Tải bản đầy đủ (.doc) (44 trang)

Cảm hứng lãng mạn trong sáng tác của nguyễn minh châu trước 1975

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (307.32 KB, 44 trang )

luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
Khoa NGữ văn
==========

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng
tác của nguyễn Minh châu trớc 1975
Khoá luận tốt nghiệp

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Vinh, 2005

lời nói đầu

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc 1975

1


luận văn tốt nghiệp

*** ***



Nguyễn Thị Hồng Bắc

Tiến hành nghiên cứu đề tài Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác
của Nguyễn Minh Châu trớc năm 1975, chúng tôi chỉ mong muốn đây lặ thể
hiện bớc đầu về phơng pháp nghiên cứu về một đặc điểm, một khía cạnh trong
những sáng tá của Nguyễn Minh Châu trớc 1975. Hy vọng rằng trong tơng lai
sẽ có nhiều công trình về Nguyễn Minh Châu công phu hơn về nội dung mà
chúng tôi nghiên cứu.
Xin tỏ lòng biết ơn đối với tập thể giáo viên khoa ngữ văn - Trờng Đại
học Vinh đà dày công giảng dạy, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình học tập để
việc nghiên cứu hôm nay đợc thuận lợi. Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận
tình của thầy giáo hớng dẫn Nguyễn Hữu Vinh đà giúp tôi triển khai và hoàn
thành tốt luận văn này.
Tuy nhiên, lần đầu tiên làm quen vói công việc nghiên cứu, xây dựng
một đề tài khoa học ở quy mô nh thế này thì chắc chắn khoá luận của chúng
tôi không tránh khởi những hạn chế thiếu sót. Rất mong nhận đợc những ý
kiến đóng góp bổ sung cho công trình này đợc đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
Vinh, ngày 01 tháng 05 năm 2005
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc 1975

2


luận văn tốt nghiệp


*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Thắng lợi vĩ đại của cuộc cách mạng tháng tám năm 1945 đà mở ra cho
đất nớc ta một kỷ nguyên mới : Kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xÃ
hội. Biến động lịch sử to lớn ấy đà kéo theo một cuộc cách mạng sâu sắc
trong đời sống văn học dân tộc và một nền văn học mới đà ra đời - nền văn
học nảy sinh và phát triển hoàn toàn trong phong trào cách mạng, một
phong trào quần chúng sôi nổi.
Giai đoạn văn học 1945 - 1975 ra đời trong hoàn cảnh đất nớc chiến tranh.
Một giai đoạn lịch sử có nhiều khó khăn, gian khổ, tàn khốc với nhiều mất mát
hy sinh và cũng có không ít chiến công vĩ đại. Và chính hoàn cảnh lịch sử đó
đà tạo ra một nền văn học cách mạng đạt đợc rất nhiều thành tựu to lớn, đóng
góp công lao vào công cuộc kháng chiến giải phóng đất nớc và xây dựng chủ
nghĩa xà hội. Điều này đà đợc khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IV của Đảng: Với những thành tựu đà đạt đợc chủ yếu trong việc phản
ánh hai cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, văn học nghệ thuật nớc ta xứng
đáng vào hàng ngũ tiên phong của nền văn học nghệ thuật chống đế quốc
trong thời đại ngày nay [1].
Trong nền văn học cách mạng này, các tác phẩm văn học đà phản ánh
một cách khá chân thực hiện thực cách mạng, xà hội Việt Nam nên mang
đậm yếu tố hiện thực. Tuy nhiên, yếu tố lÃng mạn cũng là một yếu tố làm
nên thành công cho những sáng tác của các nhà văn giai đoạn này. Yếu tố
hiện thực trong văn học cách mạng thì đà đợc đề cập khá nhiều tuy nhiên
yếu tố lÃng mạn còn ít đợc nói tới và đi sâu. Chúng tôi nghiên cứu đề tài
này để làm sáng rõ thêm về đặc điểm thứ hai trong những sáng tác văn học

trớc 1975.
1.2. Để hiểu rõ nền văn học cách mạng Vịêt Nam giai đoạn 1945-1975
chúng ta phải khảo sát tác phẩm của những tác giả tiêu biểu. Nhng do thời
gian và trình độ t duy còn hạn chế, ngời viết xin đi sâu nghiên cứu một tác
giả tiêu biểu của nền văn học thời kỳ này là nhà văn Nguyễn Minh Châu.

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác cđa Ngun Minh Ch©u tríc 1975

3


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Nguyễn Minh Châu có vai trò, vị trí rất quan trọng trong nền văn học dân
tộc đơng đại. Sáng tác của ông đợc mệnh danh là đỉnh cao của tiểu thuyết
chống Mỹ. Và trong những tác phẩm của Nguyễn Minh Châu viết trớc năm
1975 thể hiện rất nhiều vấn đề, trong đó có cảm hứng lÃng mạn.
1.3. Xuất phát từ tình cảm cá nhân đối với nhà văn Nguyễn Minh Châu.
Ông là một nhà văn quân đội nhng cũng là một ngời con xứ Nghệ mang
trong mình dòng máu truyền thống yêu nớc của ông cha. Là nhà văn tuyệt
đối trung thành với sự nghiệp giải phóng đất nớc, các sáng tác của Ngun
Minh Ch©u viÕt vỊ hai cc chiÕn tranh cøu níc vĩ đại đà khẳng định phẩm
chất yêu nớc, ý chí chiến đấu giữ nớc của các thế hệ ngời dân Việt Nam.
Với chúng tôi, thế hệ con cháu sau này tuy không còn có điều kiện đợc tiếp
xúc với nhà văn đợc nữa nhng qua lời kể của bạn bè ông, của những ngời
đà đợc gặp Nguyễn Minh Châu thì chúng ta có thể hình dung ra đó là một

con ngời đáng kính phục nh thế nào. Đặc biệt những sáng tác mà Nguyễn
Minh Châu để lại thì còn tồn tại mÃi mÃi và không bao giờ bị quên lÃng,
nh nhân cách của một nhà văn còn luôn trờng tồn. Nói nh nhà văn Nguyễn
Khải: MÃi mÃi nền văn học kháng chiến, cách mạng ghi nhớ những cống
hiến to lớn của anh Châu. Anh là ngời kế tục xuất sắc những bậc thầy của
nền văn xuôi Việt Nam và cũng là ngời mở đờng cho những cây bút trẻ đầy
tài năng sau này. Anh Châu là bất tử" , là “ Mét nghƯ sü lín cđa ®Êt níc,
mét ®êi trong sáng tác, trọn vẹn, không chút tì vết" [6,107].
1.4. Thiết thực hơn, việc chúng tôi chọn đề tài này để nghiên cứu bởi
Nguyễn Minh Châu cũng là một tác giả có những tác phẩm đợc đa vào
giảng dạy ở trờng phổ thông. Nghiên cứu đề tài này sẽ giúp cho bản thân
hiểu sâu sắc hơn, giảng đúng, giảng hay những tác phẩm của Nguyễn Minh
Châu trong nhà trờng.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Trong sự phát triển của nền văn học hiện đại Việt Nam, mảng đề tài về
cảm hứng lÃng mạn chiếm một vị trí quan trọng cả về chất lợng lẫn số lợng. Điều đó đà góp phần vào việc xác định diện mạo, thành tựu, sự tác
động xà hội và tính đặc thù của cả nền văn học dân tộc. Từ sau cách mạng
tháng Tám đến nay đà có nhiều bài viết khác nhau về Nguyễn Minh Châu

