Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

Cảm thức lạc loài trong sáng tác của Thuận _2 docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (173.31 KB, 6 trang )

Cảm thức lạc loài trong
sáng tác của Thuận





Trong số các tác giả hải ngoại tạo được sự chú ý của dư luận từ sau đổi mới, Thuận
xuất hiện muộn nhưng nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình. Tu nghiệp tiếng
Pháp ở Nga từ thời cải tổ, sau lại định cư và tạo dựng sự nghiệp văn chương ở Pháp, điểm
nổi bật trong sáng tác của Thuận là những thể nghiệm, tìm tòi trong lối viết; cùng với đó,
là thức nhận về thân phận di dân, tha hương và lưu lạc như một căn cước cố hữu
(1)
. Chỉ có
điều, viết về di dân nhưng Thuận đã vượt ra khỏi mặc cảm tha hương, mặc cảm da vàng,
để đào sâu vào thân phận người mang tính phổ quát. Ở một khía cạnh nào đó, dưới ngòi
bút của chị, ranh giới giữa các lãnh thổ, quốc gia, thậm chí giữa các nền văn hoá được
đánh mờ đặng nổi bật một dụng ý nghệ thuật: khắc hoạ cảm thức lạc loài của con người
trong xã hội tiêu thụ
(2)
. Bài viết này, làm rõ dụng ý nghệ thuật ấy, từ đó, đi tìm thông điệp
nghệ thuật cũng như những đóng góp của Thuận cho đời sống văn học Việt Nam đương
đại.
Từ lạc loài trong tổ ấm
Gia đình, theo quan niệm truyền thống, luôn là tổ ấm được gắn kết bởi lòng yêu
thương, là chốn bình yên nhất cho mỗi cá nhân sinh ra, lớn lên và trở về sau những
thành công và cả những thất bại cay đắng nhất của chính mình. Gia đình luôn là nơi nuôi
dưỡng, tiếp sức, ươm mầm những hạt giống và nhân cách con người. Nhân vật của
Thuận không đơn thuần cảm nhận như vậy, thậm chí nó phát hiện ở gia đình - nơi trú xứ
bình yên nhất trong quan niệm thông thường - những điều ngược lại. Thuận đã tái dựng
những mô hình gia đình độc nhất vô nhị mà ở đó “tổ ấm” biến thành “tổ lạnh” bởi “hôn


nhân đồng nghĩa với những phép cộng sinh” theo như cách nói của Phạm Thị Hoài.
Với Liên (Pari 11/8), hình ảnh gia đình khá mờ nhạt, hầu như không được nhắc tới.
Người quan tâm đến Liên nhiều nhất và cũng là duy nhất trong nhà chính là anh trai. Khi
đang là Bí thư thứ 2 Thương vụ Việt Nam tại Xô-phi-a, anh luôn “viết thư hỏi tin tức học
hành của Liên, xong lại bắt Liên viết thư báo cáo” (3, 166)
(3)
, về phép không quên mua
quà cho em gái "một đôi mùi xoa và hoa hồng và ba quả táo tây" (3, 165). Liên tốt nghiệp
Đại học Mỏ địa chất, trong khi các bạn cùng trường dài cổ chờ việc thì anh đã lo cho cô
một chỗ làm trong Xí nghiệp giày vải Yên Viên. Anh cũng "không ngừng theo dõi đường
đi của em, xuống tận nơi để trao đổi với ban lãnh đạo" (3, 168). Về hưu, nghĩ đến Liên,
anh khóc. Hiếm có một người anh nào chu đáo, trọn vẹn như thế. Khi còn là sinh viên,
Liên đã cảm động trước sự quan tâm của anh. Nhưng tại sao, trong những năm tháng vật
vờ sống dở chết dở ở Pari, Liên không quay quắt nhớ về gia đình, không một lần viết thư
thăm anh chị, cũng không có ý định trở về dù cuộc sống đen sầm trước mắt. Bởi Liên đã
biết, đã hiểu sâu sắc cái giá của sự quan tâm ấy là gì? Đó chính là cách trả nợ sòng phẳng
của anh trai với Liên - thần nữ cứu mạng đời anh. "Liên không tin vào phép lạ. Nhưng anh
thì tin như con ngươi của mắt mình” (3, 168). Phép lạ ấy khiến anh trai Liên "một thằng
không đánh vần nổi hai câu tiếng Bun lại ngoi đúng Thương vụ Xô-phi-a", chưa một ngày
ra chiến trường lại được kết nạp Đảng, ngồi chưa ấm chỗ trưởng phòng đã lên ghế vụ phó
Ngoại thương, vụ lùm xùm với em út không tước mất chức vụ trưởng lại còn được đưa
lên hàng thứ trưởng Phép lạ ấy lá quẻ đền Trần chỉ rõ: "Quan lộ của anh có Liên là thần
nữ cứu tinh 24h/24" (3, 168). Nhờ Liên mà anh thăng tiến, biến dữ thành lành, đổi hoạ
thành phúc. Làm sao anh không quan tâm đến Liên cho được. Sự quan tâm ấy chấm dứt
khi Liên đặt chân lên máy bay sang Pháp. Món nợ cuối cùng xem như được trả hết, trả
xong cũng đồng nghĩa với việc sự quan tâm chấm hết. Nhận thức được bản chất của tình
anh - em, cũng là lúc Liên thấy mình không còn chỗ để trở về. Hà Nội hay Pari, ở đâu
cũng không có chỗ cho cô. Liên chọn cuộc sống lay lắt ở Pari, bởi dù sao, ở đây cô còn có
tình bạn với Pát. Liên không phải trả giá và cũng không cần ai trả giá cho một tình bạn
đơn giản, vô tư và chân thành.

