Tải bản đầy đủ (.pdf) (68 trang)

So sánh kết quả điều trị phẫu thuật bệnh trĩ theo hai phương pháp longo và milligan morgan tại bệnh viện việt đức năm 2008-2009

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.42 MB, 68 trang )


1
ĐẶT VẪN ĐỀ

Trĩ là những cấu trúc bình thường ở ống hậu môn trực tràng. Bệnh trĩ là
tập hợp các bệnh lý có liên quan đến những thay đổi của mạng mạch trĩ và tổ
chức tiếp xúc mạng mạch này [3], [4], [16].
Bệnh trĩ là bệnh thường gặp tỷ lệ mắc bệnh cao. Bệnh tuy không nguy
hiểm nhưng gây khó chịu, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khoẻ và khả năng lao
động của cộng đồng. Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Nhâm và Nguyễn Xuõn
Hựng [15] cho thấy bệnh trĩ chiếm tỷ lệ 45% dân số, theo thống kê tại phòng
khám hậu môn học khoa tiờu hoỏ bệnh viện Việt Đức bệnh trĩ chiếm 45%
tổng số bệnh nhân đến khám [20] Đinh văn Lực (1987) cho biết bệnh trĩ
chiếm tỷ lệ 85% các bệnh lý ngoại khoa vùng hậu, trực tràng. Trên thế giới,
theo Goligher J.E (1984) hơn 50% số người ở độ tuổi trên 50 mắc bệnh trĩ [3]
[4] [20]. Tại Mỹ năm 1990 có 11 triệu lượt nguời đi khám bệnh trĩ
(JonhanSon). Điều trị bệnh trĩ cho đến nay có nhiều phương pháp như nội
khoa, thủ thuật, phẫu thuật, đông y. Phẫu thuật thường được sử dụng khi các
biện pháp điều trị bảo tồn (nôi khoa, đông y, thủ thuật) thất bại. Mục đích của
phẫu thật trĩ là triệt tiêu đường cấp máu đến và loại bỏ búi trĩ. Có nhiều
phương pháp phẫu thuật khác nhau đã áp dụng như: phẫu thuật cắt toàn bộ trĩ
vòng kiểu Whitehead (1882), và nhiều kỹ thuật cải tiến khác, phẫu thuật cắt
từng bũi trĩ của SalmonF (1890), phẫu thuật Toupet …Cỏc phương pháp trên
điều trị bệnh trĩ đạt hiệu quả cao nhưng còn để lại nhiều di chứng như chít
hẹp hậu môn, ỉa són sau mổ, thời gian phẫu thuật và nằm viện kéo dài. Hiện
nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam hai phương pháp điều trị phẫu thuật
bệnh trĩ được các phẫu thuật viên áp dụng chủ yếu là phẫu thuật Miliigan –
Morgan và phẫu thuật Longo. Mỗi phương pháp có những ưu thế riêng.

2
* Phương pháp phẫu thuật Milligan-Morgan. Được thực hiện trên thế


giới năm 1937 phẫu thuật cơ bản được mô tả bởi Mlligan E.T.C và Morgan
C.N.Dựa trên cơ sở giải phẫu thấy cỏc bỳi trĩ thường nằm quanh 3 nhánh của
động mạch trĩ trờn đó đưa ra phương pháp thắt và cắt 3 búi trĩ. Cỏc bỳi trĩ khi
thắt được cắt bỏ ở dưới nút thắt 1cm và được cố định vào cơ thắt trong để
ngăn ngừa sự co rút lên của vạt niêm mạc còn lại, phủ kín vùng mổ bị búc
tỏch. Phương pháp này đến nay còn được áp dụng rộng rãi trên Thế giới và ở
Việt Nam do kết quả điều trị tốt khỏi đạt 90% đến 95% tỷ lệ tái phát thấp
Nguyễn Đình Hối (1982) dưới 3% [4], Nguyễn Mạnh Nhâm (1993) dưới
7,5% Goligher (1984). Denis J. Beck D.E dưới 1%. Nhưng còn một số hạn
chế như đau sau mổ, thời gian nằm viện, thời gian phục hồi sức khỏe sau mổ
còn dài và còn một số di chứng như chít hẹp hậu môn, sún phõn…
* Phương pháp phẫu thuật Longo. Tháng 8/1998, phẫu thuật viên người
Italia, Antonia Longo đã trình bày tổng kết một phương pháp phẫu thuật để
điều trị bệnh trĩ tại hội nghị phẫu thuật nội soi quốc tế lần thứ 6 ở Rome với
nội dung cơ bản là cắt vòng niêm mạc, dưới niêm mạc trực tràng trên đường
lược 3cm nhằm kéo bũi trĩ và niêm mạc trực tràng sa trở về vị trí cũ, đồng
thời cắt đường máu tới bũi trĩ. Phẫu thuật Longo nhanh chóng được áp dụng
tại các cơ sở phẫu thuật do hiờu quả điều trị đạt 90-93% tỷ lệ tái phát thấp và
giải quyết được những hạn chế của phẫu thuật Mlligan –Morgan như đau ít
thời gian nằm viện,thời gian trở lại sinh hoạt bình thường ngắn. Tuy nhiên
việc theo dõi một cách hệ thống để so sánh về các mặt ưu, nhược điểm, chỉ
định, kinh tế, di chứng chưa được đề cập nhiều [4]. Nhằm nghiên cứu rõ hơn
về hiệu quả điều trị của hai phương pháp phẫu thuật trên. Chúng tôi thực hiện
đề tài: "So sánh kết quả điều trị phẫu thuật bệnh trĩ theo hai phương
pháp Longo và Milligan-Morgan tại bệnh viện Việt Đức năm 2008-2009"
với mục tiêu:
So sánh hiệu quả điều trị của hai phẫu thuật Longo và Milligan –
Morgan trong điều trị bệnh trĩ.

