Tải bản đầy đủ (.doc) (10 trang)

Phương pháp dạy học môn Tiếng Anh THCS.doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (208.38 KB, 10 trang )

Phương pháp dạy học môn Tiếng Anh THCS (ELT Methodology - Middle
Schools)
Đăng ký nhận thông tin về bài đăng
Dạy Ngữ pháp cho học sinh
đăng 09:58 21-03-2009 bởi Chien Nguyen Danh [ đã cập nhật 10:01 21-03-2009 ]
Phần cuối cùng của mỗi đơn vị bài học là phần Language Focus, nhằm giúp hệ thống hoá, củng cố và
luyện tập sử dụng các chức năng ngôn ngữ, các điểm ngữ pháp và từ vựng đã xuất hiện trong các bài đã
học. Tuỳ theo nội dung từng bài tập, giáo viên có thể lựa chọn những loại bài để học sinh thực hiện trên lớp
hay hướng dẫn cho các em về làm tại nhà. Tuy nhiên, phần hệ thống hoá, củng cố và chữa bài là khâu
quan trọng. Qua những bài tập này, giáo viên có thể rút ra được những mặt mạnh và mặt yếu của học sinh
và có kế hoạch củng cố, bồi dưỡng thêm cho các em.
Khi thực hiện các bài tập ở phần này, cần cho học sinh liên hệ lại những tình huống hay ngữ cảnh mà các
mục ngữ pháp, hay chức năng ngôn ngữ này đã được xuất hiện trong các mục trước của bài học để qua đó có
thể làm rõ ý nghĩa các ngữ liệu đó và hệ thống hoá được tốt hơn. Đây là lúc giáo viên có thể giải thích, tóm tắt
hay chốt lại các điểm ngữ pháp đã xuất hiện trong bài một cách kỹ lưỡng hơn.

Giới thiệu cấu trúc ngữ pháp
Đầu tiên GV giới thiệu bằng lời cấu trúc mới rồi ghi lên bảng. Cấu trúc ngữ pháp đó phải nằm trong
ngữ cảnh. Cách đơn giản nhất để trình bày một cấu trúc là chỉ ra một cách trực tiếp, sử dụng các vật thể
mà HS có thể nhìn thấy trong và ngoài lớp, tranh ảnh, hình vẽ minh hoạ, bản đồ, biểu bảng, bản thân GV
và HS hoặc bằng hành động.
Một cách khác để chỉ ra ý nghĩa của một cấu trúc là đặt ra một tình huống ở trong và ngoài lớp mà
trong đó cấu trúc đó có thể sử dụng một cách tự nhiên. Tình huống có thể có thực, tưởng tượng hoặc sáng
tạo. Việc kết hợp các thủ pháp khác nhau là cần thiết trong việc chỉ ra ý nghĩa của một cấu trúc mới bởi HS
có nhiều có nhiều cơ hội để tiếp thu nó một cách trọn vẹn hơn. Bên cạnh việc chỉ ra một cấu trúc ngữ pháp
được sử dụng và có ý nghĩa như thế nào thì GV cũng cần phải chỉ ra hình thức của cấu trúc ấy. Có nhiều
cách thể hiện hình thức cấu trúc ngữ pháp:
• Đọc cấu trúc và yêu cầu HS nghe và nhắc lại.
• Viết cấu trúc lên bảng.
• Yêu cầu một số HS (cá nhân) nhắc lại.
• Giải thích cấu trúc ngữ pháp mới được hình thành như thế nào.


• Yêu cầu cả lớp chép cấu trúc vào vở.
• Đặt thêm ví dụ và tình huống để luyện tập.

Quy trình 3 bước của giờ dạy ngữ pháp
Theo giáo học pháp hiện đại, giờ lên lớp được xây dựng trên cơ sở một quy trình 3 bước (The Three
P's) gồm: Giới thiệu, Luyện tập và Vận dụng. Quy trình đó có thể được mô tả trong mô hình sau:
Presentation → Practice → Performance/Production


Tham khảo tài liệu về PPP: Nhấn chuột vào đây để đọc.
Dạy/Rèn kỹ năng Viết cho học sinh
đăng 09:54 21-03-2009 bởi Chien Nguyen Danh
Quy trình dạy Viết thực hiện theo 3 bước sau:
a) Trước khi viết (Pre-writing)
• Giới thiệu bài viết mẫu (phần a).
• Yêu cầu học sinh đọc kĩ để tìm hiểu cấu trúc của bài viết (lưu ý cách diễn đạt ngôn ngữ trong văn
bản viết).
• GV cần làm rõ nghĩa từ mới và mẫu câu.

b) Trong khi viết (While-writing)
1
• GV nêu yêu cầu bài viết (phần b) và có thể cho gợi ý.
• HS thảo luận theo cặp hoặc nhóm, sau đó cá nhân HS tự viết.
• HS cần bám sát bài viết mẫu, các gợi ý để viết theo yêu cầu.
• GV gọi vài HS (đại diện nhóm) trình bày bài viết trước lớp (có thể ding OHP).
• GV sửa lỗi và đưa ra đáp án gợi ý.