Ngược về phía trước hành trình sáng tạo của Thuận, Chinatown cũng dựng nên
trước người đọc những mô hình gia đình phong phú và đặc biệt: gia đình của bố tôi và mẹ
tôi, gia đình của cậu mợ tôi, gia đình của hắn với Hêlen, gia đình của tôi và Loan (trong
tiểu thuyết I
'
m yellow), gia đình của tôi và Thuỵ, Dưới sự quan sát của tôi - nhân vật
chính, tất cả những mô hình gia đình này đều kỳ lạ và không sao hiểu nổi. Làm sao có thể
hiểu được khi trong tư cách một đứa trẻ, "tôi" thấy bố tôi với mẹ tôi luôn là một.
"từ thú vui hàng ngày (cả 2 đều thích ăn su hào luộc) đến tham vọng (trước là cái
bằng màu đỏ Liên Xô, sau là luận án cao học Pháp). Từ quan hệ gia đình (cả hai đều nể
cậu mợ tôi) đến quan hệ xã hội (cả hai đều thù ghét người Hoa) Từ lọ tăm đến chai nước
mắm, từ cái bô đến tiếng gáy song song” (2, 84)
Cụm từ "bố tôi, mẹ tôi" không phải là "bố mẹ tôi" được day đi dứt lại trong từng
trang ký ức được lật giở của tôi. "Bố tôi, mẹ tôi” luôn được đặt trong thế bình đẳng song
song, rõ ràng, mạch lạc. Họ là một gia đình nhưng là hai cá thể rã rời, không liên kết.
Những cái giống nhau không tạo nên sự đồng cảm, chia sẻ mà biến họ trở thành hai thanh
nam châm cùng dấu chứa lực đẩy mãnh liệt khi gần nhau.
"Chưa lần nào (chúng tôi nhấn mạnh - TĐNH) tôi được nghe bố tôi phát vào mông
mẹ tôi để mẹ tôi quát là đồ động cỡn. Chưa lần nào tôi được thấy mẹ tôi mặt mày xưng xỉa
vì bố tôi mải ngắm đôi đùi bà hàng xóm ( ) chưa lần nào nửa đêm tôi bị những tiếng hổn
hển đánh thức để chỉ cần hé mắt là có thể thấy mẹ tôi rung lên bần bật dưới sức nặng bốn
mươi lăm cân của bố tôi ( ). Chưa lần nào, chưa lần nào, từ khi tai tôi biết nghe, mắt tôi
biết nhìn, tai mắt tôi được dịp chứng kiến bố mẹ tôi chăm sóc cho mối quan hệ vợ chồng"
(2, 87).
Giống như cụm từ "bố tôi, mẹ tôi", "chưa lần nào" cũng trở đi trở lại như một điệp
khúc. Điệp khúc này khẳng định sự tồn tại phi lý của một mô hình có tên là tổ ấm. Có
thể được gọi là gia đình chăng khi ở đó hoang lạnh tình người và cũng không tồn tại
những khao khát bản năng nguyên sơ nhất, nơi con người không có sự hoà hợp về tâm
hồn và thể xác để thấy mình được thuộc về nhau.
Tôi - đứa con cứ lạc ra, trượt ra trong "tình yêu thương" của bố mẹ mình. Tôi chua

