Tải bản đầy đủ (.doc) (44 trang)

Nghiên cứu bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi và kiến thức các bà mẹ tại thành phố sóc trăng năm 2009

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 44 trang )

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêu chảy là một trong những bệnh lý có tỷ lệ mắc cũng như tử vong rất
cao, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam.
Theo thống kê của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, cùng với nhiễm khuẩn hô
hấp cấp tính, tiêu chảy là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và
tử vong trẻ em trên toàn thế giới. Hàng năm ước tính vẫn còn 1,3 tỷ lượt trẻ em
dưới 5 tuổi bị tiêu chảy, và không dưới 3,5 triệu trẻ tử vong vì tiêu chảy. Trung
bình mỗi trẻ dưới 5 tuổi mắc từ 3,3 – 9 đợt tiêu chảy trong 1 năm [41]
Trong những năm gần đây ở Việt Nam tình hình bệnh tiêu chảy có chiều
hướng gia tăng. Đáng chú ý là các tỉnh phía Bắc, dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm
được phát hiện ngày ngày 23/10/2007, bắt đầu ờ Hà Nội và chính thức được
công bố thành dịch từ ngày 31/10/2007. Hiện nay dịch đã lây lan đến 7 tỉnh
thành như Hà Tây, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Hưng Yên và
Thái Bình. Theo Thứ Trưởng Trịnh Quân Huấn có rất nhiều nguyên nhân gây
tiêu chảy cấp như nhiễm vi rút, khuẩn nhiễm độc từ thức ăn, nhiễm khuẩn lỵ,
E.coli, vi khuẩn tã với 1 – 1,2 triệu ca mỗi năm trên cả nước. Còn riêng ở tỉnh
Sóc Trăng có 24.255 ca mắc và ở thành phố Sóc Trăng có 3.124 ca mắc năm
2007 [31]. Ngoài vấn đề tỷ lệ mắc và tử vong cao bệnh tiêu chảy còn là nguyên
nhân hàng đầu gây suy dinh dưỡng, chậm phát triển về tịnh thần, thể chất, tạo
điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các bệnh nhiễm trùng khác [2].
Việc điều trị và dự phòng bệnh tiêu chảy không phải là nhiệm vụ riêng
của ngành y tế mà cần có sự hợp tác chặt chẽ của các ban, ngành, đoàn thể và
đặc biệt là các bà mẹ có con dưới 5 tuổi vì đây là người trực tiếp chăm sóc cho
con mình. Thành phố Sóc Trăng có 10 phường, được bao quanh bởi hệ thống
2
kênh rạch chằng chịt bị ô nhiễm trầm trọng nên tiêu chảy vẫn còn là một vấn đề
cần phải quan tâm [31].
Việc điều trị một bệnh chỉ được giải quyết một cách triệt để khi cá nhân
đó nhận ra những gì cần phải làm để thay đổi hành vi sức khỏe có hại do chính
mình gây ra. Muốn thực hiện có hiệu quả công tác phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ


em tại một cộng đồng thì phải tìm hiểu các hành vi hiện có của các bà mẹ đang
nuôi con dưới 5 tuổi liên quan đến tỷ lệ mắc tiêu chảy của một cộng đồng đó.
Tại Sóc Trăng, mặc dù chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy đã
được triển khai trong nhiều năm nay nhưng thời gian qua tình hình mắc bệnh
tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi còn khá phổ biến trong cộng đồng do việc thực
hiện biện pháp phòng bệnh chưa thật kỹ lưỡng, do tập quán thói quen, sự hiểu
biết, môi trường sống, các yếu tố khách quan…
Đứng trước thực tế đó, để tìm hiểu tình hình mắc bệnh tiêu chảy và các
yếu tố liên quan, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh tiêu chảy ở trẻ
em dưới 5 tuổi và kiến thức các bà mẹ tại thành phố Sóc Trăng năm 2009”.
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Xác định tỷ lệ bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi tại thành phố Sóc
Trăng và các yếu tố liên quan bệnh tiêu chảy.
2. Tìm hiểu kiến thức về bệnh tiêu chảy ở các bà mẹ .
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TÌNH HÌNH BỆNH TIÊU CHẢY
Bệnh tiêu chảy xảy ra khắp nơi trên thế giới và là nguyên nhân hàng đầu
gây ra bệnh tật và và tử vong cho trẻ em ở các nước đang phát triển.
Để giảm tỉ lệ mắc, chết của tiêu chảy, từ năm 1978 Tổ Chức Y Tế Thế
Giới (TCYTTG) đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu Bệnh Tiêu chảy Trẻ em ở
Bangladesh [5]. Sau 2 năm thành lập Trung tâm đã công bố nhiều kết quả quan
trọng trên lĩnh vực thực nghiệm và áp dụng thực tế. Từ năm 1980, Chương
trình Phòng chống Bệnh Tiêu chảy (Diarrhoeal Diseases Control Programme –
gọi tắt là CDD) đã được triển khai tại nhiều quốc gia, lấy bù nước bằng đường
uống là biện pháp khống chế số chết tiêu chảy và kiểm soát dịch, thanh khiết
môi trường, Chương trình Bảo vệ Bà mẹ – Trẻ em, vệ sinh nhà cửa là biện pháp
khống chế số mắc [29].
Theo một nghiên cứu của các chuyên gia thuộc TCYTTG thì viêm phổi,

