Tải bản đầy đủ (.pdf) (7 trang)

TỔNG QUÁT NHÀ ĐUỜNG (618-906) TRUNG QUỐC_3 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (214.44 KB, 7 trang )

TỔNG QUÁT NHÀ ĐUỜNG (618-906) -
TRUNG QUỐC

Nhưng những tệ hại kể trên là do người không biết sửa đổi chế độ cho
hợp thời, chứ không do chế độ, vì không có chế độ nào hợp lí hơn là
tuyển người theo tài năng để giao chức vụ. Cho nên cách mạng chỉ bỏ
lối dùng văn tám vế thôi mà thay vào nhiều môn khác, chứ chế độ thi cử
cả thế giới đều giữ, không riêng gì Trung Hoa.

Ngày nay người ta không bắt thí sinh phải thuộc lòng tứ thư, ngũ kinh
nữa; nhưng thời chế độ quân chủ chuyên chế, sự học đó có tác dụng tốt.
Nó tạo được một hạng sĩ phu có tư cách, nhớ trách nhiệm của mình đối
với vua, với dân, dám can gián vua như Ngụy Trưng, chịu sống cảnh
nghèo để giữ đạo, không sợ chết, sẵn sàng hi sinh khi quốc gia lâm
nguy. Giới đó luôn luôn được quốc gia kính trọng, vua cũng phải nể và
triều đại nào không biết quí họ thì triều đại đó tất sẽ sụp đổ.

Will Durant rất khen chế độ đào tạo được các sĩ phu đó. Ông viết: “Một
xã hội mà nghĩ rằng phải thử dùng vào việc trị nước những người được
đào tạo bằng triết học và cổ điển học, nội điều đó cũng đáng phục rồi.
Chế độ ấy và tất cả nền văn minh làm cơ bản cho nó ngày nay bị lật đổ,
tiêu diệt vì sức mạnh khốc liệt của sự tiến triển và của lịch sử, điều đó
đáng kể là một tai họa cho nhân loại” (sách đã dẫn). Chỗ khác ông còn
bảo “giá Platon biết được chế độ đó chắc phải thích lắm.”

Giáo dục.

Đời Tùy có các cơ quan giáo dục từ trung ương tới châu, huyện. Thái
tôn cũng theo tổ chức đó, lập Sùng văn quán, Hoàng văn quán ở kinh đô
chuyên dạy con quí tộc, đại quan liêu; ngoài ra lại lập các trường Quốc
tử học, Đại học, Tứ môn học: Thư học, Luật học, Toán học, Đạo học,


chủ yếu để đào tạo các chuyên viên, kĩ thuật gia. Ông suy tôn Nho giáo,
khắc kinh và thư của đạo Nho lên bia đá. Ông lại mở Hoằng văn điện
chứa 2 vạn quyển sách để học sĩ giảng cứu.

Văn hóa thời ông rất phát đạt. Các nước Nhật Bản, Cao Li, Thổ Phồn
(Tây Tạng), Cao Xương (Tân Cương ngày nay) đều phái con em qua
Tràng An du học. Nhật chịu ảnh hưởng nặng của Trung Hoa, có thể nói
là Hoa hóa, từ thời đó.

Binh chế.

Tráng đinh phải làm lính làng mỗi năm một tháng. Ở biên cương quân
lính phải đóng luôn 3 năm, có thể xin ở lại nhiều kì; họ thường phục vụ
suốt đời dưới quyền một ông tướng.

Cải cách pháp luật.

Thái tôn phỏng theo luật đời Tùy mà cho soạn một bộ luật mới gồm 12
phần: danh lệ (tức nguyên tắc tổng quát); vệ cấm (hình pháp về cung
điện và các cửa ải); chức chế (về quan lại); hộ hôn (về hộ tịch, hôn
nhân); đạo tặc; đấu tụng; trá ngụy; tạp lục

Có lệ có thể dùng đồng (để đúc tiền) mà chuộc tội, ví dụ bị tội đày xa
3.000 dặm thì chuộc bằng 120 cân đồng; nhưng 10 tội nặng (thập ác)
như mưu phản, đại bất kính, bất hiếu thì không được chuộc.

Lại có lệ giảm hình hay miễn hình cho những người trong hoàng tộc,
những người tay chân cố cựu của Hoàng đế, những người có đức hạnh
lớn, có tài năng lớn, có công lao lớn, những đại thần từ tam phẩm trở
lên.


Khi Thái tôn mất, thái tử là Cao tôn lên nối ngôi, ban hành lệnh đại ân
xá, thì vị thượng thư bộ Hình tâu rằng trong toàn quốc chỉ có 50 người
bị tù và hai người bị xử tử. Điều đó chúng ta ngày nay khó tưởng tượng
nổi. Sử gia Trung Hoa khen đời Thái tôn thịnh trị như đời Nghiêu,
Thuấn, không phải là ngoa.

Cao tôn (650-684) bất tài, triều đình lại sinh loạn vì Võ hậu nên chỉ cố
duy trì được sự nghiệp của cha, giữ được uy danh ở nước ngoài: đem
quân đánh Thổ Phồn (Tây Tạng) không thắng, phạt Triều Tiên cũng
không thành công, nhưng cũng bắt được một tiểu quốc, Bách Tế, tại phía
Nam Triều Tiên, phía Tây Tân La, phải phụ thuộc Trung Quốc.

2. Võ hậu tiếm ngôi (684-705)

Tư cách Võ hậu

Tính ông (Cao tôn) nhu nhược, hiếu sắc nên nhà Đường mới thịnh được
mấy chục năm, lại bị cái nạn ngoại thích như nhà Hán, suýt mất vào tay
một người đàn bà là Võ thị, như nhà Hán suýt mất vào tay Lữ thị, khiến
nhiều người nghĩ đến luật trùng diễn trong lịch sử và buồn rằng lịch sử
không bao giờ làm một tấm gương sáng cho loài người được.