3

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. CƠ SỞ GIẢI PHẪU CỦA BỆNH TRĨ
1.1.1. Cấu trúc giải phẫu ống hậu môn
1.1.1.1. Giới hạn ống hậu môn.
Ống hậu môn có dạng hình trụ nằm ở vị trí giữa của đáy chậu sau, là
đoạn cuối cùng của ống tiờu hoỏ. Phía trên hợp với phần thấp của trực tràng
bởi một góc khoảng 90
o
, chạy xuống dưúi ra sau đổ ra da ở lỗ hậu môn tại
tam giác đáy chậu sau. Ống hậu môn có chiều dài 3-4cm, đường kính khoảng
3cm và thường xuyên kép dọc, đóng mở chủ động [7], [8], [13], [16], [21],
[23], [25], [27].
Suốt chiều dài của ống hậu môn có cơ bao bọc xung quanh,giới hạn
trên là bình diện cơ nâng hậu môn - giới hạn dưới là bó dưới da của cơ thắt
ngoài. Từ ngoài vào trong được cấu tạo bởi các lớp; cơ thắt ngoài >phức hợp
cơ dọc dài liên hợp > cơ thắt trong> cơ nâng hậu môn >các khoang tế bào >
lớp niêm mạc hậu môn [8].
1.1.1.2. Các lớp cấu tạo ống hậu môn.
* Cơ thắt ngoài.
Cơ thắt ngoài thuộc hệ cơ vân, chịu sự chi phối của thần kinh sống do
cỏc nhỏnh chậu của dây thần kinh cùng IV điều khiển chức năng co thắt ống
hậu môn, nờn cú vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ chế tự chủ của ống hậu
môn. Gồm hai bú, bú nụng ở dưới da và bú sõu [7], [8], [17], [25].
- Bú nông. Giới hạn trên là cơ thắt ngoài và bờ dưúi cơ thắt trong, đáy ở
phía da rìa hậu môn. Mặt ngoài tương ứng bú sõu, mặt trong tương ứng bờ

4
dưới cơ thắt trong và tách biệt bởi một vỏch cõn giữa cơ tạo nên rónh liờn cơ

thắt (đường trắng HiIton) [7], [8 ], [24 ], [25].
- Bú sâu là bó trắc khỏe,dày khoảng 20-30mm,phớa trờn đan xen chặt
chẽ với các sợi của bó mu trực tràng,phớa dưới tách biệt bởi một vách ngăn
quanh hậu môn hay còn gọi là cân Morgan [7], [8], [17].


Hình 1.1. Cấu trúc giải phẫu ống hậu môn
* Cơ thắt trong.
Là phần dày lên của lớp cơ vòng trực tràng chậu hông. Cấu trúc ống
dẹt, chiều cao trung bình 25-30mm chỗ dày nhất là 1,5-5mm, màu trắng ngà.
Cơ thắt trong chịu sự chi phối thần kinh thực vật [7], [8], [17].

5
* Cơ nâng hậu môn. Gồm hai phần: phần thắt và phần nâng .
- Phần thắt: Xòe ra như hình chiếc quạt gồm 3 bú (bú mu bám ở mặt
sau xương mu, bó ngồi bám ở gai hụng, bú chậu bám ở cân cơ bịt trong) Cả 3
bó đều chụm lại chạy hai bên trực tràng, tới sau hậu môn dính với nhau, dính
vào xương cụt tạo nên phên đan hậu môn – xương cụt [7], [8], [26].
- Phần nâng: Chỉ bám vào xương mu ở phía trên phần thắt,bỏm tận
bằng hai bó ở phía trước và phía bên hậu môn .Hai bó ở hai bên đan vào nhau
ở phía trước hậu môn .Bú bờn của hai bên đan vào lớp cơ của thành trực tràng
và bám vào bú sõu của cơ thắt ngoài
* Phức hợp cơ dọc: Nằm giữa cơ thắt ngoài và cơ thắt trong được tạo
nên từ dải cơ dọc của thành trực tràng, phần thấp được tăng cường bởi các sợi
cân cơ vân từ các tổ chức lân cận. Lớp này trên đường đi tỏa ra cỏc nhỏnh, cú
cỏc sợi qua cơ thắt trong, kết hợp với các sợi cơ niêm tạo nên dây chằng treo
niêm mạc hoặc gọi là dây chằng Parks cố định niêm mạc hậu môn vào mặt
trong cơ thắt trong [7], [8], [17].
* Các khoang tế bào (lớp dưới niêm mạc)
Giữa các niêm mạc hậu môn ở bên ngoài hình thành một khoang và

ngăn cách bởi dây chằng Parks tạo nên hai khoang tế bào: khoang dưới niêm
mạc và khoang dưới da.
* Khoang dưới niêm mạc. Được giới hạn phía trong là lớp niêm mạc
hậu môn, phía ngoài là mặt trong cơ thắt trong, phía dưới là dõychằng Parks.
Trong khoang này có chứa đám rỗi tĩnh mạch trĩ nội.
* Khoang dưới da: Nằm phía dưới khoang dưới niêm mạc, giới hạn trên
là vỏch liờn cơ và đáy dây chằng Parks, phía trong và phớa dưúi là da hậu
môn, trong khoang này có chưa đám rỗi trĩ ngoại [7], [17].

6
* Lớp cơ niêm: Lớp này phát triển một phần từ cơ thắt trong và một
phần từ những sợi đi qua cơ thắt trong của lớp cơ dọc dài. Cơ niờm cũn gọi là
cơ Treitz, có chức năng bảo vệ lớp lót hậu môn, ngăn chặn sự sa lồi của tổ
chức lớp lót ống hậu môn khi đại tiện .
* Lớp niêm mạc hậu môn: Thực chất đây là lớp niêm mạc chuyển tiếp
giữa lớp biểu mô tuyến của trực tràng và biểu mụ lỏt tầng sừng hóa của da
đáy chậu. Nói cách khác niêm mạc ống hậu môn là lớp biểu mụ lỏt tầng
không sừng húa cũn gọi là lớp niêm mạc Hermann [7], [8]. Tại đây có nhiều
các đầu tận cùng của thần kinh rất nhạy cảm, như cảm giác đau, nóng, lạnh
các chất lỏng chất hỏi chất đặc. Nếu nhìn từ trong ra ngoài có:
+ ẳ Trờn là lớp niêm mạc màu hồng nhạt giống như niêm mạc phủ
long trực tràng.
+ Tiếp theo đến vùng niêm mạc đỏ sẫm, ở dưới cú đỏm rỗi tĩnh mạch
trĩ nội.
+ Sau đó là vùng lược, cuối cùng là lớp da nhẵn, rồi đến lớp da có
tuyến bó, lụng.
1.1.1.2. Phân bố mạch máu của hậu môn - trực tràng.
* Động mạch cấp máu cho hậu môn - trực tràng: gồm 3 động mạch
+ Động mạch trực tràng trên (động mạch trĩ trên): Là nhánh tận của
động mạch trực tràng dưới, đóng vai trò chủ yếu cấp máu cho vựng hõu mụn

trực tràng. Động mạch này chia làm 3 nhỏnh: nhỏnh phải trước, nhánh phải
sau và nhỏnh trỏi bờn (tương ứng với vị trí 3 bó trĩ chính thường gặp trên lâm
sàng), tương ứng với sự mô tả của Mile (1919) 11h - 8h - 3h; [10], [11] Cỏc
nhánh này nối thông với nhau và nối thông với các tĩnh mạch qua các Shunt.

