Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Bản trường ca khai mở một hướng đi (Phê bình tập "Ngày đang mở sáng" của Trần Anh Thái) potx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (214.95 KB, 12 trang )

Bản trường ca khai mở một
hướng đi (Phê bình tập "Ngày đang
mở sáng" của Trần Anh Thái)






i tìm hình thức mới cho thơ không có nghĩa là “đả cựu nghinh tân” hay
“hữu cựu bài tân”. Tìm hình thức mới mà nội dung cũ thì chẳng khác “bình
mới” mà “rượu cũ”.
Trường ca Ngày đang mở sáng làm theo thể tự do, chẳng luật lệ, thi pháp nào quy
định và nó chẳng cần cao sang, quý phái để gọi là “thi pháp nghệ thuật khúc chiết”, “cấu
trúc phức điệu của âm nhạc giao hưởng”, hay “thi pháp động” mà Nguyễn Trọng Tạo
dành trọn cho trường ca Trầm tích của Hoàng Trần Cương. Nó chỉ đi từ thể thơ tự do,
nhiều phân đoạn với bố cục mạch lạc, nhịp nhàng cần thiết đầy đủ. Diện mạo bản trường
ca có mặt mũi “khôi ngô tuấn tú” hay không cũng nhờ vào cách trang điểm tự nhiên này
đề chuyển tải nội dung từ hiện thực chiến tranh mà các giả từng sống qua. Nó sử dụng
các biện pháp tu từ, xây dựng hình ảnh, bố trí tình tiết và nhất là, nó không đóng vai trò
MC dẫn chương trình kiêm ca sĩ.
Can thiệp vào từng nhân vật hay từng vấn đề trong tác phẩm của mình, hầu hết
những tác giả đều tham dự hội đồng thẩm vấn đơn phương độc mã này. Nghĩa là tác giả
miêu tả những tốt xấu đâu đấy cả rồi cứ thế mà kết luận thay cho độc giả. Đó là phương
Đ
pháp cũ của các thể loại văn chương. Trái với việc can thiệp “nội bộ” vào tác phẩm của
mình, tác giả khúc huyền caNgày đang mở sáng chỉ đưa dữ liệu, miêu tả hiện thực, dẫn
chứng bằng lời lẽ, ngôn ngữ, hành động để người mà ấm trong. Nó sẽ mang tên tác giả
đó như khẳng định bản quyền của tác phẩm mà ta quen nhìn hàng chữ “Copyricht” (bản
quyền). Đó cũng là thi pháp đọc tự đánh giá tốt xấu, có giá trị hay không? Quyền tự
đánh giá nhân vật, đánh giá tác phẩm, đều thuộc về độc giả. Tác giả miêu tả dường


như rất lạnh lùng nhưng bên trong tàng ẩn một tình cảm bao la. Phương pháp sáng tác
trên gọi là thi pháp cá nhân tĩnh mà động (lạnh ngoài cũ mà mới). Nó cũ vì đã có người
từng sử dụng. Nó mới là người sử dụng không lặp lại cách viết của người trước dù trong
cùng một chủ đề. Rõ ràng nhất là những gì thuộc sở hữu đại từ như “của tôi” đã được
Trần Anh Thái đánh rơi mất của! còn “tôi”.
Thi ca không nói đến ai đúng ai sai hay ai mới hơn ai. Nó chỉ biết, thơ có hồn hay
thơ vô hồn, cảm được hay vô cảm. Nếu cảm nhận chưa thông thì đừng theo khuynh
hướng “cuốn theo chiều gió”. Khen chê cũng bởi nhà ngươi. Khen người hôm nọ, chê
cười bữa nay! Là sao? Người ta khen Nguyễn Du gì thì khen nhưng khen về thi pháp lục
bát thì chưa chắc! Vì hơn một nửaTruyện Kiều sai luật và cưỡng vận.
