Tải bản đầy đủ (.pdf) (112 trang)

luận văn thạc sỹ giáo dục học Phạm Thùy Linh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (8.71 MB, 112 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH




Phạm Thùy Linh










Chuyên ngành : Lý luận và Phương pháp dạy học môn Hóa học
Mã số : 60 14 10



LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC




NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. VŨ ANH TUẤN










Thành phố Hồ Chí Minh – 2009
THƯ
VIỆN



“Người thầy trung bình chỉ biết nói,
Người thầy giỏi biết giải thích,
Người thầy xuất chúng biết minh họa,
Người thầy vó đại biết cách truyền cảm hứng” (William A.Ward)

Vâng! Bằng tất cả lòng kính trọng và biết ơn, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành
nhất đến những người thầy ưu tú đã truyền cảm hứng cho tác giả để đạt được thành
quả như ngày hôm nay:
- Thầy Trònh Văn Biều; Trưởng Khoa hóa, trường ĐHSP TP. HCM; đã dìu dắt, chỉ
bảo, dạy dỗ tận tình trong suốt khóa học.
- Thầy Vũ Anh Tuấn, hiện công tác tại
Vụ Trung học phổ thông, Bộ GD & ĐT
Việt Nam
. Cảm ơn thầy đã dành nhiều thời gian và công sức, tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình làm luận văn.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến:
- Ban giám hiệu, Phòng khoa học công nghệ và sau đại học, Khoa Hóa trường

ĐHSP TP. HCM; quý thầy cô đã tận tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi để
các học viên hoàn thành khóa học.
- Các thầy cô giáo và các em học sinh trường Đinh Tiên Hoàng, Trấn Biên, Trò An
thuộc tỉnh Đồng Nai đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình thực nghiệm sư phạm
đề tài.
- Các thầy cô giáo tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Bến Tre và TP. HCM đã nhiệt tình
đóng góp ý kiến cho e-book.
Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên,
giúp đỡ để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn.
Vì thời gian và khả năng còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy các cô cùng các
bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.

Trân trọng cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT : công nghệ thông tin
CSS : cascading Style Sheets – Bảng kiểu xếp chồng
GV : giáo viên
HS : học sinh
HTML : hypertext Markup Language – Ngôn ngữ liên kết siêu văn bản
ICT : information and communication technology – Công nghệ thông tin và truyền thông
PPDH : phương pháp dạy học
PTHH : phương trình hóa học
SGK : sách giáo khoa
THPT : trung học phổ thông
VN : Việt Nam



MỞ ĐẦU


1. Lý do chọn đề tài
Thực tế, nhiều trường phổ thông hiện nay, giờ học chính khóa tăng, trong một tuần nhiều ngày
học sinh học cả 2 buổi sáng, chiều; đặc biệt là học sinh các trường tư thục. Vì thế, lượng kiến thức
các em học trong một ngày là rất nhiều, và thời gian học ở nhà của học sinh vào buổi tối xem ra quá
ít so với lượng kiến thức đã tiếp thu.
Với môn hóa h
ọc, ở học kỳ II lớp 11 và học kỳ I lớp 12 các em chỉ học về hóa hữu cơ, nên khi
bắt đầu học về kim loại ở cuối học kỳ I lớp 12, đa số các em gặp nhiều khó khăn bỡ ngỡ vì đã quên
khá nhiều, cả về lý thuyết, phương trình phản ứng, các dạng bài tập về kim loại; mà các dạng bài tập
về kim loại thì nhiều và khó.
Bên cạnh
đó, do thời gian dạy môn hoá trên lớp còn hạn hẹp, thời gian hệ thống hoá lại lý
thuyết các chất vô cơ và giải bài tập chưa được nhiều, không phải học sinh nào cũng đủ thời gian để
thấu hiểu, ghi nhớ và vận dụng những kiến thức mà giáo viên truyền dạy ngay trên lớp. Vì vậy việc
tự học ở nhà của học sinh là rất quan trọng và cần thiết.
Hiện nay, việc ứ
ng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy là một bước tiến mới, thúc đẩy
quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm đến vấn đề này và đã
cụ thể hóa bằng chỉ thị số 29/2001/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày
30/7/2001 về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo
dục. M
ột trong bốn mục tiêu được đặt ra là: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công
tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin
như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các
môn học”.
Từ những lí do trên, với mong muốn hỗ trợ hoạ

t động tự học hóa học của học sinh và góp phần
vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, chúng tôi chọn đề tài:
THIẾT KẾ E- BOOK HỖ
TRỢ KHẢ NĂNG TỰ HỌC CỦA HỌC SINH LỚP 12 CHƯƠNG “ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI”
CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN.
2. Mục đích nghiên cứu
Thiết kế E- book để hỗ trợ hoạt động tự học môn Hóa lớp 12 của học sinh THPT chương “Đại
cương về kim loại” chương trình cơ bản.
3. Nhiệm vụ và đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài:
 Cơ sở lí thuyết về hoạt động tự học ;
 Cơ s
ở lí thuyết về E-book ;
 Cơ sở lí thuyết về các phần mềm thiết kế E-book ;
 Cơ sở lí thuyết của chương “Đại cương về kim loại lớp 12” - Chương trình Cơ Bản.
- Thiết kế E- book chương “Đại cương về kim loại” Lớp 12 chương trình cơ bản, gồm các
trang:
 Giáo khoa ;
 Bài tập ;
 Tài liệu học thi ;
 Tài nguyên học tập;
 Liên hệ;
 Trợ giúp;
 Bảng tuần hoàn.
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của E-book đã thiết kế.
-Tổng kết và rút ra bài học kinh nghiệm.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
a. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học hoá học trường THPT ở VN
b. Đối tượng nghiên cứu

