Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

Phân tích tài chính doanh nghiệp và ứng dụng đưa ra giải pháp nâng cao khả năng tài chính tại Tổng Cty chè Việt Nam - 4 pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (96.44 KB, 7 trang )


Kết luận: Phân tích tình hình tài chính có thể ứng dụng theo nhiều chiều khác
nhau như với mục đích tác nghiệp ( chuẩn bị các quyết định nội bộ) và với mục đích
thông tin (trong hoặc ngoài doanh nghiệp ). Việc thường xuyên tiến hành phân tích
tình hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thấy được thực trạng hoạt động tài
chính, từ đó xác định được nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng đến từng hoạt động
kinh doanh. Trên cơ sở đó có những biện pháp hữu hiệu và ra các quyết định cần
thiết để nâng cao chất lượng công tác quản lý kinh doanh /
Qua đó thấy được ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp mà công
việc này ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp, các cơ quan
quản lý, các tổ chức công cộng. Nhất là, thị trường vốn ngày càng phát triển đã tạo
nhiều cơ hội để phân tích tài chính thực sự có ích và cần thiết trong toàn bộ nền
kinh tế quốc dân.
III/ Các phương pháp sử dụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
1/Phương pháp chung.
Là phương pháp xác định trình tự bước đivà những nguyên tắc cần phải quán
triệt khi tiến hành phân tích một chỉ tiêu kinh tế nào đó.
Với phương pháp này là sự kết hợp triết học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của triết học Mác- LêNin làm cơ sở. Đồng thời phải dựa vào các chủ trương,
chính sách của Đảng trong từng thời kỳ. Phải phân tích đi từ chung đến riêngvà phải
đo lường được sự ảnh hưởng và phân loại ảnh hưởng.
Tất cả các điểm trên phương pháp chung nêu trên chỉ được thực hiện khi kết
hợp nó với việc sử dụng một phương pháp cụ thể. Ngược lại các phương pháp cụ
thể muốn phát huy tác dụng phải quán triệt yêu cầu của phương pháp chung.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

2/ Các phương pháp cụ thể.
Đó là những phương pháp phải sử dụng những cách thức tính toán nhất định.
Trong phân tích tình hình tài chính, cũng như phạm vi nghiên cứu của luận văn, em
xin được đề cập một số phương pháp sau:
2.1/ Phương pháp so sánh.


So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định
xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy để tiến hành so sánh
phải giải quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có
thể so sánh được các chỉ tiêu tài chính. Như sự thống nhất về không gian, thời gian,
nội dung, tính chất và đơn vị tính toán. Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác
định gốc so sánh.
-Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số
gốc để so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước )
và có thể được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.
-Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch.
-Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian.
Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:
+ So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay
giảm trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu
hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp.
+So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với
số liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của
doanh nghiệp được hay chưa được.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

+So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so
sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng và về tỷ lệ
của các khoản mục theo thời gian.
2.2/ Phương pháp cân đối.
Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế mà giữa chúng
tồn tại mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại sự cân bằng.
Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để giúp người
phân tích có được đánh giá toàn diện về tình hình tài chính.
Phương pháp cân đối là cơ sở sự cân bằng về lượng giữa tổng số tài sản và
tổng số nguồn vốn, giữa nguồn thu, huy động và tình hình sử dụng các loại tài sản

trong doanh nghiệp. Do đó sự cân bằng về lượng dẫn đến sự cân bằng về sức biến
động về lượng giữa các yếu tố và quá trình kinh doanh.
2.3 / Phương pháp phân tích tỷ lệ.
Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa
trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính.
Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số
liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục
hoặc theo từng giai đoạn. Qua đó nguồn thông tin kinh tế và tài chính được cải tiến
và cung cấp đầy đủ hơn. Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy quá trình tính
toán hàng loạt các tỷ lệ như:
+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán : Được sử dụng để đánh giá khả năng đáp
ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này
phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.
+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng
cho việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.
+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng
hợp nhất của doanh nghiệp.
Kết luận: Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích. chúng ta sẽ
sử dụng kết hợp và sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác như phương
pháp liên hệ phương pháp loại trừ nhằm tận dụng đầy đủ các ưu điểm của chúng để
thực hiện mục đích nghiên cứu một cách tốt nhất.
IV/ Nhiệm vụ, nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
1/Nhiệm vụ phân tích .
Nhiệm vụ của phân tích tình hình tài chính là trên cơ sở các nguyên tắc về tài
chính doanh nghiệp và phương pháp phân tích mà tiến hành phân tích đánh giá thực
trạng của hoạt động tài chính, vạch rõ những mặt tích cực và tiêu cực của việc thu
chi tiền tệ, xác định nguyên nhân và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố. Từ đó đề ra

các biện pháp tích cực nhằm nâng cao hơn hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
2/ Nội dung của phân tích.
Xuất phát từ các nhiệm vụ trên ta thấy sự phát triển của một doanh nghiệp
dựa vào nhiều yếu tố như:
+Các yếu tố bên trong : Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, tính chất của sản
phẩm, quy trình công nghệ, khả năng tài trợ cho tăng trưởng.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