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Ch©u tríc 1975

4


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc


và các tác phẩm cụ thể của ông. Chúng tôi xin kể đến những bài viết đáng
chú ý sau:
- Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá - Hớng đi và triển vọng của
Nguyễn Minh Châu". (TB văn nghệ, H. 1970, S. 364).
- Tôn Phơng Lan - Nguyễn Minh Châu qua phê bình và tiểu
luận(TCVH, H.1993,S.6).
- ThiÕu Mai - “Tõ DÊu ch©n ngêi lÝnh tíi Những ngời đi từ trong
rừng ranghĩ về Nguyễn Minh Châu (Văn nghệ quân đội, H. 1983, S.4 ).
- Nguyễn Thanh Hùng " Cái đẹp và cái hay của Mảnh trăng cuối
rừng"(TC văn nghệ quân đội, H.1994, S.1).
- Phạm Gia Lâm - "Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu ở Liên Xô"
(TBVN, H.1989,S.50).
- Nguyễn Văn Hạnh - "Nguyễn Minh Châu những năm 80 và sự đổi
mới cách nhìn về con ngời" (TCVH, 1993, S.3).
- Hà Minh Đức - "Dấu chân ngời lính của Nguyễn Minh Châu" (Tác
phẩm văn học-phân tích và bình giảng, NXB văn học, 2001).
- Phan Cự Đệ - "Nguyễn Minh Châu một cây bút văn xuôi đầy triển
vọng" (TC văn nghệ quân đội, H.1973, S.1).
- LÃ Nguyên - Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới t
duy nghệ thuật (TCVH, H.1989, S.2).
- Nguyễn Kiên - "Đọc Những vùng trời khác nhau của Nguyễn Minh
Châu" (TC văn nghệ quân đội, H.1970, S.9).
- Hoàng Ngọc Hiến - "Đọc Nguyễn Minh Châu từ Bức tranh đến
Phiên chợ Giát (Sách văn học - học văn, H.1990).
- Song Thành - "Những cố gắng lần theo Dấu chân ngời lính của
Nguyễn Minh Châu" (Báo văn nghệ, 1972, S.466).
- Chu Văn Sơn - "Đờng tới Cỏ lau" (Báo văn nghệ, 1993, S.42).
- Tôn Phơng Lan - "Giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn
Minh Châu" (Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, NXB Khoa
học xà hội, H. 1999).

- Nguyễn Thị Minh Thái - ấn tợng về nhân vật nữ của Nguyễn Minh
Châu (TCVH, H. 1985, S.3).
- Ngäc Trai - “Sù kh¸m ph¸ về con ngời Việt Nam qua truyện ngắn"
(Văn nghệ quân đội, H. 1987, S. 10).
- Nguyễn Văn Bính - "Vẻ đẹp nhân vật Nguyệt và nghệ thuật xây dựng
nhân vật của Nguyễn Minh Châu" (Tập san văn học và tuổi trẻ, tập 32).

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác cđa Ngun Minh Ch©u tríc 1975

5


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

- Phạm Quang Long - Thái độ của Nguyễn Minh Châu đối với con
ngêi niỊm tin pha lÉn víi ©u lo” (TCVH, 1996, S.9).
- Trần Trọng Đăng Đàn - "Từ Dấu chân ngời lính nghĩ đến những cuốn
tiểu thuyết xứng đáng với dân tộc, với thời đại" (TCVH, 1974, S. 3).
- Nhiều tác giả - "Trao đổi về truyện ngắn những năm gần đây của
Nguyễn Minh Châu" (Văn nghệ, H.1985, S.27 và S.28).
- Trung Dũng - "Đọc Dấu chân ngời lính" (Báo nhân dân, chủ nhật
10/12/1972).
Trong số các bài viết kể trên đây có khá nhiều tác giả đề cập đến các tác
phẩm của Nguyễn Minh Châu viết theo cảm hứng lÃng mạn. Đáng chú ý
nhất phải kể đến ý kiến của các tác giả nh :
- Trung Dũng trong bài Đọc Dấu chân ngời lính" viết: "Qua tiểu

thuyết Cửa sông đến tiểu thuyết Dấu chân ngời lính, Nguyễn Minh Châu
tỏ ra là một cây bút sung sức, ngòi bút khoẻ khoắn của anh hứa hẹn những
bớc tiến xa hơn nữa. Có thể nói sáng tác mới này của anh là một trong
những cuốn tiểu thuyết đáng đợc chú ý trong số những sáng tác đà xuất
bản những năm gần đây, một sáng tác văn học có tính chiến đấu phản ánh
một hiện thực cuộc sống còn đang nóng bỏng, mà muốn có đợc những chất
liệu quý báu ấy ngời viết đà xác định trớc nếu cần cũng sẽ cầm súng và
sẵn sàng hy sinh cuộc sống của mình [10].
- Phan Cự Đệ trong bài "Nguyễn Minh Châu một cây bút văn xuôi
nhiều triển vọng" viết: Từ Cửa sông đến Dấu chân ngời lính, Nguyễn
Minh Châu đà tiến những bớc vững chắc và hứa hẹn. Với quyết tâm thờng
xuyên đi sâu vào những mịi nhän cđa cc sèng, ra søc rÌn lun thÕ giới
quan và tu dỡng nghệ thuật một cách nghiêm túc, Nguyễn Minh Châu chắc
chắn còn đi xa hơn nữa trong lĩnh vực tiểu thuyết" [11].
- Trong bài Nguyễn Minh Châu và những trăn trở trong đổi mới t duy
nghệ thuật" LÃ Nguyên cho rằng: Có thể chỉ ra dễ dàng t tởng của thời
đại qua Cửa sông, Dấu chân ngời lính, Lửa từ những ngôi nhà ... cũng
có thể nhận thấy ở đây những phẩm chất văn chơng của một tài năng độc
đáo. Đó là năng lực quan sát tinh tế, là ngòi bút giàu chất thơ và một tấm
lòng nhân hậu rộng mở. Nhng thật khó chỉ ra, đâu là t tởng nghệ thuật
riêng của những tác phẩm ấy so với t tởng chung của cộng đồng. Nguyễn
Minh Châu am hiểu kỳ lạ đời sống của ngời lính và đời sống nhân dân Việt

