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn đang gặp phải những khó khăn nhất định

1.2.2.2 Những thuận lợi và khó khăn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang gặp phải
hiện nay:
 Thuận lợi:
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng khởi sự và hoạt động nhạy bén theo cơ chế thị trường
do vốn ít lao động không đòi hỏi chuyên môn cao, dễ hoạt động cũng như dễ rút lui ra khỏi
lĩnh vực kinh doanh. Tổ chức quản lý của các doanh ghiệp vừa và nhỏ rất gọn nhẹ, vì vậy khi
gặp khó khăn nội bộ doanh nghiệp có thể dễ dàng bàn bạc đi đến thống nhất.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng thu hút lao động với chi phí thấp do đó tăng hiệu suất sử
dụng vốn vì vậy mà doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần đáng kể trong việc tạo công ăn việc
làm cho người lao động, giảm bớt thất nghiệp cho xã hội.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính năng động, linh hoạt sáng tạo trong kinh doanh
 Khó khăn:
Tiềm lực kinh tế yếu, hiệu quả hoạt động còn thấp. Trong khi trình độ quản lý sản xuất, kinh
doanh chưa chuyên nghiệp, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm. Doanh nghiệp dân doanh thường
thiếu vốn để hoạt động và đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh và đầu tư chiều sâu. Hơn nữa,
trình độ hạch toán, quản lý tài chính còn thấp, chưa có khả năng xây dựng phương án kinh
doanh thuyết phục khi vay vốn, chủ doanh nghiệp thiếu năng lực huy động vốn và quan hệ tín
dụng. Ngoài ra các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn phải chịu những tác động từ bên ngoài như
khủng hoảng kinh tế, lạm phát… làm cho các doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, kém
phát triển. Bên cạnh đó còn những khó khăn như thiếu vốn, khó tiếp cận đất đai làm mặt bằng
kinh doanh, công nghệ lạc hậu, năng lực cạnh tranh yếu, khó khăn trong tiếp cận thị trường
đang cản trở các DN vừa và nhỏ Việt Nam bứt phá, xứng đáng là lực lượng sức mạnh của dân
tộc trên con đường phát triển mới.
1.2.3 Thực trạng công tác hoạch định ở các Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
• Hoạch định chiến lược:
Cao Thị Bình_DHKT1
9
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
Hoạch định chiến lược là một quy trình xác định các định hướng lớn cho phép doanh nghiệp
thay đổi, cải thiện và củng cố vị thế cạnh tranh của mình tuy nhiên thực trạng hiện nay là công

tác hoạch định chỉ được chú trọng ở những doanh nghiệp lớn, còn những doanh nghiệp vừa và
nhỏ thì vẫn chưa được chú trọng nhiều. Dường như việc ứng dụng quy trình hoạch định cho
đến nay vẫn chỉ là mảnh đất riêng cho các doanh nghiệp lớn. Vậy vấn đề đặt ra ở đây là gì?
Tại sao hoạch định góp phần hiệu quả trong kinh doanh của doanh nghiệp nhưng các doanh
nghiệp vừa và nhỏ lại không áp dụng quy trình này vào hoạt động kinh doanh. Điều đó được
giải thích bởi nhiều lí do như sau:
- Do không có thời gian:
Ở các doanh nghiệp nhỏ, người chủ doanh nghiệp thường là người điều hành trực tiếp, do
đó thời gian của họ chủ yếu được giành cho việc giải quyết những vấn đề tác nghiệp hàng
ngày và hầu như không còn thời gian để quan tâm tới việc hoạch định dài hạn.
- Do không quen với việc hoạch định chiến lược :
Có nhiều chủ doanh nghiệp chưa nhận thức được công dụng của hoạch định chiến lược
hoặc họ cho rằng chiến lược không có liên quan nhiều đến tình trạng kinh doanh của họ.
- Do thiếu kỹ năng:
Các chủ doanh nghiệp nhỏ, do hạn chế về trình độ nên thường thiếu những kỹ năng cần
thiết để bắt đầu hoạch định một chiến lược, ngoài ra họ cũng không muốn tốn tiền để thuê
tư vấn. Nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay khá dồi dào nhưng chưa được sự quan tâm
đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác , còn nhiều người chưa được đào
tạo. Trình độ lao động còn kém
- Do thiếu niềm tin:
Có nhiều chủ doanh nghiệp vốn rất nhạy cảm với những thông tin quan trọng liên quan
đến công việc kinh doanh của họ và họ thấy không thoải mái khi phải chia sẻ những tính
toán chiến lược của mình cho nhân viên hoặc người ngoài.
Ngoài ra hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ doanh
nghiệp gia đình hay từ ý tưởng của nhóm bạn bè vì vậy ngoài khó khăn về vốn, doanh
nghiệp thường gặp những khó khăn như:
- Thường bị những yếu tố tình cảm chi phối ngắn hạn.
- Do yếu tố kĩ luật và tính hệ thống đều yếu nên khi giải quyết công việc thường mang
tính mệnh lệnh, thiếu sự sáng tạo, tận dụng hết nguồn trí lực của nhân viên. Cấp trên
quản lí theo kiểu độc quyền, cấp dưới không dám đưa ra ý kiến riêng của cá nhân.