tiêu chảy và sốt rét là nguyên nhân gây 45% trong số 10,6 triệu ca tử vong ở trẻ
em dưới 5 tuổi mỗi năm trên thế giới. Trong đó 18% các ca tử vong do những
căn bệnh tiêu chảy gây nên. Do đó TCYTTG đã đưa ra mục tiêu là giảm 2/3 tỉ
lệ tử vong từ năm 1990 đến năm 2015. Để đạt được mục tiêu này , cần phải nỗ
lực “ Phòng ngừa và kiểm soát những căn bệnh viêm phổi, tiêu chảy và sốt rét
ở tất cả các vùng thuộc tổ chức TCYTTG” [13], [27].
Tại Việt Nam, số ước tính cho một trẻ dưới 5 tuổi bị tiêu chảy trong 1
năm là 0,8 lần so với trẻ 5 - 15 tuổi chỉ 0,2 lần tiêu chảy. Trình độ học vấn của
bố mẹ có ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe của trẻ em, đặc biệt trẻ em dưới 5
4
tuổi vì người có hiểu biết về cách nuôi con, phòng bệnh và phát hiện bệnh sớm
sẽ giúp giảm bệnh tật cho con. Tuy nhiên bố mẹ có trình độ cao thường nhạy
cảm hơn với bệnh tật ở con của họ và có thể khai bệnh nhiều hơn so với người
có trình độ thấp. Tiêu chảy có tương quan rõ với trình độ học vấn của mẹ.
Trình độ càng cao thì tỷ lệ con bị tiêu chảy càng ít [7].
Mức sống càng cao, tỷ lệ trẻ em bị tiêu chảy càng thấp. Với kết quả
nghiên cứu này có thể thấy rằng đối với chương trình CDD cần phải tập trung
nhiều hơn cho nhóm trẻ em có bố mẹ trình độ thấp và nghèo [7].
Trẻ bị bệnh tiêu chảy có liên quan chặt chẽ với vấn đề vệ sinh, môi
trường đất và nước. Tỷ lệ trẻ em bị tiêu chảy thấp ở nhóm có điều kiện nước
sạch, vệ sinh thuận lợi và cao hơn ở nhóm thiếu điều kiện vệ sinh [34].
Khoảng 80-90% các trường hợp tử vong do bệnh tiêu chảy đều xuất phát từ
điều kiện vệ sinh kém [12].
Trẻ em dễ bị tiêu chảy, và khi bị tiêu chảy rất dễ thiếu nước và mất các
vi chất. Khi trẻ em bị tiêu chảy phải cho uống Oresol (ORS) hoặc nước, cháo
muối loãng, súp, hoa quả để bù nước và muối. CDD đã tuyên truyền nhiều về
cách pha ORS. Có tới 62,7% các hộ gia đình có nghe tuyên truyền về phòng
chống tiêu chảy nhưng chỉ có 44,2% các bà mẹ biết cách pha ORS đúng [4].
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Lê Hoàng Ninh qua khảo sát Kiến
thức, Thái độ, Thực hành (KT-TĐ-TH) của các bà mẹ trong việc xử lý bệnh

tiêu chảy tại nhà ở trẻ em dưới 5 tuổi đã cho thấy 86,65% bà mẹ tiếp tục cho trẻ
bú; 71,2% các bà mẹ cho trẻ uống nước; 68,40% các bà mẹ tiếp tục cho ăn
trong suốt quá trình trẻ tiêu chảy; 14,85% biết cách pha gói ORS [19].
Tại Hải Phòng, tác giả Phạm Kim Thanh và Nguyễn Văn Hiếu tiến hành
điều tra về hiểu biết của các bà mẹ khi trẻ bị tiêu chảy cho kết quả tỷ lệ sử dụng
ORS đạt 54% [23].
5
Tại Huyện Duy Xuyên - Tỉnh Quảng Nam, tác giả Phan Từ Lâm khảo sát
KT-TĐ-TH của 707 bà mẹ có con dưới 5 tuổi vào năm 2002. Kết quả 81,2% bà
mẹ biết được đường lây truyền; 40,5% bà mẹ hiểu biết đúng về cách cho ăn và
bù nước khi trẻ bị tiêu chảy; 87,1% bà mẹ biết gói ORS, trong số đó chỉ có
48,6% các bà mẹ đã từng sử dụng ORS, 48,9% các bà mẹ nói chính xác cách
pha ORS; 67,6% các bà mẹ xử lý phân hợp vệ sinh [15].
Theo Hiệp Hội Nhi Khoa Hoa Kỳ, việc dự phòng mất nước do tiêu chảy
tốt nhất là giáo dục gia đình bệnh nhi biết cách sử dụng dung dịch uống thích
hợp và gói ORS tại nhà [2]. Nghiên cứu tại Saudi Arabia cũng đưa ra kết luận:
“để kiểm soát tốt bệnh tiêu chảy cần phải nâng cao kiến thức cho người mẹ, cải
thiện thực hành của họ đối với bệnh tiêu chảy”. Trong đó, quan trọng nhất là
cung cấp cho họ những thông tin về việc sử dụng gói ORS và dung dịch uống
thích hợp trong điều trị mất nước do tiêu chảy [26].
Các nghiên cứu trên đưa ra nhiều kết quả khác nhau về (KT-TĐ-TH) của
bà mẹ về việc xử lý bệnh tiêu chảy tại nhà. Nhưng nhìn chung những hiểu biết
và thực hành của bà mẹ còn hạn chế. Chính vì vậy mà việc tìm hiểu về (KT-
TĐ-TH) của bà mẹ về việc xử lý bệnh tiêu chảy tại nhà là vô cùng cần thiết.
Trên cơ sở đó cung cấp thông tin và hướng dẫn các bà mẹ những kiến thức về
việc điều trị tiêu chảy tại nhà nhằm góp phần làm tốt hơn chương trình phòng
chống bệnh tiêu chảy.
1.2. ĐỊNH NGHĨA TIÊU CHẢY THEO TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI
- Tiêu chảy tức là đi ngoài 3 hoặc trên 3 lần phân lỏng hoặc nhiều nước
trong 24 giờ