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc 1975

6


luận văn tốt nghiệp


*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Nam, đặc biệt đời sống của dải đất miền Trung quê hơng. Có thể bắt gặp
những âm trầm, nốt lặng khi ngòi bút cuả ông chạm vào cuộc sống nghèo
khó, lam lũ và thầm lặng của ngời nông dân. Ngòi bút ấy đôi khi cũng đÃ
chạm tới các lôgíc nghiệt ngà của chiến tranh, làm rung lên những nốt bi
kịch thực sự của cuộc đời ngời lính. Nhng, nh một định mệnh, những ©m
kia, nèt kia chØ tho¸ng nghe nh mét håi ©m vang lên rụt rè rồi câm lặng
giữa lúc bản đại hợp xớng anh hùng ca đang ở phút cao trào[19].
- Thiếu Mai trong bài Từ Dấu chân ngời lính đến Những ngời đi từ
trong rừng ra đà có suy nghĩ : Không biết có vội và không nếu tôi muốn
đi đến một nhận xét thế này: cái tạng của Nguyễn Minh Châu hợp với loại
truyện ngắn hoặc truyện vừa (hoặc tiĨu thut võa) chØ thĨ hiƯn mét vÊn ®Ị
mét chđ đề tập trung. (Tác phẩm không cứ phải đồ sộ mới có giá trị chắc
anh đồng ý?). Khả năng phân tích tinh tế mọi khía cạnh ngóc ngách của
một vấn đề, một tâm trạng vốn là chỗ mạnh của nhà văn, ở loại truyện này
anh có điều kiện để phát huy u thế, đem lại một chiều sâu bất ngờ" [16].
Ngoài ra còn có nhiều bài viết khác đi sâu vào phân tích mổ xẻ từng tác
phẩm để thấy đợc cái hay cái độc đáo trong sáng tác của Nguyễn Minh
Châu. Nhìn chung lại các bài viết dù khái quát hay cụ thể thì các nhà
nghiên cứu phê bình cũng đà nói đợc một số vấn đề cơ bản nhng cha có
công trình nào phân tích đầy đủ toàn bộ hệ thống tác phẩm.
Ngời viết luận văn này tiếp thu ý kiến của các bài viết trớc đó, đồng thời
xin đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu cảm hứng lÃng mạn trong sáng tác của
Nguyễn Minh Châu trớc năm 1975 biểu hiện trên những phơng diện nào
của nội dung và hình thức.
3. Nhiệm vụ và giới hạn nghiên cứu đề tài.
3.1.


Giới hạn của vấn đề

Do khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp đại học cũng nh để hoàn
thành luận văn này trong một thời gian không dài cho nên ở đây chúng tôi
chỉ xin đi sâu tìm hiểu Cảm hứng lÃng mạn trong sáng tác của Nguyễn
Minh Châu trớc năm 1975".

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Ngun Minh Ch©u tríc 1975

7


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Khi đi sâu tìm hiểu cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của
Nguyễn Minh Châu trớc năm 1975 chúng tôi chỉ tiến hành đề cập ở một số
tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Minh Châu giai đoạn này, đồng thời
còn có một số tác phẩm ở giai đoạn sau 1975 để so sánh đối chiếu.
Trớc 1975: - Tiểu thuyết:
Cửa sông
Dấu chân ngời lính
-Truyện ngắn: Mảnh trăng cuối rừng
Những vùng trời khác nhau
Bên đờng chiến tranh
Sau 1975: - Truyện ngắn Bức tranh(Để so sánh)

Cỏ lau(Để so sánh)
3.2.

Nhiệm vụ của đề tài

Trong luận văn này chúng tôi xác định nhiệm vụ:
- Khảo sát những biểu hiện của cảm hứng lÃng mạn trong
sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc năm 1975
- Khảo sát những biện pháp nghệ thuật chủ yếu mà Nguyễn
Minh Châu sử dụng để thể hiện cảm hứng lÃng mạn trong sáng tác của ông.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Văn học luôn phản ánh hiện thực một cách chân thực, vì thế trong quá
trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi đặt tác phẩm trong hoàn cảnh lịch sử
cụ thể. Trong đó có sự vận dụng nhiều phơng pháp khác nhau nh đọc, tái
hiện, phân tích về tác phẩm, tác giả, các bài viết và nghiên cứu. Bên cạnh
đó còn sử dụng phơng pháp so sánh đối chiếu các sáng tác của Nguyễn
Minh Châu với các tác giả cùng thời và những sáng tác của Nguyễn Minh
Châu trớc 1975 với giai đoạn sau 1975.
5. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, lời cảm ơn và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung chính của luận văn sẽ đợc triển khai trong 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý luận chung

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu tríc 1975

8


luận văn tốt nghiệp


*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Chơng 2: Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh
Châu trớc năm 1975
Chơng 3: Cảm hứng lÃng mạn thể hiện trên phơng diện nghệ thuật

Chơng 1
Những vấn đề lý luận chung
1.1.Cảm hứng và cảm hứng lÃng mạn
Tính chất của văn học nghệ thuật luôn luôn đầy cảm xúc, giữa cảm xúc
và lý trí là hai mặt luôn hỗ trợ cho nhau. Cảm xúc ở đây không chỉ là một thứ
tình cảm bàng bạc, nhàn nhạt mà là một cảm xúc rất mÃnh liệt và trong quá
trình sáng tác ngời ta gọi cảm xúc này là cảm hứng.
Cảm hứng là trạng thái tâm lý đặc biệt khi có cảm xúc và sự lôi cuốn
mÃnh liệt, tạo điều kiện để óc tởng tợng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả.
Cảm hứng là một trạng thái tâm lý căng thẳng nhng say mê khác thờng.
Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc khi đà đạt đến sự hài
hoà, kết tinh sẽ cháy bùng trong t duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến
những mục tiêu da diết bằng con đờng gần nh trực giác, bản năng. Cảm hứng
là nguồn sáng tạo của ngời nghệ sĩ.
Trong sáng tác văn học nghệ thuật không thể không có cảm hứng. Viết
văn là gan ruột, tâm huyết, chỉ bộc lộ những gì đà thật sự tràn đầy trong lòng,
không thể cho ra những sản phẩm của một tâm hồn bằng phẳng, vô vị, miễn cỡng. Nh Nguyễn Quýnh đà nói:Ngời làm thơ không thể không có hứng, cũng
nh tạo hoá không thể không có gió vậy...Tâm ngời ta nh chuông nh trống, hứng
nh chày và dùi. Hai thứ đó gõ, đánh vào chuông trống khiến chúng phát ra tiếng;
hứng đến khiến ngời ta bật ra thơ, cũng tơng tự nh vậy"[21].
Cảm hứng trong tác phẩm trớc hết là niềm say mê khẳng định chân lý,
lý tởng phủ định sự giả dối và mọi hiện tợng xấu xa tiêu cực, là thái độ ngợi