c) Sau khi viết (Post-writing)
• HS có thể trình bày lại bài viết (dưới dạng nói).
• GV có thể yêu cầu HS viết một bài theo tình huống gợi ý tương tự (bài viết mới liên hệ thực tế,

mang tính sáng tạo và tự do hơn).
Nói tóm lại, các bài luyện viết thường bắt đầu bằng một bài mẫu ở mục a). Thông qua hoạt động đọc
hiểu, học sinh nắm bắt cách trình bày viết một bài viết theo mục đích hay yêu cầu nhất định. Phần b) sẽ là
phần học sinh thực hiện các bài tập viết theo yêu cầu đề ra, có hướng dẫn, hoặc có gợi ý; sau đó là bài viết
mở rộng mang tính sáng tạo và tự do hơn.
- Để thực hiện bài này, giáo viên cần làm tốt phần hướng dẫn mẫu qua các bài tập đọc và phát hiện,
sau đó giải thích yêu cầu bài viết.
- Cần làm rõ tình huống và yêu cầu bài viết. Nên cho các gợi ý nếu cần. Để làm tốt phần gợi ý, nên
khai thác sự đóng góp ý kiến của cả lớp hay nhóm trước khi học sinh làm việc cá nhân.
- Nhìn chung, để tiết kiệm thời gian trên lớp, các bài tập viết sau khi đã hướng dẫn, đều có thể dành
làm bài tập về nhà và chữa tại lớp.
Dạy/Rèn kỹ năng Nghe hiểu cho học sinh
đăng 09:51 21-03-2009 bởi Chien Nguyen Danh
Các hoạt động dạy nghe hiểu được thực hiện theo 3 bước: trước, trong khi và sau khi nghe cũng
nhằm các mục đích giống tương tự như với kỹ năng đọc, với một số điểm cụ thể cho các bài tập nghe.

a) Trước khi nghe (Pre-listening):
 Giới thiệu nội dung chủ điểm/tình huống;
 Các câu hỏi đoán về nội dung sắp nghe;
 Các câu hỏi tạo trí tò mò, gây hứng thú về nội dung sắp nghe;
 Ra yêu cầu bài nghe.
 Lưu ý: Giới thiệu một số từ mới hoặc cấu trúc ngữ pháp mới có liên quan đến việc hiểu nội dung bài
nghe; tuy nhiên không nên giới thiệu hết mọi từ mới không quan trọng.

b) Trong khi nghe (While-listening):
 Ra câu hỏi hướng dẫn, yêu cầu mục đích khi nghe;
 Chia quá trình nghe thành từng bước nếu cần. Ví dụ, nghe lần thứ nhất: nghe ý chính, trả lời các
câu hỏi đại ý; nghe lần thứ hai: nghe chi tiết nội dung; có thể cho HS nghe thêm lần thứ ba để tự tìm hết
đáp án hay tự sửa lỗi trước khi giáo viên sửa lỗi và cho đáp án.
 Lưu ý: Nên cho nghe hết cả nội dung bài, không dừng từng câu một (trừ trường hợp câu khó muốn

cho HS tìm thông tin chi tiết chính xác)

c) Sau khi nghe (Post-listening):
 Các bài tập ứng dụng, chuyển hoá tương tự như các bài tập sau khi đọc.
 Cần phối hợp nhiều cách kiểm tra các đáp án như: để HS hỏi lẫn nhau, trao đổi đáp án và chữa
chéo, hay một HS hỏi trước lớp và chọn người trả lời trước khi GV cho đáp án cuối cùng.
Dạy/Rèn kỹ năng Nói cho học sinh
đăng 09:49 21-03-2009 bởi Chien Nguyen Danh
Sau phần giới thiệu ngữ liệu (ở lớp 8 và lớp 9) là phần luyện tập nói (Speak), với các hình thức bài tập
và hoạt động ở mỗi bài có khác nhau nhằm luyện tập sử dụng các trọng tâm cấu trúc ngữ pháp, hay từ
vựng để diễn đạt các chức năng ngôn ngữ theo các chủ đề và tình huống có liên quan đến bài học.

Quy trình luyện nói bao gồm:

2
a) Chuẩn bị nói (Pre-speaking)
• Giới thiệu bài nói mẫu (Những phát ngôn riêng lẻ hay một bài hội thoại).
• Yêu cầu học sinh luyện đọc (Chú ý cách phát âm và nghĩa của từ mới)
• Giáo viên dùng câu hỏi gợi mở để HS tự rút ra cách sử dụng từ và cấu trúc câu.
• Giáo viên yêu cầu bài nói.

b) Luyện nói có kiểm soát (Controlled practice)
• Học sinh dựa vào tình huống gợi ý (qua tranh vẽ, từ ngữ, cấu trúc câu cho sẵn hoặc bài hội thoại
mẫu) để luyện nói theo yêu cầu.
• HS luyện nói theo cá nhân/ cặp /nhóm dưới sự kiểm soát của của GV (sửa lỗi phát âm, lỗi ngữ
pháp, gợi ý từ …)
• GV gọi cá nhân hoặc cặp HS trình bày (nói lại) phần thực hành nói theo yêu cầu.

c) Luyện nói tự do (Free practice/ Production)
• HS nói về kinh nghiệm bản thân, bạn bè, người thân trong gia đình hoặc về quê hương, đất nước

