Tải bản đầy đủ (.pdf) (87 trang)

nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (479.3 KB, 87 trang )

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức hoạt động vào tháng 7/2000
với sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
(nay là Sở giao dịch) và đã trải qua giai đoạn đầu tiên của quá trình phát triển.
Thực tế cho thấy sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam đã đáp ứng
được nhu cầu huy động vốn cho các doanh nghiệp để phát triển nền kinh tế
đất nước. Nghiên cứu về các hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán
cũng như các quy trình thực hiện các giao dịch cho thấy, trong toàn bộ quá
trình từ phát hành và đưa chứng khoán vào giao dịch, tiếp nhận và triển khai
thực hiện lệnh của khách hàng cho đến hoàn tất các giao dịch chứng khoán,
dù diễn ra tại sàn giao dịch của Sở, trên các hệ thống thông tin của thị trường
OTC hay khắp ở mọi nơi, mọi lúc, luôn luôn phải có sự tham gia của các định
chế tài chính trung gian trong đó Công ty chứng khoán đóng vai trò trực tiếp.
Là cầu nối quan trọng giữa nhà đầu tư với thị trường, công ty chứng khoán
giúp cho việc trao đổi hàng hoá “chứng khoán” được diễn ra thuận lợi nhất.
Các hoạt động nghiệp vụ của Công ty chứng khoán dù trực tiếp hay gián tiếp
đều tác động đến các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán.
Các định chế tài chính trung gian nói chung và Công ty chứng khoán nói
riêng còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo lợi ích của các
chủ thể tham gia, duy trì, thực hiện các nguyên tắc hoạt động của thị trường
nhằm đảm bảo sự an toàn và hiệu quả của từng giao dịch cũng như toàn bộ thị
trường chứng khoán. Việc xem xét và đánh giá về hiệu quả các mặt hoạt động
của Công ty chứng khoán sẽ góp phần nâng cao vai trò trung gian tài chính
trực tiếp đối với sự phát triển thị trường chứng khoán còn khá mới như Việt
Nam hiện nay.
2
Sau một thời gian hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trở
thành một bộ phận quan trọng của thị trường tài chính và nền kinh tế. Nghiên
cứu thực tế đã chỉ ra rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển


của thị trường chứng khoán Việt Nam trong đó hiệu quả hoạt động của Công
ty chứng khoán là một nhân tố quan trọng .
Xuất phát từ thực tế đó mà đề tài : “ Nâng cao hiệu quả hoạt động của
Công ty chứng khoán ở Việt Nam ” được chọn để nghiên cứu
2. Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Hệ thống hoá lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động của Công ty chứng
khoán.
- Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động của Công ty chứng khoán ở Việt
Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công
ty chứng khoán ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: hiệu quả hoạt động của Công ty chứng khoán đối
với nền kinh tế.
- Phạm vi nghiên cứu: hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán ở
Việt Nam giai đoạn từ năm 2004 đến 31/12/2007.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp
thống kê, tổng hợp, phân tích và so sánh, phương pháp nghiên cứu tình huống
để làm sáng tỏ các vấn đề.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3
- Tác giả đã nêu và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt
động của Công ty chứng khoán. Chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa hiệu quả hoạt
động của Công ty chứng khoán với sự phát triển của thị trường chứng khoán .
- Phân tích một cách khoa học và đầy đủ thực trạng hiệu quả hoạt động của
Công ty chứng khoán ở Việt Nam. Chỉ ra các mặt hạn chế và nguyên nhân
làm cho hoạt động của Công ty chứng khoán chưa thật sự hiệu quả với vai trò
một trung gian tài chính quan trọng đối với sự phát triển ổn định, hiệu quả và
lành mạnh của TTCK Việt Nam.

- Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hiệu quả hoạt động của các Công ty
chứng khoán, tác giả đưa ra một số giải pháp để công ty chứng khoán trở
thành nhân tố trực tiếp và tích cực giúp thị trường chứng khoán Việt Nam
phát triển một cách ổn định và hiệu quả nhất.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các
từ viết tắt luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hiệu quả hoạt động của Công ty
chứng khoán
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động của Công ty chứng khoán ở
Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty chứng
khoán ở Việt Nam
4
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan về công ty chứng khoán
1.1.1 Khái niệm
Công ty chứng khoán (CTCK) là một định chế tài chính trung gian, thực
hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán (TTCK)
Theo Luật chứng khoán Việt Nam năm 2006, Công ty chứng khoán được
tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, hoặc công ty cổ phần
theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, do Ủy ban chứng khoán Nhà
nước cấp giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép này đồng thời là Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Các điều kiện thành lập CTCK gồm: Điều kiện về vốn (CTCK phải có
mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định, vốn pháp định thường được
quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ); điều kiện về nhân sự (những
người quản lý hoặc nhân viên của CTCK phải đáp ứng yêu cầu về kiến thức,
trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp, hầu hết các nước