+ Các yếu tố bên ngoài: Sự tăng trưởng của nền kinh tế, tiến bộ khoa học kỹ
thuật, chính sách tiền tệ, chính sách thuế.
Trong điều kiện kinh doanh theo cơ chế thị trườngcó sự quản lý vĩ mô của
nhà nước, các doanh nghiệp đều được bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh.
Đối với mỗi doanh nghiệp, ngoài chủ doanh nghiệp quan tâm tới tình hình tài chính
của doanh nghiệp còn có các đối tượng khác quan tâm đến như các nhà đầu tư, các
nhà cung cấp, các nhà cho vay Chính vậy mà việc thường xuyên phân tích tình
hình tài chính sẽ giúp cho người sử dụng thông tin nắm được thực trạng hoạt động
tài chính của doanh nghiệp và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến tình hình tài
chính. Từ đó đưa ra các biện pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng công tác quản lý
kinh doanh.
Từ những lý luận trên nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ
đánh giá đầy đủ nhất và là bức tranh toàn cảnh khái quát về tình hình tài chính
doanh nghiệp.
2.1/ Đánh giá khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp.
ở phần này, bao gồm các vấn đề sau:
- Phân tích tình hình biến động tài sản.
- Phân tích tình hình biến động nguồn vốn.
- Phân tích mối quan hệ giữa tài sản và nguồn vốn.
2.2/ Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
2.3/ Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp.

- Phân tích tình hình quản lý và sử dụng tài sản lưu động.
- Phân tích hiệu quả tài sản lưu động.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

- Phân tích tình hình quản lý hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
2.4/ Phân tích tình hình quản lý và sử dụng nguồn vốn.
- Phân tích tình hình công nợ phải trả.
- Phân tích tình hình và khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu.
Toàn bộ các nội dung trên sẽ được nghiên cứu và trình bày một cách cụ thể ở phần
II của luận văn.
V / Cơ sở nguồn tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.
Tài liệu quan trọng nhất được sử dụng trong phân tích tình hình tài chính
doanh nghiệp là các báo cáo tài chính như : Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả
kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Báo
cáo tài chính là những báo cáo được trình bày hết sức tổng quát, phản ánh một cách
tổng hợp nhất về tình hình tài sản, các khoản nợ, nguồn hình thành vốn, tình hình tài
chính, cũng như kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính
cung cấp những thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu để đánh giá tình hình và kết quả
hoạt động kinh doanh, thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ hoạt động đã
qua giúp cho việc kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng vốn và khả năng huy động
vốn vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong hệ thống báo cáo tài chính, Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả
hoạt động kinh doanh là một tư liệu cốt yếu trong hệ thống thông tin về các doanh
nghiệp.
1. Bảng cân đối kế toán.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát
toàn bộ tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời
điểm nhất định ( thời điểm lập báo cáo).

Bảng cân đối kế toán có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý doanh
nghiệp số liệu trên bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của
doanh nghiệp theo cơ cấu của tài sản, nguôn vốn và cơ cấu vốn hình thành các tài
sản đó.
Thông qua bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp sẽ có rất nhiều đối tượng
qua tâm với mỗi đối tượng sẽ quan tâm tới một mục đích khác nhau. Tuy nhiên để
đưa ra quyết định hợp lý, phù hợp với mục đích của mình cần phải xem xét tất cả
những gì cần phải thông qua bảng cân đối kế toán để định hướng cho việc nghiên
cứu tiếp theo.
Bảng cân đối kế toán được trình bày thành hai phần: Phần tài sản và phần
nguồn vốn. Kết cấu của bảng cân đối kế toán tối thiểu gồm ba cột: Chỉ tiêu, số đầu
năm, số cuối kỳ. Hai phần tài sản và nguồn vốn có thể được bố trí hai bên hoặc hai
phần, cho nên tổng tài sản luôn bằng tổng nguồn vốn. Nếu cụ thể hoá ta có:
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
IV. Hoặc
V. Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn VI. + VII. Tài sản cố định và đầu tư dài
hạn VIII. = IX. Nợ phải trả X. + XI. Nguồn vốn chủ sở hữu
XII. <+> Phần tài sản.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -

×