+ Tiêu chảy hay xảy ra nhất ở trẻ em, đặc biệt là trẻ từ 6 tháng đến 2
tuổi, cũng thường gặp ở trẻ dưới 6 tháng ăn sữa công nghiệp hay ăn các hỗn
6
hợp thức ăn cho trẻ em. Số lượng đi ngoài nhiều nhưng phần lớn không phải
dạng tiêu chảy.
+ Những trẻ được bú mẹ thường đi ngoài phân nhão, nhưng phân có màu
và mùi bình thường, không phải là tiêu chảy.
+ Tiêu chảy nguy hiểm vì hai nguy cơ chính của tiêu chảy là chết và suy
dinh dưỡng.
Ở trẻ suy dinh dưỡng thường bị tiêu chảy, ngược lại tiêu chảy thường
gây suy dinh dưỡng và có thể làm cho suy dinh dưỡng nặng hơn vì :
+ Trong tiêu chảy các chất dinh dưỡng trong cơ thể mất đi.
+ Trẻ bị tiêu chảy thường ăn không ngon miệng.
+ Bà mẹ có thể không cho trẻ bị tiêu chảy ăn càng sớm càng tốt khi
chúng muốn ăn.
Để làm giảm suy dinh dưỡng phải cho trẻ bị tiêu chảy ăn càng sớm càng
tốt khi chúng muốn ăn [30].
1.3. PHÂN LOẠI TIÊU CHẢY
Tiêu chảy được phân loại tuỳ thuộc vào thời gian của nó, một đợt tiêu
chảy kéo dài ít hơn 2 tuần là tiêu chảy cấp, tiêu chảy kéo dài 2 tuần còn gọi là
tuêu chảy kéo dài [6].
Ngày nay, người ta xác định ba hội chứng lâm sàng khác nhau của tiêu
chảy gồm:
- Tiêu chảy phân lỏng cấp tính: gồm các trường hợp khởi bệnh cấp tính,
kéo dài dưới 14 ngày.
- Hội chứng lỵ: gồm các trường hợp tiêu chảy phân có đàm máu.
7
- Tiêu chảy kéo dài: gồm các trường hợp khởi đầu với tiêu chảy cấp tính
rồi rồi kéo dài trên 14 ngày.
1.4. DỊCH TỄ HỌC BỆNH TIÊU CHẢY

1.4.1. Các đường lây truyền
Tác nhân gây tiêu chảy thường lây truyền bằng đường phân - miệng
thông qua thức ăn hoặc nước uống bị ô nhiễm
.
1.4.2. Một số hành vi làm gia tăng sự lan truyền tác nhân gây bệnh tiêu chảy
- Không nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4 - 6 tháng đầu tiên của
cuộc đời. Theo TCYTTG, những trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ có nguy cơ
mắc tiêu chảy gấp nhiều lần so với những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn,
nguy cơ tử vong do tiêu chảy của những trẻ này cũng lớn hơn một cách đáng
kể. Nguyễn Thị Kim Tiến đã xác định trẻ không bú mẹ có nguy cơ mắc tiêu
chảy gấp 1,6 lần so với trẻ được bú mẹ. Vai trò của sữa mẹ rất quan trọng trong
việc bảo vệ trẻ nhỏ đối với bệnh tiêu chảy. Sữa mẹ có chứa globulin miễn dịch
chủ yếu là IgA và các loại thuốc khác IgM, IgG có tác dụng bảo vệ cơ thể
chống các bệnh đường ruột và một số bệnh do vi rút [25].
- Tập quán cai sữa sớm (trước 1 tuổi): Cho trẻ bú sữa mẹ kéo dài sẽ làm
giảm chỉ số mắc và sự trầm trọng của một số bệnh tiêu chảy như lỵ trực trùng
và tã [4];[5]. Theo Phan Thị Kim Ngân, tỷ lệ tiêu chảy cấp của trẻ em ngưng bú
sữa mẹ là 3,6% trong khi đó tỷ lệ tiêu chảy kéo dài là 15,46%, vậy có thể xem
việc ngưng bú mẹ sớm là nguy cơ của tiêu chảy kéo dài [18]. Đối với những
tiêu chảy cấp biến thành tiêu chảy kéo dài ở nhóm không bú mẹ là 1,27%,
nhóm cai sữa dưới 10 tháng tuổi là 12,76% [22].
8
- Tập quán cho trẻ ăn dặm trước 4 tháng tuổi: co ăn dặm quá sớm hay
quá muộn hoặc ăn dặm không đúng cách, đều có thể dẫn đến tiêu chảy và suy
dinh dưỡng.
- Dùng nước uống đã bị nhiễm vi khuẩn đường ruột: nước có thể bị
nhiểm bẩn ngay tại nguồn của nó hoặc trong suốt quá trình dự trữ tại nhà. Sự ô
nhiễm tại nhà do bảo quản hoặc sử dụng không hợp vệ sinh [9], [23], [24].
Theo TCYTTG tỷ lệ mắc tiêu chảy trên toàn thế giới khoản 1 tỷ/năm, trong đó
chết 3,3 triệu/năm, có liên quan đến nước không an toàn và vệ sinh [20].