Thiết kế E- book để hỗ trợ hoạt động tự học của học sinh
5. Phạm vi nghiên cứu
Chương 5. “ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI” Hoá Học 12- Chương trình cơ bản
6. Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế E- book có nội dung hấp dẫn, giao diện đẹp và dễ sử dụng sẽ kích thích hứng thú
tự học của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học lớp 12.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chuyên gia
- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài
- Truy cập thông tin trên Internet
- Điều tra bằng các phiếu câu hỏi và phỏng vấn.
- Thiết kế nội dung E-book b
ằng các phần mềm tin học
- Phân tích và tổng hợp.
- Thực nghiệm sư phạm
- Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu
8. Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
E-book thiết kế thành công sẽ cung cấp cho học sinh một công cụ tự học, cho giáo viên một
phương tiện dạy học; và khẳng định sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạ
y
học.

Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đến nay, số lượng đề tài về thiết kế website và E-book tự học hóa học cho HS phổ thông trong
các khóa luận và luận văn tốt nghiệp vẫn chưa nhiều.
Sau đây là một số khoá luận và luận văn tốt nghiệp chuyên ngành hóa học, trường ĐHSP TP.
Hồ Chí Minh và ĐHSP Hà Nội:

1. Hỉ A Mổi (2005), Thiết kế website tự học môn hóa học lớp 11 chươ
ng trình phân ban thí
điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
2. Phạm Dương Hoàng Anh (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX và
Macromedia Flash MX 2004 để thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức môn
Hóa học phần Hiđrocacbon không no mạch hở dành cho học sinh THPT, Khóa luận tốt nghiệp,
ĐHSP TP.HCM.
3. Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), Ứng dụng phần mềm Macromedia Flash và Macromedia
Dreamver để thiết kế website về lịch sử
hóa học 10 góp phần nâng cao chất lượng dạy học, Khóa
luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
4. Phạm Duy Nghĩa (2006), Thiết kế Website phục vụ việc học tập và ôn tập chương nguyên tử
cho học sinh lớp 10 bằng phần mềm Macromedia Flash và Dreamweaver, Khóa luận tốt nghiệp,
ĐHSP TP.HCM.
5. Nguyễn Ngọc Anh Thư (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX và
Macromedia Flash MX 2004 để tạo trang web hỗ trợ cho học sinh trong việc tự h
ọc môn hóa học
lớp 11 nhóm Nitơ chương trình phân ban thí điểm, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
6. Phạm Thị Phương Uyên (2006), Phối hợp phần mềm Macromedia Dreamweaver MX 2004
và Macromedia Flash MX 2004 thiết kế website hỗ trợ cho việc học tập và củng cố kiến thức cho
học sinh môn hoá học nhóm oxi – lưu huỳnh chương trình cải cách, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP
TP.HCM.
7. Đỗ Thị Việt Phương (2006), Ứng dụng Macromedia Flash MX 2004 và Dreamweaver MX
2004 để thiết kế website hỗ trợ cho hoạt động tự học hoá học của học sinh phổ thông trong chương
halogen lớp 10, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
8. Lê Thị Xuân Hương (2007), Thiết kế website hỗ trợ việc dạy và tự học chương Halogen lớp
10 THPT, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP TP.HCM.
9. Trịnh Lê Hồng Phương (2008), Thiết kế học liệu điện tử chương oxi – lưu huỳnh lớp 10 hỗ
trợ hoạt động tự học hóa học cho học sinh trung học phổ thông, Khóa luận tốt nghiệp, ĐHSP
TP.HCM.

10. Nguyễn Thị Ánh Mai (2006), Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) các chương về lý
thuyết chủ đạo sách giáo khoa hoá học lớp 10 THPT, Luận văn Thạc sĩ khoa h
ọc giáo dục, ĐHSP
Hà Nội.
11. Nguyễn Thị Thu Hà (2008), Thiết kế sách giáo khoa điện tử lớp 10 - nâng cao chương
“nhóm halogen”, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP TP. HCM.
12. Trần Tuyết Nhung (2009), Thiết kế Sách giáo khoa điện tử chương “Dung dịch- Sự điện
li” lớp 10 chuyên hóa học, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP TP. HCM.

Các website và E-book này đều có điểm chung là giúp HS có một công cụ tự học hiệu quả.
Mặc dù vậy, các tác giả chưa quan tâm nhiều đến một số vấn đề sau:
- Nội dung kiến thức trình bày chưa thật sự hấp dẫn, chủ yếu được xây dựng trên phần mềm
Dreamweaver mà không phối hợp một số phần mềm khác.
- Ở mỗi bài học chưa có phần trọng tâm; không có các câu hỏi hướng dẫn t
ư duy để HS suy
luận tự tìm ra kiến thức.
- Ở phần bài tập, chưa cung cấp đủ các câu hỏi lí thuyết và đáp án cho từng bài học.
Phần bài tập trắc nghiệm, các tác giả chủ yếu đưa ra những câu hỏi trắc nghiệm kiểm tra chung
cho cả chương mà chưa có những câu hỏi trắc nghiệm cho mỗi bài học.
- Phim thí nghiệm không thể xem trực tiếp trên nội dung bài học mà thường phải download về
máy tính rồi mới xem được.
- Chưa cung cấp cho HS các phương pháp giải nhanh các bài toán hoá học….
Ngoài ra, đa số các website và E-book trên chú trọng đến những vấn đề thuộc chương trình lớp
10 và 11, còn chương trình lớp 12 thì chưa đi sâu vào nghiên cứu.
1.2. Đổi mới phương pháp dạy học
1.2.1. Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Theo TS. Trịnh Văn Biều [5], một số xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trên thế
giới
và ở nước ta hiện nay là:
1. Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển trọng tâm hoạt