ca, đồng tình với những nhân vật chính diện, là sự phê phán, tố cáo các thế lực

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Ngun Minh Ch©u tríc 1975

9


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

đen tối, các hiện tợng tầm thờng. Giữa cảm hứng và t tởng của nhà văn có liên
quan với nhau một cách mật thiết. Bởi vì sự khẳng định, ngợi ca hay lên ¸n
phª ph¸n bao giê cịng dùa trªn lý tëng thÈm mỹ, lý tởng xà hội để nhà văn
đánh giá hiện tợng đó, nhân vật đó tiến bộ hay phản động, tốt hay xấu.
Văn học là tấm gơng phản chiếu hiện thực vì thế nó phản ánh cuộc sống
một cách khách quan, chân thực. Thế nhng trong văn học, lÃng mạn là một
yếu tố không thể thiếu đợc. Nó đà có từ xa xa trong các truyện kể dân gian,
các nhân vật đều có ớc mơ tuy nhiên chỉ là những ớc mơ viển vông khó có thể
có trong hiện thực.
Trong nghiên cứu văn học và nghệ thuật học, thuật ngữ chủ nghĩa lÃng
mạn nhằm chỉ một trào lu t tởng nghệ thuật và phơng pháp sáng tác của trào lu
đó ®èi lËp víi chđ nghÜa cỉ ®iĨn. Trµo lu nµy ra đời ở Tây Âu vào thế kỷ
XVIII, đầu thế kỷ XIX.
Chủ nghĩa lÃng mạn ngoài cách hiểu là phơng pháp sáng tác của trào lu
văn học có tên tơng ứng, còn đợc xem là một kiểu sáng tác tái tạo (hay còn
gọi là phơng thức sáng tác tái tạo) đối lập với kiểu sáng tác tái hiện, tức là
kiểu sáng tác hiện thực thiên về mô tả thế giới kh¸ch quan. KiĨu s¸ng t¸c hiƯn

thùc (t¸i hiƯn) cã thĨ bao gåm chđ nghÜa hiƯn thùc thêi kú phơc hng, chđ
nghÜa hiƯn thùc thêi kú cỉ ®iĨn, chđ nghÜa hiƯn thực phê phán...Kiểu sáng tác
lÃng mạn (tái tạo) có thể gồm phơng pháp sáng tác trong thần thoại, trong chủ
nghĩa lÃng mạn...
Chủ nghĩa lÃng mạn trong văn học nghệ thuật là sự phản ứng của nghệ
sĩ với chế độ đơng thời, nhng tuỳ theo thái độ phản ứng và cách thức tìm hớng
giải thoát của nghệ sĩ, chủ nghĩa lÃng mạn đợc chia thành hai khuynh hớng
riêng khác nhau:
Khuynh hớng tiêu cực với thái độ bi quan với thực tại, tình cảm chán
chờng và hoài niệm quá khứ.
Khuynh hớng tích cực tràn trề niềm tin vào thực tại và tơng lai, lạc quan
về nhân thế và khả năng cải tạo đời sống.
Tuy nhiên sự phân chia khuynh hớng trong chủ nghĩa lÃng mạn chỉ là tơng đối vì nó không thể phản ánh hết đợc tính chất phức tạp và sinh động của
hoàn cảnh bức tranh chủ nghĩa lÃng mạn.
ở Việt Nam, chủ nghĩa lÃng mạn nh một trào lu văn học xuất hiện vào
những năm 30 của thế kỷ XX. Tiêu biểu trong văn xuôi có Tự lực văn đoàn,
trong thơ mới có phong trào Thơ mới.Các nhà văn đà sống trong một tâm
trạng lỡng thế, họ không chấp nhận thực tại đầy đen tối của cuộc sống, của xÃ

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Ch©u tríc 1975

10


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc


hội đơng thời và chỉ còn biết hớng ớc mơ của mình vào một thế giới lý tởng
trong ảo mộng mà thôi.
Cảm hứng lÃng mạn cũng là một yếu tố không thể thiếu trong văn học
cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên cảm hứng lÃng mạn trong văn học cách
mạng có nhiều đặc điểm khác với cảm hứng lÃng mạn 1930-1945. Trớc hết ta
phải khẳng định đây là cảm hứng lÃng mạn cách mạng anh hùng, là hoài bÃo ớc mơ lớn lao cũng nh niềm tin tuyệt đối vào tơng lai đất nớc và con ngời.
Niềm tin, hoài bÃo và ớc mơ đó đều có cơ sở từ hiện thực mà là tất yếu của
hiện thực trong tơng lai. Đồng thời nói cảm hứng lÃng mạn là cảm hứng khẳng
định cái tôi đầy tính cảm xúc và hớng về lý tởng. Nó vẫn xuất phát từ hiện
thực nhng chủ yếu thể hiện phơng diƯn lý tëng cđa cc sèng con ngêi, ca
ngỵi chđ nghĩa anh hùng cách mạng và tơng lai đầy hứa hẹn tơi sáng của dân
tộc.
Các nhà văn cách mạng không bằng lòng với hiện thực và hớng về tơng
lai để mơ ớc. Nhân vật của họ vừa mang tính chất phi thờng nhng cũng là con
ngời rất đời thờng. Nhân vật lÃng mạn tuy không mô tả một cách cụ thể, chính
xác những nguyên hình trong cuộc sống nhng nó đà phản ánh một cách khá
đúng đắn những tâm t tình cảm, nguyện vọng của con ngời thời đại.
Nói tóm lại, cảm hứng lÃng mạn là một yếu tố không thể thiếu trong
nền văn học cách mạng.
1.2.Tiền đề xà hội và t tởng để hình thành cảm hứng lÃng mạn
1.2.1.ảnh hởng của triết học Mac-Lênin.
1.2.1.1.Thế giới quan có vai trò rất quan trọng đối với sáng tác, nó quyết định
sáng tác. Thế giới quan quyết định sáng tác trên nhiều phơng diện, từ lựa chọn
đề tài, xác định chủ đề đến cách thức giải quyết vấn đề đặt ra trong tác phẩm
và việc xây dựng hình tợng. Thế giới quan bao gồm lập trờng, quan điểm và
cách thức nhìn nhận đánh giá thế giới nó quy định cách nhìn và điểm nhìn của
nhà văn đối với hiện thực.
1.2.1.2.Các nhà văn thuộc trào lu văn học hiện thực phê phán Việt Nam cã
quan ®iĨm t tëng rÊt tiÕn bé. Víi hä, sáng tạo nghệ thuật là một công việc có ý
nghĩa nhân sinh. Họ muốn bằng tác phẩm của mình cảm thông, bênh vực, bảo