chát nhận ra "những cốc chè đỗ đen mẹ tôi tự tay nấu không phải để thưởng cho một điểm
10 toán mà để tôi tiếp tục ngày hôm sau mang về một điểm 10 vật lý, một điểm 10 thể dục
hay một điểm 10 của bất kỳ môn học nào khác", "những bộ óc lợn bố tôi xếp hàng từ sáng
đến chiều mới mua được không phải để thưởng cho một điểm 10 văn mà để tôi tiếp tục
ngày hôm sau mang về một điểm 10 lịch sử, một điểm 10 tập quân sự" (2, 61). Tôi có
nhiệm vụ chuyển "chè đỗ đen, óc lợn hấp nồi cơm" thành "những điểm 10, thành những
lời khen trong học bạ" (2, 62). Tôi âm thầm "ký" vào hợp đồng trao đổi với bố mẹ mình.
Nhưng tôi, mãi mãi không thể nào quên. Tôi không thể nào quên được "những cốc chè
nấu bằng kẹo mậu dịch vừa lợ vừa ngái, đỗ hầm nát như tương", tôi vẫn nhớ "những bộ óc
lợn để trong bát nhôm cho vào nồi cơm hấp, bao nhiêu muối vẫn thấy tanh" (2, 61). "Chè
đỗ đen, óc lợn hấp nồi cơm", "những điểm 10", bản hợp đồng đã ký ấy mãi mãi trở thành
nỗi ám ảnh kinh hoàng đối với "tôi".
Gia đình "tôi" không phải là một ngoại lệ trong xã hội. Bố mẹ "tôi" chính là bản
sao của ông bà nội tôi hai mươi lăm năm trước, cậu mợ tôi lại là một bản sao khác của bố
mẹ tôi. Bị ám ảnh bởi mô hình gia đình cộng sinh này, tôi đã thấy, đã đặt nhân vật của
mình trong tiểu thuyết I
'
m yellow vào một mô hình gia đình cũng không kém phần dị biệt.
Nhân vật tôi - hoạ sĩ, từng ký hai bản hợp đồng lớn trong đời. Năm năm đại học là
hợp đồng đầu tiên anh ta ký với bố mẹ ruột của mình. Trong đó anh ta chịu trách nhiệm về
tinh thần còn bố mẹ anh ta chịu trách nhiệm về vật chất. Đó là một thoả thuận khiến cả
"đôi bên đều hài lòng" (2, 45). Hợp đồng đó được thanh toán sòng phẳng sau năm năm
bằng chính tấm bằng tốt nghiệp đại học của anh ta để lại nhà bố mẹ. Hợp đồng lớn thứ hai
anh ta ký với Loan, cô cấp dưỡng đường sắt. Hợp đồng đó được ký kết ngay từ đêm tân
hôn, trong đó "Loan gánh vác bên tinh thần, còn tôi chịu trách nhiệm phần vật chất" (2,
44), đứa con gái ra đời sau đó đóng vai trò cảnh sát, luôn nhắc nhở bố mẹ không được
quên bổn phận của mình. Với tư cách là một người chồng, một người chủ động ký kết hợp
đồng, nhân vật tôi liệu có thoát khỏi trạng thái lạc loài? Năm năm chung sống chỉ mang
lại cảm giác "ghê tởm", luôn "âm thầm mong vợ tôi chết", khao khát "cô ấy biến khỏi
cuộc đời tôi, biến vĩnh viễn” (2, 50). Vì sao nhân vật "tôi" rơi vào cảnh ngộ này? Lẽ ra