7
+ Động mạch trực tràng giữa (động mạch trĩ giữa): Động mạch trực
tràng giữa bên phải và bên trái xuất phát từ động mạch hạ vị, cấp máu cho
phần dưới của bóng trực tràng và phần trên của ống hậu môn [7], [8].
+ Động mạch trực tràng dưới (động mạch trĩ dưới): Động mạch trực
tràng dưới bên phải và bên trái xuất phát từ động mạch thẹn trong cấp máu
cho hệ thống cơ thắt, cỏc nhỏnh tận cấp máu cho 1/3 dưới hậu môn và vùng
da hậu môn.
* Tĩnh mạch
Lưu thông trở về cúa dòng máu từ hậu môn trực tràng song hành theo
các trục động mạch tương ứng và có sự thông thương qua hệ tĩnh mạch
cửa - chủ là loại tĩnh mạch không có van. Máu ở vùng hậu môn khi trở về
đổ về hai nơi.
- Vựng trờn: Cỏc tĩnh mạch trĩ trên nằm dưới niờm mạc,cú đỏm rỗi
tĩnh mạch tĩ trong nằm trên đường lược.Mỏu từ đám rỗi tĩnh mạchtrĩ trong
được dẫn về tĩnh mạch trực tràng trên qua tĩnh mạch mạc treo tràng dưới rồi
đổ về tĩnh mạch cửa .Khi đám rỗi tĩnh mạch trĩ trong giãn tạo nên trĩ nội
- Vựng dưúi: Cỏc tĩnh mạch vùng dưới da, cú cỏc tĩnh mạch trĩ ngoài.
Khác với đám rỗi tĩnh mạch trĩ trong, máu từ tĩnh mạch trĩ ngoài đổ về tĩnh
mạch mảcteo tràng dưới. Khi đám rỗi tĩnh mạch này giãn tạo nên trĩ ngoại.
Hai đám rỗi này được phân cách bởi dây chằng Parks. Khi dây chằng
này thoái hóa, mất độ bền chắc sẽ chùng ra, hai đám rỗi này nằm sát nhau, trĩ
nội sẽ liên kết với rĩ ngoại tạo nên trĩ hỗn hợp. Khi trĩ hỗn hợp to ra không
nằm riêng lẻ nữa mà liên kết với nhau tạo nên trĩ vòng.


8

Hình 1.2. Phân bố mạch máu của hậu môn - trực tràng
1.1.1.3. Thần kinh chi phối hậu môn -trực tràng.
Trực tràng được chi phối bởi thần kinh sống và thần kinh tự chủ [8 ]
* Thần kinh sống: Có dây thần kinh hậu môn tách ra từ dõy cựng III và
cùng IV qua khuyết hông lớn, ra mông chui qua khuyết hông nhỏ vào hỗ ngồi
trực tràng. Chi phối vận động cho cơ thắt vân hậu môn và cảm giác da vùng
xung quanh hậu môn.
* Thần kinh tự chủ: Cú cỏc sợi tách ra từ đám rỗi hạ vị và cỏc nhỏnh
tỏch ở đám rối giao cảm, quây ở xung quanh động mạch chậu trong và động
mạch hạ vị.

9
- Các sợi giao cảm ở đám rối hạ vị, tách phần lớn ở hạch giao cảm thắt
lưng đi theo động mạch.
- Các sợi phó giao cảm bắt nguồn từ hai nơi
+ Các sợi tận cùng của dây thần kinh X đi qua mạc treo tràng dưúi qua
dõy cựng trước và dây hạ vị đi xuống .Cỏc nhỏnh này chi phối và vận động và
chỉ huy việc tiết dịch ở trực tràng
+ Các dây cương tách ở đoạn cùng của tủy sống và mượn đường đi cúa
rễ trước dây thần kinh sống cùng III, IV và cùng V tới đám rối hạ vị chi phối
cho các tạng tiết niệu và sinh dục,thần kinh của trực tràng và các tạng sinh
dục,tiết niệu cựng tỏch từ đám rỗi hạ vị có liên quan với nhau.Do đó một số
phẫu thật ở hậu môn trực tràng sẽ gây nên các rối loạn về tiểu tiện bởi ảnh
hưởng chi phối của đỏm rúi thần kinh tự chủ.
1.1.2. Cấu tạo mô học của ống hậu môn.
1.1.2.1. Cấu tạo mô học của lớp niêm mạc
Theo Parnaud (1985) và Sarler (1991). Cho rằng ống hậu môn được che
phủ bởi lớp niêm mạc chuyển tiếp giữa phần biểu mô tuyến của trực tràng và

biểu mụ lỏt tầng sừng húa cỳa da tầng sinh môn. Giới hạn cúa ống hậu mon từ
đường hậu môn - trực tràng tới đường hậu môn da. Đường lược phân chia
ống hậu môn làm hai phần
- Phần trên van: Niêm mạc có màu đỏ sẫm có cấu trúc tế bào giống lớp
liên bào trụ của trực tràng. Ở dưới cú đỏm rúi trĩ nội.
- Phần dưới van: Là lớp tế bào biểu mụ khụng sừng hóa, không có tuyến
bã và nang lông gọi là niêm mạc Herman. Ở dưới cú đỏm rối trĩ ngoại. Lớp tế
bào biểu mô giả da từ đường lược đến hậu môn được chia làm hai vùng.

10
+ Vùng lược (vựng Pờnten): Nằm giữa rónh liờn cơ thắt và đường lược,
chiều cao khoảng vài minimột, niêm mạc nhẵn bóng, mỏng màu xám xanh ít
di động do cố định bởi dây chằng treo niêm mạc trực tràng (dây chằng Parks)
và cơ tròn trong.
+ Vùng da: Ở phần trên da nhẵn bóng khong có tuyến và lông, tiếp theo
là phần da ở tuyến dưới có tuyến và lông nối tiếp với da tầng sinh môn.
Ranh giới giữa hai vùng là đường trắng Hilton (1863), còn gọi là rónh
liờn cơ thắt, có màu xanh lam, sờ nắn dễ phát hiện được khi khám.
Niêm mạc Hermann có cấu trúc từ 3 - 6 lớp tế bào. Vùng này rất nhiều
các đầu mút thần kinh là các thụ thể cảm giác tự do (Meissner, Golgi,
Paccini, Krauss). Đó là các thụ thể cảm giác xúc giác với các tác nhân như
đau, nóng, lạnh và áp lực. Nhận cảm được các chất chứa trong lòng ruột là
hơi, phân lỏng, phân đặc. Vùng niêm mạc tuyến của ống hậu môn rất nghèo
nàn các đầu mút thần kinh cảm giác và thụ thể nhận cảm (2,17).
1.1.2.2. Mạch máu ở lớp dưới niêm mạc hậu môn.
* Hệ động mạch: Theo Miles! (1919) mô tả động mạch trực tràng trên
với cỏc nhỏnh nối các mạch ngang rất phong phú, phân bố ở lớp dưới niêm
mạc. Các động mạch khác chỉ là thứ yếu. Có nhiều nhánh nối giữa động mạch
trực tràng trên và các động mạch phụ khác tạo nên đám rối phong phú không
chỉ ở ngoài trực tràng mà còn ở cả lớp dưới niêm mạc ống hậu môn. Một đặc