- Cho trẻ bú sữa bình: Khi cho sữa vào một bình không sạch thì sẽ bị ô
nhiễm, nếu trẻ không bú hết sữa trong bình thì sự phát triển của vi khuẩn sẽ xảy
ra. Theo nghiên cứu của Bùi An Bình cho thấy trẻ bú bình có nguy cơ tiêu chảy
hơn trẻ ăn bằng chén thìa là 26,66% [2].
- Không rửa tay sau khi đi ngoài, sau khi xử lý phân và trước khi chuẩn
bị thức ăn: Thói quen rửa tay là một hành vi tốt bảo vệ sức khỏe chung, đặc
biệt có hiệu lực đối với việc phòng bệnh tiêu chảy [26].
- Không xử lý phân (đặc biệt là phân trẻ nhỏ) một cách hợp vệ sinh:
nhiều người thường cho rằng phân trẻ em là không nguy hiểm, nhưng thực ra,
chúng chứa nhiều virus và vi khuẩn gây bệnh. Phân súc vật cũng chứa nhiều vi
sinh vật có thể truyền bệnh cho người.
1.5. NGUYÊN NHÂN CỦA TIÊU CHẢY
1.5.1. Rotavirus
Rotavirus gây tiêu chảy là nhiễm trùng phổ biến ở trẻ em dưới 1 tuổi,
chiếm 12-15% các trường hợp. Nó là tác nhân quan trọng nhất gây tiêu chảy
nặng và đe doạ tính mạng trẻ em dưới 2 tuổi trên toàn thế giới. Ở các nước phát
triển có 35-52% trẻ em bị tiêu chảy cấp do Rotavirus. Ở các nước đang phát
9
triển Rotavirus là nguyên nhân hàng đầu gây tiêu chảy cấp và tử vong cho trẻ
em dưới 5 tuổi [8]. Khoảng 1/3 số trẻ dưới 2 tuổi bị bị ít nhất 1 đợt tiêu chảy do
Rotavirus, nó có khả năng lây lan trực tiếp từ người [10].
1.5.2. ETEC (Enterotoxigenic Escherichia coli)
ETEC chiếm 10-20% các trường hợp. Nó là tác nhân quan trọng gây tiêu
chảy cấp toé nước cả trẻ em và người lớn tại các nước đang phát triển, ETEC
lây lan chủ yếu qua nước và thực phẩm bị ô nhiễm [29].
1.5.3. Shigella
Shigella chiếm 5-15% các trường hợp. Nó là tác nhân quan trọng nhất
gây bệnh lỵ, đã được tìm thấy trong khoảng 60% các đợt lỵ Shigella lây lan chủ
yếu trực tiếp từ người. trong hầu hết các đợt lỵ nặng, có thể xuất hiện phân toé
nước.

1.5.4. Campylobacter jejuni
Campylobacter jejuni chiếm 10-15% các trường hợp. Nó lây lan qua tiếp
xúc phân, nước uống bẩn, dùng thực phẩm bị ô nhiễm. Campylobacter jejuni có
thể gây tiêu chảy toé nước (chiếm 2/3 trường hợp) hoặc hội chứng lỵ (chiếm
1/3 các trường hợp).
1.5.5. Vibrio cholerae 01
Bệnh tả chiếm 5-10% ở những vùng lưu hành dịch. Có hai týp sinh vật
và hai týp huyết thanh. Vibrio cholerae 01 gây tiêu chảy không qua xâm nhập
mà qua trung gian độc tố tả, làm xuất tiết ồ ạt nước và điện giải ở ruột non [34].
Tiêu chảy có thể nặng dẫn tới tình trạng mất nước và truỵ mạch trong vòng vài
giờ nếu không bồi phụ nước và điện giải kịp thời. Trong vùng lưu hành dịch trẻ
em cũng bị tả nhiều như người lớn [12].
10
1.5.6. Salmonella
Salmonella (non typhoid) chiếm 1-5% các trường hợp [2]. Hầu hết
nhiễm Salmonella không gây thương hàn là do lây từ súc vật nhiễm trúng hoặc
các thức ăn động vật đã bị ô nhiễm. Tiêu chảy do Salmonella thường là phân
toé nước, nhưng đôi khi cũng có biểu hiện như hội chứng lỵ.
1.5.7. Cryptosporidia
Cryptosporidia (đơn bào) chiếm 5-15% các trường hợp [15]. Nó là một
ký sinh trùng thuộc họ Coccidian gây bệnh ở trẻ nhỏ, ở những bệnh nhân bị suy
giảm miễn dịch và nhiều loại gia súc.
1.5.8. Không tìm thấy tác nhân gây bệnh
Các trường hợp này chiếm 20-30% [23].
1.6. BA NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ BỆNH TIÊU CHẢY TẠI NHÀ
1.6.1. Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường
- Những loại dịch gì?
+ Cho những dung dịch pha tại nhà hay dung dịch pha chế từ thực phẩm
đã được khuyến nghị như nước cháo , súp hoặc có thể dùng dung dịch ORS.
+ Nếu trẻ đang bú mẹ, tiếp tục cho bú mẹ nhiều hơn bình thường ( ít nhất