Điều này làm hạn chế sự phát triển của doanh nghiệp.
• Hoạch định nguồn nhân lực:
Cao Thị Bình_DHKT1
10
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình quản trị bao gồm việc phân tích các nhu cầu
nhân sự của một tổ chức dưới những điều kiện thay đổi và triển khai các chính sách,
biện pháp thực hiện để đáp ứng nhu cầu đó.
Nguồn nhân lực ở Việt Nam rất phong phú và đa dạng, được xuất phát từ nhiều tầng
lớp khác nhau, với trình độ học vấn khác nhau. Tuy nhiên nguồn nhân lực này còn
chưa được khai thác phù hợp, chưa được tổ chức quản lý vì vậy mà năng suất lao
động không cao. Nhất là trong doanh nghiệp vừa và nhỏ thì vấn đề nhân lực càng gặp
nhiều khó khăn, theo số liệu thống kê thì có khoảng 63% doanh nghiệp gặp khó khăn
trong việc tuyển dụng người giỏi, 55% gặp khó khăn trong việc sử dụng và giữ nhân
tài, làm thế nào để tuyển chọn và giữ được nhân tài là việc không hề dễ dàng. Vì vậy
mà công tác hoạch định nguồn nhân lực càng có vai trò quan trọng hơn.
Về kỹ thuật và công nghệ, dưới 10% số doanh nghiệp có công nghệ, thiết bị tiên tiến,
còn lại trên 90% đang sử dụng công nghệ trung bình hoặc lạc hậu, mức độ đầu tư đổi
mới công nghệ thấp, do đó sức cạnh tranh sản phẩm yếu, ảnh hưởng đến việc sử dụng
tài nguyên (nguyên vật liệu, năng lượng…) và bảo vệ môi trường. Sự tham gia và thụ
hưởng về quản trị, tư vấn tài chính, kế toán, thuế, tư vấn quản lý, ứng dụng công nghệ
thông tin… còn rất hạn chế. Năng lực tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường, nhất là những
thị trường khó tính ngoài nước cũng hạn chế đáng kể.
Các nhà hoạch định trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ cho rằng việc hoạch định trong các
doanh nghiệp lớn thuận lợi hơn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì cách suy nghi đó mà học
chưa thấy được những điều kiện thuận lợi trong công tác hoạch định ở những doanh nghiệp
vừa và nhỏ, sau đây là một số điều kiện thuận lợi mà chắc chắn các doanh nghiệp vừa và nhỏ
sẽ làm tốt công tác hoạch định hơn là các doanh nghiệp lớn:
- Thứ nhất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có điều kiện giao tiếp tốt hơn, đặc biệt giữa các
bộ phận trong nội bộ doanh nghiệp, và điều này cho phép tránh các nguy cơ sai lệch do