vệ những kiếp ngời bất hạnh. Họ lên án, phê phán tính chất vô nhân đạo của

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Ch©u tríc 1975

11


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

xà hội cũ với mong muốn có một xà hội nhân đạo hơn ®èi víi cc sèng con
ngêi. Song h×nh mÉu x· héi đó nh thế nào, bằng cách nào để giải phóng dân
tộc, giải phóng giai cấp thì họ không hiểu đợc. Rốt cuộc, trong tác phẩm, hầu
hết các nhân vật của họ đều rơi vào tình thế bế tắc, tuyệt vọng. Nguyên nhân
sâu xa của vấn đề trên là do các nhà văn hiện thực phê phán bị hạn chế về thế
giới quan. Các nhà văn hiện thực phê phán sống tập trung ở các đô thị lớn, họ
không có điều kiện để tiếp xúc với ánh sáng của t tởng triÕt häc míi: triÕt häc
duy vËt biƯn chøng vµ duy vật lịch sử do Mác, Anghen, Lê nin đề xớng.
1.2.1.3.Các nhà văn cách mạng tiếp thu đợc ánh sáng của triết học Mác - Lê
nin nên về mặt thế giới quan có nhiều yếu tố tiến bộ hơn hẳn thế giới quan của
các nhà văn hiện thực phê phán. Họ có cái nhìn thế giới trong sự vận động,
biến đổi và phát triển. Họ có lý tởng xà hội mới: xà hội chủ nghĩa, trong đó
con ngời đợc sống tự do, bình đẳng, bác ái. Họ hiểu đợc con đờng để giải
phóng loài ngời khỏi áp bức, bóc lột đó là con đờng đấu tranh giai cấp. Vì thế
mà tác phẩm của họ không chỉ chỉ ra con đờng đi tới thế giới mới mà còn tin
và ủng hộ con ngời trong cuộc đấu tranh đó. Đây chính là cơ sở của cảm hứng
lÃng mạn của dòng văn học cách mạng Việt Nam 1945-1975.

1.2.2. Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 vĩ đại.
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công là một bớc ngoặt vĩ đại
trong lịch sử dân tộc ta. Sau hơn 80 năm sống trong kiếp đời nô lệ, nhân dân
ta, dân tộc Việt Nam ta đà hoàn toàn dành đợc độc lập, tự do. Và trên thế giới,
lần đầu tiên đợc biết đến một nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà, chính thức đặt
tên nớc ta trên bản đồ thế giới.
Với cuộc cách mạng tháng Tám vĩ đại, cả nớc ta bị cuốn vào một không khí
chính trị sôi nổi với niềm tin của những ngời dân lần đầu tiên đợc làm chủ đất
nớc mình. Cách mạng tháng Tám không những đổi đời cho dân tộc, cho nhân
dân mà còn đổi đời cho các nhà văn và nó thực sự có sự lôi kéo kỳ lạ đối với
các nhà văn đứng vào hàng ngũ cách mạng.
ảnh hởng của cách mạng tháng Tám đà tạo nên một nguồn cảm hứng mới cho
các nhà văn, nhà thơ, tạo nên một nền văn học mới. Trong đó cảm hứng lÃng
mạn là một yếu tố không thể thiếu trong sáng tác văn học giai đoạn này.
1.2.3.Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nớc nhà.

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc 1975

12


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 đà mở ra cho ®Êt níc ta
mét kû nguyªn ®éc lËp, tù do cho dân tộc. Nhng cha đợc bao lâu, thực dân
Pháp lại một lần nữa đa quân đánh chiếm miền Bắc. Đất nớc lại thêm một lần

bị chìm trong bom đạn, máu lửa của chiến tranh. Trớc tình hình đó, Hồ Chí
Minh đà ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Đáp lời Ngời, thanh niên tình
nguyện lần lợt vào bộ đội, sẵn sàng chịu mọi gian khổ thiếu thốn, sẵn sàng hy
sinh cả tính mạng. Và trong đó, đội ngũ văn nghƯ sü cịng ®i theo tiÕng gäi
cđa Tỉ qc, cïng nhân dân cả nớc chiến đấu để bảo vệ chính quyền.
Các nhà văn của chúng ta rất nhạy cảm với thời cuộc lúc bấy giờ. Cách
mạng tháng Tám rồi cuộc kháng chiến chống Pháp đà đem đến cho các nhà
văn một sự phát hiện lớn lao: sức mạnh quật khởi của dân tộc và của con ngời
Việt Nam
Kháng chiến bùng lên biệt thủ đô
ên đờng rảo bớc khoác ba lô
Mang theo ý chí ngời dân Việt
Thà chết không làm vong quốc nô
(Tú Mỡ- Tự thuật)
Đánh Pháp cha xong thì giặc Mỹ lại tràn tới. Ba mơi năm ròng, dân tộc
ta phải liên tiếp tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ để
bảo vệ độc lập tự do vµ thèng nhÊt níc nhµ.
Víi cc chiÕn tranh chèng Mü, thực tế "ra ngõ gặp anh hùng đÃ
mang lại cho nhà văn nguồn t liệu dồi dào, nguồn cảm hứng bất tận trong sáng
tác. Thời đại cho phép các văn nghệ sỹ tự do ca ngợi sự nghiệp cách mạng của
dân tộc. Đây là giai đoạn có bớc phát triển đặc biệt từ tiểu thuyết sang truyện
ngắn với những tác phẩm viết về tội ác của bọn đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai,
để cho chúng ta thấy đợc bản chất độc ác tàn bạo của kẻ thù. Nhng hơn tất cả,
qua các tác phẩm của mình các nhà văn muốn tập trung ngợi ca chủ nghĩa anh
hùng, ca ngợi những con ngời đà chiến đấu vì Tổ quốc, tiến công giặc đến
cùng. Những con ngời đang đứng trong thực tại đau thơng, đầy gian khổ mà
vẫn luôn hớng đến tơng lai, tin tởng đất nớc sẽ có ngày hoà bình.
Đặc biệt giai đoạn 1965-1975 khi đất nớc ta đi vào những năm cuối
cùng của cuộc chiến tranh chống Mỹ nhng cũng là những năm tháng ác liệt
nhất mà anh dịng nhÊt. BiĨu hiƯn tËp trung cđa chđ nghÜa anh hùng cách

mạng Việt Nam thời chống Mỹ là hình ảnh anh bộ đội nói riêng và hình ảnh

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu tríc 1975

13


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

con ngời cầm vũ khí nói chung. Họ đà sống và chiến đấu theo một lý tởng xÃ
hội cao cả là giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc, đa cả nớc tiến lên chủ
nghĩa xà hội. Lý tởng cao đẹp đó trở thành mục đích cao cả và niềm tin thiêng
liêng đem lại sức mạnh cho những con ngời anh hùng thời chèng Mü. Cc
®êi ngêi lÝnh cđa hä thùc sù bõng sáng lên khi đối mặt với kẻ thù, khi họ
đàng hoàng nổ súng tiến côngtrên trận địa và huy hoàng nhất là những giờ
phút hy sinh. Tất cả đều đợc biểu hiện một cách đầy đủ nhất, chân thực nhất
nhng cũng không kém phần lÃng mạn trong các tác phẩm văn học trong giai
đoạn này. Điều đó đà tạo nên một nền văn học cách mạng mang đậm khuynh
hớng sử thi và cảm hứng lÃng mạn đà tạo nên chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc 1975