hay địa phương nơI mình ở.
• GV không nên hạn chế về ý tưởng cũng như ngôn ngữ ; nên để HS tự do nói, phát huy khả năng
sáng tạo của bản thân.
Để thực hiện mục này giáo viên cần lưu ý một số điểm sau:
• Cần phối hợp sử dụng thường xuyên các hình thức luyện tập nói theo cặp (pairs) hoặc theo nhóm
(groups) để các em có nhiều cơ hội sử dụng tiếng Anh trong lớp qua đó các em có thể cảm thấy tự tin và
mạnh dạn hơn trong giao tiếp.
• Cần hướng dẫn cách tiến hành, làm rõ yêu cầu bài tập hoặc gợi ý hay cung cấp ngữ liệu trước khi
cho học sinh làm việc theo cặp hoặc nhóm. Việc hướng dẫn và gợi ý cho phần luyện nói rất cần sự sáng
tạo và thủ thuật phong phú của giáo viên, không nên chỉ bám sát thuần tuý vào sách.
• Ngữ cảnh cần được giới thiệu rõ ràng. Sử dụng thêm các giáo cụ trực quan để gợi ý hay tạo tình
huống.
• Có thể mở rộng tình huống, khai thác các tình huống có liên quan đến chính hoàn cảnh của địa
phương, khuyến khích liên hệ đến tình hình cụ thể của chính cuộc sống thật của các em.
Kỹ thuật giới thiệu/dạy ngữ liệu mới
đăng 09:42 21-03-2009 bởi Chien Nguyen Danh
Giới thiệu ngữ liệu mới là làm rõ nghĩa, cách phát âm, cấu trúc hình thái, và cách dùng của một mục
dạy nào đó trong một ngữ cảnh nhất định. Mục dạy có thể là các mẫu lời nói, từ vựng hay ngữ pháp, hoặc
một nội dung chủ điểm nào đó, thường được giới thiệu thông qua một bài hội thoại hay một bài khoá, hoặc
những tình huống có sự hỗ trợ của giáo cụ trực quan.
Với phương pháp dạy học mới, công việc giới thiệu ngữ liệu không còn thuần tuý chỉ là việc thày giải
thích nghĩa của từ mới (mà phần lớn giáo viên thường thực hiện bằng cách cho nghĩa tiếng Việt) và giải
thích các quy tắc ngữ pháp và các mẫu câu. ở phần này, người giáo viên còn cần phải đồng thời làm rõ
cách sử dụng của các mẫu câu hoặc từ mới đó trong ngữ cảnh. Chỉ khi được giới thiệu trong ngữ cảnh,
nghĩa và cách sử dụng của các ngữ liệu cần dạy mới được làm sáng tỏ. Như vậy, nội dung cần giới thiệu ở
bước giới thiệu ngữ liệu là:
 Hình thái (Form: pronunciation; spelling; grammar)
 Ngữ nghĩa (Meaning)
 Cách sử dụng (Use)
Một đặc điểm nổi bật của phương pháp mới trong việc giới thiệu ngữ liệu là phương pháp mới rất chú

trọng tới việc phải làm sao cho học sinh tiếp thụ bài học không chỉ qua nghe thụ động mà còn được vận động trí
óc, chủ động tham gia vào quá trình của họat động này qua nhiều hoạt động ngôn ngữ khác nhau.
Có nhiều cách/ thủ thuật giới thiệu ngữ liệu. Sau đây là một số thủ thuật giới thiệu ngữ liệu mà các
giáo viên có thể tham khảo để ứng dụng cho bài dạy cụ thể của mình.

Các thủ thuật tạo dựng tình huống. (setting up situations/ contexts)
a). Dùng môi trường, đồ vật thật trong lớp, trong trường;
b). Sử dụng những tình huống thật trong lớp;
c). Dùng các tình huống thật trong đời sống thật của hoc sinh;
d). Dùng các câu chuyện có thật, các hiện tượng thật trong thực tế;
e). Sử dụng các bảng biểu, bản đồ, bảng tin, báo chí;
3
f). Sử dụng tranh, ảnh, giáo cụ trực quan;
g). Sử dụng ngôn ngữ học sinh đã biết;
h). Sử dụng các bài hội thoại ngắn;
i). Sử dụng tiếng mẹ đẻ;
k). Phối hợp một hay nhiều cách trên.
Giới thiệu hình thái ngôn ngữ
Sau khi dùng ngữ cảnh để giới thiệu nghĩa và cách dùng của các mục dạy, lúc này giáo viên có thể
làm rõ hình thái cấu trúc, các quy tắc ngữ pháp nếu có để học sinh nhớ được dễ hơn và hệ thống hoá
được những ngữ liệu đã học. Giáo viên có thể gợi ý cho học sinh tự nhận xét và lập thành mẫu câu hoặc
lập ra các công thức dễ nhớ.
Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh. (Checking comprehension)
Sau khi giáo viên đã giới thiệu làm rõ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu mới, cần thực hiện việc
kiểm tra mức độ tiếp thu bài của học sinh để qua đó biết được học sinh đã thực sự hiểu bài chưa, mức độ
hiểu đến đâu, để trên cơ sở đó có thể kịp thời bổ xung bài giảng nếu cần.
Việc kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh ở phần giới thiệu ngữ liệu này có thể được thực hiện
thông qua một số bài tập thực hành như:
 Học sinh ứng dụng mẫu câu vừa học vào các tình huống tương tự khác giáo viên đưa ra;
 thực hiện một số bài tập lắp ghép;

 xây dựng các bài hội thoại ngắn theo mẫu bằng cách lắp ghép những từ, đoạn câu gợi ý;
 thực hiện các bài tập hỏi /trả lời theo dạng câu hỏi đóng hoặc các câu hỏi trắc nghiệm đúng sai
(comprehensive questions, True/False questions)
 dịch ra tiếng Việt (nếu phù hợp và cần thiết)
Tóm tắt các bước giới thiệu ngữ liệu mới
Các bước giới thiệu ngữ liệu mới có thể được tóm tắt theo một tiến trình như sau:
1) Giới thiệu ngữ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu: cấu trúc ngữ pháp/ từ mới/ mẫu câu
chức năng qua tình huống, ngữ cảnh, mẫu hội thoại, tranh ảnh
2) Nêu bật cấu trúc/ từ/ mẫu câu chức năng mới bằng cách đọc to cho học sinh nghe nhắc
lại hoặc bằng các thủ thuật khác nhằm hướng sự chú ý của học sinh vào những mục dạy đó.
3) Viết các cấu trúc/ từ mới lên bảng, làm rõ hình thái cấu trúc, giải thích nếu cần.
4) Làm rõ thêm nghĩa và cách sử dụng bằng cách tiếp tục đưa thêm các tình huống hoặc
các ví dụ khác.
5) Lặp lại tương tự bước 2 hoặc cho học sinh tái tạo theo gợi ý.
6) Kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh sử dụng các thủ thuật kiểm tra hiểu như gợí ý ở
mục 2.3.
Khi giáo viên nhận thấy học sinh đã làm tốt được bước 6. thì có thể chuyển sang phần luyện tập
sáng tạo hơn với các loại bài tập mang tính giao tiếp hơn.
Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng không phải lúc nào việc giới thiệu ngữ liệu cũng phải tuân theo tuần
tự tiến trình trên. Ví dụ, ngay sau bước 2. nếu giáo viên cảm thấy học sinh đã hiểu và có thể làm tốt các bài
tập tái tạo thì có thể chuyển ngay sang bước 6. Hoặc công việc của bước 3. cũng có thể để lui lại để thực
hiện vào cuối bài ở bước củng cố bài, sau khi học sinh đã làm các bài tập thực hành.
Một số lưu ý khi giới thiệu/dạy từ vựng
Tiến trình giới thiệu ngữ liệu được trình bày ở trên có thể được coi là tiến trình chung cho việc giới
thiệu ngữ liệu mới. Tuy nhiên, cách giới thiệu từ vựng cũng có những đặc thù riêng. Phần này sẽ trình bày
một số điểm cần lưu ý khi giới thiệu từ mới.
Chọn từ để dạy
Thông thường trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới. Song không phải từ mới nào cũng cần đưa
vào dạy như nhau. Để lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xét các câu hỏi sau:
a) Từ chủ động hay từ bị động?

 Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là những từ học sinh hiểu, nhận biết và sử dụng được
trong giao tiếp nói và viết.
 Từ bị động (passive/ receptive vocabulary) là những từ học sinh chỉ hiểu và nhận biết được khi
nghe và đọc.
Cách dạy hai loại từ này có khác nhau. Từ chủ động liên quan đến cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, cần
đầu tư thời gian để giới thiệu và luyện tập nhiều hơn, đặc biệt là cách sử dụng. Với từ bị động, giáo viên có thể
chỉ dừng lại ở mức nhận biết, không cần đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng. Giáo viên cần xác định
xem sẽ dạy từ nào như một từ bị động và từ nào như một từ chủ động. Với từ bị động, giáo viên có thể khuyến
khích học sinh tự tìm hiểu nghĩa từ (ví dụ: tra từ điển), hoặc đoán từ qua ngữ cảnh.
b) Học sinh đã biết từ này chưa?
Giáo viên cần xác định rõ từ mình định dạy có thực sự là từ cần dạy hay không. Vốn từ của học sinh luôn
luôn được mở rộng bằng nhiều con đường, và cũng có thể bị quên bằng nhiều lý do khác nhau. Để tránh tình
4
trạng giới thiệu những từ không cần thiết và mất thời gian, giáo viên có thể dùng những thủ thuật nhằm phát hiện
xem các em đã biết những từ đó chưa và biết đến đâu. Giáo viên có thể dùng các thủ thuật như eliciting;
brainstorming; các thủ thuật dùng ở các bước 5) và 6) trong tiến trình giới thiệu ngữ liệu mới; hoặc có thể hỏi trực
tiếp học sinh những từ nào là từ mới và khó trong bài.
Những thủ thuật làm rõ nghĩa từ
Ngoài những thủ thuật giới thiệu nghĩa trong ngữ cảnh đã đề cập ở phần giới thiệu ngữ liệu chung,
có thể sử dụng một số thủ thuật đặc thù cho từ vựng như:
a) Dùng trực quan như: đồ vật thật trên lớp, tranh ảnh, hình vẽ phác hoạ (hình que), hình cắt dán
từ tạp chí, cử chỉ điệu bộ v.v.
b) Dùng ngôn ngữ đã học:
 Định nghĩa, miêu tả;
 Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa;
 Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ;
 Tạo tình huống;
 Đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnh
c) Dịch sang tiếng mẹ đẻ.
Các bước tiến hành giới thiệu từ mới cũng tương tự như các bước giới thiệu ngữ liệu nói chung,

song có thể được phối hợp nhanh hơn.Cụ thể là sau khi đã làm rõ nghĩa và cách sử dụng từ, giáo viên sẽ
tạo điều kiện cho học sinh thực hành ngay qua các bài tập ứng dụng phối hợp với các mẫu cấu trúc hoặc
mẫu câu chức năng. Qua các bài tập thực hành này giáo viên đã cùng lúc kiểm tra được mức độ tiếp thu
bài của học sinh.

Tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu ngữ liệu mới
Như đã đề cập, điểm nổi bật ở phương pháp mới là tạo cho học sinh được tham gia vào quá trình
giới thiệu ngữ liệu mới.
Trong giai đoạn giới thiệu ngữ liệu mới, thông thường giáo viên đóng vai trò chính, vai trò truyền thụ,
học sinh đóng vai tiếp nhận, thụ động là chủ yếu. Tuy nhiên, nếu giáo viên tạo được điều kiện cho học sinh
tham gia vào quá trình này, kết quả tiếp thu bài của các em sẽ tốt hơn nhiều.
Để làm được điều đó, giáo viên cần tìm kiếm và sử dụng những thủ thuật phát huy sự chủ động suy
đoán, tự phát hiện của học sinh. Ví dụ, phát hiện và nhận biết cấu trúc hay từ mới và tự rút ra mẫu cấu trúc
của các mục ngữ pháp, hoặc đoán nghĩa từ trong ngữ cảnh, tự giải thích nghĩa từ bằng vốn từ có sẵn, cho
từ đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa,v.v.

Sử dụng phối hợp các kỹ năng trong khi giới thiệu ngữ liệu mới
Trong quá trình giới thiệu ngữ liệu, giáo viên nên phối hợp nhiều các kỹ năng với nhau để giới thiệu
mục dạy, ví dụ giới thiệu qua nói, sau đó học sinh nghe và nhắc lại; học sinh nhìn mẫu được viết trên bảng,
hoc sinh tái tạo qua nói, nghe, viết , đọc; học sinh xây dựng các bài hội thoại theo mẫu qua nói nghe trong
nhóm sau đó viết lại hoặc ngược lại, chuẩn bị qua viết, sau đó nói lại; học sinh viết các câu trả lời trên giấy
trong/ bảng con, sau đó đưa ra trước lớp để được nhận xét, v.v.
Dạy/Rèn kỹ năng Đọc hiểu cho học sinh
đăng 09:42 21-03-2009 bởi Chien Nguyen Danh
Khi tiến hành một bài dạy kỹ năng, ví dụ như một bài đọc hoặc bài nghe… (trong chương trình lớp 8
và lớp 9) cần tiến hành theo 3 bước: trước khi vào bài, trong khi thực hiện bài và sau khi thực hiện xong
bài (pre-task, while-task and post-task). Những yêu cầu hoạt động được thiết kế theo các bước này sẽ giúp
học sinh hiểu bài và thực hành được các kỹ năng lời nói một cách thấu đáo và có suy nghĩ hơn, trên cơ sở
đó sẽ khắc sâu bài lâu bền hơn.
Mục đích của từng bước