Với những trường ca, đều thấy rõ là các tác giả ra sức vận dụng toàn bộ các loại
thể của thơ bao nhiêu hay bấy nhiêu. Thơ từ một từ đến đoạn dài nhằng mà ta đùa gọi
thơ xe lửa. Một phương thức dùng trong trường ca là điệp từ, điệp ngữ đầu câu ta có thể
bắt gặp ở hầu hết các tác giả, từ các nhà thơ mới đến Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn
Duy, Nguyễn Quang Thiều, Thi Hoàng
Trần Anh Thái cũng sử dụng điệp từ đầu câu nhấn mạnh như thế và từng mỗi điệp
từ mang ý nghĩa riêng biệt phụ trợ cho nội dung nhưng mới ở chỗ chúng không điệp từ
dẫn nguyên câu mà câu có điệp từ lại chia ra, nhìn “rất thoáng”: Những con còng rúc
hang/ Những vòm cây/ Những cơn gió/ Ngày / Như không thấy gì/ Như không tồn tại/
Như không có bạn/ Như không có người/ Mây dại lửng lơ/ Ngày! / Ngày! / Ngày! /
Đằng đẵng ngày!
Đặc biệt, Trần Anh Thái đã không “tham lam” dùng thể “văn xuôi” tuỳ bút vào
trường ca. Lạm dụng nó nhiều, trường ca như chàng trai trẻ bỗng chốc hoá ông già! Một
phương thức mới cần chú ý, Trần Anh Thái không chen thể lục bát vào trường ca. Lục bát
là loại thể dễ đánh lừa người ta. Nó khó làm được hay trong các thể loại. Vì vậy mà các
tác giả thường gieo vần cưỡng vận nên dù có luật sư vần lưng hay vần thông gì cãi hộ
cũng không phá cái án “tay nghề non”. Phương pháp sáng tác là một quá trình thực hiện
những thao tác từ đơn giản đến phức tạp để tìm ra cho tác phẩm mình một hướng đi mà
tác phẩm phải có tính thời gian. Thi pháp là cách viết, cách làm. Ví dụ viết trường ca:
Không nên ôm đồm mọi thể thơ. Không sử dụng nó nếu như không rành lắm. Không chắc

ăn về thể loại thì không nhúng tay vào. Mạnh về thể loại nào thì sài loại đó! Không trình
bày khi thì lên đèo, khi xuống dốc, khi viết in, khi viết hoa hoa mà những cái đó chỉ tổ
loá mắt người đọc. Trần Anh Thái đã xen kẻ những thể loại thơ ba từ, bốn từ xen kẽ vào
những năm từ, sáu từ đến nhiều từ. Cho nên, khi đọc hầu hết các trường ca, người đọc
mới thấy được thế mạnh, yếu của trường ca là ở điểm nào. khúc huyền ca Ngày đang mở
sáng là sự kết hợp các yếu tố cần thiết bảo đảm tính vừa phải để nó được tự nhiên mà
sống cùng thời gian. Yếu tố kết hợp với cách dùng thể loại thơ là các phép tu từ mang tính
thẩm mỹ nhất định.
Trong trường ca này, Trần Anh Thái hoàn toàn thả lỏng mình. Tác giả chẳng hề
kết luận, đánh giá mà chỉ nêu lên sự việc, miêu tả sự vật. Ví dụ để nói về người mẹ trên
cánh đồng khô, Trần Anh Thái chỉ tả:
Mẹ ra đi trong đêm
Sương khuya mò bóng
Thượng đế ở đâu nơi hốc mắt thẳm sâu
rười rượi luống cày, chim sếu co ro ngày không gió.
Người đọc tự hiểu người mẹ này như thế nào? Thượng đế này là đáng trách hay
đáng tin? Ruộng cày ra sao qua những từ ngữ có tính biểu cảm ở các trường ca khác, các
tác giả đã nói dùng hết các sắc thái biểu cảm người đọc, làm cho người đọc không cần
phải nghĩ ngợi gì thêm.
Nói về thân phận người thợ cày, Trần Anh Thái chỉ viết: Thượng đế rong chơi/
Người thợ cày nhâm nhi giọt máu của mình/ Chảy qua những dòng sông cánh đồng biển
sâu lam lũ mà chẳng một lời bình, một lời kết thì người đọc cũng hiểu người thợ cày lam
lũ này đáng thương khi “đổ vào cánh đồng cơn đói mờ run”.