đều yêu cầu nhân viên CTCK phải có giấy phép hành nghề); Điều kiện về cơ
sở vật chất.
Theo quy định của Luật chứng khoán năm 2006 của Việt Nam, công ty
chứng khoán được phép thực hiện một hoặc một số, hoặc toàn bộ các hoạt
động kinh doanh sau:
- Môi giới chứng khoán
- Tự doanh chứng khoán
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán
- Tư vấn đầu tư chứng khoán
5
- Lưu ký chứng khoán
Công ty chứng khoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát
hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán.
Để thực hiện hoạt động kinh doanh, CTCK phải đảm bảo mức vốn tối
thiểu theo quy định. Ở Việt Nam, theo điều 18, Nghị định số 14/2007/NĐ-CP
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khóa năm 2006, vốn
pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán công ty chứng khoán,
công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứng
khoán nước ngoài tại Việt Nam.
- Môi giới chứng khoán:
25 tỷ đồng Việt Nam
- Tự doanh chứng khoán:
100 tỷ đồng Việt Nam
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán:
165 tỷ đồng Việt Nam
- Tư vấn đầu tư chứng khoán:
10 tỷ đồng Việt Nam
Trường hợp công ty chứng khoán muốn thực hiện cấp giấy phép cho
nhiều nghiệp vụ kinh doanh, vốn pháp định là tổng số vốn pháp định tương
ứng cho từng nghiệp vụ xin phép.

Các CTCK có thể là thành viên của một hay nhiều Sở giao dịch trong
nước . Với tư cách là thành viên của Sở giao dịch, CTCK sẽ cử các chuyên
gia môi giới đến hoạt động tại sàn giao dịch, đây là các nhà môi giới chính
thức, và cùng với các chuyên gia chứng khoán của Sở, tiếp nhận và tổ chức
thực hiện lệnh của khách hàng đặt mua, bán chứng khoán. Nếu không phải là
thành viên của Sở giao dịch, các CTCK có thể hoạt động tự do trên thị trường
OTC và thị trường vô hình. Trong trường hợp này các công ty thường thực
hiện những hoạt động tự doanh hơn là phục vụ khách hàng. Các thành viên
của CTCK loại này còn gọi là các nhà môi giới tự do, hoạt động bên ngoài
6
sàn song vẫn phải có bằng và được cấp giấy phép hành nghề, tuân thủ các quy
định của pháp luật, của thị trường và vì lợi ích của khách hàng.
Hoạt động của các CTCK rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các
doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì CTCK là một loại
hình định chế tài chính đặc biệt nên vấn đề xác định mô hình tổ chức kinh
doanh của nó cũng có nhiều điểm khác nhau ở các nước. Mô hình tổ chức
kinh doanh của CTCK ở mỗi nước đều có những đặc điểm riêng tuỳ thuộc
vào đặc điểm của hệ thống tài chính và sự cân nhắc lợi hại của những người
làm công tác quản lý nhà nước. Tuy nhiên có thể khái quát thành hai mô hình
cơ bản hiện nay :
* Mô hình đa năng kinh doanh chứng khoán và tiền tệ : Theo mô hình
này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh
chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này chia thành hai loại :
- Loại đa năng một phần : Các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời.
- Loại đa năng hoàn toàn : Các ngân hàng được kinh doanh chứng
khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
* Mô hình chuyên doanh chứng khoán : Theo mô hình này, hoạt động
chuyên doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hoá trong
lĩnh vực chứng khoán đảm nhận ; các ngân hàng không được tham gia kinh

doanh chứng khoán. Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như Mỹ, Nhật
Bản, Canađa, Hàn Quốc.
Đối với mỗi mô hình kinh doanh chứng khoán đều có ưu điểm và
nhược điểm khác nhau, tuy nhiên trong thời gian gần đây, các nước có xu
hướng xoá bỏ dần hàng rào ngăn cách giữa hai loại hình kinh doanh ( tiền tệ
7
và chứng khoán) và ngày nay, các CTCK lớn đã mở rộng kinh doanh cả trong
lĩnh vực bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ.
1.1.2 Đặc điểm
Công ty chứng khoán có một số đặc điểm sau :
- Là trung gian tài chính trên TTCK : Thông qua việc thực hiện các
giao dịch chứng khoán, công bố thông tin, có đủ vốn pháp định và cũng chịu
rủi ro như các tổ chức tài chính khác.
- Là tổ chức kinh doanh có đủ điều kiện về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật
và nguồn nhân lực.
- Trong quá trình hoạt động xảy ra xung đột về lợi ích giữa CTCK và
nhà đầu tư. Xung đột này thường bắt nguồn từ việc thực hiện lệnh giao dịch
của khách hàng và yêu cầu tự doanh của CTCK. Chính vì vậy, yêu cầu về đạo
đức nghề nghiệp của nhân viên làm việc trong CTCK rất cao. Bên cạnh đó
CTCK cần phải tách biệt tài khoản tự doanh của mình với tài khoản của khách
hàng để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trên TTCK.
- Hoạt động của CTCK chịu sự kiểm soát của Nhà nước và sự giám sát
của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán.
1.1.3 Vai trò của công ty chứng khoán
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. CTCK có
các vai trò sau :
- Đối với thị trường chứng khoán:
CTCK có hai vai trò đó là góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường và
làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính trên thị trường.