a) Các hoạt động trước khi vào bài:
Các hoạt động trước khi vào bài giúp học sinh hình dung trước nội dung chủ điểm hay nội dung tình
huống của bài các em sẽ nghe, đọc, nói về hoặc viết về chúng.
Các hoạt động cho bước này sẽ được lựa chọn tuỳ theo từng kỹ năng cụ thể và tuỳ theo từng nội
dung và yêu cầu cụ thể của bài. Các hoạt động đó có thể là:
 Trao đổi, thu thập các ý kiến, những hiểu biết và kiến thức hoặc quan điểm của học sinh về chủ
điểm của bài trước khi các em nghe, nói đọc, viết về nó qua các hoạt động dạy học hay thủ thuật như
brainstorming, discussions
 Đoán trước nội dung sắp học bằng các câu hỏi đoán về nội dung bài hoặc về từ vựng sẽ xuất hiện
trong bài;
5
 Trả lời các câu hỏi về nội dung bài qua các câu hỏi đặt trước;
 Giới thiệu trước từ vựng hay kiến thức ngữ pháp có liên quan đến bài sắp học.
 Thực hiện các bài tập thông qua một trong những kỹ năng để từ đó có thể thực hiện các kỹ năng
khác (ví dụ, nghe trước khi nói về một chủ điểm nào đó; nói trước khi viết, hoặc đọc trước khi viết v.v…)
b) Các hoạt động trong khi thực hiện bài:
Các hoạt động ở bước này gồm các yêu cầu bài tập giúp học sinh thực hành các kỹ năng đặt ra. Các
yêu cầu bài tập có thể là các câu hỏi đọc hiểu hay nghe hiểu; sắp xếp trật tự nội dung; những bài tập
chuyển hoá, bài tập viết theo mẫu v.v.
c) Các hoạt động sau khi thực hiện bài:
Các hoạt động sau khi thực hiện bài thường gồm những bài tập ứng dụng mở rộng dựa trên bài vừa
học, thông qua các kỹ năng nói hoặc viết.

Ba bước luyện đọc hiểu
a) Trước khi đọc (Pre-reading):
Các hoạt động trước khi đọc gồm những hoạt động nhằm đạt được những mục đích sau:
 Gây hứng thú;
 Giới thiệu ngữ cảnh, chủ đề;
 Tạo nhu cầu , mục đích đọc;
 Đoán trước nội dung bài đọc;

 Nêu những điều muốn biết về nội dung sắp đọc;
 Giới thiệu trước từ vựng, ngữ pháp mới giúp cho học sinh hiểu được bài đọc;
 v.v…
b) Trong khi đọc (While-reading):
Các hoạt động luyện tập trong khi đọc nhằm giúp học sinh hiểu bài đọc. Tuỳ theo mục đích nội dung
của từng bài đọc, sẽ có những dạng câu hỏi và bài tập khác nhau. Những dạng bài tập phổ biến gồm:
 Check/tick the correct answers;
 True/ false
 Complete the sentences;
 Fill in the chart;
 Make a list of
 Matching;
 Answer the questions on the text;
 What does mean?
 What does stand for/ refer to?
 Find the word/ sentence that means ;
 etc.
c) Sau khi đọc (Post-reading):
Các hoạt động và bài tập sau khi đọc là những bài tập cần đến sự hiểu biết tổng quát của toàn bài
đọc, liên hệ thực tế, chuyển hoá nội dung thông tin và kiến thức có được từ bài đọc, qua đó thực hành
luyện tập sử dụng ngôn ngữ đã học.
Các hình thức bài tập có thể là:
 Summarize the text;
 Arrange the events in order;
 Give the title of the reading text;
 Give comments, opinions on the characters in the text;
 Rewrite the stories from jumbled sentences/ words/visual cues;
 Role- play basing on the text;
 Develop another story basing on the text;
 Tell a similar event on

 Personalized tasks (write/ talk about your own school )
 …
Tìm hiểu một số phương pháp dạy học ngoại ngữ trong lịch sử
đăng 09:14 21-03-2009 bởi Chien Nguyen Danh
Lịch sử dạy học ngoại ngữ đã trải qua nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp Ngữ pháp–
Dịch, phương pháp Nghe–Nhìn, phương pháp Nghe - Nói, phương pháp Giao tiếp, v.v.

Phương pháp Ngữ pháp – Dịch
6
Phương pháp này có tên tiêng Anh là “Grammar – Translation Method” hay còn gọi là phương pháp
Truyền thống được áp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam vào những năm 1970 cho đến tận những năm 1990. Nếu
theo phương pháp này, chương trình tập trung chủ yếu vào phát triển kỹ năng đọc hiểu, học thuộc lòng từ vựng,
dịch văn bản, viết luận (composition) và phân tích ngôn ngữ (học để nắm chắc quy tắc ngôn ngữ). Quy trình
thực hiện: Các bài khóa (texts) được biên soạn và chia ra thành từng đoạn ngắn. Việc giảng giải quy tắc ngôn
ngữ là cơ bản. Học sinh được học về ngữ pháp rất kỹ trên cơ sở các hiện tượng ngữ pháp cơ bản được rút ra
từ các bài khóa. Để kiểm tra sự thông hiểu về nội dung bài khóa (nội dung văn hóa, đất nước học nói chung) và
các quy tắc ngôn ngữ, HS bắt buộc phải dịch các bài khóa sang tiếng mẹ đẻ. HS không được phép mắc lỗi
ngôn ngữ, nếu có phải sửa ngay.
Ưu điểm:
- HS được rèn luyện rất kỹ về ngữ pháp và tiếp thu lượng từ vựng khá lớn.
- HS nắm được tương đối nhiều các cấu trúc câu cơ bản, thuộc lòng các đoạn văn hay hoặc bài
khóa mẫu.
- HS có thể đọc hiểu nhanh các văn bản.
Hạn chế:
- Không giúp HS “giao tiếp” được. Hoạt động chủ yếu trong lớp là người thầy; nghĩa là người thầy
giảng giải, nói nhiều, HS thụ động ngồi nghe và ghi chép, không có ý kiến phản hồi hoặc không tham gia
giao tiếp (nói) với thầy và bạn bè.
- Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều - HS hoàn toàn bị động, không có cơ hội thực hành giao
tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kỹ năng nói của HS bị hạn chế nhiều.