điểm nữa được phát hiện trên tiêu bản ăn mòn (corrosion) là cỏc nhỏnh động
mạch trực tràng trên trước khi phân tỏa ở lớp dưới niêm mạc hậu môn đã hợp
thành các trục mạch chính, thường là 3 trục trùng với vị trí 3 búi trĩ chính.
* Hệ tĩnh mạch: Máu tĩnh mạch được dẫn về theo ba trục chính song
hành theo các trục động mạch. Một trục trên là tĩnh mạch trực tràng trên đổ về
tĩnh mạch cửa, hai trục giữa và dưới bao gồm các tĩnh mạch trực tràng giữa,
dưới và (tĩnh mạch cùng) đổ về hệ tĩnh mạmh chủ.

11
Xuất phát cúa 3 trục tĩnh mạch này là 3 đám rỗi tĩnh mạch: Đám rỗi
tĩnh mạch quanh bóng trực tràng và quanh cơ thắt, đám rối tĩnh mạch dưới
niêm mạc ống hậu môn (đám rối trĩ) và sau cùng là đám rối tĩnh mạch
dưới da.
Gần đây người ta chứng minh rằng hiện tượng gián tĩnh mạch là bình
thường và thấy ỏ trẻ em mới sinh. Đám rối tĩnh mạch này chủ yếu đổ về tĩnh
mạch trĩ trên.
* Các nối thông động tĩnh mạch
Thomson (1975) chứng minh và khẳng định là có sự thông thương giữa
các động mạch và tĩnh mạch ở mạng mạch trĩ. Các nối thông này khác với các
(shunt) động tĩnh mạch do Masson mô tả trong hệ thống tuần hoàn mao mạch.
Toàn bộ hệ thống động tĩnh mạch đựoc mô tả ở đây nằm lớp dưới niêm mạc
trong một hệ thống thể hang và chịu sự điều khiển của thần kinh thực vật
Soullard (1975) cho rằng hiện tượng chảy máu trong bênh trĩ do đám rối tuần
hoàn tại chỗ của các nối thông động tĩnh mạch này chứ không phải do giãn
tĩnh mạch [4], [8].
1.1.2.3. Cấu tạo mô học của lớp niêm mạc
Kết quả những nghiên cứu gần đây đã khẳng định một sú vấn đề về cấu
trúc đặc biệt lớp dưới niêm mạc hậu môn là mô liên kết không có chứa tuyến.
Tại đây có nhất nhiều những mạch máu, những sợi thần kinh không chữa
Myelin. Có nhiều vi động mạch đứng riêng lẻ hoặc tập trung thành đám. Đặc

biệt là sự hiện diện của các khoang mạch lớn trông như những hồ chứa mỏu.
Cú 2 loại hồ máu: một loại thành mỏng đường viền đều, và một loại thành dầy
đường viền lồi lõm. Các khoang này tham gia vào chức năng điều hòa tuần
hoàn và lưu lượng máu tại đó, [14].


12
1.2. BẢN CHẤT CỦA TRĨ
Kết quả các công trình nghiên cứu về mạch máu và mô học cho thấy trĩ
là một cấu trúc mạng mạch bình thường được nhiều tác giả công nhận [4], [7].
Triez (1828) cho rằng trĩ có vai trò trong việc khép kín lòng ống hậu môn.
Thomson (1975) đã tìm ra lớp đệm hậu môn, chính là vị trí các bũi trĩ có độ
dầy không đều sắp xếp không đối xứng tại các vị trí (2h-5h-9h) tư thế quỳ gối
ngực. Trĩ tạo ra lớp đệm vùng hậu mụn.Khi lũng ống hậu môn rỗng, xẹp thỡ
cỏc bũi trĩ tạo thành chữ Y lộn ngược. Khả năng phồng xẹp cỳa cỏc khoang
mạch máu ở lớp dưới niêm mạc hậu môn là thể hiện khả năng điều hòa lưu
lượng máu như một ngã tư đường cỳa cỏ mạng tuần hoàn rộng lớn (Trên là hệ
cửa, dưới là đám rối niệu sinh dục, sau là các khoang tĩnh mạch xung quanh
và trong ống tủy, dưới là tĩnh mạch cơ chi dưới và tầng sinh môn). Sự sắp xếp
này là lý tưởng để lớp niêm mạc có thể thích nghi đựơc khích thước luôn thay
đổi cúa ống hậu môn. Như vậy các bũi trĩ không chỉ là cấu trúc bình thường
mà cũn cú ich lợi nữa. Trong một số điều kiện bệnh lý nào đó có một trục
động mạch bị tắc nghẽn chẳng hạn thì mạng mạch trĩ sẽ đóng vai trò bù trừ
mà bình thường vai trò này ít được biết đến. Khi mất khă năng bù trừ đó sẽ
sinh ra khủng hoảng mạch trĩ và xuất hiện triệu chứng chảy máu gặp trong
bệnh trĩ [7].
1.3. SINH LÝ HỌC CÚA HẬU MÔN
Chức năng sinh lý của ống hậu môn là đào thải phân, bằng động tác đại
tiện. Bình thường chức năng sinh lý cúa ống hậu môn là một hoạt động tự
chủ. Đại tiện, trung tiện là chức năng sinh lý đặc biệt quan trọng cúa ống hậu

môn. Chức năng tự chủ phụ thuộc vào: nhu động đẩy phân của đại tràng, sự
co giãn của bóng trực tràng, vai trò của hoành chậu hụng, bú mu trực tràng
cúa cơ nâng hậu môn (khi co gây gập góc giữa trục hậu môn và trực tràng).