là 3 giờ một lần ).
+ Nếu trẻ không được bú mẹ, thì nên cho trẻ uống sữa ít nhất 3 giờ một
lần.
- Uống bao nhiêu?
Việc làm trước tiên là cho trẻ uống nhiều hơn bình thường ngay khi trẻ bị
tiêu chảy. Theo hướng dẫn, cho trẻ dưới 2 tuổi khoảng 50 - 100 ml (1/2-1/4 cốc
11
to) dung dịch trên sau mỗi lần đi tiêu lỏng. Cho trẻ lớn uống 1/2 – 1 cốc to.
Người lớn uống thoải mái khi họ muốn uống.
- Tại sao phải uống ?
Mục đích của việc uống nhiều nước là để bù vào lượng dịch đã mất khi
bị tiêu chảy và đề phòng sự mất nước tiếp tục.
1.6.2. Tiếp tục cho trẻ ăn
- Những thức ăn gì:
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ nhỏ. Cần tiếp tục cho trẻ bú mẹ và
tăng số lần bú trừ trường hợp đặc biệt mới phải dùng các loại sữa công nghiệp
để thay thế.
Nếu trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên có thể cho ăn bột hoặc hỗn hợp các loại
đậu với rau cải, trứng và thịt cá. Nên cho thêm dầu vào để làm thức ăn có
nhiều năng lượng hơn. Nước ép rau quả và chuối tươi cũng cần vì chúng chứa
kali (không nên cho trẻ uống nước giải khát công nghiệp vì chúng có thể làm
tăng tiêu chảy).
- Cho ăn bao nhiêu?
Cần khuyến khích trẻ ăn càng nhiều càng tốt. Thường cho trẻ nhỏ ăn 3- 4
giờ một lần (6 lần /ngày) hoặc nhiều hơn. Cho ăn ít một, nhiều lần là tốt nhất để
trẻ dễ tiêu hóa và dễ ăn hơn.
Sau khi đã khỏi tiêu chảy, hãy thêm mỗi ngày một bữa trong hai tuần.
Thức ăn thêm này sẽ giúp lấy lại được cân nặng đã mất đi trong lúc bị tiêu
chảy. Trẻ suy dinh dưỡng cần được tiếp tục cho ăn thêm như thế cho đến khi
lấy lại được cân nặng trước khi bệnh hoặc đạt tỉ lệ cân nặng theo chiều cao bình

thường [10].
12
- Tại sao phải cho trẻ ăn ?
Bắt một trẻ tiêu chảy nhịn ăn có thể gây ra suy dinh dưỡng hay làm cho
suy dinh dưỡng nặng thêm. Bà mẹ thường bắt trẻ nhịn ăn vì tin rằng điều đó sẽ
làm cho trẻ đỡ tiêu chảy hơn nhưng việc làm đó là không đúng [28].
Trong và sau khi bị tiêu chảy, phải chú ý đặc biệt đến việc thường xuyên
cho trẻ ăn các thức ăn giàu dinh dưỡng. Mặc dù ngay cả việc hấp thu các chất
dinh dưỡng từ thức ăn có phần nào giảm đi trong khi bị tiêu chảy . Nhưng hầu
hết các dung dịch cho trẻ uống chỉ để phòng mất nước không thể thay thế được
nhu cầu cho ăn [33].
1.6.3. Đưa trẻ đến cơ sở y tế khi trẻ có những dấu hiệu nặng sau
Nếu trẻ đi tiêu nhiều quá hoặc đã điều trị tại nhà 2-3 ngày không đỡ hoặc
có bất kỳ một trong những dấu hiệu sau:
- Đi ngoài nhiều, phân tóe nước
- Có biểu hiện khát nước
- Nôn liên tục nhiều lần
- Có sốt
- Có máu trong phân
1.7. NHỮNG BIỆN PHÁP CƠ BẢN ĐỂ PHÒNG NGỪA TIÊU CHẢY
- Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4- 6 tháng đầu và tiếp tục cho
con bú tới ít nhất 2 tuổi
- Rửa tay sạch trước khi chế biến thức ăn và cho trẻ ăn
- Thức ăn phải được nấu kỹ và nấu xong thì nên cho ăn ngay
- Nước dùng cho ăn uống phải là nguồn nước sạch
13
- Nước uống cho trẻ và gia đình phải được đun sôi
- Rửa tay sạch sau khi đi vệ sinh
- Tiêm phòng sởi cho trẻ
1.8. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

Thành phố Sóc Trăng là vùng đồng bằng, nông thôn với tổng diện tích
chung là 76,1 km
2
[8], gồm 10 phường, phân chia theo ranh giới địa chính có
25.127 hộ, dân số 127.003 người. Toàn thành phố có khoảng 9.359 bà mẹ có
con dưới 5 tuổi.
- Về địa chính: khoảng 1/4 dân cư sống trên trục đường Quốc lộ 1A,
khoảng 1/2 là nông thôn và 1/4 dân cư là nơi định vị các chợ Trung tâm và đó
cũng chính là Trung tâm Thương mại của thành phố Sóc Trăng.
- Về kinh tế - xã hội: khoảng 1/4 cán bộ nhà nước, 1/2 làm nông, còn lại
là buôn bán.
- Hệ thống y tế phường thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Sóc Trăng và
chịu sự chỉ đạo chuyên môn của phòng Y tế. Trạm Y tế gồm có 6 cán bộ biên
chế, trong đó có đủ cơ cấu: Bác sĩ, Y sĩ, Điều dưỡng, Hộ sinh, Dược sĩ, Đông y.
Hệ thống mạng lưới y tế khóm, ấp gồm 60 Tổ Y tế và 56 công tác viên hoạt
động rộng khắp trê địa bàn. Tuyên truyền giáo dục sức khỏe cho nhân dân thực
hiện tốt các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu.
14
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang sinh sống tại
Thành phố Sóc Trăng, Tỉnh Sóc Trăng ở thời điểm nghiên cứu.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp điều tra cắt ngang, mô tả trên mẫu ngẫu nhiên .
2.2.1. Cỡ mẫu:
Với một nghiên cứu mô tả cắt ngang, để xác định cỡ mẫu ta sử dụng công
thức tính sau: n =
2
2