14


luận văn tốt nghiệp


*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Chơng 2
Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của
Nguyễn Minh Châu trớc năm 1975
2.1. Cảm hứng lÃng mạn trong văn xuôi 1945-1975
Văn học giai đoạn 1945-1975 là văn học của những sự kiện lịch sử, của
số phận toàn dân, của chủ nghĩa anh hùng.
Hoàn cảnh lịch sử xà hội Việt Nam giai đoạn này đầy những biến động
dữ dội. Bắt đầu là thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám lẫy lừng - mở ra
một kỷ nguyên mới trong lịch sử nớc nhà. Tiếp đến là cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ hơn suốt ba mơi năm ròng. Trong không khí đó,
những ngời cầm bút chân chính đều đứng trên lập trờng kháng chiến, tuyên
truyền cổ vũ chiến đấu. Họ luôn bám sát hiện thực và phản ánh kịp thời mọi
vấn đề bức xúc của chiến tranh, kịp thời biểu dơng ca ngợi những chiến công
anh hùng của nhân dân ta. Các văn nghệ sỹ sẵn sàng nhập cuộc, sẵn sàng đi
vào chiến trờng với tinh thần đầy nhiệt huyết, với một tấm lòng luôn hớng về
tổ quốc. Tất cả những sáng tác văn xuôi thời kỳ này, từ tiểu thuyết, truyện
ngắn đến bút ký, tuỳ bút đều rất giàu chất thơ và hớng vận động của cốt
truyện, của số phận nhân vật, của dòng cảm nghĩ của các tác giả hầu nh đều đi
từ bóng tối ra ¸nh s¸ng, tõ gian khỉ ®Õn niỊm vui, tõ hiƯn tại tới tơng lai đầy
hứa hẹn.
Trong nền văn học 1945-1975, cảm hứng lÃng mạn kết hợp với khuynh
hớng sử thi tạo nên một chủ nghĩa anh hùng lÃng mạn. Khi nói đến chiến
tranh chúng ta luôn nghĩ ngay đến những mất mát, đến những hy sinh với bao
đau thơng, tang tãc. Nhng do b¶n chÊt anh dịng cđa ngêi ViƯt Nam thì trong
hoàn cảnh đó, nh một cách tự nhiên họ đều cảm thấy hết sức gắn bó với đất nớc, với cách mạng và sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ đất nớc. Bên cạnh đó,

cũng do yêu cầu bức thiết của hoàn cảnh, văn học phải hớng con ngời vào
chiến thắng, phải vợt lên hoàn cảnh và luôn phải tin vào chiến thắng nhất định
sẽ tới. Và trên thực tế, phẩm chất anh hùng của nhân dân ta diễn ra hàng ngày:
hình ảnh chị Sứ trong tiểu thuyết Hòn đất của Anh Đức, nhân vật Hiên trong
Gieo mầm của Nguyễn Thiều Nam, Nguyệt trong Mảnh trăng cuối rừng của
Nguyễn Minh Châu... Đi vào tìm hiểu cụ thể nội dung các thiên truyện thì
thấy rõ ràng là các mẹ, các chị, các em nhỏ thực sự đà tham gia đóng góp cho

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc 1975

15


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

phong trào cách mạng, gián tiếp hay trực tiếp chiến đấu. Có bao nhiêu những
bà mẹ Việt Nam đêm đêm đào hầm để cất giấu bộ đội hoặc nhịn ăn để nuôi
cách mạng. Ngay cả những em nhỏ khi cần cũng có thể trở thành những dũng
sỹ.
Các nhà văn đà khai thác đợc nhiều nét tơng phản tởng nh đối lập nhau
nhng thực chất lại thống nhất và còn tạo nên những tính cách vô cùng phong
phú. Tâm hồn giàu cảm xúc yêu thơng mà lại rất nghị lực vững vàng nh sắt
thép, thể chất mềm yếu mảnh dẻ nhng sức chiến đấu lại bền bỉ dẻo dai. Nhng
nét tính cách nổi bật hơn tất cả là tinh thần kiên cờng bất khuất và cũng rất
đằm thắm yêu thơng. Ngời đọc lấy làm thú vị với những đoạn nhà văn nói về
phong thái ung dung, bình tĩnh của các mẹ, các chị khi họ tiến hành cuộc

chiến tranh chính trị: trên đờng đi đấu tranh mà trên môi luôn nở nụ cời, là
cảnh vừa chèo thuyền vừa têm trầu ăn, rồi có chị còn mải sửa sang đầu tóc cho
chỉnh tề. Dờng nh với họ đi đến cuộc đấu tranh thật nhẹ nhàng, bình thản. Rồi
trong rất nhiều tác phẩm văn học, các tác giả đà có những trang viết rất trữ
tình về cảnh thiên nhiên đất nớc. Trong khói lửa chiến tranh, đất nớc vẫn luôn
hiện lên thật đẹp đẽ. Phong cách trữ tình còn đợc thể hiện ở cuộc sống của
những ngời dân lao động bình thờng. Trong hoàn cảnh đầy thiếu thốn khó
khăn nhng nhờ sự yêu thơng, đùm bọc và niềm tin vào tơng lai tơi sáng đà tạo
nên một sức mạnh to lớn để đơng đầu với mọi âm mu của kẻ thù. Đúng nh lời
thủ tớng Phạm Văn Đồng đà nói : Không có gông xiềng nào giam hÃm đợc ý
chí đấu tranh, bên ngoài đêm càng tối thì ngọn lửa căm hờn và ánh sáng của
đức tin càng cháy rực trong lòng.
Tính chất lÃng mạn cũng không xa lạ với tính chất anh hùng của cuộc
sống. Nhân vật anh hùng là những ngời sống có lý tởng, có những ớc mơ cao
quý. Đó là điều đơng nhiên, nhng nếu có ớc mơ cao quý mà không bám vào
mảnh đất hiện thực, thiếu hành động thì làm sao có thể trở thành anh hùng đợc. Nh vậy nhân vật anh hùng là một nhà lÃng mạn đi đôi hài hiện thực. Chính
điều này mà nhà văn Nguyễn Thi đà viết: Nhà văn muốn đứng trên hai bàn
chân bám chắc vào đất, vào hiện thực và lÃng mạn. Từ bỏ mọi khoa trơng,
nhà văn hết sức cố gắng để chi tiết, hình ảnh ngôn từ... tất cả phải nh nã vèn
cã ë ®êi, dÉu sù thùc ë ®êi lắm khi tàn nhẫn" [13].
Nh vậy, văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 ra đời trong hoàn cảnh
đất nớc có chiến tranh và vì thế tất yếu nó phải khoác trên mình một nhiệm vụ
lớn lao: cổ vũ chiến đấu, phục vụ chính trị hớng về đại chúng trớc hết là tầng
lớp công- nông binh. Do vậy việc phản ánh đề tài chiến tranh bằng bút pháp