13
Động tác tác rặn làm thẳng trục giữa ống trực tràng và ống hậu môn, cuối
cùng là sự đáp ứng cúa hệ thống cơ thắt hậu môn với kích thích về áp lực [2],
[7], [26].
Hệ thống cơ thắt đáp ứng với kích thích muốn đại tiện qua đường dẫn
truyền cảm giác nhờ các thụ thể nhận cảm nhận cỳa cỏc vựng khác nhau:
+ Từ niêm mạc da ống hậu môn đặc biệt ở vùng lược rất giàu cỏc mỳt
đoạn thần kinh, các tiểu thụ thể thụ cảm Meisner, Golgi, Paccini, Krauss. Các
thụ thể này nhận cảm có ý nghĩa với tác nhân đau, nóng, lạnh, áp lực và phân
biệt bản chất của chất rắn, lỏng, khí [7], [17], [27].
+ Từ vùng nối tiếp giữa đại tràng xích ma với trực tràng có cảm thụ
nhận biết về thể tích, áp lưc khi trực tràng bị căng dãn. Cảm giác có ý thức về
nhu cầu đại tiện cường độ và thời gian cảm giác phụ thuộc vào mức độ căng
dãn, áp lực cúa trực tràng [7], [17], [27].
Khi các yếu tố trên bị tổn hại cộng thờn với sự mất bù trừ cúa cơ thể
dẫn đến mất tự chủ hậu môn [10], [18] Cơ sở giải phẫu, mô học, sinh lý học
cúa hậu môn - trực tràng có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu sinh bệnh
học, chẩn đoán, điều trị bệnh trĩ.
1.4. SINH LÝ HỌC BỆNH TRĨ.
Thomson (1975) đã giải thích về nguồn gốc phát sinh cúa bệnh trĩ. Lý
thuyết về hiện tượng giãn mạch do tăng áp lực tĩnh mạch trĩ trên thực tế là
không hợp lý. Người ta thấy giãn tĩnh mạch hậu môn có cả ở trẻ sơ sinh là
một hiện tượng bình thường, đồng thời số người mắc xơ gan, tăng áp lực tĩnh
mạch cửa không bị bệnh trĩ nhiều hơn ở người khác. Lý thuyết phát sinh bệnh
trĩ là do loạn sản mạch máu cũng không còn cơ sở. Tương tự lý thuyết cho
rằng bệnh trĩ phát sinh từ sự viêm nhiễm cỳa cỏc tuyến Hermann – Desfosses

cũng không được chấp nhận [6], [11], [18].

14
* Thuyết tuần hoàn
Sự rối loạn điều hòa thần kinh động mạch gây phản ứng quá mức điều
chỉnh bình thường của mạng mạch trĩ. Vai trò cúa tế bào Rouget tại các nối
thông động tĩnh mạch liên quan đến rỗi loạn vận mạch.
* Thuyết cơ học
Hiện tượng trượt niêm mạc ống hậu môn căng giãn, đứt dần cúa dây
chằng Parks. Kết hợp với sự lỏng lẻo cúa lớp dưới niêm mạc cắt nghĩa các
hình thái giải phẫu, lâm sàng khác nhau cúa bệnh trĩ. Các hiện tượng tuần
hoàn chỉ là thứ phát do các cuống mạch bị xoẵn lại, co thắt cỳa cỏc cơ vòng
hậu môn. Hiện tượng này xảy ra cấp tính với các biểu hiện chảy máu, tắc
nghẽn mạch. Cũng có thể là mãn tính gây phù nề xơ hóa tổ chức liên kết, là
cơ sở tạo ra mức độ to nhỏ khác nhau cúa bũi trĩ.
Thực ra khó phân biệt vai trò của thuyết tuần hoàn hoặc thuyết cơ học
đâu là chính Rối loạn vận mạch, chảy máu trong bệnh trĩ là dấu hiệu đầu tiên
liên quan đến thuyết tuần hoàn.
1.5. CHẨN ĐOÁN, PHÂN ĐỘ VÀ PHÂN LOẠI TRĨ
1.5.1. Biểu hiện lâm sàng
Ba triệu chứng thường gặp:
- Ỉa máu tươi: thường biểu hiện ở các mức độ khác nhau như thành tia, rỏ
giọt, dính máu về phân hoặc giấy vệ sinh, nếu mất máu kéo dài gây tình trạng
thiếu máu mãn tính.
- Sa trĩ: Sa từng bó hay cả vòng trĩ khi đi ngoài hoặc gắng sức, búi trĩ sa
nặng nhẹ tùy mức độ có thể tự co được, phải dùng tay đẩy vào hậu môn, hoặc
sa tụt hẳn ra ngoài lỗ hậu môn. Sự sa của búi trĩ làm bệnh nhân khó chịu, đau
rát hậu môn, rỉ tiết dịch gây ẩm ướt, viờm loột hậu môn.

15

- Đau rát hậu môn: 15% số bệnh nhân có những đợt tắc mạch . Với một
trong ba hiện tượng sau.
+ Trĩ ngoại tắc mạch kích thước thường nhỏ đơn độc, nằm dưới da
hậu môn, đa số tự tiêu để lại miếng da thừa ở rìa hậu môn.
+ Trĩ nội tắc mạch: Hiếm gặp hơn, biểu hiện bằng những cơn đau dữ
dội trong ống hậu môn.
+ Sa trĩ tắc mạch: Đau rữ dội vùng hậu môn, khó có thể đẩy trĩ vào
lòng hậu môn, thường kèm theo phù nề nếu tiếp tục tiến triển sẽ hoại tử.
1.5.2. Phân độ trĩ
Phân độ trĩ có ý nghĩa trong việc đánh giá tổn thương và nghiên cứu chỉ
định điều trị. Tổn thương về lâm sàng và giải phẫu bệnh có nhiều tác giả phân
độ theo tiêu chuẩn của bệnh viện St Marks London có 3 mức độ:
Độ 1: Búi trĩ không ra ngoài cơ thắt ngoài.
Đô 2: Búi trĩ ra ngoài cơ thắt ngoài mỗi khi rặn hay đại tiện, nhưng sau đó
có thể đẩy vao được.
Độ 3: Búi trĩ sa lồi ra ngoài liên tục không tự co hay đẩy lên được .
Hiện nay phân độ trĩ được chia theo mức độ tổn thương lâm sàng và giải
phẫu được chia như sau [6], [7], [11], [18], [26].
* Trĩ độ I: Ỉa máu tươi chiếm 80-90%, ngứa khó chịu, khi soi hậu môn các
bũi trĩ cương tụ máu nhưng không bị sa tụt khi gắng sức, rặn ỉa.
* Trĩ độ II: Triệu chứng chính là ỉa máu tươi. Soi hậu môn thấy bũi trĩ lấp
ló ở hậu môn, tự co lên được khi ngừng rặn,kốm theo tiết dịch ẩm ướt ngứa
hậu môn.
* Trĩ độ III: Búi trĩ nội khá lớn tổ chức sợi cơ còn giữ được tính đàn hồi
nên chỉ sa khi rặn và phải lấy hết tay nhét bũi trĩ sa trở lại lòng hậu môn. Trĩ
độ III chảy máu ít hơn nhưng gây ẩm ướt mất vệ sinh.