Tác giả chỉ dùng từng sắc thái tu từ biểu thị mối quan hệ tình cảm của từng nhân
vật mà không can thiệp vào. Ví dụ về hoàn cảnh gia đình, tác giả chỉ viết: Mẹ thức lúc
nửa đêm/ Cơm tàn tro nguội/ Anh tôi biền biệt chiến trường/ Bầy chim thản nhiên bay
qua.
Người đọc hiểu được nỗi lòng người mẹ như đang ngồi trên đống lửa vì có người
con trai đang ở chiến trường.
Hay Trần Anh Thái chỉ dùng ngôn ngữ miêu tả gián tiếp qua “hương khói ban

thờ” và “trăng rằm côi cút” tạo hình ảnh:Hương khói ban thờ đỏ mắt/ Trăng rằm côi cút
sáng ngoài sân.
Cũng vậy, với hoàn cảnh má Mừng, nhân vật má này chẳng nói gì, tác giả chỉ
ghi: Gương mặt chồng và năm đứa con/ Tàn nhang rơi lạnh thì người đọc giật mình
biết là má có 6 người thân đã hy sinh với 4 từ “tàn nhang rơi lạnh”.
Trong khúc huyền ca, tình cảm “cậu bé và cô bé” không giống bất cứ chuyện tình
nào trong văn học. Nó chẳng có từ yêu, không bỏ xuống chữ thương. Tác giả chỉ
viết: Đêm đóng cửa vẽ gương mặt em trong trái tim tôi khi ấy/ Cây bút buông rơi trang
giấy vo nhàu.
Người đọc biết rằng từ đây, trái tim cậu bé đã có một nữ chủ nhân dễ thương ngự
trị. Có nghĩa là “em đã nhốt anh trong trái tim của em”.
Để diễn tả trường tương tư, Trần Anh Thái không “yêu xanh núi, nhớ tím trời”
như Tứ tuyệt tương tư của Xuân Diệu “hoa tím tương tư đã nở đầy” hay la ó “Lệ Kiều
ơi hỡi” như Hàn Mặc Tử với “Trường tương tư” của mình và chẳng giống “Trường
tương tư” của Lý Bạch “Nguyệt minh nhân ỷ lâu” (Người tựa lầu đêm trăng) hoặc “ruột
tằm chính khúc” vò tới vò lui trong “Tương tư” của Tú Mỡ. Cũng vậy, khác với “Tương
tư” 6/8 lệch thi pháp và cưỡng vận khổ sở của “Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông” mà
Nguyễn Bính hít hà. Trái lại tương tư của khúc huyền ca nhẹ nhàng, bí ẩn mà nặng
công hơn: Vô cớ một tiếng chim/ Vô cớ u buồn/ Lang thang khắp các nẻo đường/ Trĩu
nặng dấu chân em.
“Vô cớ” cũng là cái cớ, là một cách biểu hiện tương tư khá cảm xúc.
Để biểu thị mức độ tình cảm của tác giả khi dựng lại hình ảnh chiến trường, hầu hết
các tác giả các thể loại cùng chủ đề này nói chung và trường ca nói riêng, cái “tôi” của tác
giả nằm trọn trong tác phẩm. Mức độ khen chê, thù hận, thương yêu đều dàn trải hết qua
nhân vật “tôi” này. Khúc huyền ca không hề biểu hiện một thái độ của cá nhân chủ nghĩa
trong tác phẩm. Đó là một tư duy theo phương pháp mới khi phác hoạ lại hình ảnh chiến
tranh. Qua bao nhiêu năm, dĩ nhiên, cái nhìn về chiến tranh phải khác đi. Nhận xét, kết luận
về kẻ thù cũng nên hiểu ở mức độ giá trị con người chứ không nên đánh đồng là thú vật với
những từ ngữ “mày, tao, nó, thằng, quỷ, cá mập, rắn độc, xà tinh”.
Trung thực và tôn trọng bản chất sự thật, Trần Anh Thái viết theo một quan điểm

nhân văn là việc làm được coi quang minh lỗi lạc. Chỉ một đoạn ngắn: Tôi nghe lạnh
giữa hai bờ cuộc chiến/ Cái chết nối hàng/ Cái chết tiễn đưa nhau.