Phương pháp Nghe – Nói
Phương pháp Nghe - Nói (Audiolingual Method or Audio-Oral Method) nhấn mạnh vào việc dạy kỹ
năng nói và kỹ năng nghe trước kỹ năng đọc và kỹ năng viết. Khác với phương pháp Ngữ pháp – Dịch,
phương pháp này đáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hình thành và phát triển cả bốn kỹ
năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trước đọc và viết. Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ
vựng, ngữ pháp) được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học. Phương pháp Nghe-Nói không cho
phép việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếng Anh trong quá trình dạy học. Khi thực
hiện, người ta nhấn mạnh việc phát triển hai kỹ năng nói và nghe là chủ yếu. Việc dạy học thông qua thực
hành cấu trúc câu (structures) và qua các bài tập ứng dụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những
điểm giống nhau (so với tiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các qui tắc ngôn ngữ. Yêu
cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ: các bài/mẩu đối thoại mẫu (dialogues) có chứa
cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn ngữ cần truyền đạt. HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một
thói quen ngôn ngữ theo các hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực hành thêm một số bài
tập cấu trúc (thay thế, bổ sung, chuyển đổi …). …
Ưu điểm:
- Có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS. HS
cảm thấy phấn khởi và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo giáo viên, ví dụ: HS làm theo lệnh của
GV hoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản.
Hạn chế:
- HS có trình độ ngoại ngữ cao rất dễ nhàm chán với phương pháp này nếu không có sự điều chỉnh
phương thức dạy học cần thiết.
- HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếp ngôn ngữ là khó. Các em không
thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (các mẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự nhiên vì tuy HS có khả
năng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, song các em cũng rất chóng quên và cảm
thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương tự trong giao tiếp thực; tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dù
sau một thời gian dài học tập.

Phương pháp Giao tiếp
Phương pháp Giao tiếp hay Đường hướng Giao tiếp ((Communicative Approach) được xem như phương
pháp dạy học ngoại ngữ phổ biến nhất và hiệu quả nhất hiện nay. Hầu hết các giáo trình, SGK phổ thông tiếng Anh

trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay đều được biên soạn dựa theo quan điểm của phương pháp này. Qua đó, coi
mục tiêu cuối cùng của dạy học ngoại ngữ là phát triển kỹ năng giao tiếp/kỹ năng ngôn ngữ (linguistic skills), năng lực
giao tiếp (communicative competence). Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương
diện xã hội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngôn ngữ, và tính đến ngôn
ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày. Ngoài ra, phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện
nghĩa của ngôn ngữ, hay nói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp (intention of communication). Khái
niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năng ngôn ngữ (language function). Như vậy, theo Phương
pháp Giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giao tiếp. Mục
đích cuối cùng của người học ngoại ngữ không chỉ tiếp thu và nắm chắc kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ
7
vựng, ngữ pháp) mà cần phải đạt được năng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kỹ
năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp. Vì vậy, các tài liệu dạy học
hiện đều hướng đến giúp người học có thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn
như xin phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày tỏ sự quan tâm, thích thú hoặc không
thích v.v …. Hơn nữa, để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ thích
hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý
định giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks).
Với phương pháp này, trong giờ dạy giáo viên thực hiện theo 5 bước:
+ Giới thiệu ngữ liệu (presentation)
+ Thực hành bài tập (Exercises)
+ Hoạt động giao tiếp (Communicative activities)
+ Đánh giá (Evaluation)
+ Củng cố (Consolidation).
Ưu điểm: Phương pháp Giao tiếp có ưu điểm hơn hẳn các phương pháp khác là nó bao trùm mọi
phương diện của quá trình dạy học ngoại ngữ: đó là các yếu tố ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, các yếu tố ngoài
ngôn ngữ… nhằm rèn luyện kỹ năng giao tiếp hoàn chỉnh. Đặc biệt Phương pháp Giao tiếp coi hình thành và
phát triển bốn kỹ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùng của quá trình dạy học. Các
kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các
kỹ năng giao tiếp. Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có khả năng sử dụng được tiếng Anh
để giao tiếp.