động từ GV sang HS. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá.
2. Cá thể hóa việc dạy học.
3. Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy
học.
4. Tăng cường khả năng vận d
ụng kiến thức vào đời sống. Chuyển từ lối học nặng về tiêu hóa
kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức.
5. Cải tiến việc kiểm tra và đánh giá kiến thức.
6. Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời.
7. Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS,
theo cấp học, bậc học).
Trong 7 xu hướng đổi mớ
i trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS
đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy và học hiện nay (xu hướng 1 và
6).
1.2.2. Phương pháp dạy học tích cực
1.2.2.1. Tính tích cực
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người. Con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có
trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự
tồn tại và phát triển của xã
hội, chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội.
Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục,
nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng và góp phần phát triển xã hội.
Tính tích cực trong hoạt động học tập là tính tích cực nhận thức, đăc trưng ở khát vọng hiểu bi
ết,
cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Trong học tập, học sinh phải “khám phá” ra những hiểu biết mới đối với bản thân dưới sự tổ chức và
hướng dẫn của giáo viên.
Như Xocrates đã nói: “Tôi không thể dạy cho ai bất cứ điều gì, tôi chỉ có thể bắt họ suy nghĩ”
1.2.2.2. Phương pháp học tập tích cực

Hiện nay việc thực hi
ện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ
từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương pháp dạy học đến cách thức đánh giá kết quả dạy học,
trong đó khâu đột phá là đổi mới phương pháp dạy học.
Mục đích trong việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông là thay đổi lối dạy học
truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy - học tích cực” nhằm giúp học sinh phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp
tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn;
tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú trong học tập. Làm cho “học” là quá trình kiến tạo: học sinh tìm
tòi, khám phá, phát hiện, luy
ện tập, khai thác và xử lý thông tin,… tự hình thành hiểu biết, năng lực
và phẩm chất. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lý. Chú
trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động
khoa học, dạy cách học. Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai. Những
điều
đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và cho sự phát triển xã hội.
Vậy, Phương pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động trái với
không hoạt động, thụ động. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc tích cực hoá hoạt động
nhận thức của học sinh, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ
không chỉ hướng vào việc phát huy tính tích cực của người dạ
y.
1.2.3. Ứng dụng CNTT trong dạy học
Trong báo cáo về “Công nghệ thông tin trong giáo dục” ngày 2/11/2005 [26], tác giả Quách
Tuấn Ngọc đã đưa ra một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy và học với sự hỗ trợ của CNTT:
a. Xu hướng đổi mới nhờ CNTT
Bảng 1.1. Xu hướng đổi mới nhờ CNTT
Từ Đến
Xây dựng trường lớp với bảng, bàn…
Một hạ tầng tri thức (trường học, phòng thí nghiệm,
radio, TV, Internet)

Các lớp học Từng người học một (tính cá thể)
Giáo viên như là người cung cấp tri thức
Giáo viên như là người hướng dẫn và tạo điều kiện
tìm tri thức
Bộ sách giáo khoa và một vài đồ dùng phụ trợ
nghe nhìn tương tự (radio-cassette…)
Dụng cụ đa phương tiện Multimedia (in ấn, âm
thanh, thiết bị số...) và nguồn thông tin trên mạng
máy tính

b. Đổi mới phương pháp dạy và học
Bảng 1.2. Đổi mới phương pháp dạy và học
Cũ Mới
Về phương pháp trình
bày
Từ phấn bảng
độc thoại, thầy đọc trò chép
sang trình chiếu điện tử.
đối thoại, diễn giả, trình bày.
Về phương tiện trình
chiếu
máy chiếu overhead (ảnh
tĩnh) đơn giản
máy chiếu multimedia
Về bài thí nghiệm
thí nghiệm trên hiện vật
trực quan
thí nghiệm ảo, sinh động, không độc hại, đỡ
tốn kém, cá thể hoá…
Về phương tiện

truyền tải thông tin
Từ kênh chữ


Từ SGK thuần chữ (text)
sang multimedia (đa phương tiện) với hình
ảnh, video, tiếng nói, âm thanh… sinh
động.
sang e - book đa phương tiện (multimedia).
Vai trò thầy
Từ độc thoại, người dạy dỗ

sang vai trò hướng dẫn, kích hoạt các hoạt
động, để HS tự động não thu nhận, thảo
luận …
Thầy soạn bài, soạn giáo án ngay trên máy
vi tính bằng word, powerpoint...
Vai trò học sinh:
Tăng cường tính tự học, giao lưu quốc tế,
nhiều khi trò giỏi hơn thầy…

1.3. Tự học
1.3.1. Tự học là gì?
Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001 [18], tự học là: “…quá trình tự
mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…”.
Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng được hình thành
bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người họ
c trong hệ thống tương tác của hoạt
động dạy học. Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự
giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm

đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất đị
nh với nồng độ học tập nhất định”.
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, truyền hình,
nghe nói chuyện, báo cáo, tham quan bảo tàng, triễn lãm, xem phim, kịch, giao tiếp với những
người có học, với các chuyên gia và những người hoạt động thực tiễn trong các lĩnh vực khác nhau.
Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan tr
ọng trong các
tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề
cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện… Đối với HS,
tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm
và các hoạt động ngoại khóa khác. Tự học đòi hỏi phải có tính độ
c lập, tự chủ, tự giác và kiên trì
cao.
1.3.2. Các hình thức tự học [14]
Tự học có thể diễn ra theo 3 hình thức:
- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu, vận dụng các kiến
thức trong đó.
- Tự học có hướng dẫn: Có giáo viên ở xa hướng dẫn người học bằng tài liệu hoặc bằng các
phương tiệ
n thông tin khác.
- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và giáp mặt với giáo viên một số tiết trong ngày,
trong tuần, được thầy hướng dẫn giảng giải sau đó về nhà tự học.
1.3.3. Chu trình tự học của học sinh [14]
Chu trình tự học của học sinh là một chu trình 3 thời:
- Tự nghiên cứu
- Tự thể hiện
- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh








Hình 1.1. Chu trình học 3 thời
Thời (1): Tự nghiên cứu
Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn
đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay s
ản phẩm
thô có tính chất cá nhân.
Thời (2): Tự thể hiện
Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự sắm vai trong các tình huống, vấn
đề, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự hợp
tác, trao đổi, đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã h
ội của cộng
đồng lớp học.
Thời (3): Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác, trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận,
người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản
phẩm khoa học (tri thức).
1.3.4. Vai trò tự họ
c [14]
- Tự học có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người.
- Tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người. Tự học giúp cho con người giải quyết
mâu thuẫn giữa khát vọng cao đẹp về học vấn với hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống cá nhân.
- Tự học khắc phục nghịch lý: h
ọc vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn. Sự bùng nổ
thông tin làm cho người thầy không có cách nào truyền thụ hết kiến thức cho trò, trò phải học cách
học, tự học, tự đào tạo để không bị rơi vào tình trạng “tụt hậu”. Đối với học sinh THPT, quỹ thời
gian 3 năm được đào tạo ở bậc học này chắc chắn sẽ không thể nào tiếp thu được hết kh

ối lượng
kiến thức khổng lồ trong chương trình. Vì vậy, tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết
mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường.
Chu trình tự học
(3)
Tự kiểm tra,
Tự điểu chỉnh
(2)
Tự thể hiện
(1)
Tự nghiên cứu
Tự học
- Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người. Quá trình tự học khác hẳn với
quá trình học tập thụ động, nhồi nhét, áp đặt. Quá trình tự học diễn ra theo đúng quy luật của hoạt
động nhận thức. Kiến thức có được do tự học là kết quả của sự hứng thú, của sự tìm tòi, lựa chọn
nên bao giờ cũng vững chắc bền lâu. Có ph
ương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn.
Khi học sinh biết cách tự học, học sinh sẽ “có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu
giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”.
- Người học phải biết cách tự học vì học tậ
p là một quá trình suốt đời. Đối với học sinh THPT,
nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn
như đại học, cao đẳng… học sinh sẽ khó thích ứng với cách học đòi hỏi phải tự học tập, tự nghiên
cứu thường xuyên do đó khó có thể thu được một kết quả học tập tốt.
- Tự học c
ủa học sinh THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào
tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông. Với lối dạy theo hướng “nhồi nhét”
trong các nhà trường phổ thông hiện nay, học sinh khó có thể có thời gian để tự học và tự học có
hiệu quả. Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích

cực, tự giác, ch
ủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học. Vì vậy, tự học
chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm
đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông.
1.3.5. Tự học qua mạng và lợi ích của nó [14]
1.3.5.1. Tự học qua mạng
Tự học qua mạng là hình thức của tự học mà không dùng lời nói trự
c tiếp để giao lưu với
nhau, mà dùng các phương tiện khác đó là máy tính có kết nối mạng Internet. Người học chủ động
tìm kiếm tri thức để thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của mình tự củng cố, tự phân tích, tự đào
sâu, tự đánh giá, tự rút kinh nghiệm…với sự hỗ trợ của máy tính.
1.3.5.2. Lợi ích của việc tự học qua mạng
Tự học hoàn toàn thì rất khó, phả
i có một sự hướng dẫn được tổ chức chu đáo. Tự học qua
mạng ra đời nhằm cung cấp sự hướng dẫn đó cho bất cứ ai muốn học một chương trình nào đó hoặc
xem lại, bổ sung, mở rộng phần kiến thức đã học ở trường lớp. Sự hướng dẫn này có cấp độ chung
và cấp độ cụ thể. Cấp độ
chung hướng dẫn học về các mặt tư tưởng, quan điểm, phương pháp luận,
những phương pháp chung nhất, phổ biến nhất. Cấp độ cụ thể hướng dẫn học môn cụ thể, từng bài
học cụ thể. Cấp độ chung soi sáng cho cấp độ cụ thể và cấp độ cụ thể minh họa, củng cố cấp độ
chung. Cả hai cấp độ hướ
ng dẫn này khi vào học sẽ hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau để tạo
nên một phong cách tự học có hiệu quả, người học sẽ có trong tay một công cụ cơ bản để học suốt
đời. Một sự hướng dẫn được coi là có hiệu quả nếu người tiếp thu thật sự chủ động khiến cho yêu
cầu “được hướng dẫn” cũng sẽ giảm dần cho đến khi người học có thể tự học hoàn toàn.
Tự học qua mạng, người học không bị ràng buộc vào thời khóa biểu chung, một kế hoạch
chung, có thời gian để suy nghĩ sâu sắc một vấn đề, phát hi
ện ra những khía cạnh xung quanh vấn
đề đó và ra sức tìm tòi học hỏi thêm. Dần dà, cách tự học đó trở thành thói quen, giúp người học
phát triển được tư duy độc lập, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo.

