Tải bản đầy đủ (.doc) (30 trang)

đánh giá hiệu quả của việc lựa chọn chế độ trung gian trong bộ ba bất khả thi ở châu á

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (581.96 KB, 30 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA VIỆC LỰA CHỌN
CHẾ ĐỘ TRUNG GIAN TRONG BỘ BA BẤT KHẢ
THI Ở CHÂU Á
Giảng viên: Quách Doanh Nghiệp
Giảng đường: NH 456 - K36
Thành viên nhóm:
1.Đặng Hữu Cương - NH6
2.Nguyễn Thị Hoa Anh - NH6
3.Nguyễn Thị Ngọc Anh - NH5
4.Nguyễn Ngọc Anh Phương - NH5
5.Phạm Thu Thủy - NH6
6.Ngô Thị Huyền Trang - NH5
TP. HCM, ngày 3 tháng 3 năm 2013
2
Mục lục
3
1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.1. Nội dung nghiên cứu
Lý thuyết bộ ba bất khả thi là một lý thuyết kinh tế nền tảng, phổ biến trong kinh tế học
vĩ mô. Theo chu trình phát triển của kinh tế toàn cầu, nhiều kiểu hệ thống tài chính quốc
tế đã được thiết lập để đạt được hai trong ba mục tiêu là độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và
hội nhập tài chính. Nói một cách khác, chính phủ phải đánh đổi giữa các công cụ quản lý
kinh tế vĩ mô.
Hiện nay các nền kinh tế Châu Á mới nổi được xem xét là lựa chọn chế độ trung gian của
bộ ba bất khả thi với nền kinh tế không có khung chính sách tiền tệ xác định. Hầu hết là
sự kết hợp giữa gia tăng hội nhập tài chính nhưng vẫn giữ kiểm soát vốn, tỷ giá hối đoái
linh hoạt hơn và độc lập tiền tệ ở mức độ vừa phải. Trong đó, hệ thống neo tỷ giá được
xem là nền móng cho chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa trên xuất khẩu của hầu hết các


quốc gia Châu Á. Tuy nhiên, việc mở cửa tài khoản vốn quá nhanh trong khi mức độ linh hoạt
của tỷ giá chưa cao lại dẫn đến những rủi ro cho các quốc gia này - thực tiễn hóa bởi cuộc Khủng
hoảng tiền tệ Châu Á 1997.
Trên cơ sở các lý thuyết được đề cập và nghiên cứu trước đó về lý thuyết bộ ba bất khả
thi, hiệu quả việc lựa chọn chế độ trung gian của bộ ba bất khả thi ở Châu Á - 11 được
trình bày trong bài nghiên cứu này theo cấu trúc như sau:
Phần 1: Mục tiêu nghiên cứu
Phần 2: Nghiên cứu giới thiệu về cơ sở lý thuyết: Lý thuyết bộ ba bất khả thi – đây chính
là những kiến thức nền tảng để chúng tôi dựa vào đó để tiếp cận với đề tài.
Phần 3: Phân tích tiến trình thay đổi trong tiến trình lựa chọn chế độ của Bộ ba bất khả thi
ở Châu Á - 11.
Phần 4: Đánh giá hiệu quả trong việc thay đổi chế độ trung gian của Bộ ba bất khả thi ở
Châu Á - 11.
Phần 5: Kết luận.
4
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết này có mục tiêu là đánh giá hiệu quả của việc lựa chọn chế độ trung gian của bộ
ba bất khả thi ở Châu Á - 11.
Cụ thể, nhóm chúng tôi thiết lập các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Nội dung chế độ trung gian của bộ ba bất khả thi là gì?
- Tác động của chế độ trung gian của bộ ba bất khả thi với nền kinh tế Châu Á - 11 là như
thế nào?
2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu đã trình bày trong bài
 Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi phát triển bởi Robert Mundell và Macus Fleming
(1960s) một quốc gia chỉ có thể theo đuổi hai trong ba mục tiêu đó là độc lập tiền tệ, tỷ
giá hối đoái cố định và hội nhập tài chính. Các mục tiêu này được sơ đồ hóa như ba đỉnh
của một tam giác, việc thực hiện đồng thời cả ba đỉnh của tam giác là phi thực tế. Cụ thể
là:
(i). Ồn định tỷ giá và sự hợp nhất thị trường vốn có thể được kết hợp bằng cách áp dụng
một tỷ giá hối đoái cố định lâu dài nhưng yêu cầu phải từ bỏ sự độc lập tiền tệ. Vì thế,