Hạn chế: Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển 4 kỹ năng ngôn ngữ:
nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy học, trong đó kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp)
không được quan tâm một cách thích đáng. Kết quả là một số HS cảm thấy khó có thể “giao tiếp” vì HS làm
sao có thể nghe, nói, đọc, viết được một khi các em không nắm chắc hệ thống qui tắc ngôn ngữ. Mặt khác,
theo quan điểm của phương pháp này, quan hệ giữa ý định giao tiếp (bao gồm các hành động lời nói hay là
các chức năng ngôn ngữ học được) và hiện thực là quá phức tạp, không rõ ràng. Nói cách khác, người ta
khó có thể lựa chọn các phát ngôn theo chức năng phù hợp với nhu cầu giao tiếp thực tế đa dạng và rất phức
tạp.
Trong quá trình dạy học, giáo viên giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức thực hiện; HS đóng vai trò
chủ đạo trong quá trình dạy học; tức là phải phát huy cao độ tính tích cực của các em trong luyện tập thực
hành. Ở trường THCS (lớp 8 và lớp 9), HS cần tập trung rèn luyện sâu từng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.
Muốn thực hiện được, cá nhân HS phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi, và cần lưu
ý rằng độ lưu loát/trôi chảy (fluency) trong giai đoạn này là rất quan trọng. Điều kiện tối thiểu để HS thực hành
kỹ năng ngôn ngữ là mỗi lớp học không quá đông (khoảng 35 HS/lớp); có đầy đủ thiết bị nghe nhìn, băng/đĩa
CD, tranh tình huống. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập nên nhấn mạnh vào 4 kỹ năng, và một phần nhỏ
kiến thức ngôn ngữ. Kiểm tra kỹ năng ngôn ngữ luôn luôn được ưu tiên trong bất kỹ hình thức nào.
Để thực hiện thành công giờ dạy theo phương pháp này, giáo viên cần:
+ Giảm tối đa thời gian nói của mình trên lớp, tăng thời gian sử dụng ngôn ngữ cho HS.
+ Dạy học theo cách gợi mở - GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìm ra lời giải đáp hoặc con đường
đi của mình.
+ Khai thác kiến thức sẵn có/kiến thức nền về văn hoá, xã hội cũng như ngôn ngữ của HS trong
luyện tập ngôn ngữ.
+ Có thái độ tích cực đối với lỗi ngôn ngữ của HS. Chấp nhận lỗi như một phần tất yếu trong quá
trình học ngoại ngữ, giúp HS học tập được từ chính lỗi của bản thân và bạn bè.
+ Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập (product) mà còn chú trọng đến cả quá
trình (process) luyện tập và phương pháp học tập của HS.

Một số ví dụ minh họa
Phương pháp Giao tiếp đòi hỏi người học phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ thích hợp với tình huống
giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention)

thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks). Ví dụ, trong phần giới thiệu ngữ liệu của Unit 4 lớp 9;
Mục 2. Listen and Read, HS được giới thiệu cả về chủ đề bài học (kinh nghiệm học ngoại ngữ) và kiến thức
ngôn ngữ (tường thuật câu nói từ trực tiếp sang gián tiếp: dạng câu khẳng định và câu hỏi) trong tình huống đối
thoại (Lan nói chuyện với Paola, một nữ sinh ngoại quốc về bài thi nói tiếng Anh mà Lan vừa tham dự). Nhiệm vụ
(task) mà HS phải thực hiện là Nghe, luyện đọc bài hội thoại và tìm ra các câu hỏi gián tiếp mà ban giám khảo hỏi
Lan (phần a.). GV dùng tình huống trong bài đối thoại để làm rõ nghĩa dạng câu hỏi theo cách nói gián tiếp của 2
loại tường thuật câu hỏi, ví dụ:
- She asked me what my name was, and where I came from.
- She asked me if I spoke any other languages.
Bước tiếp theo, GV cho HS luyện tập qua việc yêu cầu HS đọc bảng danh sách câu hỏi trực tiếp (thi
8
vấn đáp tiếng Anh) của ban giám khảo để so sánh và xác định với các câu hỏi gián tiếp trong bài đối thoại
(phần b.); sau đó HS luyện tập đối thoại trực tiếp theo cặp (đóng vai Lan và người giám khảo). Mục đích là
củng cố hình thái loại câu hỏi trực tiếp cho HS trước khi cho các em luyện tập đổi sang câu hỏi gián tiếp.
Bước tiếp theo là hoạt động giao tiếp mang tính tự do hơn. GV có thể yêu cầu HS dựa vào bài đối
thoại giữa Lan và người giám khảo để đóng vai Lan và Paola tập nói lại nội dung các câu hỏi trực tiếp đó ở
dạng câu hỏi gián tiếp (như bài đối thoại trong phần giới thiệu ngữ liệu).
Để tăng cường giao tiếp ở mức hoàn toàn tự do (mang tính sáng tạo), GV có thể yêu cầu HS luyện
tập phỏng vấn theo cặp theo các tình huống do giáo viên gợi ý; sau đó HS đại diện cho mỗi cặp tường
thuật lại các câu hỏi ở dạng gián tiếp.
Như vậy, ví dụ trên cho thấy việc dạy kiến thức ngôn ngữ (câu hỏi gián tiếp) được giới thiệu thông
qua tình huống giao tiếp, vừa đảm bảo việc truyền tải được hiện tượng ngôn ngữ theo văn cảnh có nghĩa,
vừa bám sát nội dung chủ đề của bài học. Điều quan trọng là HS được luyện tập và có thể vận dụng vào
các tình huống giao tiếp tương tự.

Ghi chú: Về phương pháp dạy học, các thầy (cô) giáo có thể tham khảo các tài liệu bằng tiếng Anh
trên mạng Internet hoặc sách tham khảo của nước ngoài (có tại thư viện ĐHNN…) và có thể tham khảo
thêm các nội dung về dạy Tiếng Anh THPT.
Giới thiệu về Kỹ thuật mở bài - tạo không khí lớp học
đăng 09:14 21-03-2009 bởi Chien Nguyen Danh