Tự học qua mạng giúp người học có thể tìm kiếm nhanh chóng và dễ dàng một khối lượng lớn
thông tin bổ ích. Về mặt này, người học hoàn toàn thuận lợi so với việc tìm kiếm trên sách báo.
Với tính năng siêu liên kế
t và giao diện thân thiện, website sinh động, hấp dẫn, tiện dụng cho
người học góp phần nâng cao hứng thú học tập.
* Tóm lại, có thể nói tự học chính là con đường để mỗi chúng ta tự khẳng định khả năng
của mình. Nó có ý nghĩa quyết định quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi người. Tuy tự học có
một vai trò hết sức quan trọng nhưng tự học của HS cũng không th
ể đạt được kết quả cao nhất nếu
không có sự hướng dẫn, chỉ dạy của người thầy. Chính vì vậy, “trong nhà trường điều chủ yếu
không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn… mà là giáo dục cho học trò phương
pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề”
(Thủ tướng Phạm Văn Đồ
ng-1969). GV cần giúp cho HS tìm ra phương pháp tự học thích hợp và
cung cấp cho HS những phương tiện tự học có hiệu quả. Dạy cho HS biết cách tự học qua mạng
chính là một trong những cách giúp HS tìm ra chiếc chìa khóa vàng để mở kho tàng kiến thức vô tận
của nhân loại.

1.4. E-book (Sách giáo khoa điện tử)
1.4.1. Khái niệm E-book
Theo trang web www.thuvien-ebook.com
[86] “E-book là từ viết tắt của electronic book
(sách điện tử). Hiểu theo cách đơn giản nhất, sách điện tử (E-books hay digital books) là phiên bản
dạng số (hay điện tử) của sách. Nội dung của sách số có thể lấy từ sách giấy hoặc mang tính độc lập
tùy thuộc vào người xuất bản. Một số người thường sử dụng thuật ngữ này để chỉ luôn cả thiết bị
dùng để đọc sách dạng số (còn gọi là book – reading appliances hay E-book readers)”.
Trong luận văn này, có thể hiểu sách giáo khoa điện tử thực chất giống như một cuốn sách
giáo khoa bình thường nhưng có bổ sung nhiều hình ảnh, phim thí nghiệm, nhiều bài tập hoá học…
và được sử dụng thông qua hệ thống máy tính.
 Những tính năng ưu việt của E-book: Sách điện tử có những lợi thế mà sách in thông

thường không có được:
- R
ất gọn nhẹ, giá thành rẻ.
- Nhiều hình ảnh, phim minh họa rõ nét, hấp dẫn.
- Khả năng lưu trữ lớn, có thể chứa rất nhiều thông tin, hình ảnh, phim…
Cùng với sự phát triển vượt bậc của mạng internet và kết hợp với các thiết bị kỹ thuật cao cấp,
hầu hết các sách in giấy thông thường đều có thể được làm thành sách điện tử. Chính vì vậy mà
ngày nay, không khó khăn lắm để chúng ta tìm một tác phẩm nổi tiếng để đọc trực tiếp trên mạng
hay t
ải về máy tính để đọc theo dạng E-book.
 Nhược điểm của E-book
- Giống như e-mail (thư điện tử) E-book chỉ có thể dùng các công cụ máy tính như máy vi
tính, máy trợ giúp kỹ thuật số cá nhân (palm, pocket pc…) để xem.
- Không giống như sách in thông thường, sách điện tử cũng có những “định dạng” khác nhau.
Nói một cách dễ hiểu là sách có nhiều tập tin mở rộng như .pdf, .prc, .lit, … Những tập tin này sở dĩ
khác nhau vì chúng được làm t
ừ những chương trình khác nhau và vì thế, muốn đọc được chúng, ta
cần phải có những chương trình tương ứng.
1.4.2. Mục đích thiết kế E-book
Thiết kế sách giáo khoa điện tử (E-book) hỗ trợ cho hoạt động tự học hóa học của HS phổ
thông như là một công cụ tự học thích hợp từ đó nâng cao hiệu quả tự học thông qua những kiến
thức được minh họa m
ột cách sinh động, hấp dẫn. Ngoài ra, khi GV ứng dụng CNTT trong dạy học
hóa học có thể sử dụng sách giáo khoa điện tử như là một tài liệu tham khảo.
1.4.3. Các yêu cầu thiết kế E-book
Việc thiết kế E-book phục vụ cho giáo dục đòi hỏi phải đáp ứng những đặc trưng riêng về mặt
nghe, nhìn, tương tác; do đó theo TS. Nguyễn Trọng Thọ [42] để đáp ứng nhu cầu tự
học, chúng ta
phải tuân theo đầy đủ các bước của việc thiết kế dạy học (ADDIE là chữ viết tắt của 5 bước):
1. Analysis (phân tích tình huống để đề ra chiến lược phù hợp):


Hiểu rõ mục tiêu.

Các tài nguyên có thể có.

Đối tượng sử dụng.
2. Design (thiết kế nội dung cơ bản):

Các chiến lược dạy học.

Siêu văn bản (hypertext) và siêu môi trường (hypermedia).

Hướng đối tượng, kết nối và phương tiện điều hướng.
3. Development (phát triển các quá trình):

Thiết kế đồ hoạ.

Phát triển các phương tiện 3D và đa môi trường (multimedia).

Hình thức và nội dung các trang Web.

Phương tiện thực tế ảo.
4. Implementation (triển khai thực hiện):
Cần tích hợp với chương trình công nghệ thông tin của trường học :

Chuẩn bị cho phù hợp với thực tế các phòng máy tính.

Thủ tục tiến hành với thầy.

Triển khai trong toàn bộ các đối tượng dạy, học và quản lí.


Quản lí tài nguyên (nhân lực và vật lực).
5. Evaluation (lượng giá):
Đánh giá hiệu quả huấn luyện thường sử dụng mô hình bốn bậc do Donald Kirkpatrick phát
triển (1994). Theo mô hình này, quá trình lượng giá luôn được tiến hành theo thứ tự vì thông tin của
bậc trước sẽ làm nền cho việc lượng giá ở bậc kế tiếp:

Bậc 1: Phản ứng tích cực hay tiêu cực (Reactions).