thông tin không phải truyền đi qua các kênh "chính thức và quan liêu" thường thấy
trong các doanh nghiệp lớn.
- Thứ hai, do đặc trưng về quy mô nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa có tính linh hoạt
cao hơn, đặc biệt là trong việc ra quyết định. Nhờ đó doanh nghiệp có thể điều chỉnh
một cách nhanh chóng mục đích hay chiến lược và chuyển nhanh từ quyết định sang
hành động.
- Thứ ba, là thị trường thường phản ứng ít quyết liệt hơn (thậm chí không có phản ứng)
trước những thay đổi chiến lược của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, do tác động của
những thay đổi này đến thị trường là không đáng kể (một doanh nghiệp nhỏ tăng gấp
đôi thị phần từ 1% lên 2% sẽ ít gây chú ý hơn là một doanh nghiệp lớn tăng 10% thị
phần của họ, chẳng hạn từ 30% lên 33%).
Cao Thị Bình_DHKT1
11
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
(Nguồn: )
1.2.4 Sự cần thiết phải hoạch định chiến lược trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện
nay:
Với những thuận lợi trên, doanh nghiệp vừa và nhỏ cần xem hoạch định chiến lược là công
tác được ưu tiên khuyến khích nhằm giúp doanh nghiệp có biện pháp dự báo và tránh các mối
nguy cơ thường trực như:
Phản ứng thụ động trước sự thay đổi của thị trường, hoạch định giúp các doanh
nghiệp vừa và nhỏ nhận ra khả năng mà họ luôn sẵn sàng và ứng phó với những thay đổi của
thị trường.
Tránh nguy cơ mất cân bằng trong sự phát triển của doanh nghiệp. Nếu không có
công tác hoạch định chiến lược, doanh nghiệp có thể bỏ qua một yếu tố quan trọng nào đó như
sự thay đổi của thị trường hoặc khoa học công nghệ, khả năng tài trợ… điều này có thể dẫn
đến việc phải chấm dứt hoạt động đột ngột hay làm đảo quá trình phát triển của doanh nghiệp
1.2.5 Đánh giá:
Các nghiên cứu trước đây kết luận rằng quy trình hoạch định chiến lược của doanh nghiệp
vừa và nhỏ nếu được áp dụng thường ít mang tính chính thống hơn so với các doanh nghiệp

lớn. Thậm chí họ còn cho rằng việc làm này còn làm giảm hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, khi thực hiện quá trình hoạch định sẽ dẫn đến cứng nhắc trong việc quyết định và làm
giảm linh hoạt trong kinh doanh
Công tác hoạch định trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay vẫn chưa được chú trọng,
chính vì vậy mà tuy số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng một cách nhanh chóng nhưng
chất lượng của các doanh nghiệp thì tăng chậm, không được hoạch định chiến lược ngay từ
đầu nên các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn trong quản lí và phát triển doanh
nghiệp, hiệu quả kinh doanh kém, hiệu quả không cao. Khi gặp khủng hoảng, doanh nghiệp
nhanh chóng rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng dẫn đến phá sản và biến mất trên thị
trường. Theo công bố của chính phủ thì cứ sau khủng hoảng thì có khoảng 20% doanh nghiệp
biến mất trên thị trường. So với những doanh nghiệp không tiến hành công tác hoạch định thì
các doanh nghiệp áp dụng quy trình hoạch định có vị thế lớn mạnh trên thị trường hơn, tránh
được các yếu tố bất lợi trên thị trường gây thiệt hại cho doanh nghiệp nhờ thường xuyên phân
tích thị trường, dự báo trước tình hình biến động của thị trường.
(Nguồn: www.vnn.vn )
Công tác hoạch định ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn nhiều hạn chế do các yếu nội và
ngoại sinh như xu hướng hội nhập, nền kinh tế thị trường, vốn, nhân lực. công tác hoạch định
chưa được thực hiện một cách khoa học và hợp lý.
1.2.6 Một số giải pháp:
Cao Thị Bình_DHKT1
12
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
Hoạch định chiến lược cần diễn ra liên tục, nhằm đánh giá kiểm soát hoạt động của doanh
nghiệp và ngành kinh doanh mà công ty đang hoạt động, đánh giá đối thủ cạnh tranh, thiết lập
mục tiêu, kế hoạch hành động và phương thức cạnh tranh hiện tại và tương lai.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải xem hoạch định là xương sống của tổ chức đó, sử
dụng hoạch định chiến lược như một công cụ để quản lý hoạt động của tổ chức. Các doanh
nghiệp phải có sự chuyển đổi về cách quản lý của tổ chức, vạch ra hướng đi và phối hợp nỗ
lực của các thành viên một cách hiệu quả để phát huy tác dụng của hoạch định trong tổ chức.
Phân tích tình hình thị trường thường xuyên và tư duy linh hoạt.