)1(
c
pp −
γ

Với n: số cặp bà mẹ và con dưới 5 tuổi
Trong đó:
P: là tỷ lệ dự đoán bà mẹ có hiểu biết đúng chưa xác định được. Vì vậy
cho 50% cho 50% (p = 0,05)
z = 1,96 (với độ tin cậy 95%)
c = sai số giữa quần thể tham gia nghiên cứu 5% (chọn sai số 0,05)[21].
Áp dụng công thức ta có:

384
)05,0(
)5,00,5(1 )96,1(
2
2
=
−×
Từ công thức trên ta tính ra được n = 384
15
Vậy cỡ mẫu cần khảo sát là 420 bà mẹ có con dưới 5 tuổi
2.2.2. Chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu 2 tầng ngẫu nhiên (chọn mẫu hai
giai đoạn [14], mẫu được lần lượt chọn như sau:
- Giai đoạn 1: Chọn các đơn vị thuộc tầng thứ nhất bằng phương pháp
bốc thăm ngẫu nhiên [17]. Chúng tôi đánh số thứ tự các phường trên một danh
sách, dùng 10 thăm có ký hiệu từng số thứ tự rồi bốc ngẫu nhiên 4 thăm sau khi
đã xóc các thăm một cách kỹ lưỡng để chọn ra 4 phường cần điều tra. Kết quả

các phường đã được chọn là: phường 1, 6, 7, 9.
- Giai đoạn 2: Chọn các cá thể từ các đơn vị trên theo cách chọn ngẫu
nhiên hệ thống.
Ở mỗi phường chúng tôi luôn tự tiến hành theo các bước sau:
+ Lập danh sách các bà mẹ đang nuôi con dưới 5 tuổi, các bà mẹ đưa vào
danh sách được chọn theo tuổi của con. Tuổi của con được đưa vào mẫu nghiên
cứu tính theo tháng (dưới 60 tháng), kể từ tháng điều tra.
+ Đánh số thứ tự theo tên các bà mẹ: trong bảng số ngẫu nhiên, chọn một
số ngẫu nhiên từ 1 đến 10. Tuỳ theo số bà mẹ trong danh sách ở mỗi phường để
tính khoảng cách cho phường.
Khoảng cách mẫu K = (tổng số trẻ em dưới 5 tuổi của 4 phường)/400 =
2.488/400 = 6
Dùng bảng số ngẫu nhiên chọn một số ( i ) nằm trong khoảng từ
1 – K, số ấy là số thứ tự trẻ thứ nhất, trẻ thứ hai là trẻ có số thứ tự
( 1 + K ) trẻ thứ 399 là trẻ có số thứ tự là ( i + 399 K ).
16
2.2.3. Phương pháp thu thập thông tin
- Dùng phương pháp phỏng vấn và quan sát tại hộ gia đình điền các
thông tin thu được vào phiếu điều tra cá nhân.
- Điều tra viên được chọn là 12 y sĩ và điều dưỡng trung học. Trước khi
điều tra, tiến hành tập huấn hướng dẫn các kỹ thuật phỏng vấn, kỹ thuật quan
sát cho các điều tra viên. Mỗi điều tra viên đảm trách khoảng 35 bà mẹ được
chọn.
- Điều tra viên tiến hành điều tra theo danh sách các bà mẹ đã được chọn
đưa vào mẫu nghiên cứu từ ngày 11/5/2009 đến 14/5/2009.
- Để thực hiện điều tra đạt kết quả cao chúng tôi đưa ra qui trình cụ thể
sau:
+ Bước 1: Chọn thời điểm và nơi phỏng vấn thích hợp nhất đối với các
bà mẹ để phỏng vấn, thường phỏng vấn khi bà mẹ rảnh rỗi.
+ Bước 2: Người phỏng vấn tự giới thiệu và giải thích mục đích của cuộc

điều tra với sự thông báo trước của nhân viên y tế và cộng tác viên phường.
+ Bước 3: Thực hiện phỏng vấn và quan sát, bảo đảm người được hỏi
hiểu đủ các câu hỏi.
+ Bước 4: Ghi thông tin ngay vào phiếu điều tra khi điều tra sang mỗi
phần để tránh nhằm lẫn.
+ Bước 5: Kiểm tra toàn bộ thông tin để tránh bỏ sót câu hỏi sau khi đã
hoàn tất phần phỏng vấn.
+ Bước 6: Quan sát vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường theo yêu cầu của
bảng điều tra cá nhân kết hợp với phỏng vấn.
17
+ Bước 7: Cảm ơn sự hợp tác của bà mẹ trước khi ra khỏi nhà.
2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
- Mỗi bộ câu hỏi sau khi được phỏng vấn phải được xem xét hoàn chỉnh.
Nếu những phiếu không đạt yêu cầu sẽ được phỏng vấn lại.
- Xử lý số liệu thu thập được bằng phần mềm SPSS.
Xây dựng thang điểm đánh giá
2.2.5. Xây dựng thang điểm đánh giá
Những thông tin thu thập được mang tính định tính để có thể đánh giá cụ
thể hơn. Căn cứ vào hướng dẫn xây dựng thang điểm đánh giá của Vụ Khoa
học Đào tạo - Bộ Y tế và mức độ phổ biến của vấn đề tiêu chảy trong cộng
đồng, chúng tôi xây dựng thang điểm đánh giá như sau:
Đánh giá về kiến thức (hiểu biết) của bà mẹ về bệnh tiêu chảy ở trẻ em:
- Định nghĩa đúng về tiêu chảy: bà mẹ định nghĩa đúng về tiêu chảy khi
trả lời được tiêu chảy là đi cầu nhiều lần, phân nhiều nước [5].
+ Bà mẹ trả lời được đủ 2 yêu cầu của định nghĩa trên được xác định là
biết đủ, nếu trả lời được 1 trong 2 được xác định là biết không đủ, và trả lời
không biết thì được xác định là không biết về định nghĩa tiêu chảy trẻ em.
- Kể các hành vi có hại làm gia tăng mắc tiêu chảy trẻ em:
+ Bà mẹ kể được ≥ 4 hành vi trong số các hành vi (≥ 4/6) được xác định
là biết đủ, nếu kể được dưới 4 hành vi trong các hành vi (< 4/6) được xác định