Bậc 2: Hiệu quả học tập (Learnings).

Bậc 3: Khả năng chuyển giao hay chuyển đổi (Transfers).

Bậc 4: Kết quả thực tế (Results).

Hình 1.2. Mô hình lượng giá bốn bậc theo Kirkpatrick
1.4.4. Các phần mềm thiết kế E-book
1.4.4.1. Macromedia Dreamweaver 8 [35], [43], [48]

Phần mềm Dreamweaver MX 2004 do hãng Macromedia sản xuất là một công cụ biên soạn
HTML chuyên nghiệp nhằm để thiết kế và quản lý các Website. Môi trường đồ họa của
Dreamweaver với các bảng điều khiển và các cửa sổ sẽ cho phép những người mới sử dụng tạo
được các Website cao cấp cho dù chưa từng viết mã HTML.
Với Dreamweaver ta có thể bổ sung các đối tượng Flash mà chúng ta tạo trực tiếp trong
Dreamweaver như: Flash Button, Flash text và Flash Movie.
Với Dreamweaver ta có thể:

Xây dựng trang chủ của E-book và các trang liên kết khác.

Tạo kiểu, bố trí nội dung trang.


Tạo các liên kết từ trang này đến các trang khác.

Bổ sung các file Flash Slide Presentation, Flash movies, Flash text, …
Ngoài ra ta có thể tạo và chỉnh sửa các hình ảnh trong Macromedia Firework, sau đó cập nhật
trực tiếp vào Dreamweaver và mã nguồn HTML tự động được cập nhật.
1.4.4.2. Macromedia Flash Professional 8 [36], [49]

Flash là một công cụ sáng tạo, cho phép tạo ra các thiết kế, các ứng dụng có khả năng tương
tác cao. Có thể sử dụng Flash để tạo các thí nghiệm, mô phỏng cơ chế phản ứng, tạo những hiệu ứng
hoạt hình sinh động…
Với nhiều tính năng ưu việt, Macromedia Flash Professional 8 – phiên bản mới ngày càng
khẳng định vai trò của mình. Khác với các phiên bản trước đây, phiên bản mới này cho phép tạo các
trình diễn (Slide Presentation) vớ
i nhiều hình ảnh đẹp, có thể tích hợp các film thí nghiệm vào trong
các slide trình diễn. Ngoài ra, Macromedia Flash Professional 8 còn hỗ trợ việc tạo nhiều loại câu
hỏi trắc nghiệm như: câu hỏi đúng – sai, câu hỏi nhiều lựa chọn, câu điền khuyết, câu hỏi ghép cặp
dạng kéo – thả….
Đặc biệt các tập tin flash (.swf) có kích thước nhỏ, gọn có thể đưa lên website một cách dễ
dàng và nhanh chóng. Đây cũng là phần mềm chính mà chúng tôi đã sử dụng để t
ạo nội dung các
bài học cũng như bài tập trong E-book.
1.4.4.3. Sothink Glanda [94]

Sothink Glanda là một công cụ tạo Flash hoàn hảo cho những người dùng không chuyên
nghiệp. Nó có nhiều đặc tính nổi bật nhưng lại rất dễ sử dụng như tạo một đoạn văn bản có hiệu
ứng. Có thể tạo những đoạn film Flash như album, tiêu đề hoạt hình sinh động và cả những nút hoặc
menu tương tác… một cách dễ dàng và nhanh chóng. Trong E-book, tựa đề các bài học được tạo ra
từ phần m
ềm Sothink Glanda.

Ở giao diện chính có bốn lựa chọn:
1. Blank document: Tạo tập tin trắng để bạn bắt tay vào thiết kế ngay từ đầu
2. Album: Tạo album ảnh
3. Banner: Tạo bảng quảng cáo
4. Navigation button: tạo nút
-Thanh trình đơn (menu) gồm các mục File, Edit, View, Insert, Modify, Tools, Help và các
mục con


-Thanh công cụ Toolbar gồm các lệnh: New, Open, Save, Import, Cut, Copy, Paste, Add text ,
Undo, Redo, Preview, Export movie

-Vùng thiết kế và hiển thị kết quả (Design panel) : Vùng này cho phép bạn thực hiện các mẫu
thiết kế và cho kết quả chuyển động khi nhấp vào nút Preview trên thanh công cụ.
 Dùng Sothink Glanda để thiết kế tiêu đề chương và tiêu đề các bài học

- Mở chương trình Sothink Glanda: Start > Sothink Glanda.

- Trong cửa sổ New From Template chọn Banner, rồi nhấp OK.


- Chọn banner kiểu BlueSky trong ô Template, nhấp Next, cuối cùng nhấp Finish.
- Chỉnh sửa kích thước và đánh chữ vào banner cho phù hợp.
Ví dụ tiêu đề bài 23:

- Xuất ra file .swf bằng cách nhấp chọn Export Movie trên thanh menu.
1.4.4.4. SWF text [96]
Với dung lượng chỉ 2.1 MB, SWFText quả bé nhỏ khi so sánh với sự đồ sộ của những chương
trình thiết kế flash khác, nhưng chương trình mang đến hơn 200 hiệu ứng đẹp và nhiều chức năng
hỗ trợ làm banner tuyệt vời.