Để có được một giờ dạy thành công, ngay ở bước hoạt động đầu tiên của một giờ dạy là bước mở
bài, giáo viên cần tạo ra được một không khí học tập thuận lợi về cả mặt tâm lý lẫn nội dung cho hoạt động
dạy học tiếp theo đó.
Những hoạt động gây không khí học tập này thường rất ngắn (5 -7 phút) nhưng vô cùng quan trọng.
Vậy mở bài nên làm những gì và làm thế nào để có thể thực hiện được các mục đích đó.
Các hoạt động mở bài
Các hoạt động mở bài nhằm một số mục đích sau:
• ổn định lớp, cho phép học sinh có một thời gian để thích nghi với bài học mới;
• tạo môi trường thuận lợi cho bài học mới;
• gây hứng thú cho bài học mới;
• giúp học sinh liên hệ những điều đã học với bài học mới;
• chuẩn bị về kiến thức cần cho bài học mới;
• tạo tình huống, tạo ngữ cảnh cho phần giới thiệu bài tiếp theo;
• tạo nhu cầu giao tiếp, hay tạo mục đích cho một hoạt động giao tiếp kế tiếp.
Các hình thức và thủ thuật vào bài
Tuỳ theo mục đích và đặc thù của giờ dạy, đồng thời tuỳ theo đối tượng học sinh cụ thể của mình,
giáo viên có thể lựa chọn những hoạt động hay thủ thuật vào bài cho phù hợp.
Giáo viên có thể tham khảo một số gợi ý sau:
1. Tạo môi trường thuận lợi cho bài học
a) Thiết lập không khí dễ chịu giữa thày và trò ngay giờ phút vào lớp:
• chào hỏi học sinh;
• tự giới thiệu về mình;
• hỏi chuyện thông thường tự nhiên;
• kể chuyện vui
b) Tạo thế chủ động, tự tin cho học sinh:
• thăm hỏi học sinh;
• tạo cơ hội cho học sinh được giới thiệu/nói về mình, hỏi các câu hỏi đáp lại
c) ổn định lớp, tập trung sự chú ý, gây hứng thú bằng cách bắt đầu ngay bằng một hoạt động học tập
nào đó liên quan đến bài học, ví dụ:
• A short listening task;

• Observing a picture then ask and answer about the picture;
• A riddle
• A language game (crosswords, noughts and crosses, etc)
• A challenging task on vocabulary,
2. Chuẩn bị tâm lý và kiến thức cho bài học mới
a) Khai thác kiến thức đã biết của học sinh bằng thủ thuật gợi mở (eliciting), hay nêu vấn đền để cả
lớp đóng góp ý kiến (brainstorming).
9
b) Liên hệ những vấn đề của bài cũ có liên quan đến bài mới, có thể bằng các hình thức khác nhau
như:
• hỏi các câu hỏi có liên quan;
• ra bài tập về các nội dung đã học có liên quan;
• sử dụng một trong những hoạt động gây hứng thú và ổn định lớp (kể trên), dùng vốn kiến thức
và nội dung bài cũ;
c) Tạo ngữ cảnh, tình huống hoặc các cớ/lý do giao tiếp (Communicative needs) cho các hoạt động
tiếp theo của bài. Có thể dùng các hình thức như:
• giáo cụ trực quan (đồ vật, tranh, bưu ảnh )
• các mẩu chuyện có thật hoặc tự tạo
• các bài đọc ngắn
• các bài tập hoặc câu hỏi, vv
Một số lưu ý:
Trong thực tế, những hoạt động và thủ thuật dùng cho phần mở bài có thể cùng một lúc đáp ứng
được nhiều mục đích khác nhau . Vì vậy, giáo viên nên tìm cách sáng tạo để có được một cách vào bài sao
cho cùng một lúc có thể đáp ứng được nhiều nhiệm vụ đặt ra ở phần mở bài. Ví dụ, ngay khi bước vào lớp,
giáo viên có thể bắt đầu bài bằng một hoạt động nêu vấn đề và giải quyết vấn đề (problem- solving), hoặc
khai thác vốn kiến thức có sẵn của cả lớp về một nội dung có liên quan đến bài cũ và bài mới
(brainstorming). Bằng cách đó, giáo viên đã cùng một lúc gây được sự chú ý, gây hứng thú cho bài học, ổn
định được lớp, kiểm tra, ôn lại được bài cũ, đồng thời cũng đã giúp cho học sinh chuẩn bị được tâm lý và
kiến thức cần thiết cho bài mới.
Như đã đề cập, mục đích của các hoạt động mở bài là để học sinh làm quen và cảm thấy hứng thú

với chủ đề sắp học trong bài, đồng thời ôn luyện lại những kiến thức đã học có liên quan đến bài mới hoặc
để giáo viên tạo những nhu cầu giao tiếp cần thiết cho các hoạt động của bài mới. Với ý nghĩa đó, phần
mở bài đôi khi không có ranh giới cụ thể mà luôn được tiến hành phối hợp với phần giới thiệu ngữ liệu.
Các hoạt động mở bài trong chương trình sách giáo khoa mới
Trong chương trình sách giáo khoa mới, giáo viên có thể sử dụng các thủ thuật và bài tập có sẵn
trong sách giáo khoa (ví dụ như đối với sách chương trình lớp 8 và lớp 9) hoặc GV tự sáng tạo (ví dụ, với
chương trình lớp 6 và lớp 7). Có thể sử dụng các thủ thuật như:
Dựa vào tranh ở mục đầu của bài, hỏi, gợi ý về chủ đề mới:
- Sử dụng tranh ảnh, bản đồ, vật thực tự chuẩn bị thay cho tranh trong sách để gây hấp dẫn.
- Hỏi các kiến thức bài cũ có liên quan đến bài mới.
- Khai thác các kiến thức có sẵn của học sinh.
- Liên hệ đến thực tế của chính học sinh, của địa phương hay các tình huống gần gũi với học sinh
và thay thế các tình huống trong sách nếu cần.
Khi tiến hành phần này, giáo viên cần chú ý một số điểm sau:
• Có thể sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Việt.
• Cần tạo cơ hội cho học sinh hỏi lại giáo viên hoặc hỏi lẫn nhau để gây hứng thú, phát huy tính
tích cực của học sinh.
• Luôn quan tâm đến tâm lý lứa tuổi và sở thích của học sinh để đưa ra những thủ thuật phù
hợp, ví dụ như kích thích trí tò mò, yêu cầu đoán tranh, đoán câu trả lời v.v
• Cần chú ý thay đổi hình thức mở bài để gây hứng thú cho học sinh.
10

×