16
* Trĩ độ IV: Búi trĩ khá to, không tự co nên được, thường xuyên ở ngoài
hậu môn gây ẩm ướt, đau chảy máu, cọ sỏt gõy xõy sỏt phù nề làm bệnh nhân

đau đớn.
1.5.3. Phân loại trĩ
1.5.3.1. Phân loại theo bệnh nguyên và bệnh sinh [10]
* Trĩ triệu chứng: Là hậu quả của một bệnh đã được biết rõ như, trĩ nội
trong hội chứng tăng áp lực tĩnh mạch cửa, ung thư trực tràng, phụ nữ có thai
… Do trĩ là một triệu chứng nên không được căn thiệp phẫu thuật.
* Trĩ bệnh: hay còn gọi là trĩ vô căn điều trị ngoại khoa chỉ đặt ra đối với
loại trĩ này.
1.5.3.2. Phân loại theo giải phẫu: [1], [8, [9].
Lấy đường lược làm mốc người ta phân ra:
* Trĩ nội: Trĩ nội được hình thành do giãn quá mức đám rỗi tĩnh mạch trĩ
trên, nằm ở khoang dưới niêm mạc, chõn cỏc bỳi trĩ ở trên đường lược, niêm
mạc của ống hậu môn phủ nờn cỏc bỳi trĩ. Tùy theo tổn thương trên lâm sàng
và giải phẫu bệnh trĩ người ta chia làm 4 độ như đã trình bày ở trên.
* Trĩ ngoại: Trĩ được hình thành do giãn quá mức đám rỗi tĩnh mạch trĩ
dưới, nằm ở khoang cạnh hậu môn dưới da, chõn cỏc bỳi trĩ bao giờ cũng ở
dưới đường lược.
* Trĩ hỗn hợp: Trĩ nội nằm ở trong ống hậu môn, trĩ ngoại nằm ở ngoài
ống hậu môn. Chúng phân cách nhau bởi đường lược. Ở vùng lược niêm mạc
dính chặt với mặt trong cơ thắt trong bởi dây chằng Parks. Dây chằng Parks là
những sợi xơ - cỏ đi từ mặt trong của cơ thắt lưng trong đến bám vào niêm
mạc ống hậu môn. Khi dây chằng bị thoái hóa keo nhẽo không đủ sức phân
cách trĩ nội và trĩ ngoai. Chúng hợp lại với nhau trở thành trĩ hỗn hợp [7] [17].

17
* Trĩ vòng: Lúc đầu cỏc bỳi trĩ nội cũng như cỏc bỳi trĩ ngoại nằm phân
cách nhau ở 3 vị trí; phải trước, phải sau và và trái về sau cỏc bỳi tĩ nội và
ngoại hợp nhau tạo thành trĩ hỗn hợp. Cỏc bỳi trĩ hỗn hợp xuất hiện to dần lên
và giữa các bũi trĩ lại xuất hiện những búi trĩ phụ làm chúng liên kết nhau, tạo
một vòng tròn trĩ gọi là trĩ vòng (Circular hemorrhoids) Trờn vũng trĩ có chỗ

to chỗ nhỏ, giữa chúng là các ngấn nông hay sâu [7], [17].
1.6. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ TRấN THẾ GIỚI.
Các phương pháp điều trị bệnh trĩ bao gồm; điều trị nội khoa, điều trị
bằng thủ thật, điều trị phẫu thuật. Tất cả các phưong phỏp trờn được xếp
thành 2 nhóm là điều trị bảo tồn và điều trị tiệt căn.
1.6.1. Điều trị nội
Điều chỉnh chế độ ăn, ăn uống nhiều chất xơ gỳp phòng ngừa táo bón
và làm giảm triệu chứng của bệnh trĩ.
Dựng các thuốc điều hòa lưu thông ruột, tránh táo bón, trỏnh cỏc đợt ỉa
lỏng. Thuốc làm dịu các rỗi loạn thần kinh thực vật và các căng thẳng thần
kinh. Thuốc làm vững bền thành mạch. Thuốc chống viêm chống phù nề
trong trường hợp có biến chứng. Thuốc bôi và đặt tại chỗ.
1.6.2. Điều trị thủ thuật
* Tiêm xơ búi trĩ: Theo Golinger (1984) người đầu tiên thực hiện
phương pháp này là Morgani (1869) ở Dublin. Năm 1916 Terll tường trình
kết quả tiêm xơ húa bỳi trĩ với 128 bệnh nhân trĩ trong vòng 3 năm và mô tả
rõ phương pháp tiêm. Cơ sở của phương pháp này là đưa thuốc vào tổ chức
dưới niêm mạc, các thuốc sẽ kích thích gây phản ứn xơ húa. Cỏc thuốc sử
dụng như: Persulfate sắt, Salycilat Natri cồn 70%, Dung dịch Phenol 5%,
dung dịch Kinurea, Polidocanol…Phương pháp này được chỉ định cho trĩ độ
I, độ II chảy máu [23].

18
* Thắt trĩ bằng vòng cao su:
Blaisdell (1963) đã thành công với việc chỉ thắt búi trĩ không có lẫn da
và cỏc mụ xung quanh
Barron (1963) đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau đó
với dụng cụ cải tiến cúa Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ vòng coa su thành
một phương pháp điều trị . Với cơ sở cỏc vũng cao su sẽ thắt nghẹt gốc búi trĩ
gây thiếu máu và hoại tử, búi trĩ sẽ rụng sau 5-7ngày. Chỉ định thắt cho các