Quan niệm của người lính cũng như tác giả về cuộc chiến đã rõ ràng: Cái chết/
Bom vùi lấp mặt/ Mặt trời lấp mặt/ Xác quân thù xác bạn gục vào nhau/ Kéo hoàng hôn
rã rời.
Tác giả chỉ miêu tả lạnh tanh:
Bóng người dìu nhau bết máu. Màn đêm lặng phắc bãi chiến trường, gió khô mặt
đất. Mơ hồ cơn co giật, tiếng gọi thất thanh, tiếng kêu cứu vớt, ròng gương mặt thời
gian ám mùi bom đạn.
Những xác chết ngổn ngang hình hài méo mó. Từng nhúm xương chắp vá vô tình
đêm tối mò tìm. Căn hầm nồng nặc.
Bầu trời những vì sao tối dần, cái chết im lìm chờ cuốn ni lông đưa về đất. Thời
gian rỉ máu, không gian ngột ngạt tanh nồng. Côn trùng rền rĩ.
Họ đã đi tới đích cuộc đời. Không còn tường thành giam hãm.
Giữa trận chiến ai mạnh nấy thắng. Người lính trong khúc huyền ca với tư cách
một kẻ thắng trận: Kẻ thắng trận hai tay ôm mặt khóc/ Thương tích tạc vào gió thổi
ngàn sau.
Nói về số phận những người mẹ như má Mừng, tác giả không giới thiệu đây là
người mẹ có công cách mạng mà chỉ tả ngắn gọn: Chiếc lán cứu thương năm chiến
tranh/ Giờ mọc vài cụm cỏ dại/ Trống hai bàn tay trống ánh nhìn.
Người đọc hiểu ngay công việc má làm “cứu thương” và số phận chung đầy “cỏ
dại”. Và nhận lấy sự hy sinh thêm 6 người trong gia đình hy sinh với một thái độ câm nín
mà sống: Hai mắt ngây nhìn/ Rừng xưa lá rụng đăm đăm.
Bày tỏ tình cảm cho nhân vật, tác giả tự hoá thân vào thiên nhiên: Ngày xa dần/
Mây bay lơ lửng/ Sông Vệ thẫn thờ xanh.
Con sông còn biết “thẫn thờ” huống chi con người!
Tìm về nguồn cội tổ tiên và giải mã giấc mơ của người đạo sĩ là cái đích tới của
khúc huyền ca. Trong trường ca Đổ nóng xuống mặt trời, Trần Anh Thái từng trăn trở về
nguồn cội với con đường khai mở từ: Cánh đồng mọc ra từ máu thịt ông bà/ Lửa đậu
đêm đêm ban thờ tiên tổ.

Để nói về một khắc khoải của hành trình tìm về nguồn cội tổ tiên, khúc huyền
ca của Trần Anh Thái không viện dẫn đất nước tôi tôn quý như nhiều tác giả khác mà
tác giả chỉ dùng những ví von câu đất nước như: Chiếc đỉnh đồng mất lửa/ Những tàn
nhang đã tắt/ Mặt trời tắt/ Ý nghĩ rối mù/ Đêm vang hỗn độn/ Người mò mẫm tìm lửa ở
nhà mình/ Tàn tro đã nguội/ Người ngồi thật lâu/ Gầy buồn thế kỷ.