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc 1975

16



luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

lÃng mạn là một yếu tố góp phần không nhỏ trong việc động viên tinh thần lạc
quan cách mạng, đa cuộc chiến đấu đến thành công.
2.2. Cảm hứng lÃng mạn trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc năm 1975
2.2.1. Khái quát về vị trí của Nguyễn Minh Châu trong văn học Việt Nam
trớc 1975
Thông thờng để đánh giá cuộc đời và sự nghiệp của một nhà văn thì ngời ta thờng căn cứ vào những đóng góp tiêu biểu của nhà văn ấy đối với sự
phát triển của một thời kỳ văn học, thậm chí cho cả thời kỳ sau đó. Với vị trí
đáng trân trọng của nền văn học Việt Nam, Nguyễn Minh Châu là một trong
số nhà văn tiêu biểu của nền văn học đơng đại Việt Nam.
Có thể nói, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nguyễn Minh
Châu gắn liền với cuộc đời ngời lính từ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ đến
những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nớc. Hay nói cách khác chính hai
cuộc kháng chiến đà làm khởi sắc, trởng thành một cây bút văn xuôi Nguyễn
Minh Châu. Và cũng chính Nguyễn Minh Châu đà cho chúng ta hiểu hơn con
ngời ViƯt Nam víi nh÷ng hy sinh bê bÕn trong cc kháng chiến trờng kỳ
gian khổ trớc đây cũng nh công cuộc xây dựng, tái thiết đất nớc sau này.
Xuất hiện lần đầu tiên trên văn đàn với truyện ngắn Sau một buổi tập
đợc in trên báo Văn nghệ quân đội số 10/1960 cho đến những tác phẩm cuối
cùng đợc viết trên giờng bệnh thì Nguyễn Minh Châu đà có hai mơi chín năm
cầm bút với 13 tập văn xuôi và 1 tập tiểu luận phê bình. Thật ra quÃng đời cầm
bút và lợng đầu sách ấy nh vậy thì cha thể nói là nhiều, mà điều chúng tôi
muốn nói đến ở đây lại là một vị trí rất quan trọng của ông trong nền văn học.
Sáng tác của Nguyễn Minh Châu viết trong chiến tranh có thể nói ra đời cùng
với các bản tin chíên sự, khẳng định phẩm chất yêu nớc, ý chí chiến đấu của

các thế hệ Việt Nam. Nhờ đó nó có một sức mạnh cổ vũ cho tinh thần đấu
tranh của toàn dân. Tuy nhiên những sáng tác này cha thật gây ấn tợng. Nh
các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh và Trần Hữu Tá đà cho r»ng: “Cha cã mét
thµnh tùu nµo thËt tµi hoa xuÊt sắc. Nhng bớc đi của anh - dù sao cũng đà mời năm rồi - nói chung là chắc chắn. Từ những bút ký, truyện ngắn đến Cửa
sông, anh cứ tiến dần từng bớc với ý thức rõ ràng về con đờng mình đi, với
thái độ cần cù, thận trọng của một con ngời không chủ quan, tự mÃn" [17].

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Ch©u tríc 1975

17


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

Hay nói rõ hơn, sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu bắt đầu từ thể loại
tiểu thuyết. Tiểu thuyết Cửa sông (1967) của Nguyễn Minh Châu đợc coi là
tác phẩm đánh dấu sự chuyển mình kịp thời của văn xuôi trong nhiệm vụ bám
sát và phản ánh kịp thời hiện thực cách mạng đang phát triển. Cuốn tiểu thuyết
đà phản ánh khá thành công thời điểm cả nớc bớc vào cuộc chiến tranh míi
víi nhiỊu thay ®ỉi lín lao hay cã thĨ nói là những đảo lộn dữ dội.
Cùng với phẩm chất đáng quý của một nhà văn quân đội, Nguyễn Minh Châu
tiếp tục cho ra đời cuốn tiểu thuyết Dấu chân ngời lính và ngay khi trích
đăng trên tạp chí văn nghệ quân đội năm 1970 đà chinh phục bạn đọc từ hai
chơng đầu giới thiệu trên báo.Dấu chân ngời lính của Nguyễn Minh Châu là
tác phẩm đánh dấu sự phát triển mới của văn xuôi chống Mỹ trong nhiệm vụ
phản ánh và ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam; làm sáng rõ

hơn mối quan hệ máu thịt giữa tổ quốc và chủ nghĩa xà hội và đặc biệt trình
bày đợc mối quan hệ biện chứng giữa hai thế hệ cùng sát cánh bên nhau cùng
chiến đấu cho lý tởng cách mạng.
Ngoài ra chúng ta cũng chú ý đến những sáng tác về mảng truyện ngắn
và bút ký của Nguyễn Minh Châu. Với quan niệm "mỗi ngời đều chứa đựng
trong lòng những nét đẹp đẽ, kì diệu đến nỗi cả một đời cũng cha đủ để nhận
thức, khám phá tất cả những cái đó", Nguyễn Minh Châu say sa thể hiện ý tởng sáng tạo của mình qua những nhân vật chính diện, qua việc xây dựng tình
huống và xu hớng phát triển của lôgíc tác phẩm khiến cho truyện và ký trớc
1975 của ông thờng lấp lánh vẻ đẹp lÃng mạn và dồi dào chất thơ.
Là một nhà văn-chiến sỹ, Nguyễn Minh Châu có một cuộc đời hoạt
động thật sôi nổi. Những cuộc đi và viết vốn đà trở thành thông lệ của mọi nhà
văn và Nguyễn Minh Châu cũng không phải là trờng hợp ngoại lệ. Ông đà cần
mẫn đi xuống thao trờng- nơi những ngời lính ngày đêm đang luyện tập- để
tìm hiểu tâm t nguyện vọng, tình cảm của họ rồi về lại cặm cụi viết. Khi Mỹ
tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại, Nguyễn Minh Châu lại hăng hái đi đến
những nơi ác liệt nhất của chiến trờng và tại đây, những gì chứng kiến đợc
Nguyễn Minh Châu đà phản ánh một cách chân thực, đầy đủ nhất về cuộc
chiến đấu của nhân dân ta. Và chính những chuyến đi vào chiến trờng sẽ phát
triển thành một điểm mạnh trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu.
Sáng tác của Nguyễn Minh Châu có thể đợc chia thành hai giai đoạn
Giai đoạn trớc năm 1975, cảm hứng lịch sử và t duy sử thi đà hớng các nhà
văn tới cái nhìn con ngời làm chủ đất nớc, làm chủ dân tộc. Họ là những con
ngời sống có lý tởng, dám xả thân vì đất nớc, có tài năng, ý chí, nghị lực và