Các nhà lãnh đạo cần phải giành thời gian cho việc tổ chức các cuộc họp riêng về chủ đề
hoạch định chiến lược cũng như giành mối quan tâm thường trực cho việc quyết định các
quyết định hàng ngày và những quyết định dài hạn cho doanh nghiệp.
Phải biến lời nói thành hành động, phải đưa ra được một loạt các mục tiêu, quyết định và hành
động theo lịch trình đã lập ra.
Cần tiến hành công tác hoạch định theo một tiến trình khoa học và hợp lí, nhằm tiết kiệm thời
gian, nguồn lực và chi phí.
2. KẾT LUẬN:
Lí luận thực tiễn đã chứng minh hoạch định chiến lược kinh doanh giữ một vai trò rất quan
trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định sự thành công hay
thất bại của doanh nghiệp trong dài hạn. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì việc này
càng quan trọng hơn.
Trong xu thế hội nhập toàn cầu, cơ chế thị trường năng động, loại hình doanh nghiệp vừa và
nhỏ ngày càng khẳng định được vai trò và vị thế của mình trong nền kinh tế quốc gia, đặc biệt
là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Đối với một nền kinh tế dựa trên tri thức
trẻ như hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn có những cơ hội, thuận lợi nhất định,
ngược lại với sự chuyển biến đa dạng của thị trường thì những khó khăn và thách thức mà các
doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt là luôn biến đổi.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một loại hình kinh doanh kinh tế có khả năng phát triển nhanh
và mạnh nếu như nó được tồn tại trong một môi trường thuận lợi. Để loại hình doanh nghiệp
này hoạt động có hiệu quả, mang lại lợi ích cho nền kinh tế, chính bản thân của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ cần phải tự mình khắc phục những yếu điểm nội tại nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh. Song song đó, cần phải khẳng định thêm vai trò của quản lí nhà nước như
những chính sách hỗ trợ, đầu tư, chính sách tín dụng, thị trường giá cả, chính sách môi trường
phát triển hạ tầng cơ sở…Có sự thống nhất, liên kết chặt chẽ và hợp lí giữa doanh nghiệp và
Cao Thị Bình_DHKT1
13
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
nhà nước thì chắc chắn nền kinh tế Việt Nam tạo nên một bước nhảy lớn, rút ngắn khoảng
cách bắt kịp thời đại.

Cao Thị Bình_DHKT1
14
TIỂU LUẬN QUẢN TRỊ HỌC
3. TÀI LIỆU THAM KHẢO:
 Giáo trình chính Quản trị học




nho-ky-1.aspx



vn 35950.html
 Thu thập từ sách báo, và một số thông tin trên mạng.
Cao Thị Bình_DHKT1
15

×