Mặt trời tắt thì người hãy tự đốt lửa nhà mình lên. Tro tàn đã nguội lạnh, nhóm
lên cũng thật lâu. Người ngồi chờ lửa cháy, chờ mòn thế kỷ! Buồn đến thế! Mặt trời tắt
thì làm sao biết được đâu là ranh giới giữa ngày và đêm? Không nhìn thấy ngày và đêm
thì làm sao biết người nào chơn hay ác? Vậy thì phải nhờ vào một người nào đó đáng
kính trọng chỉ đường. Một nhân vật huyền thoại xuất hiện trong mơ: Đêm đêm giấc mơ
trở về/ Người đạo sĩ chống cây gậy trúc/ chỉ tay về phía biển Đông/ Mặt trời đang mở
sáng
Chỉ cần đọc phớt danh từ “đạo sĩ”, với động từ “chỉ tay”, người đọc sẽ nghĩ rằng
Trần Anh Thái bị tẩu hoả nhập ma bởi khi khổng khi không cho vời ông đạo sĩ nào
đấy từ đạo Lão bước vào trường ca mà làm bùa phép!! Cười! Đâu nghĩ rằng, bản trường
ca thứ ba của Trần Anh Thái có cái độc đáo của nó ở chỗ khi nào nó ẩn vào những trang
đêm dài động não, nó là khúc huyền ca, khi nào nó chui ra ngoài ngày dễ thấy, nó
là Ngày đang mở sáng. 4 câu thơ một dòng suy tưởng, một giấc mơ lịch sử mở đường
ngày nào với những đoàn quân vi-king mở nước thời xửa, thời xưa, thời ta chưa ra lò,
thời con người chưa giở trò lừa dối.
“Người đạo sĩ” ở đây không xuất thân từ đạo Giáo, đạo Lão hay từ phái Võ Đang
tận bên Tàu như Khấu Khiêm Chi, Lý Thiếu Quân, Lý Xương Linh, Lục Tu Tĩnh, Văn
Tử, Vương Huyền Phụ hay Trương Đạo Lăng, Trương Tam Phong hoặc Võ sĩ đạo tận
bên Nhật hay gã “Phong Vân đạo sĩ” thời nhà Mạc chuyên làm điều trái đạo.
“Cây gậy trúc” ở đây cũng chẳng phải ám chỉ quyền lực của ông tổng thống
Argentina, chẳng phải cây gậy trúc chỉ dành cho “con bướm ngủ” của nhà thơ thiền sư
Basho.
Vậy ám thị “người đạo sĩ” và “cây gậy trúc” trong khúc huyền ca có ý nghĩa gì?
Đơn giản chỉ là tổ tiên (đạo sĩ) và phép màu quyền lực (lịch sử 4000 năm mở nước). Đó
mới chính là nhân vật linh thiêng, quyền uy, phép màu huyền diệu nhất mà không một

người nào yêu đất nước mình dám bày tỏ thái độ khinh mạn và bất kính: Ký ức sáng trên
vầng trán người đạo sĩ già/ ẩn cư miền cao Yên Tử/ Chòm râu phơ phất ưu tư.
Ở đây, thật lý thú khi Trần Anh Thái bất ngờ đưa người đọc về một nơi thánh tích.
Yên Tử với thiền viện Trúc Lâm thành nơi lễ hội hàng năm rộn rã suốt ba tháng
mùa xuân. Yên Tử nơi thanh thản của lòng nhân với “Tham-Sân-Si” trần đời rũ sạch.
Thái thượng hoàng Trần Thái Tông “người có cả một vương triều” lại không màng
nhung gấm vàng son.
Người đạo sĩ già trong khúc huyền ca vẫn chưa đạt tới đỉnh cao của đạo đời khi
chòm râu còn “phơ phất ưu tư”. “Ưu tư” vì “Non sông ngày đổi đêm dời. Máu rơi, thây
đổ lệ rơi hàng hàng”! Tổ tiên dựng nước vẫn chưa yên lòng, vẫn trăn trở lắng nghe từng
bước chân của thế hệ cháu con tìm kiếm con đường mới.
Ngày đang mở sáng đã mở ra một địa cầu bốn hướng bằng Địa Trung Hải: Tôi ra
bến tàu/ Địa Trung Hải một màu đen huyền thoại/ Vách núi in chi chít bàn chân.
Mặt trời trong khúc huyền ca không phải là “mặt trời chân lý chói qua tim” của
Tố Hữu mà chỉ là mặt trời ước mơ của tuổi thơ trong khúc I: Tôi hào phóng tung những
con tàu cất giấu trong mơ/ Bay mãi mãi về phía mặt trời bí ẩn.
Với ngụ ý là mặt trời tương lai hạnh phúc trong khúc II khi có “Em”: Đôi môi
hứng khởi thẹn thùng/ Sẽ cùng tôi yên tĩnh dưới mặt trời dịu nắng.