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc 1975

18


luận văn tốt nghiệp


*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

lòng dũng cảm để vợt qua mọi gian khổ khó khăn vì sự nghiệp chung của dân
tộc. Đó còn là những con ngời sống lạc quan, tin tởng vào chiến thắng cuối
cùng của nhân dân. Con ngời trong văn học ở giai đoạn này đợc nhìn nhận hết
sức rạch ròi giữa cái xấu-cái tốt, bên địch-bên ta, giữa cái cao cả-cái thấp
hèn...Và nhà văn Nguyễn Minh Châu cũng không nằm ngoài quy luật sáng tác
này, nên những tác phẩm của ông viết trớc năm 1975 về ngời lính, về cuộc
chiến đấu anh hùng của nhân dân, về chiến tranh bảo vệ đất nớc luôn mang
vẻ đẹp lÃng mạn và đầy chất thơ. Cảm hứng anh hùng là cảm hứng chủ đạo chi
phối cách nắm bắt và thể hiện vấn đề của Nguyễn Minh Châu. Những phẩm
chất đẹp đẽ, cao quý của con ngời Việt Nam trong cuộc sống chiến đấu và lao
động hàng ngày đà đợc ông thể hiện ở nhiều dáng vẻ khác nhau. Truyền thống
yêu nớc đà trở thành một nét tính cách của mỗi ngời dân Việt Nam, nó khiến
cho mỗi ngời tự giác làm tất cả mọi việc, cống hiến tất cả thậm chí hy sinh cả
tính mạng của mình vì đất nớc. Thời kỳ này trong các sáng tác của ông, nhân
vật loại hình là nhân vật chủ yếu, dù họ là một chính uỷ Kinh "thơng lính kiểu
đàn bà", Lữ là một chiến sĩ trẻ tính nết bồng bột, xốc nổi nhng qua những
ngày chiến đấu với kẻ thù đà trở nên chín chắn hơn; thậm chí họ là những ngời
dân bình thờng nh cô giáo Thuỳ với giấc mơ thấy học trò trở thành hải quân
hết, một ông cụ Lân tám mơi tuổi vẫn hăng hái hò trâu giữa ruộng...Tất cả
những nhân vật này đều đợc xây dựng lên để chứng minh cho phẩm chất yêu
nớc, cho tinh thần "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nớc,
không chịu làm nô lệ " của dân tộc ta. Và tất cả cũng đợc Nguyễn Minh Châu
lật xới, hay nhìn sâu vào từng sự vật, con ngời để mà phát hiện đợc vẻ đẹp bên
trong bằng trái tim mẫn cảm, một tấm lòng nhân hậu của nhà văn. Quan niệm
và cách xây dựng nhân vật, cách phản ánh cuộc kháng chiến trờng kỳ của

nhân dân ta trớc năm 1975 của Nguyễn Minh Châu là nh vậy.
Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc, đất nớc hoàn toàn giải phóng, ngời
dân lại đợc trở lại cuộc sống hoà bình, độc lập. Và giờ đây, ngời cầm bút đÃ
có điều kiện, có thời gian để nhìn nhận và suy ngẫm về cả chặng đờng lịch sử
đà qua và những gì đang diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Chính hoàn cảnh
mới đà đa các nhà văn vào một thử thách mới, đó là việc khai thác và tiếp cận
vấn đề trong bối cảnh mới, điều kiện cảm hứng và cách nhìn nhận mới.
Nguyễn Minh Châu cũng ở trong tình thế ấy và ông là một trong những nhà
văn đi tiên phong trong sự đổi mới này.
Giờ đây, nhà văn có điều kiện nhận thức lại cuộc chiến đấu và con ngời
trong những năm kháng chiến đà qua trong một loạt tác phẩm: Bức tranh,Cỏ

Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc 1975

19


luận văn tốt nghiệp

*** ***

Nguyễn Thị Hồng Bắc

lau, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cơn giông...Trong những tác
phẩm này, Nguyễn Minh Châu vẫn thể hiện cái anh hùng, cái vĩ đại của dân
tộc nhng đồng thời ông còn đề cập sâu hơn, chú ý nhiều hơn đến mặt trái của
cuộc chiến tranh. Đó đó là những mất mát, hy sinh và nói đến tận cùng của
nó. Chiến tranh trên thực tế là rất khốc liệt, rất tàn nhẫn. Những sáng tác ở giai
đoạn trớc có thể cũng có nói đến mất mát, đến đau thơng nhng dờng nh chỉ
mới nói đợc một phần rất nhỏ mà thôi. Giờ đây, dù khói lửa chiến tranh đà tắt,

nhng hơi nóng của than tro thì vẫn còn âm ỉ cháy. Nguyễn Minh Châu đà phát
hiện đợc cái mạch ngầm sâu kín trong tâm hồn con ngời và ông nhận định
rằng: trên cuộc đời này không thể có thánh nhân mà thực chÊt trong mét con
ngêi cã lÉn lén "ngêi tèt kỴ xấu, rồng phợng lẫn rắn rết, thiên thần và ác quỷ
". Nguyễn Minh Châu đà tập trung trình bày cho ngời đọc thấy rõ đợc chân
dung cuộc sống vô cùng phức tạp, phong phú. Con ngời ta sống không hề đơn
giản, mà ở họ có sự tranh đấu quyết liệt giữa cái thiện và cái ác, cái xuống cấp
của đạo đức với cái cao cả trong nhân cách...Có thể nói: phần lớn trong các tác
phẩm mà Nguyễn Minh Châu sáng tác sau 1975 đà đề cập những phơng diện
khá gai góc, phức tạp của đời sống " Nguyễn Minh Châu là ngời chủ trơng đa
văn học trở về với những qui lt vÜnh h»ng cđa ®êi sèng con ngêi, coi tính
chân thật là một phẩm chất quan trọng của văn học "[15].
Có thể nói cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Minh Châu là
một ngời nghệ sĩ cách mạng với đầy đủ ý nghĩa đích thực của nó. Cả cuộc đời,
ông đà biết vợt lên mọi hoàn cảnh để lao động, để kiếm tìm. Những thành quả
mà ông đóng góp cho nền văn học Việt Nam hiện đại và đặc biệt là ở thời kì
đổi mới đà chứng minh cho vị trí vô cùng quan trọng của Nguyễn Minh Châu.
Chỉ tiếc rằng ông đà ra đi khi " tâm hồn sáng tạo đang độ chín ", khi không
khí xà hội đà thuận lợi cho sáng tác của ông [15].
2.2.2. Cảm hứng lÃng mạn trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc
năm 1975
Là nhà văn quân đội, lại từng có sáng tác về đề tài chiến tranh khá nổi tiếng,
nhiều ngời gọi Nguyễn Minh Châu là nhà văn viết về đề tài chiến tranh ở ý
nghĩa ông là ngời phát hiện, ngợi ca những mặt cao cả anh hùng cđa con ngêi
trong chiÕn tranh. Trong c¸c s¸ng t¸c cđa mình, Nguyễn Minh Châu đà xuất
phát từ cái thực và đang đi tìm cách kết hợp cái thực với cái kì diệu trong cuộc
sống anh hùng của nhân dân và dân tộc ta, giữa những gian khổ tột cùng và sự
hy sinh thấm đẫm nớc mắt và máu mà vẫn toát lên vẻ đẹp vốn có của ngời anh
hùng cánh mạng. Và hầu hết các sáng tác của Nguyễn Minh Châu trớc năm


Cảm hứng lÃng mạn trong những sáng tác cđa Ngun Minh Ch©u tríc 1975

20



×