anh ta có thể bằng lòng với mọt người vợ đảm đang, giỏi nắm bắt thị trường, giúp chồng
hái ra tiền nhờ hội hoạ, với một đời sống vật chất sung túc, một đứa con gái bụ bẫm,
Nhưng anh ta vẫn lạc lõng, vẫn bơ vơ, vẫn kiên quyết bằng mọi giá chấm dứt hợp đồng đã
ký. Tại sao? Có lẽ, là một nghệ sĩ, anh ta nhanh chóng nhận ra: cuộc hôn nhân này tước
bỏ của anh ta tự do (tự do trong lối sống và tự do trong sáng tạo). Anh ta không thể tiếp
tục sống theo yêu cầu của Loan, sản xuất tranh theo những đơn đặt hàng hàng loạt. Đánh
mất tự do đồng nghĩa với việc đánh mất mình.
Ở Vân Vy, hợp đồng hôn nhân được thay thế bằng những thoả thuận. Vy và Vượng
từ lâu đã thống nhất hàng tháng chỉ quan hệ hai lần để "đảm bảo chất lượng trứng và tinh
trùng". Sống với nhau đã bảy năm, Vy vẫn luôn bất ngờ mỗi khi Vượng vui vẻ: "Không
hiểu sao tối nay Vượng nhí nhảnh thế, hay Vượng mới kê được toa thuốc trẻ hoá đặc biệt"
(5, 69). Vy về Hà Nội hai tuần mà "Vượng thay đổi không ngờ, lúc nãy thì nhí nhảnh, bây
giờ lại hài hước, từ bếp còn toả ra một mùi thơm" (5, 231). Ngược lại, Vượng cũng không
mảy may bận tâm Vy sống thế nào trong hai tuần xa Vượng về Việt Nam. Thậm chí,
Vượng cũng không một lần gọi điện dù "chỉ nhịn hai mớ rau muống là được một thẻ năm
mươi phút về Hà Nội" (5, 151). Sự tồn tại hay vắng mặt của Vy với Vượng và ngược lại
không gây bất cứ một xáo trộn nào trong "ao đời" phẳng lặng của cả hai. Hôn nhân trở
thành sự gá kết tạm bợ những kẻ xa lạ dưới một mái nhà nên cá thể nào có ý thức về sự
tồn tại của mình đều thấm thía nỗi bất an và không tránh khỏi cảm giác lạc loài.
Đây là một mô hình khác mà tính dị biệt đạt đến đỉnh cao. Gia đình T và "tôi" (một
nhân viên kế toán người Pháp) trong T mất tích. Họ sống chung trong một căn phòng với
"hai chiếc giường cá nhân kê song song cạnh nhau" (5, 62) để "người này không làm
phiền người kia" (5, 62). Cuộc sống bình lặng và yên ổn. Họ ít giao tiếp với nhau đến nỗi
"tôi chưa bao giờ đọc đúng tên T", "tên riêng của tôi, T chưa gọi bao giờ", "các cuộc đối
thoại của chúng tôi trống không" (5, 57). Sự mất tích của T cũng không đem lại bất cứ xáo
trộn nào trong tâm hồn phẳng lặng của người chồng. Bởi anh ta nghĩ "T mất tích thì cảnh
sát cứ việc đi tìm" (5, 38). Làm sao “tôi” có thể nhớ T, nghĩ về T khi tên riêng của cô ấy
“tôi” cũng không phát âm đúng. Có cố gắng anh ta cũng không thể nhớ được một câu nói
hoàn chỉnh nào của T. Và chính anh ta cũng không hiểu nổi lý do nào đã khiến họ có thể
sống với nhau tới 6 năm liền. Một sự phi lý không sao hiểu nổi. Sợi dây ràng buộc bền

chắc nhất giữa các thành viên là tình yêu, tình thương, sự cảm thông, chia sẻ đã bị chặt
đứt từ lúc nào không hay. T mất tích phải chăng vì ý thức được sâu sắc sự lạc loài của
mình giữa gia đình? Quyết định mất tích của T chính là sự phủ nhận gay gắt đối với cái
gọi là tổ ấm.

×