Nhưng như vật đổi sao dời, mặt trời hạnh phúc của tuổi thơ cũng mất theo chiến
tranh. Cuộc đời lộn xộn, mặt trời cũng ngủ vùi trong khúc III: Mặt trời tắt/ Ý nghĩ rối
mù/ Đêm vang hỗn độn.
Mặt trời trở thành niềm tin và thất vọng đã bị đánh tráo trong trường ca Trên
đường: Niềm tin và thất vọng/ Đâu ánh sáng mặt trời.
Không thấy mặt trời nên người ta không thể biết đâu là lằn ranh của ngày và đêm
nhưng một giấc ngủ vùi lãng phí thời gian cũng chẳng làm sao phân được đêm và ngày!
Không phân biệt đâu là đen trắng, đâu là ác hiền. Con người đi vào bóng đêm mù loà,
nhoà nhoà ký ức. “Cha vác kheo đi dưới mặt trời” của Trần Anh Thái trong trường
ca Trên đường để “chiếm lấy riêng điều bí mật” sau cái chết của mặt trời, còn làng trong
“Đổ bóng xuống mặt trời “ thì ngược lại, không bí mật gì cả, chình ình ngay ra đó “làng
nhỏ nhoi mọc trước mặt trời”. Chu Văn Sơn trong Đoản ca về trường ca (trường ca thứ

hai “Đổ bóng xuống mặt trời”) nhận thấy “Thái đã trút tất tật máu thịt hồn vía vào
những suy cảm căng thẳng và lao lung của mình. Suy cảm bao trùm lên tổng thể mạch
thơ, suy cảm dồn trút vào từng chi tiết hình ảnh thơ, suy cảm nuôi dưỡng cả một hơi thơ
khoẻ đều từ đầu chí cuối để theo cho được cái hơi thở phì nhiêu quyết liệt của Làng”.
Người chạy theo thời gian cũng như trái đất quay chung quanh mặt trời. Trước mặt trời,
làng phải được khai sinh đón ánh nắng đầu tiên khai mở. Cha đi dưới bóng mặt trời vì
cha chạy theo thời gian. Sáng, bóng người cùng mặt trời nhập một. Trưa, người đổ bóng
vào mặt trời vì mặt trời ở đỉnh đầu. Chiều, mặt trời xuống núi, bóng người chìm theo
mất dạng mặt trời với “những mảnh vỡ mặt trời xô ngang mặt nước”. Nhưng theo quy
luật thiên nhiên, ngày mai, nó hồi sinh. Con người cũng như mặt trời, chiều đi sáng lại
khi nói về giá trị giàu nghèo, tốt xấu nhưng khi nói về quy luật, con người bé nhỏ bao
giờ cũng tắt trước mặt trời. Con người lại theo quy luật con người “Cọp chết để da,
người ta chết để tiếng”. Xoay vòng theo quỹ đạo con người cũng như muôn vì tinh tú
vẫn quay theo quỹ đạo của chúng trong không gian vô tận. Sự vật, sự việc nào cũng phải
theo quy luật tồn tại! Mặt trời cũng như con người. Người thiếu ăn, người chết. Mặt trời
hết năng lượng, mặt trời cũng đi! Nó cũng quay trong hệ thái dương của nó theo thiên
hà, và phân phát lửa, tái tạo nguồn sống vô tư cho đến một ngày, dòng vật chất và năng
lượng mất đi bức xạ mặt trời, chính là ngày nó thành mặt trời đen, băng giá vĩnh viễn và
nó chết. Cái chết của mặt trời kéo theo những vệ tinh xung quanh nó mất nguồn sưởi
ấm, chúng cũng ngủ vùi! Sát thủ của trái đất là ai nếu không trực tiếp là con người?
Sinh ra và sẽ chết đi, mặt trời cũng có bình minh và có hoàng hôn như cuộc đời.
Khúc huyền ca thấy được tương quan sinh thái tự nhiên đó, nó thở dài: Hoàng
hôn mặt trời/ Bóng tối lặng thinh.