8
- Đối với nhà đầu tư:
Thông qua nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư,
các CTCK với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp cho các
nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả nhất.
- Đối với tổ chức phát hành
Thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có
khả năng tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ cho các nhà phát hành. Đồng
thời, thông qua nghiệp vụ tư vấn của mình, các CTCK có thể giúp cho tổ chức
phát hành nhanh chóng huy động vốn một cách tối ưu.
- Đối với các cơ quan quản lý thị trường:
Các CTCK có vai trò cung cấp thông tin về TTCK bao gồm thông tin
về các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các nhà đầu tư…cho
các cơ quan quản lý giúp họ có thể kiểm soát từ đó đưa ra những giải pháp
chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn bóp méo thị trường.
1.2 Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
1.2.1 Hoạt động môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó
một CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao
dịch tại SGDCK hoặc thị trường OTC mà chính khách hàng phải chịu trách
nhiệm đối với kết quả giao dịch đó.
Môi giới trên Sở giao dịch thường được các chuyên gia hoặc các nhà môi
giới tiếp nhận và tổ chức thực hiện các lệnh đặt mua, bán chứng khoán cho
khách hàng. Trường hợp môi giới trên thị trường OTC, các nhà môi giới hoạt
động như những nhà tạo lập thị trường bằng cách chào mua hoặc chào bán một
9
loại chứng khoán chưa niêm yết trên Sở giao dịch, qua đó làm tăng tính thanh
khoản cho loại chứng khoán đó.
Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng sản
phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư bán chứng khoán với

nhà đầu tư mua chứng khoán và trong những trường hợp nhất định, hoạt động
môi giới sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căng thẳng và tư
vấn kịp thời cho nhà đầu tư giúp nhà đầu tư có những quyết định tỉnh táo và
chính xác.
Xuất phát từ yêu cầu trên, nghề môi giới đòi hỏi phải có những phẩm
chất đạo đức, kỹ năng mẫn cán trong công việc và với thái độ công tâm, cung
cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Người hành nghề kinh doanh
chứng khoán không được xúi giục khách hàng mua, bán chứng khoán để kiếm
phí hoa hồng, mà nên đưa ra những lời khuyên hợp lý để hạn chế đến mức
thấp nhất về thiệt hại cho khách hàng
1.2.2 Hoạt động tự doanh
Hoạt động tự doanh là việc CTCK mua hoặc bán chứng khoán cho chính
mình. Chứng khoán bao gồm Cổ phiều, Trái phiếu, chứng chỉ quỹ, Hoạt
động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện thông qua cơ chế giao
dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC. Tại một số thị trường vận hành theo
cơ chế khớp giá hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua hoạt
động tạo lập thị trường. Lúc này CTCK đóng vai trò quan trọng là một nhà
tạo lập thị trường nắm giữ một số lượng chứng khoán nhất định của một số
loại chứng khoán và thực hiện mua bán chứng khoán với các khách hàng để
hưởng chênh lệch giá.
* Phân loại hoạt động tự doanh
- Đầu tư vào cổ phiếu
10
Cổ phiếu là một chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một CTCP.
Khi hoạt động tự doanh đầu tư vào cổ phiếu CTCK sẽ trở thành người chủ
đối với công ty phát hành cổ phiếu. Mức độ sở hữu tùy thuộc vào tỷ lệ cổ
phần mà cổ đông nắm giữ. Là chủ sở hữu các cổ đông phải chia sẻ mọi thành
quả cũng như tổn thất trong quá trình hoạt động của công ty.

- Đầu tư vào trái phiếu
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành
(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán (người cho vay)
một khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và
phải hoàn trả khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn.
Trái phiếu là công cụ nợ đòi hỏi người phát hành hoàn trả cho người cho
vay khối lượng vốn đã vay cộng với tiền lãi trong một thời hạn nhất định.
Việc giao dịch trái phiếu thường là các giao dịch thỏa thuận (dù trái phiếu có
niêm yết trên sàn hay không) do đặc điểm của giao dịch trái phiếu trong hoạt
động tự doanh thường là các khoản đầu tư lớn.
- Đầu tư vào chứng khoán phái sinh khác
Chứng chỉ quỹ:
Quỹ đầu tư là quỹ hình thành từ vốn góp của các nhà đầu tư. Khi mua
đầu tư vào chứng chỉ quỹ có nghĩa sẽ trở thành cổ đông của quỹ và có đầy đủ
các quyền do pháp luật quy định. Việc giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ cũng
tương tự như mua bán cổ phiếu.
Chứng khoán có thể chuyển đổi:
11
Là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tùy theo lựa chọn
và trong những trường hợp cụ thể có thể đổi nó lấy một loại chứng khoán theo
quy định. Việc nắm giữ chứng khoán có thể chuyển đổi tạo điều kiện cho
người nắm giữ có thể bảo vệ mình trong trường hợp giá thị trường của cổ
phiếu đó giảm giá trên thị trường.
Hợp đồng kỳ hạn:
Là một thỏa thuận trong đó người mua và một người bán chấp nhận
thực hiện một giao dịch hàng hóa với khối lượng xác định tại một thời điểm
xác định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngày hôm nay.
Bằng việc tham gia vào một hợp đồng kỳ hạn, cả hai bên đều giới hạn được
rủi ro tiềm năng cũng như hạn chế lợi nhuận tiềm năng của mình.
Hợp đồng tương lai:

Là một loại thỏa thuận đòi hỏi một bên của hợp đồng sẽ mua hoặc bán
một hàng hóa nào đó tại một thời điểm xác định trong tương lai theo một mức
giá đã định trước. Chức năng kinh tế cơ bản của các thị trường hợp đồng
tương lai là cung cấp một cơ hội cho những người tham gia thị trường để
phòng ngừa rủi ro về những biến động giá bất lợi.
* Mục đích hoạt động tự doanh
- Dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán
Cũng như các tổ chức kinh doanh khác, trong hoạt động kinh doanh
CTCK bị phụ thuộc vào nguồn vốn và mức dự trữ đảm bảo khả năng thanh
toán. Chứng khoán là một công cụ tài chính có tính thanh khoản cao, và có
khả năng tạo lợi nhuận. Nguồn chứng khoán dự trữ là cơ sở để: Vay vốn từ
các trung tâm thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán, ngân hàng hoặc của
các công ty chứng khoán khác để mở rộng kinh doanh; Nguồn dự trữ này là
12
cơ sở để công ty triển khai chiến lược thu hút khách hàng ủy thác giao dịch.
Nhìn chung, để nâng cao khả năng thanh khoản và tận dụng được các cơ hội
để mang lại doanh thu cho công ty, trong cơ cấu sử dụng vốn một khoản tiền
dành cho hoạt động kinh doanh chứng khoán là cần thiết.
- Kinh doanh hưởng lợi
Mục đích chính của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính
công ty chứng khoán thông qua hành vi mua bán chứng khoán với khách
hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song song với nghiệp vụ môi giới, vừa phục
vụ lệnh giao dịch cho khách hàng, đồng thời cũng phục vụ cho chính mình, vì
vậy trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện
giao dịch cho khách hàng và cho bản thân công ty. Do đó, luật pháp của các
nước đều yêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới và tự doanh,
CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thực hiện lệnh
của mình. Thậm chí ở một số nước còn quy định có hai loại hình CTCK là
công ty môi giới chứng khoán chỉ làm chức năng môi giới và công ty chứng
khoán có chức năng tự doanh.

Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnh
cho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh công ty chứng
khoán kinh doanh bằng chính nguồn vốn của công ty. Vì vậy CTCK đòi hỏi
phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả
năng phân tích và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý
- Tạo lập thị trường.
Do đặc thù của hoạt động chứng khoán, đặc biệt là các thị trường chứng
khoán mới nổi, bao gồm chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ thì tính
chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư không cao. Điều này rất dễ dẫn đến
những biến động bất thường trên thị trường. Vì vậy, các nhà đầu tư lớn,
13
chuyên nghiệp rất cần thiết để làm tín hiệu hướng dẫn cho toàn bộ thị trường.
Bên cạnh hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, các công ty chứng
khoán với khả năng chuyên môn và nguồn vốn lớn của mình có thể thông qua
hoạt động tự doanh góp phần rất lớn trong việc điều tiết cung cầu, bình ổn giá
cả của các loại chứng khoán trên thị trường. Thông thường, chức năng tạo lập
thị trường không phải là một quy định bắt buộc trong hệ thống pháp luật của
các nước, tuy nhiên đây thường là nguyên tắc nghề nghiệp do các hiệp hội
chứng khoán đặt ra trên thị trường và các CTCK tuân thủ theo trong quá trình
hoạt động.
Cơ chế hoạt động của nhà hoạt động thị trường như sau:
Mỗi nhà tạo lập thị trường sẽ cạnh tranh trên thị trường để nhận được
lệnh đặt từ phía khách hàng (là các nhà đầu tư tham gia trên thị trường) bằng
cách báo các mức giá chào mua chào bán đối với một khối lượng chắc chắn
có thể giao dịch của loại chứng khoán nhất định. Khi nhận được lệnh đặt từ
phía khách hàng (là các nhà đầu tư tham gia trên thị trường) bằng cách bán
các giá chào mua, chào bán đối với một khối lượng chắc chắn có thể giao dịch
của loại chứng khoán nhất định. Khi nhận được lệnh đặt từ phía khách hàng,
nhà tạo lập thị trường sẽ gần như một lúc bán những chứng khoán mà tổ chức
đó nắm giữ trong kho hoặc tìm kiếm một lệnh đối ứng phù hợp. Toàn bộ quá

trình này diễn ra khoảng vài giây. Công ty môi giới giao dịch là công ty tiến
hành hoạt động mua hoặc bán chứng khoán với đồng thời cả vai trò nhà môi
giới và đơn vị giao dịch tuỳ thuộc vào giao dịch được tiến hành. Có nghĩa là
các công ty giao dịch thực sự phải mua bán chứng khoán và chịu những rủi
ro, hưởng những lợi nhuận đối với chứng khoán nằm trong tài khoản (hay
trong kho) của mình, còn những tổ chức trung gian (như các nhà môi giới hay
đại lí) chỉ đứng ra thay mặt khách hàng thực hiện giao dịch. Như thế một nhà
tạo lập thị trường có thể đứng trên hai phía của thị trường để thực hiện cả
14
chào mua và chào bán. Khoảng chênh lệch giữa các mức giá chào mua và
chào bán được gọi là chênh lệch mua và bán.
1.2.3 Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư CK là việc Công ty
chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời khuyên, phân
tích các tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ khác có liên
quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng.
* Nguyên tắc cơ bản của hoạt động tư vấn :
Hoạt động tư vấn là việc người tư vấn sử dụng kiến thức, để kinh doanh
nhằm đem lại lợi nhuận (hiệu quả) cho khách hàng. Nhà tư vấn đòi hỏi hết
sức thận trọng trong việc đưa ra các lời khuyên đối với khách hàng, vì với lời
khuyên đó khách hàng có thể thu về lợi nhuận lớn hoặc thua lỗ, thậm chí phá
sản, còn người tư vấn thu về cho mình khoản thu phí về dịch vụ tư vấn (bất kể
tư vấn đó thành công hay không). Hoạt động tư vấn đòi hỏi phải tuân thủ một
số nguyên tắc cơ bản sau:
Không đảm bảo chắc chắn về giá trị CK: giá trị CK không phải là một
số cố định, nó luôn thay đổi theo các yếu tố kinh tế, tâm lý và diễn biến thực
tiễn của thị trường.
Luôn nhắc nhở khách hàng rằng những lời tư vấn của mình dựa trên cơ
sở phân tích các yếu tố lý thuyết và những diễn biến trong quá khứ, có thể là
không hoàn toàn chính xác và khách hàng là người quyết định cuối cùng