Menu chính của SWFText gồm 9 công cụ. Ngoài Help để trợ giúp thì 8 công cụ còn lại đều hỗ
trợ bạn tạo ra những banner khiến người khác phải trầm trồ:
1. Movie: ấn định kích thước banner với các số đo cơ bản như chiều dài, chiều rộng và tốc độ
hiển thị. Ở đây, bạn cũng có thể click chọn Display border around flash movie - hiển thị đường viền
quanh banner, Enable right-click context menu over flash movie - hiển thị menu khi click chuột
phải, Add preload to movie - hiển thị preload, Protect flash movie from being imported - chống
"xâm phạm bản quyền".
2. Background: Để chọn hình nền cho banner. Các lựa chọn cho nền gồm màu đơn nhất -
Solid hoặc hiệu ứng màu Gradient. Độc đáo hơn, bạn có thể tận dụng kho hình nền phong phú của
mình bằng cách chỉ đường dẫn đến file hình ảnh, chọn chế độ hiển thị Stretch hay Tile. Nhanh nhất
và cũng đơn giản nhất là Transparent - nền trong suốt.
3. Background Effect: v
ới các hiệu ứng mới, độc đáo như Heart, Leaf, Matrix, Festival...; mỗi
hiệu ứng đều cho phép thay đổi màu sắc, tần số lặp để tạo nét riêng cho banner.
4. Text là phần vô cùng quan trọng của banner. Để nhập mới text, bạn nhấn Add rồi nhập đoạn
văn bản cần hiển thị. SWFText sẽ tự động thêm vào danh mục text và cho văn bản lần lượt "xuất
hiện" theo thứ tự từ trên xu
ống dưới. Nếu muốn sắp xếp lại, bạn nhớ click Up và Down.
5. Text Effect: hiệu ứng cho chữ.
6. Font: với các lựa chọn như chữ đậm, chữ "nghiêng", màu, kích cỡ, góc quay, canh lề,
khoảng cách giữa các chữ...

7. Interaction, người dùng được phép thay đổi vòng lặp. Ngoài ra, Interaction cũng hỗ trợ tạo
liên kết giữa banner và website bằng cách nhập URL vào hộp ký tự. Liên kết có thể được kích hoạt
bằng cách click chuột hoặc tự
động mở khi flash kết thúc.
8. Sound: thêm nhạc vào flash. Bạn cần chỉ đường dẫn đến file nhạc, lưu ý là SWFText chỉ hỗ
trợ file MP3 và WAV. Nhớ đừng quên chọn vòng lặp hoặc kết thúc chơi nhạc khi flash kết thúc.
1
2
3
4
5
6
7
8
Sau khi đã hoàn thành mọi bước, bạn có thể nhấn Preview để duyệt trước, thao tác cuối cùng -
Publish.
Ba lựa chọn cơ bản là "phát hành" dưới dạng SWF, GIF hay AVI. Ngoài ra, nếu chọn lưu file
dưới dạng flash, bạn có thể "xin" đoạn mã HTML để dễ dàng chèn vào website hay blog.
1.4.4.5. Violet v1.5 [78]

Violet là phần mềm công cụ giúp cho giáo viên có thể tự xây dựng được các bài giảng trên
máy tính một cách nhanh chóng và hiệu quả. So với các công cụ khác, Violet chú trọng hơn trong
việc tạo ra các bài giảng có âm thanh, hình ảnh, chuyển động và tương tác... rất phù hợp với học
sinh từ tiểu học đến THPT.
Violet được viết tắt từ cụm từ tiếng Anh: Vi
sual & Online Lesson Editor for Teachers (công cụ
soạn thảo bài giảng trực tuyến dành cho giáo viên).
Tương tự phần mềm Powerpoint, Violet có đầy đủ các chức năng dùng để tạo các trang nội
dung bài giảng như: cho phép nhập các dữ liệu văn bản, công thức, các file dữ liệu multimedia (hình
ảnh, âm thanh, phim, hoạt hình Flash...), sau đó lắp ghép các dữ liệu, sắp xếp thứ tự, căn chỉnh hình

ảnh, tạo các hiệu ứng chuyển động và biến đổi, thực hiệ
n các tương tác với người dùng... Riêng đối
với việc xử lý những dữ liệu multimedia, Violet tỏ ra mạnh hơn so với Powerpoint, ví dụ như cho
phép thể hiện và điều khiển các file Flash hoặc cho phép thao tác quá trình chạy của các đoạn phim
v.v...
Violet cũng có các module công cụ dùng cho vẽ hình cơ bản và soạn thảo văn bản nhiều định
dạng (Rich Text Format). Ngoài ra, Violet còn cung cấp sẵn nhiều mẫu bài tập chuẩn thường được
sử d
ụng trong các SGK và sách bài tập như:
 Bài tập trắc nghiệm, gồm có các loại: một đáp án đúng, nhiều đáp án đúng, ghép đôi, chọn
đúng sai, v.v...
 Bài tập ô chữ: học sinh phải trả lời các ô chữ ngang để suy ra ô chữ dọc.
 Bài tập kéo thả chữ / kéo thả hình ảnh: học sinh phải kéo thả các đối tượng này vào đúng
những vị trí được quy định trước trên một hình ảnh hoặc một đoạn văn bản. Bài tập này còn có thể
thể hiện dưới dạng bài tập điền khuyết hoặc ẩn/hiện.
Violet còn cho phép chọn nhiều kiểu giao diện (skin) khác nhau cho bài giảng, tùy thuộc vào
bài học, môn học và ý thích của giáo viên.
Sau khi soạn thảo xong bài giảng, Violet sẽ cho phép xuất bài giảng ra thành một thư mục
chứa file EXE hoặc file HTML chạy độc lập, tức là không cần Violet vẫn có thể chạy được trên mọi
máy tính, hoặc đưa lên máy chủ thành các bài giảng trực tuyến để sử dụng qua mạng Internet.
Violet có giao diện được thiết kế trực quan và dễ dùng, ngôn ngữ giao tiếp và phần trợ giúp đều
hoàn toàn bằng tiếng Việt, nên phù hợp với cả nh
ững giáo viên không giỏi Tin học và Ngoại ngữ. Mặt
khác, do sử dụng Unicode nên font chữ trong Violet và trong các sản phẩm bài giảng đều đẹp, dễ nhìn
và có thể thể hiện được mọi thứ tiếng trên thế giới. Thêm nữa, Unicode là bảng mã chuẩn quốc tế nên
font tiếng Việt luôn đảm bảo tính ổn định trên mọi máy tính, mọi hệ điều hành và mọi trình duyệt
Internet.
1.4.4.6. Articulate_Quizmaker_09 [95]
Articulate Quizmaker '09 là một trong những công cụ hay nhất và dễ s
ử dụng nhất trong việc