“Bóng tổ tiên khuất sau bóng mặt trời” vì người khuất mặt không bao giờ đối diện
được mặt trời. Luật âm dương đã phân. Thế giới ảo là tưởng tượng mà có. “Cõi âm khắc
luật” hay “cõi người khắc luật” là thế! Tổ tiên hoá thân vào con người. Con người có thể
hồi sinh mặt trời, làm cho “mặt trời nóng dần lên những giấc mơ khô khát” qua hình ảnh
“người đánh cá già” trong trường ca Trên đường: Bóng người đánh cá già lồng lộng in
vào trời đất/ Đôi mắt sáng tiên tri chỉ tay về phíamặt trời đang tan trong làn sương.
Tiến lên một bậc, tổ tiên hoá thân vào người đạo sĩ trong khúc huyền ca với khúc

cuối cùng: Người đạo sĩ chống cây gậy trúc/ chỉ tay về phía biển Đông/ Mặt trời đang
mở sáng
Mặt trời hạnh phúc tuổi thơ đã qua nhưng hạnh phúc không có tuổi nên không biết
đến sự già cỗi. Nơi nào có mặt trời mọc, nơi đó có sự sống và hạnh phúc vô biên, khúc
huyền ca một lần nữa tha thiết nối tình người với 4 không: Không biên giới, Không tuổi
tác, Không giai cấp, Không thời gian: Mặt trời sắp lên rồi sao em chưa đến. Gió đang
vỡ ra trên/ vòm lá xanh rờn.
Cuối cùng, nó trở về với thi ngôn bất hủ: “Không có mặt trời cho một mặt trời”.
Trái đất không thể có hai mặt trời. Một đời không thể vừa trung thành vừa bất nghĩa.
Một nước không thể có hai vua. Một chùa không thể có hai trụ trì. Mặt trời có lợi tái tạo
sự sống nhưng cũng là huỷ diệt trái đất khi con người tự phá hỏng tầng khí quyển Ozon.
Còn hơn chiến tranh! Không có bữa ăn nào dọn sẵn cũng chính là đấy! Chiến tranh và
cái chết làm nghẹn mặt trời và nó được nhân hoá với tư cách bè bạn của nạn nhân chứ
không còn là biểu thị uy quyền, ước mơ gì nữa cả trong khúc X: Có bao nhiêu người
không về/ Rưng rưng nắng ngày rưng rưng mặt trời xa
Trường ca Trên đường cũng “đỏ một mặt trời rỉ máu”. “Rỉ máu” dòng máu tổ tiên
“khuất sau bóng mặt trời”. Vì sao con người bắt gặp mặt trời là “ngược ánh sáng mặt
trời”? Đơn giản như người ta ăn cơm: Mặt trời có bao giờ mọc ở dưới đất đâu mà người
ta cúi xuống mới không ngược sáng? Theo nghĩa thật vật lý là thế. Mặt trời mang ý
nghĩa tượng trưng nên phải giải mã theo ý tượng trưng: Nhìn lên để tôn trọng, để được
an ủi và được cầu xin. Mặt trời theo nghĩa có tư cách đồng hạng người thì giải mã theo
kiểu làm người: Cúi xuống cho máu ngược dòng/ Cho nước sông cạn nguồn/ Cho cây
khô trên cành trút lá bơ vơ/ Cúi xuống cho bóng đổ dài/ Cho xót xa mặt trời/ Cho da
thơm trên người nay cũng phôi pha
Làm người đừng bao giờ cúi xuống vì danh lợi mà cầu cạnh nhưng làm người hãy
“cúi xuống để biết lòng đau, ngước lên để nhận lấy câu nghĩa tình”. Một giá trị nhân
văn trong khúc huyền ca Ngày đang mở sáng đáng ghi nhận. Nó độc đáo.
Ước mơ một chân trời tươi sáng, một không gian sạch trong, một cuộc sống chở
đầy mộng lành không của riêng ai, khúc huyền ca Ngày đang mở sáng đang “khai môn”
cuộc đời. Nó chờ đợi ngày mới: Ánh sáng nơi nơi toả dạng/ Vang ca sự sống ngời sinh.