là biết không đủ, và bà mẹ trả lời không biết thì được xác định là không biết về
các hành vi làm gia tăng mắc tiêu chảy trẻ em.
18
- Kể các biện pháp xử trí tại nhà khi trẻ bị tiêu chày bao gồm: bù dịch
bằng đường uống (cho uống ORS, hoặc nước cháo muối), mang trẻ đến cơ sở y
tế khám.
+ Bà mẹ kể được 2 biện pháp trên được xác định là biết đủ, nếu chỉ kể
được 1 trong 2 biện pháp được xác định là biết không đủ, và kể được các biện
pháp khác ngoài 2 biện pháp trên hoặc trả lời không biết thì được xác định là
không biết về các biện pháp xử trí tại nhà khi trẻ bị tiêu chảy.
- Kể các hành vi có lợi để phòng chống tiêu chảy trẻ em:
+ Bà mẹ kể được 5 hoặc trên 5 hành vị có lợi trong số 7 hành vi có lợi (≥
5/7) được đánh giá là biết đủ, nế bà mẹ kể được dưới 5 hành vi (< 5/7) được
đánh gia là biết không đủ về các hành vi có lợi phòng chống tiêu chảy trẻ em.
- Đánh giá kiến thức chung (hiểu biết chung) về tiêu chảy trẻ em của các
bà mẹ, chúng tôi sử dụng thang điểm đánh giá với quy định cho điểm như sau:
• Biết đủ: cho 2 điểm
• Biết không đủ: cho 1 điểm
• Không biết cho 0 điểm
+ Bà mẹ được đánh giá biết đủ về tiêu chảy trẻ em khi đạt được ≥ 8 điểm
+ Bà mẹ được đánh giá biết chưa đủ về tiêu chảy trẻ em khi đạt được < 8
điểm hiểu biết trung bình.
+ Bà mẹ được đánh giá là không biết về tiêu chảy trẻ em khi đạt 0 điểm hiểu
biết kém.
(Thang điểm dùng để đánh giá về kiến thức của bà mẹ được đính kèm ở phụ
lục 2)
- Đánh giá thái độ của bà mẹ về bệnh tiêu chảy:
19
+ Thái độ của bà mẹ đối với bệnh tiêu chảy trẻ em:
Các bà mẹ xác định tiêu chảy là nguy hiểm, được đánh giá là có thái độ

tích cực đối với phòng chống tiêu chảy trẻ em, nếu bà mẹ xác định tiêu chảy là
không nguy hiểm, được đánh giá là không có thái độ tích cực, và các bà mẹ xác
định là không biết , thì được xếp vào nhóm không đánh giá được thái độ
+ Thái độ của bà mẹ đối với xử trí tiêu chảy trẻ em:
Các bà mẹ xác định tiêu chảy là lây lan, được đánh giá là có thái độ tích
cực đối với xử trí tiêu chảy trẻ em, nếu bà mẹ xác định tiêu chảy là không nguy
hiểm, được đánh giá là không có thái độ tích cực, và bà mẹ xác định là không
biết thì được xếp vào nhóm không đánh giá được thái độ
+ Đánh giá kỹ năng thực hành của bà mẹ về phòng chống tiêu chảy trẻ
em: để xác định bà mẹ có thực hành tốt hoặc không tốt đối với tiêu chảy đối với
trẻ em dựa theo thang điểm thực hành, cho điểm đúng, sai và dựa theo tính chất
quan trọng của từng việc làm liên quan đến phòng chống tiêu chảy trẻ em,
chúng tôi quy định:
• Mỗi hành vi có lợi bà mẹ có thực hiện: cho 1 điểm;
• Mỗi hành vi có lợi bà mẹ không thực hiện: cho 0 điểm;
• Mỗi hành vi có hại bà mẹ có thực hiện: trừ 1 điểm.
* Bà mẹ được xác định có hành vi tốt đối với tiêu chảy trẻ em: có từ 5 điểm
trở lên (trên 60% thực hành hành vi có lợi).
* Bà mẹ được xác định có hành vi không tốt đối với tiêu chảy trẻ em: có
dưới 5 điểm (dưới 60% thực hành hành vi có lợi).
20
(Thang điểm dùng để đánh giá thái độ và thực hành của bà mẹ được đính
kèm ở phần phụ lục 3).
2.3. BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU
2.3.1. Biến số độc lập
2.3.1.1. Xác định tỷ lệ tiêu chảy và các yếu tố liên quan
- Tuổi của bà mẹ gồm 4 giá trị (dưới 20 tuổi, từ 21 đến 30 tuổi, từ 31 đến
40 tuổi, từ 41 đến 49 tuổi).
- Nghề nghiệp: gồm 6 giá trị (làm nông, buôn bán, nội trợ, công chức,
thất nghiệp, khác)