trong việc sử dụng các thông tin từ nhà tư vấn để đầu tư, nhà tư vấn sẽ không
chịu trách nhiệm về những thiệt hại kinh tế do lời khuyên đưa ra.
15
Không được dụ dỗ, mời chào khách hàng mua hay bán một loại CK nào
đó, những lời tư vấn phải được xuất phát từ những cơ sở khách quan là quá
trình phân tích, tổng hợp một cách khoa học, logic
1.2.4 Hoạt động bảo lãnh và đại lý phát hành
Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành
cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng
khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành
để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ
chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng
khoán ra công chúng
Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, các nhà bảo lãnh đã nhận
toàn bộ hoặc một phần rủi ro trong việc bán chứng khoán mới phát hành. Do
đó, tổ chức phát hành phải trả cho tổ chức bảo lãnh phát hành một khoản tiền
hoa hồng bảo lãnh – phí bảo lãnh phát hành (số chênh lệch giữa khoản thu
được do bán chứng khoán và số tiền phải trả lại cho nhà phát hành). Mức phí
này phụ thuộc vào chất lượng, quy mô của đợt phát hành và tình hình cụ thể
của thị trường.
Một số hình thức bảo lãnh phát hành được áp dụng:
Bảo lãnh theo phương thức cam kết chắc chắn: Là phương thức mà tổ
chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành sẽ mua hết lượng
chứng khoán của họ với một mức giá thỏa thuận và phân phối lại cho công
chúng tại mức giá chào bán ra công chúng. Giá chào bán ra công chúng không
được thay đổi trong suốt quá trình chào bán. Mức giá thỏa thuận được gọi là
giá chiết khấu và chênh lệch giữa giá mua chứng khoán của tổ chức bảo lãnh
phát hành và giá bán ra công chúng được gọi là hoa hồng chiết khấu.
16
Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: Là phương thức tổ chức phát hành chỉ

đóng vai trò đại lý phát hành cho tổ chức phát hành.
Bảo lãnh tất cả hoặc không: Là phương thức tổ chức phát hành chỉ thị cho
tổ chức bảo lãnh phát hành phải bán trọn đợt phát hành nếu không bán được
hết họ sẽ hủy bỏ đợt phát hành đó.
Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu tối đa: Tổ chức phát hành đưa ra
lượng trần là lượng chứng khoán mà họ muốn bán đồng thời tổ chức phát
hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phát hành phải xác lập được lượng sàn là
lượng chứng khoán mà công ty cam kết chắc chắn đồng thời phải cố gắng tối
đa để bán đến lượng trần.
Bảo lãnh theo phương thức dự phòng: Đây là phương thức bảo lãnh được
áp dụng khi tổ chức phát hành là công ty đại chúng muốn phát hành thêm
quyền mua trước cho cổ đông hiện hữu. Tổ chức phát hành cần có một tổ
chức bảo lãnh phát hành dự phòng sẵn sàng đứng ra mua những quyền mua
không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để bán ra công chúng.
1.2.5 Các hoạt động phụ trợ khác
* Lưu ký chứng khoán
Lưu ký CK là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách hàng thông
qua các tài khoản lưu ký CK. Đây là quy định bắt buộc trong giao dịch CK,
bởi vì giao dịch CK trên thị trường tập trung là hình thức giao dịch ghi sổ,
khách hàng phải mở tài khoản lưu ký CK tại các công ty chứng khoán hoặc ký
gửi các chứng khoán. Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho khách
hàng, công ty chứng khoán sẽ nhận được các khoản phí lưu ký chứng khoán,
phí gửi, phí rút và phí chuyển nhượng chứng khoán.
* Quản lý thu nhập của khách hàng
17
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, công ty chứng
khoán sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức của chứng khoán và đứng ra làm
dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài khoản của
khách hàng.
* Hoạt động tín dụng