Tóm lại, giá trị nghệ thuật hay thẩm mỹ của trường ca Ngày đang mở sáng của
Trần Anh Thái đã kết thúc một bản trường ca về cuộc chiến với từng số phận con người
trước và sau chiến tranh. Đồng thời, nó mở ra một thi pháp mới cho văn học theo hai
chiều hướng: Đổi mới cách viết tức phương pháp đã nói ở các phần trên và đổi mới tư
tưởng. Một tác phẩm không tự trang bị cho mình một đôi cánh nhân văn thì nó sẽ mất
tính thời gian và bị đào mồ chôn mình. Thanh Thảo trong Ta ngạt thở chờ bước chân em
tới (toquoc.gov.vn) nói thực lòng về những câu thơ trong trường ca này: “Những câu thơ
không còn yếu đuối, không hề yếu đuối. Và tôi hiểu: tất cả chúng tôi đã bước qua một
thời kỳ khác, một anh hùng ca, một trường ca kiểu khác. Khác với chính chúng tôi, như
32 năm sau khác với 32 năm trước, dù sông Vệ hay Đình Cương vẫn còn: Nhưng ngay
những dòng sông và ngọn núi cũng đã khác. Người làm thơ nào không có những lúc
“ngạt thở chờ” những câu thơ tới. Không ai hình dung được gương mặt những câu thơ sẽ
tới, và đó chính là bí mật của thơ ca, bí mật của nghệ thuật”. Dương Kiều Minh cũng đã
“cảm nhận về tính hiện đại qua một số hình ảnh mang tính biểu tượng, tượng trưng, ẩn
dụ trong trường ca Ngày đang mở sáng” trong bài viết cùng tên. Người viết mới đã đành
mà cũng cần có người biết nhìn cái mới đó. Thi ca luôn luôn có những người bạn tri âm
là thế.
Thơ nói ít hiểu nhiều. Nói mà như không nói. Không nói như đã nói rồi. Người
thông minh liếc qua là hiểu ý. Kẻ trung bình đọc kỹ cũng thông. Chỉ có kẻ chẳng cùng
lòng mới không thông, không hiểu! Văn như óc. Thơ như tim. Tim có đập đưa máu lên
óc thì óc mới tinh tường. Óc tinh tường mới vẽ đường nhịp tim đập không loạn. Tim
chết trước. Óc chết sau. Cần nhau thế đó. Trường ca ở giữa óc và tim khi nó vừa sử dụng
tinh tuý của thi ca vừa hưởng thụ nét sắc bén của tự sự. Đó là tất cả những gì đã đang và
sẽ có của bản trường ca Ngày đang mở sáng.
Đây cũng là bản trường ca khai mở một hướng đi mới khi xây dựng những bức
tranh mang tính cách như những thông điệp hoà bình, khát vọng tự do và mưu cầu hạnh
phúc. Trong đó, các nhân vật, các ý tưởng, các giá trị tu từ, tính âm dương, cộng trừ tương
phản rõ ràng mỗi phân đoạn, mỗi khúc ca.
Sự thành công của tác giả trên hai mặt nội dung (xây dựng nhân vật có tính giáo
dục về nhân sinh quan lành mạnh, không ích kỷ và bon chen) và nghệ thuật (ý ẩn vào từ)

chính là biết lựa chọn phương pháp sáng tác mới (tách hẳn cái tôi ra ngoài tác phẩm để
lời bình luận, nhận xét dành cho độc giả, sử dụng hợp lý thơ ở ngoài lời). Cách sử dụng
thể loại thơ có chọn lọc, không ôm đồm và không chuyển tải quá nội dung trong từng
phân đoạn.
Sau hai trường ca Đổ bóng xuống mặt trời và Trên đường, khúc huyền ca Ngày
đang mở sáng trường ca mới nhất của Trần Anh Thái cùng nằm trong thể loại trường ca
nói trên mang tính nhân bản, đan chéo nhau giữa bi và tráng, giữa hoàng hôn và bình
minh.
Trường ca Ngày đang mở sáng có thể coi như một tác phẩm đánh dấu cho thi
pháp sáng tác mới trong thơ Việt Namhiện đại

×