trường hợp trĩ nội mà cỏc bỳi trĩ còn nằm riêng biệt nhau.
* Nong hậu môn: Lord (1968) đó dựng phương pháp này để điều trị trĩ
độ III.
1.6.3. Điều trị bằng các liệu pháp vật lý.
* Liệu pháp lạnh: Lewiss áp dụng năm 1973. Chất làm lạnh bằng nitơ
lỏng hay protoxyt nitơ.Với nhiệt độ thấp làm kết tinh nước ở khu vực ngoài
tế bào. Sự kết tinh nước làm mạch máu bị tắc nghẽn gây hoại tử sau 2-3 tuần
* Đốt tia hồng ngoại: Phương pháp này được Neiger mô tả năm 1979. Tia
hồng ngoại làm cho mạch máu trong búi trĩ đông lại, chỉ định với trĩ độ I, độ II.
* Liệu pháp đốt điện: Dùng một cực hoặc hai cực điện cực ỏp lờn gốc
búi trĩ, tăng dần diện cực lên 16mA, do tác dụng của nhiệt máu trong búi trĩ sẽ
đông lại và rụng đi.
* Chiếu tia laser Nd-YAG hoặc laser CO2 và dòng điện cao tần
1985 báo cáo của YuJC và Eddy HJ dùng laser mổ trĩ.
Senagore và cộng sự thực hiện chiếu tia laser cho 51 bệnh nhân kết quả
giảm sẹo giảm nhiễm trùng [6].
* Thắt mạch trĩ qua siêu âm Doppler: Kazumasa Morinaga (1985) dùng
siêu âm Doppler hướng dẫn để nhận diện mạch máu cung cấp cho cỏc bỳi trĩ
rồi khâu lại.

19
1.6.4. Điều trị phẫu thuật
1.6.4.1. Các phẫu thuật cắt từng búi trĩ riêng rẽ
* Phẫu thuật Milligan-morgan (1937) Cắt bỏ một cách hệ thống 3 búi
trĩ với phẫu tích cao và thắt ở cuống hoặc ở các trục mạch. Để lại cầu da và
niêm mạc sẽ tái tạo lại ống hậu môn sau này và tránh biến chứng hẹp hậu môn
[5], [18].
* Phẫu thuật Ferguson (1959): Cắt bỏ cả 3 búi trĩ nhưng sau đó khõu
kớn niêm mạc ở ống hậu môn.
* Phẫu thuật Parks (1956): Rạch niêm mạc ống hậu môn từ trong ra

ngoài theo hình chữ Y lộn ngược, phẫu tích cắt bỏ búi trĩ sau đó khâu phủ lại
niêm mạc trong ống hậu môn [5].
1.6.4.2. Các phẫu thuật cắt toàn bộ vòng trĩ
* Phẫu thuật Longo trong điều trị trĩ là cắt vòng niêm mạc, dưới niêm
mạc trực tràng trên đường lược 3cm. Nhằm kộo bỳi trĩ và niêm mạc sa trở về
vị trĩ cũ, đồng thời cắt nguồn máu tới búi trĩ. Tác giả đưa ra ý tưởng này thực
hiện đầu tiên là Antonio (1993) nhưng đến 1998 mới chính thức công bố kết
quả. Năm 2003 nhóm tác giả Corman và cộng sự cho biết. Thế giới thống
nhất thuật ngữ (Stapled hemorrhoidopexy) cùng nghĩa với kỹ thuật Longo.
- Chỉ định: Trĩ độ III độ IV, Trĩ độ II điều trị các phương pháp khác
thất bại, trĩ kèm theo những bệnh vùng hậu môn khác cần phẫu thuật như (nứt
kẽ, da thừa, rò, u nhú, tắc mạch, sa niêm mạc trực tràng …).
* Phẫu thuật Whitehead (1882): Lấy toàn bộ búi trĩ và niêm mạc ống
hậu môn bằng 4 đường rạch da dọc theo truc hậu môn. Sau đó đính niêm mạc
phần trực tràng lành với da hậu môn.
* Phẫu thuật Toupet.A (1969): Trong điều trị trĩ vòng và được cải tiến
từ phẫu thuật Whitehead, nhưng giữ lại niêm mạc hậu môn, tránh lộ niêm mạc
trực tràng .

20
1.7. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH TRĨ TRONG NƯỚC
1.7.1. Điều trị nội khoa
Từ sau đời nhà Trần thế kỷ XIV có danh y Tuệ Tĩnh đã mô tả bệnh trĩ
và các bài thuốc nam để chữa bệnh trĩ trong cuốn Nam dược thần học.
Thế kỷ thứ XVIII, danh y Lê Hữu Trác (1720-1790) trong bộ sách Hải
Thượng Y Tụng Thụng Lĩnh cũng đề cập đến bệnh trĩ (1).
Đỗ Đức Vân (1996) Sử dụng Daflon 500mg điều trị trĩ cấp tính.
Nghiên cứu của Trần Thị Hồng Phương điều trị trĩ nội độ I, II, III có
chảy máu bằng cao trĩ kết quả cầm máu tốt đạt 96,4% sau 6 tháng không thấy
tái phát.

Hoàng Đỡnh Lõn (2004) đánh giá Bột ngâm trĩ dùng sau mổ trĩ kết quả
tốt 83,3%.
1.7.2. Điều trị thủ thuật
Nguyễn Mạnh Nhâm (1993) đã sử dụng phương pháp thắt trĩ bằng dụng
cụ theo phương pháp Barron cho bệnh nhân trĩ độ I, II, III nhỏ với kết quả trĩ
rụng sau 4 - 5 ngày là 80%, điều trị bằng thắt vòng cao su cho kết quả tốt
94,4% khỏi [18].
Nguyễn Xuõn Hựng (1999) điều trị trĩ bằng phương pháp tiêm xơ với
Kinurea 5% cho trĩ độ I, II, III kết quả cầm máu đạt hơn 80% [9].
Dương Phước Hưng và cộng sự (2004) điều trị bằng phương pháp
quang đông hồng ngoại cho 94 bệnh nhân trĩ độ I, II, III kết quả tỷ lệ búi trĩ
thu nhỏ 77%. Phương pháp thắt vòng cao su trên 499 trường hợp, biến chứng
sau thắt thấp 5,8% phải thắt lại không có trường hợp nào phải chuyển mổ do
chảy máu.