Võ thị tên là Chiếu, vốn là một tài nhân - một hạng cung nhân tầm
thường - của Thái Tôn. Khi Thái tôn đau, Cao tôn còn là thái tử, vào
hầu, thấy Võ thị có sắc, đã yêu thầm. Thái tôn băng, Võ thị đi tu. Một
hôm Cao tôn đến chùa hành hương, Võ thị trông thấy vua, khóc lóc; một
đóa hoa lê mà đầm đìa giọt mưa thì không gì mê hồn bằng, nên Cao tôn
bất chấp cả đạo hiếu, lời dị nghị của quần thần, quốc dân, cho nàng vào
cung hầu mình, tức là lấy nàng hầu của cha, mang tội loạn luân như loài

“hươu nai” (lời của Lạc Tân Vương, tác giả bài Hịch dẹp Võ Chiếu ).

Nàng đẹp mà lại thông minh, có học, có tài, có bản lãnh. Tên nàng là
Chiếu; nàng đặt ra một lối viết khác: gồm chữ minh 明 là sáng ở trên,
chữ không 空 là trống không ở dưới; chiếu nghĩa là ánh sáng (hoặc mặt
trời 日, mặt trăng 月) ở trên rọi xuống khoảng trống ở dưới[3]. Nàng còn
thay đổi cách viết của 18 chữ khác nữa.

Khi nàng đọc bài Hịch dẹp Võ Chiếu, trong đó Lạc Tân Vương mạt sát
nàng thậm tệ, nàng đã không giận, còn khen Lạc là có tài và trách viên tể
tướng đã không biết thu phục (Coi bản dịch bài Hịch đó trong Cổ văn
Trung Quốc của tôi - đời Đường - Trong bản đó, tôi đã chép lầm Võ
Chiếu ra Võ Anh). Đó, trí thông minh, bản lãnh của nàng như vậy, đàn
ông cũng ít ai bằng: có sáng kiến, dám sửa đổi lối viết của cổ nhân, dám
coi thường dư luận của mọi người đương thời. Cao tôn mê nàng và nghe
lời nàng răm rắp là phải.

Mới vào cung được một năm, nàng đã tìm chuyện vu cho Hoàng hậu,
Cao tôn phế hậu và lập nàng lên thay, gọi là Võ hậu (655). Cao tôn mắc
một chứng của mắt, các quan tấu đối, nhiều khi không thấy rõ, sai nàng
tài định, thấy vừa lòng, rồi cho nàng dự triều chính.
Lên ngôi hoàng đế. Nhà Chu.

Từ đó Võ hậu nắm hết chính quyền, gây phe đảng, tỉa lần những kẻ
chống đối bà, nhất là những người trong hoàng tộc; trong thực tế bà là
Hoàng đế chứ không phải Cao tôn nữa. Năm 680, bà phế thái tử rồi lập
người khác, lại phế và lập nữa, như vậy hai ba lần. Khi Cao tôn băng,
vua Trung tôn lên, bà vẫn giữ chính quyền, năm sau bà lại phế nữa, đày
Trung tôn lại Phòng Châu, đưa một người khác lên. Sau cùng năm 690,
bà lại phế vua đó nữa, tự xưng là Tắc Thiên Hoàng đế, đổi quốc hiệu là

Chu, phong vương cho cháu là Võ Tam Tư.

Từ Kính Nghiệp, một viên tư mã cử binh đánh bà, thua rồi chết. Một vài
thân vương cũng đem quân chống bà, cũng bị giết. Thời này bọn tôn thất
và đại thần nhiều người bị hại, mà bà càng tàn ác, dâm loạn.

Nhưng trong triều cũng có nhiều người theo bà, vì phục bà minh sát,
quyết đoán đúng, có tài trị nước. Trong số đó có cả những đại thần hiền
năng, được trọng vọng như Lâu Sử Đức, Địch Nhân Kiệt, Tống Cảnh; và
bà biết tin dùng những người đó, nên việc chính không rối loạn, dân
chúng vẫn yên ổn làm ăn, coi những vụ lộn xộn ở triều chỉ là việc riêng
của họ Lí.

Địch Nhân Kiệt khi chết, tiến cử Trương Giản Chi thay mình làm tể
tướng. Lúc này Võ Tắc Thiên đã già yếu bệnh tật, Một thân vương
thuyết phục được Trương Giản Chi đem binh vào cung giết những kẻ
sùng bế của bà rồi rước Trung tôn đã bị đày ở Phòng Châu về, lên ngôi
vua. Bà bị truất ngôi nhưng không bị giết, sau chết vì bệnh, như vậy đủ
biết triều đình không oán bà. Năm đó là năm 705, nhà Chu chấm dứt sau
15 năm thay nhà Đường.

Vi hậu.

Một điểm lạ lùng là Trung tôn tuy phục lại quốc hiệu là Đường rồi, mà ở
triều đình lại diễn lại cái trò của Cao tôn. Vi thị cũng dự triều chính,
lộng quyền, tư thông với Võ Tam Tư, giết hại bọn tể tướng Trương Giản
Chi, rồi lại phế thái tử, giết Trung tôn, lập vua khác lên: Duệ tôn[4]. Sau
cùng Vi hậu và họ hàng họ Võ đều bị tôn thất nhà Đường giết. Duệ Tôn
ở ngôi 3 năm, truyền ngôi cho Huyền tôn, mà làm Thái Thượng hoàng.
*




×