Đối với các thị trường chứng khoán phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi
giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, công ty chứng khoán
còn triển khai hoạt động cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao
dịch bán khống hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp
vụ mua ký quỹ.
Cho vay ký quỹ là hình thức cấp tín dụng của công ty chứng khoán cho
khách hàng của mình để họ mua chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó
làm vật thế chấp cho khoản vay đó. Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số
còn lại sẽ do công ty chứng khoán ứng trước tiền thanh toán. Đến kỳ hạn thỏa
thuận, khách hàng phải hoàn trả đủ số vốn gốc vay cùng với lãi cho công ty
chứng khoán. Trường hợp khách hàng không trả được nợ, thì công ty sẽ phát
mãi số chứng khoán đã mua để thu hồi nợ.
* Hoạt động quản lý quỹ
Ở một số thị trường chứng khoán, pháp luật chứng khoán về thị trường
chứng khoán còn cho phép công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ
quản lý quỹ đầu tư. Theo đó công ty chứng khoán cử đại diện của mình để
quản lý quỹ và sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng
khoán. Công ty chứng khoán được thu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu tư.
18
Mối quan hệ giữa các hoạt động của Công ty chứng khoán
Như đã trình bày ở trên, hoạt động của Công ty chứng khoán bao gồm
bốn nghiệp vụ chính là Môi giới, Tự doanh, Bảo lãnh phát hành và đại lý phát
hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán. Đối với mỗi hoạt động nghiệp vụ đòi hỏi
CTCK phải thực hiện theo một quy trình và yêu cầu bắt buộc đối với từng
nghiệp vụ. Tuy nhiên các hoạt động này có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Hoạt động môi giới có đảm bảo cung cấp dịch vụ tốt thì mới thu hút được
khách hàng đến với CTCK, khi đó hoạt động tư vấn mới được thực hiện. Các
kết quả nghiên cứu, phân tích, tổng hợp từ hoạt động môi giới và tư vấn đầu
tư là cơ sở để CTCK thực hiện tốt hoạt động tự doanh của mình. Trong trường
hợp thực hiện chức năng tạo lập thị trường, CTCK vừa là nhà môi giới, đồng

thời là nhà đầu tư, nghĩa là cùng lúc thực hiện cả hoạt động môi giới và tự
doanh. Hoạt động môi giới, tư vấn tốt sẽ giúp cho hoạt động bảo lãnh phát
hành thành công khi CTCK nhận trách nhiệm phát hành một loại chứng
khoán nào đó ra thị trường. Khi đó, chính hoạt động bảo lãnh phát hành có thể
giúp CTCK lựa chọn được những chứng khoán tốt để phục vụ cho hoạt động
tự doanh vì CTCK biết rất rõ về loại chứng khoán mình đang bảo lãnh phát
hành. Như vậy, giữa các hoạt động của CTCK có mối quan hệ mật thiết và hỗ
trợ lẫn nhau. Vì vậy, CTCK muốn phát triển lâu dài cần phải chú ý thực hiện
tốt tất cả các hoạt động nghiệp vụ của mình.
1.3 Hiệu quả hoạt động của Công ty chứng khoán đối với nền kinh tế
1.3.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động của Công ty chứng khoán
Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả lĩnh vực
kinh tế, kỹ thuật, xã hội. Hiểu theo định nghĩa chung, thì hiệu quả chỉ mối
quan hệ kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ
ra để có kết quả trong điều kiện nhất định.
19
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường cạnh tranh khốc
liệt đều phải quan tâm tới hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Đó là cơ sở để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Từ định nghĩa về
hiệu quả, có thể hiểu hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là
một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh
nghiệp (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nguồn vốn…) nhằm đạt
được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định, đó có thể là mục tiêu tối đa hóa
lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, chiếm lĩnh thị trường, mục tiêu chất lượng
sản phẩm…
Hoạt động của CTCK là toàn bộ các hoạt động Môi giới chứng khoán,
Tự doanh chứng khoán, Bảo lãnh phát hành, Tư vấn đầu tư chứng khoán và
các hoạt động khác với mục tiêu thực hiện vai trò trung gian tài chính trực
tiếp giúp thị trường chứng khoán vận hành tốt hơn.
Như vậy hiệu quả hoạt động của CTCK đối với nền kinh tế nói chung và

TTCK nói riêng chính là hiệu quả mang lại cho các chủ thể bao gồm : công ty
chứng khoán, nhà đầu tư và tổ chức phát hành thông qua các hoạt động của
Công ty chứng khoán.
Thực chất khái niệm hiệu quả hoạt động là phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục
tiêu xác định. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của CTCK thường xảy ra
một số xung đột về lợi ích giữa các chủ thể. Vì vậy hiệu quả hoạt động của
CTCK chính là đảm bảo và cân đối lợi ích giữa các chủ thể tham gia thị
trường nhằm đạt hiệu quả cao nhất đối với nền kinh tế và sự phát triển của thị
trường chứng khoán. Hiệu quả hoạt động của CTCK được thể hiện trên các
phương diện sau :
- Đối với nhà đầu tư :
20
Xuất phát từ quyền lợi của khách hàng, hiệu quả hoạt động của CTCK là
công ty giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả
thông qua các hoạt động tư vấn, môi giới, quản lý danh mục đầu tư từ đó làm
giảm chi phí và thời gian giao dịch cho khách hàng. Điều này có nghĩa là
công ty thực hiện đầu tư cho khách hàng hay tư vấn đầu tư cho khách hàng
giúp khách hàng đạt được lợi nhuận như mong muốn.
- Đối với tổ chức phát hành
Xuất phát từ yêu cầu của tổ chức phát hành, hiệu quả hoạt động của
CTCK được đánh giá thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát
hành có khả năng tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ cho các nhà phát hành.
Đồng thời thông qua nghiệp vụ tư vấn của mình, các CTCK có thể giúp các
tổ chức phát hành nhanh chóng huy động vốn một cách tối ưu.
- Đối với cơ quan quản lý thị trường
Xuất phát từ quan điểm của các nhà quản lý thị trường, công ty chứng
khoán được coi là hoạt động hiệu quả khi công ty cung cấp thông tin một cách
đầy đủ chính xác cho cơ quan quản lý thị trường. Bao gồm thông tin về các
giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin về các nhà đầu tư,… giúp các cơ