- Trình độ học vấn: gồm 5 giá trị (Mù chữ, Tiểu học, PTCS, PTTH, trên
PTTH).
- Tỷ lệ tiêu chảy ở thời điểm nghiên cứu, phân bố theo giới, phân bố theo
nhóm tuổi
Các yếu tố liên quan
- Yếu tố dinh dưỡng:
+Tỷ lệ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 – 6 tháng đầu và tỷ lệ cai sữa sớm
(trước 1 tuổi)
+ Tỷ lệ bú sữa bình
+ Ăn sam trước 4 tháng tuổi
+ Trẻ dùng thức ăn nguội
+ Nguồn nước uống cho trẻ: nước giếng, nước tinh khiết, nước mưa
- Vệ sinh cá nhân:
21
+ Rửa tay trước khi ăn và cho con ăn (mẹ và con)
+ Rửa tay sau khi đi tiêu (mẹ và con)
+ Xử lý phân trong gia đình, cho trẻ? Kiểu loại hố xí
- Tình hình bệnh kèm theo:
+ Suy dinh dưỡng
+ Tái nhiễm bệnh đường hô hấp: viêm tai giữa, viêm phế quản, viêm
phổi.
+ Tái nhiễm bệnh đường tiêu hoá: tiêu chảy nhiều lần.
- Tiêm phòng sởi (tại sao chọn tiêm phòng sởi)
2.3.1.2. Kiến thức, thái độ và hành vi của bà mẹ
Khảo sát về kiến thức
- Định nghĩa tiêu chảy theo TCYTTG (khi nào thì bà mẹ biết con mình
đã bị bệnh tiêu chảy phải được điều trị?)
- Kiến thức về phòng bệnh tiêu chảy: dinh dưỡng (bú mẹ, ăn dặm, ăn
thức ăn chín, uống nước đun sôi hay nước tinh khiết mua lại ), vệ sinh cá
nhân, tiêm phòng sởi

- Kiến thức về điều trị bệnh tiêu chảy: dùng ORS, nước muối đường,
nước cà rốt, đi trạm y tế, đi bác sĩ tư, bệnh viện khi bệnh nặng Chế độ ăn
uống (kiêng ăn, ăn muối, tiếp tục cho bú sữa, tăng cường uống nước
Khảo sát về thái độ
Quan tâm bệnh tiêu chảy (nguy hiểm hay không nguy hiểm); khi con bị
tiêu chảy (mẹ chăm sóc, người khác chăm sóc ); chăm sóc ăn uống cho con
Khảo sát về hành vi
22
Quan sát trực tiếp trong gia đình như:
+ Bình sữa
+ Hố xí
+ Nước uống
Để có thể mô tả thực tế, so sánh với kiến thức và thái độ sau này. Ví dụ
bà mẹ có kiến thức tốt nhưng có thể thực hành chưa tốt. Ví dụ biết ăn chín uống
sôi nhưng trong nhà không có nước sạch, rửa tay sau khi đi tiêu nhưng không
có hố xí hợp vệ sinh.
23
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC TÍNH CỦA MẪU NGHIÊN CỨU
3.1.1. Phân bố tuổi của mẹ
Bảng 3.1. Phân bố tuổi của mẹ
Nhóm tuổi mẹ n Tỷ lệ %
< 20 16 3,8
21 - 30 212 50,5
31 - 40 162 38,6
41 - 49 30 7,1
Tổng số 420 100,0
Biểu đồ 3.1. Phân bố tuổi của mẹ
Các bà mẹ có độ tuổi 21-31 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 50,5%, tiếp đến

nhóm tuổi 31-40 tuổi chiếm 38,6%, thấp nhất nhóm < 20 tuổi chiếm 3,8%.
3.1.2. Phân bố nghề nghiệp của mẹ
24
Bảng 3.2. Phân bố nghề nghiệp của mẹ
Nghề nghiệp mẹ n Tỷ lệ %
Làm nông 29 6,9
Buôn bán 151 36,0
Nội trợ 177 42,1
CB Công chức 35 8,3
Thất nghiệp 1 0,2
Nghề khác 27 6,4
Tổng số 420 100,0
Biểu đồ 3.2. Phân bố nghề nghiệp của mẹ
Các bà mẹ nội trợ và buôn bán chiếm tỷ lệ khá cao lần lượt là 42,1% và
36,0%. Cán bộ công chức chiếm 8,3%.
25
3.1.3. Phân bố trình độ học vấn của mẹ
Bảng 3.3. Phân bố trình độ học vấn của mẹ
Nhóm tuổi mẹ n Tỷ lệ %
Mù chữ 2 0,5
Tiểu học 102 24,3
Phổ thông (PTCS) 208 49,5
Phổ thông Trung học 87 20,7
Trên PTTH (cao đẳng, đại học trở lên) 21 5,0
Tổng số 420 100,0
Các bà mẹ có trình độ PTCS chiếm tỷ lệ cao nhất 49,5%, trình độ các bà
mẹ tiểu học và PTTH có tỷ lệ tương đương (20,7% và 24,3%). Có 2 bà mẹ mù
chữ chiếm 0,5%.
3.2. TỶ LỆ HIỆN MẮC TIÊU CHẢY TRONG 2 TUẦN
3.2.1. Tỷ lệ mắc tiêu chảy chung của trẻ

Bảng 3.4. Tỷ lệ mắc tiêu chảy chung của trẻ
Tình trạng n Tỷ lệ %
Có tiêu chảy 28 6,7
Không tiêu chảy 392 93,3
Tổng số 420 100,0
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ mắc tiêu chảy chung của trẻ
Trong 420 bà mẹ có con dưới 5 tuổi, có 28 bà mẹ có cháu mới bị mắc
tiêu chảy trong 2 tuần qua chiếm tỷ lệ 6,7%.
3.2.2. Tiêu chảy theo tuổi của trẻ
Bảng 3.5. Tỷ lệ tiêu chảy theo tuổi
Nhóm tuổi trẻ Số trẻ bị TC Tỷ lệ % p

×