21
1.7.3. Điều trị bằng phẫu thuật.
- Nguyễn Đình Hối (1982) điều trị trĩ bằng phẫu thuật cắt bỏ riêng lẻ
từng búi cho 378 bệnh nhân, kết quả khỏi 85% tái phát 3% Không hoàn toàn
khỏi 12% [4].
- Lờ Xuân Huệ và Đỗ Đức Vân (1998) điều trị trĩ vòng theo phương
pháp Toupet cho 47 bệnh nhân kết quả xa sau mổ đạt tỷ lệ tốt 94% không có
kết quả xấu và di chứng nặng nề sau mổ.
- Trần Công Duyệt (1994) cụng bú kết quả trĩ bằng laser CO2 kết quả
tốt đạt 82,6%.
- Đinh Văn Lực (1987) áp dụng phương pháp cải tiến cho trĩ vòng
vành khăn độ II,III. Áp dụng cho 590 bệnh nhân ở Viện y học dân tộc, kết
quả 99% khỏi.
- Nguyễn Văn Xuyên (1991) phẫu thuật cắt toàn bộ trĩ vũng cú sử dụng
dụng cụ làm vòng cải tiến. Kết quả sau mổ không gặp biến chứng nặng phải

mổ lại. Tỷ lệ tốt và khá 87,3%, Trung bình 12,7%.
- Thông báo của Trịnh Hồng Sơn và cộng sự (2005) về kết quả bước
đầu trong điều trị trĩ bằng phẫu thật Longo thực hiện ở bệnh nhân trĩ nội,
ngoại độ III, IV cả mổ phiên và mổ cấp cứu do sa trĩ tắc mạch [22], [23].
- Triệu Triều Dương và cộng sự (2005) đã báo cáo kết quả sớm trong
điều trĩ. Nội độ III và độ IV tại bệnh viên TWQĐ 108 [3], [4].
- Triệu Triều Dương (2006). So sánh kết quả điều trị trĩ độ III và IV
của phẫu thuật Longo và phẫu thuật Milligan - morgan [5].
- Trần Khắc Nguyên nghiên cứu (2004) Đánh giá kết quả phẫu thuật
Milligan - Morgan trong điều trị bệnh trĩ tại bệnh viện Việt Đức.
- Nguyễn Hoàng Diệu (2007) nghiên cứu chỉ định và đánh giá kết quả
điều trị bệnh trĩ bằng phẫu thuật Longo.

22
Điểm lại tình hình điều trị bệnh trĩ bằng phương pháp phẫu thuật ở
nước ta cho thấy áp dụng phẫu thật ở nước ta cũn ớt, chủ yếu các cơ sơ vẫn áp
dụng những phẫu thuõt kinh. Kết quả điều trị của cá phương pháp cho thấy
được những ưu điểm những tồn tại. Đó là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu
ứng dụng phương pháp mới trong phẫu thuật nhằm giản thiểu các biến chứng,
di chứng sau phẫu thuật.









23

CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG
Nghiên cứu được tiến hành trờn cỏc bệnh nhân bị bệnh trĩ được điều trị
phẫu thuật theo phương pháp Milligan-Morgan và phương pháp Longo tại
bệnh viện Việt Đức từ (1/8 2008 đến 30/8/20009).
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân vào nghiên cứu
- Tuổi từ 18- 70
- Giới: nam, nữ
- Trĩ độ III, trĩ độ IV có thể kèm trĩ tắc mạch, nứt kẽ hậu môn, da thừa
hậu môn, polip hậu môn.
2.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh
* Cơ năng : gồm 3 triệu chứng chớnh
- ỉa mỏu tươi
- Sa trĩ
- Đau đột ngột vùng hậu môn
* Thực thể : chủ yếu chẩn đoán qua soi ống hậu môn trực tràng
- Trĩ độ III : Bũi trĩ sa khi rặn ,phải dùng tay đẩy lên
- Trĩ độ IV : Bũi trĩ sa thường xuyên, cả khi trường hợp sa trĩ tắc mạch.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân mắc các bệnh phối hợp như: xơ gan, suy tim, tăng áp lực
tĩnh mạch cửa, suy thận, viêm trực tràng, ung thư trực tràng, rò hậu môn, áp
xe hậu môn, Rectocel.

24
2.1.3. Số lượng bệnh nhân
Dựa theo công thức:
 
2

21
2
221111
)PP(
)P1(P)P1(Pz)P1(P2z
n





P
1
: tỷ lệ đau rất nhiều sau mổ phương pháp Milligan-Morgam là 40%
P
2
: tỷ lệ đau rất nhiều sau mổ phương pháp Longo là 10%
Z
1-
: giá trị thu được từ bảng tớnh
: mức ý nghĩa thống kê y học thường được sử dụng  - 0,05 tương
đương với độ tin cậy là 95%.
1- : độ tin cậy của (test) là 90%
n: là số bệnh nhõn cần nghiên cứu của mỗi nhúm
Từ công thức trên suy ra số lượng bệnh nhõn cần cho nghiên cứu của
mỗi nhúm là 34.
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Thử nghiệm lâm sàng mô tả có nhúm chứng
Nghiên cứu tiến cứu: Quan sát mô tả, cú nhúm chứng số bệnh nhân

nghiên cứu được chọn từ nhóm bệnh nhân mắc bệnh trĩ được điều trị phẫu
thuật tại bệnh viện Việt Đức bằng phương pháp Milligan-Morgan và phương
pháp Longo từ 1/8/200 8 đến 30/8/2009.
2.2.2. Các bước tiến hành
- Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được chẩn đoán và phẫu thuật 1trong 2 phương
pháp Longo và Milligan –Morgan.
+ Nhóm A: nhóm bệnh nhân được phẫu thuật theo phương pháp
Miliigan-Morgan ( là nhóm chứng).
+ Nhóm B: Nhóm bệnh nhân được phẫu thuật theo phương pháp Longo
(là nhóm thử nghiệm).

25
- Mô tả đặc điểm bệnh của hai nhúm trước mổ
(đặc điểm lõm sàng , cận lõm sàng , tổn thương kốm theo chẩn đoán
xác định)
- Mô tả qui trình kỹ thuật chuẩn ( chuẩn bị ,thao tác )
- Ghi nhận diễn trong phẫu thuật.
- Ghi nhận diễn biến và các biến chứng trong thời gian hậu phẫu.
- Ghi nhận kết quả sau mổ.
- So sánh kết quả giữa hai nhóm.
2.2.2.1. Nội dung ghi nhận trước mổ:
- Tiền sử: bệnh tật, thời gian mắc bệnh trĩ và các phương pháp điều trị
trước khi được phẫu thuật.
- Ghi nhận triệu chứng lâm sàng.
- Ghi nhận thói quen sinh hoạt (uống rượu bia,hỳt thuốc lá, ăn gia vị cay
nóng …).
- Bệnh nặng phối hợp.
- Ghi nhận vị trí búi trĩ: Theo tư thế sản khoa, định vị vị trí theo chiều kim
đồng hồ.
- Ghi nhận số lượng búi trĩ.

- Ghi nhận các tổn thương khác kèm theo.
+ Nứt kẽ hậu môn.
+ Polip hậu môn.
+ Da thừa hậu môn.
+ Rỗi loạn tiểu tiện.
+ Tình trạng cơ thắt.
- Ghi nhận kết quả cận lâm sàng.
* Máu:
+ Phúm mỏu: O, A, B, AB.
+ Thời gian chảy máu, thời gian máu đông.

×