tạo những bộ đề thi trắc nghiệm để thí sinh trả lời trên máy tính hoặc trên giấy. Sản phẩm của
chương trình là những file đề thi dạng *.html hay *.doc nên có thể chạy được trên hầu hết các máy
tính cho dù không cài Articulate Quizmaker. Ngoài việc cung cấp nhiều thể loại thi trắc nghiệm,
tính điểm, nhận xét kết quả..., chương trình còn hỗ trợ font tiếng Việt Unicode, kể cả giao diện đề
thi cũng có thể được Việt hóa hoàn toàn.
Sau đây là 4 bước để tạo một bộ đề trắc nghiệm:
1. Khởi động Articulate Quizmaker từ biểu tượng ở desktop.

Tại giao diện chính, bạn bấm vào Create a new Articulate Quizmaker Quiz, chọn tên của bộ
đề (có thể đánh tiếng Việt với mã Unicode) > Next > Begin.
2. Bấm vào nút Quiz Properties để hiệu chỉnh các thông số cho bài trắc nghiệm. Tại thẻ Quiz
Info, phần Passing Score, bạn gõ vào phần trăm số điểm để đủ tiêu chuẩn đậu.
3. Tại thẻ QuestionFeedback, ở khung trên và dưới bạn lần lượt gõ các thông báo khi người thi
trả lời đúng hoặ
c sai. Thẻ Result, ở hai khung trên và dưới bạn lần lượt gõ dòng chữ sẽ hiện ra khi
người thi đạt hoặc không đạt điểm quy định cho bộ đề này. Sau đó bấm OK để đồng ý các thông số
thiết lập.
4. Ở cửa sổ chính bạn bấm vào nút Add Graded Question để bắt đầu tạo câu hỏi. Câu hỏi có
nhiều thể loại như đúng/sai (True/False), nhiều lựa chọn (Multi Choice), nhiều đáp án (Multi
Response).... Ở đây tôi chọn Multi Choice.
Trong hộp thoại Multi Choice, bạn gõ câu hỏi vào ô Enter the Question, có thể bấm vào
Image để thêm vào hình ảnh minh họa. Ở khung Enter the choices, phần Choice bên trái bạn gõ
vào các lựa chọn, sau đó đánh dấu vào lựa chọn
đúng ở phần Correct bên phải.
Ở hộp Number of attempts permitted bạn chọn số lần trả lời được phép hay đánh dấu vào
Shuffle answer để không hạn chế.
Ở ô Points bạn nhập vào số điểm đạt được khi trả lời đúng. Sau đó nhấn Review để xem thử.
Để trả lời, người thi chọn đáp án rồi nhấn Submit, nếu trả lời đúng thì thông báo với n
ội dung bạn
đã tạo ở bước 2 hiện ra.

5. Bạn cứ tiếp tục như trên để tạo thêm các câu hỏi. Sau đó bấm vào Save Quiz để lưu lại bộ
câu hỏi.
6. Nếu bạn muốn Việt hóa toàn bộ bộ đề, bấm vào nút Player Text Label, gõ tiếng Việt tương
ứng vào các ô tiếng Anh ở khung Custom Text > OK.
7. Sử dụng bộ đề thi trắc nghiệm: sau khi hoàn thành, bạ
n bấm vào Publish, chọn thẻ Web,
bấm vào Browse để xác định nơi lưu.


Chương 2:
THIẾT KẾ E- BOOK HÓA HỌC LỚP 12
CHƯƠNG “ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM LOẠI”- CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN

2.1. Vị trí, nội dung và phương pháp dạy học chương
“ĐẠI CƯƠNG VỀ KIM

LOẠI
” [58], [65],
[66], [73]
2.1.1. Vị trí, mục tiêu của chương
2.1.1.1. Vị trí của chương
Trong sách giáo khoa hóa học lớp 12 cơ bản, chương “Đại cương về kim loại” là chương
thứ 5 được nghiên cứu sau các chương về hóa học hữu cơ là Este- Lipit, Cacbohiđrat, Amin- Amino
axit- Protein; và Polime- Vật liệu polime.
2.1.1.2. Mục tiêu của chương
 Về kiến thức :
HS biết :
- Vị trí, đặc điểm về cấ
u tạo nguyên tử, tính chất vật lý và hóa học chung của kim loại, dãy
điện hóa của kim loại.

- Khái niệm hợp kim và cấu tạo của hợp kim.
- Các phương pháp điều chế kim loại.
HS hiểu :
- Nguyên nhân gây ra các tính chất vật lí chung của kim loại (dẫn điện, dẫn nhiệt, dẻo, có ánh
kim)
- Nguyên nhân gây ra tính chất hóa học chung của kim loại (tính khử)
HS vận dụng : biết cách bảo vệ
kim loại khỏi bị ăn mòn.
 Về kỹ năng
Rèn kĩ năng :
- Từ cấu tạo của nguyên tử kim loại và tinh thể kim loại suy ra tính chất.
- Giải bài tập về kim loại.
- Kĩ năng làm thí nghiệm đơn giản về kim loại.

×