quan quản lý nắm bắt được tình hình thị trường từ đó đưa ra những giải pháp
điều tiết và bình ổn thị trường một cách hiệu quả.
- Đối với CTCK
Xuất phát từ mục tiêu của chủ sở hữu công ty, một công ty chứng khoán
được coi là hoạt động hiệu quả khi công ty thực hiện được tối đa hóa giá trị
tài sản của chủ sở hữu. Với mục tiêu này nhiều công ty chứng khoán đã nhận
ra sự cần thiết của việc nâng cao tính hiệu quả trong kinh doanh chứng khoán.
Điều này có nghĩa là làm giảm các chi phí hoạt động và tăng năng suất lao
động trên cơ sở tự động hóa và nâng cao trình độ nhân viên.
21
Như vậy hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán được đánh giá trên
nhiều mặt trong đó có khả năng dự đoán, phân tích và công bố thông tin.
Công ty có dự đoán và phân tích được xu hướng thị trường tốt thì mới có thể
tạo ra lợi nhuận cho công ty, thực hiện đầu tư giúp khách hàng một cách hiệu
quả. Bên cạnh đó cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát được mọi hoạt
động của công ty chứng khoán. Hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán
nói cụ thể hơn chính là lợi nhuận mang lại cho chủ sở hữu, đồng thời mang lại
sự an toàn, ổn định và phát triển của thị trường.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của Công ty chứng khoán
1.3.2.1 Doanh thu, cơ cấu doanh thu và doanh thu của từng hoạt động
* Doanh thu
Doanh thu của CTCK bao gồm các nguồn doanh thu từ các hoạt động Môi
giới, Tư vấn, Tự doanh và Bảo lãnh phát hành.
Kết quả hoạt động kinh doanh cuối cùng của CTCK được đánh giá bởi chỉ
tiêu lợi nhuận mà Công ty đạt được trong từng quý, từng năm. Lợi nhuận là
kết quả còn doanh thu mới là nguồn gốc đem lại lợi nhuận (Lợi nhuận =
Doanh thu – Chi phí) . Chính vì vậy doanh thu là chỉ tiêu rất quan trọng để
đánh giá kết quả hoạt động của một CTCK.
* Cơ cấu doanh thu
Cơ cấu doanh thu cho biết tỷ lệ đóng góp của từng hoạt động vào tổng

doanh thu của CTCK. Doanh thu của CTCK chỉ phản ánh về lượng nhưng
không cho biết mức đóng góp do các hoạt động đem lại. Việc xem xét cơ cấu
doanh thu một cách chi tiết sẽ giúp xác định được đâu là hoạt động chính đem
lại nguồn thu cho CTCK. Từ đó CTCK cũng nhận biết được các hoạt động
còn hạn chế để từ đó có biện pháp khắc phục. Một CTCK muốn phát triển tốt
22
cần phải quan tâm đến mọi lĩnh vực hoạt động của mình nghĩa là các hoạt
động đều phải có sự đóng góp trong tổng doanh thu. Sự mất cân đối trong cơ
cấu doanh thu sẽ phản ánh mức độ rủi ro trong hoạt động của CTCK khi thị
trường biến động.
* Doanh thu từng hoạt động
Đó là các chỉ số cụ thể về doanh thu cho mỗi hoạt động của CTCK. Việc
xem xét doanh thu của từng hoạt động là cơ sở để đánh giá triển vọng hoạt
động của CTCK trong tương lai. Bên cạnh đó cũng giúp CTCK xây dựng chỉ
tiêu kế hoạch cho mỗi hoạt động trong từng thời kỳ hoạt động của mình.
1.3.2.2 Các chỉ tiêu khả năng sinh lời
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời. Đối với CTCK thì chỉ
tiêu lợi nhuận cũng được tính toán tương tự như các doanh nghiệp khác.Một
số chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận của CTCK đó là :
* Hệ số lợi nhuận trên doanh thu
Tổng lợi nhuận
Hệ số tổng lợi nhuận
=
Doanh thu bán hàng ròng
Lợi nhuận hoạt động
Hệ số lợi nhuận hoạt động
=
Doanh thu bán hàng ròng
Lợi nhuận sau thuế
Hệ số lợi nhuận ròng

=
Doanh thu bán hàng ròng
Hệ số tổng lợi nhuận, hệ số lợi nhuận hoạt động và hệ số lợi nhuận
ròng cho biết khả năng của công ty trong việc chuyển Doanh thu bán hàng
23
ròng thành lợi nhuận dưới những góc độ khác nhau. Hệ số tổng lợi nhuận
xem xét khả năng của công ty kiểm soát chi phí hàng tồn kho hay chi phí
sản xuất sản phẩm. Hệ số lợi nhuận hoạt động sẽ tổng hợp tất cả chi phí
gắn liền với hoạt động kinh doanh thông thường của công ty. còn hệ số lợi
nhuận ròng sẽ xác định mức sinh lời sau khi đã xem xét tất cả các khoản
doanh thu và chi phí bao gồm cả tiền lãi vay, thuế và các khoản mục
không thuộc về hoạt động sản xuất kinh
* Hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản(ROA)
Thu nhập ròng
Hệ số lợi nhuận ròng trên
tổng tài sản
=
Tổng tài sản
EBIT
Hệ số lợi nhuận gộp trên tổng
tài sản
=
Tổng tài sản
* Hệ số lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE)
Thu nhập ròng
Hệ số lợi nhuận trên
vốn cổ phần
=
Vốn cổ phần của chủ sở hữu
Lợi nhuận trên tổng tài sản và lợi nhuận trên vốn cổ phần là hai hệ số

được sử dụng để đánh giá mức độ hiệu quả chung của công ty trong việc quản
lý tất cả các khoản đầu tư vào các tài sản và đánh giá khả năng tạo doanh thu
cho các cổ đông. Hệ số lợi nhuận trên các tài sản sẽ cho chúng ta biết mức thu
nhập được so với mức độ đầu tư vào tổng tài sản. Còn hệ số lợi nhuận trên
vốn cổ phần sẽ tính mức doanh thu của các cổ đông thường của công ty ; hệ
số này cũng được tính giống như lợi nhuận trên vốn cổ phần thường nếu như
một công ty có lưu hành cổ phiếu ưu đãi.
24
1.3.2.3 Số lượng tài khoản, giá trị giao dịch, phí môi giới
* Số lượng tài khoản
Số lượng tài khoản đăng ký giao dịch ở các CTCK cho biết số lượng
các nhà đầu tư tham gia trên thị trường. Tài khoản của nhà đầu tư được đăng
ký tại CTCK và được lưu ký tại trung tâm lưu ký chứng khoán giúp cho việc
trao đổi mua bán chứng khoán được diễn ra thuận lợi nhất. Bên cạnh đó cơ
quan quản lý cũng theo dõi, giám sát hoạt động của các nhà đầu tư giúp cho
thị trường chứng khoán hoạt động công bằng và hiệu quả
Số lượng tài khoản của toàn thị trường phản ánh hiệu quả hoạt động
môi giới mà các CTCK thực hiện để thu hút sự quan tâm và tham gia của các
nhà đầu tư . TTCK chỉ có thể hoạt động tốt khi có sự tham gia đầy đủ của các
chủ thể trong đó nhà đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện giao
dịch hàng ngày.
Đối với CTCK, số lượng tài khoản khách hàng mở để giao dịch và tỷ
trọng của nó so với toàn bộ thị trường mà công ty đang hoạt động phản ánh
hiệu quả hoạt động của nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Số lượng tài khoản
được mở tại CTCK cho biết sự quan tâm của nhà đầu tư với dịch vụ môi giới
của CTCK đó. CTCK nào càng có nhiều tài khoản đăng ký thì sẽ càng có cơ
hội để tăng doanh thu của hoạt động môi giới bởi vì mỗi nhà đàu tư chỉ được
phép mở tài khoản giao dịch tại một CTCK.
* Giá trị giao dịch :
Giá trị giao dịch là giá trị bằng tiền của khối lượng chứng khoán được

khớp lệnh thông qua các phiên giao dịch. Giá trị giao dịch phản ánh quy mô
giao dịch của thị trường trong từng phiên, từng ngày. Giá trị giao dịch cũng
phản ánh tính thanh khoản của chứng khoán trên thị trường. Đây cũng là chỉ
tiêu mà các nhà đầu tư rất quan tâm khi đưa ra các quyết định tại mỗi thời
25
điểm và cũng là tiêu chí phản ánh quy mô và mức độ hoạt động của mỗi thị
trường chứng khoán.
Những thị trường chứng khoán có quy mô lớn trên thế giới, giá trị giao
dịch luôn đạt ở mức cao. Còn đối với CTCK, giá trị giao dịch đạt được trong
từng phiên sẽ là nguồn đem lại thu nhập cho công ty thông qua phí môi giới.
* Phí môi giới :
Phí môi giới là số tiền mà nhà đầu tư phải trả cho CTCK khi tiến hành
giao dịch chứng khoán trên thị trường.Mức phí môi giới thường được căn cứ
trên giá trị giao dịch. Đây cũng là nguồn thu chính của CTCK, đó là doanh
thu của hoạt động môi giới. Đối với CTCK, hiệu quả hoạt động môi giới được
đo bằng những chỉ tiêu định tính và định lượng trong đó có chỉ tiêu doanh thu
của hoạt động môi giới.
Đối với nhà đầu tư, phí môi giới chính là chi phí mà nhà đầu tư phải trả
khi thực hiện mua hoặc bán chứng khoán. Phí môi giới cao sẽ làm tăng chi
phí từ đó làm giảm lợi nhuận của nhà đầu tư.
Như vậy, phí môi giới làm tăng nguồn thu cho CTCK đồng thời làm
giảm lợi ích cho nhà đầu tư. Nếu xét hiệu quả chung đối với nền kinh tế,cơ
quan quản lý cần phải đưa mức phí môi giới hợp lý để đảm bảo lợi ích giữa
CTCK và nhà đầu tư.
1.3.2.4 Số lượng vốn huy động qua hoạt động phát hành, phí bảo lãnh phát
hành
* Số lượng vốn huy động qua phát hành :
Số lượng vốn được huy động thông qua phát hành của toàn thị trường
phản ánh mức độ vốn hoá của TTCK đối với nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh

×