những nhà cầm quyền không thể thay đổi lãi suất trong nước một cách độc lập với lãi
suất nước ngoài.
(ii). Độc lập tiền tệ và sự hợp nhất thị trường vốn có thể được kết hợp bằng cách thả nổi
tỷ giá nghĩa là yêu cầu phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá. Lúc này những nhà cầm quyền
tự do ấn định lãi suất trong nước nhưng họ phải chấp nhận tỷ giá hối đoái mà thị trường
quyết định.
(iii). Ổn định tỷ giá có thể được kết hợp với độc lập tiền tệ nhưng yêu cầu phải từ bỏ sự
hợp nhất thị trường vốn. Khi có kiểm soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá bị phá
vỡ.
Hình 1.3. Tam giác bộ ba bất khả thi
Là sự minh họa về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi. Mỗi cạnh thể hiện cho các
mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của tỷ giá, và hội
nhập tài chính hoàn toàn. Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ
chính sách tại các đỉnh. Mục tiêu hội nhập tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn;
mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi hoàn toàn; mục tiêu chính sách tiền tệ
5
độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ. Bất kỳ cặp mục tiêu nào cũng có thể đạt
được bởi một đỉnh nằm giữa.
 Quan điểm trung gian trong lựa chọn các mục của bộ ba bất khả thi.
Các quốc gia thường hiếm khi phải đối mặt với những sự lựa chọn ở hai cực của một mục
tiêu như lý thuyết nguyên thủy của bộ ba bất khả thi. Thay vào đó, các nước lựa chọn chế
độ trung gian của bộ ba bất khả thi (“Generalized Trilemma configuration”). Một cách cụ
thể:
-Hội nhập tài chính từng phần , tỷ giá thả nổi có quản lý và một mức độc lập tiền tệ nhất
định. Hiểu được nội dung của sự kết hợp này vẫn còn là thách thức vì cho đến nay vẫn
chưa có cách thức cụ thể để xác định, đo lường mức độ trung gian của ba biến trong bộ
ba bất khả thi.
Tam giác bất khả thi của Mundell-Fleming chỉ mới tập trung đến các cơ chế tỷ giá nằm ở
các đỉnh của tam giác mà chưa đề cập đến một cơ
chế tỷ giá trung gian nằm đâu đó bên trong tam giác bất khả thi. Eichengreen (1994) cho

rằng chế độ tỷ giá con rắn tiền tệ, neo tỷ giá hay dải băng tỷ giá đều ko bền vững, ông
ủng hộ “giải pháp hai góc” hay “quan điểm lưỡng cực”.
Tuy nhiên, Frankel (1999) cho rằng một quốc gia vẫn có thể lựa chọn cơ chế tỷ giá bán
ổn định (half-stability) và chính sách tiền tệ bán độc lập (half-independence). Và lý
thuyết bộ ba bất khả thi không thể ngăn cản một quốc gia theo đuổi cơ chế tỷ giá thả nổi
6
có quản lý, dải băng tỷ giá, tỷ giá cố định có thể điều chỉnh hay bất cứ cơ chế tỷ giá trung
gian nào. Hơn nữa, ông đã nhấn mạnh rằng không có một chế độ tiền tệ duy nhất nào là
tốt nhất cho tất cả các quốc gia và thậm chí ngay trong chính quốc gia đó thì cũng không
có một chính sách tiền tệ duy nhất nào là phù hợp cho mọi thời kỳ.
Theo Hannoum (2007), chế độ trung gian là chế độ mà những lựa chọn nằm giữa những
mục tiêu rõ ràng của bộ ba bất khả thi. Ông cho rằng, một giải pháp trung gian có sức hấp
dẫn nhất định, tức có thể có một tỷ trong tối ưu cho ba mục tiêu. Ấn Độ và Malysia và
các nước mới nổi Châu Á ví dụ điển hình cho những mục tiêu trung gian này.
Năm 2010 trong bài nghiên cứu: “Châu Á đương đầu bộ ba bất khả thi” IIIa Patnaik và
Ajay đã đánh giá về mức độ hội nhập tài chính và sự linh hoạt của tỷ giá ở 11 nước Châu
Á: China, Hong Kong, Korea, Malaysia, Singapore, Thailand, Viet Nam, India,
Philipines, Taipei, Singapore (Châu Á - 11). Tác giả cho rằng trên thực tế hầu hết các
quốc gia thuộc Châu Á - 11 đều tăng mức độ hội nhâp tài chính (trên lý thuyết là kiểm
soát vốn) trong khi tỷ giá hối đoái vẫn duy trì tương đối ổn định.Việc mở cửa tài khoản
vốn quá nhanh trong khi mức độ linh hoạt của tỷ giá chưa cao có thể dẫn đến những rủi
ro cho các quốc gia này. Đó là khi cần phải theo đuổi mục tiêu tỷ giá, các NHTW đôi khi
phải thực hiện chính sách tiền tệ đồng chu kỳ (mà lẽ ra vai trò của chính sách tiền tệ phải
là phản chu kỳ kinh tế) – hay nói một cách khác không thể thực thi một chính sách tiền tệ
độc lập. Ngoài ra, tính ổn định của tỷ giá sẽ triệt tiêu động cơ quản trị rủi ro tài chính
cũng như sự phát triển của thị trường các công cụ phái sinh. Nói một cách khác, IIIa
Patnaik và Ajay cho rằng Châu Á - 11 cần để cho tỷ giá linh hoạt hơn đồng thời với cải
cách và nâng cao hiệu quả của các công cụ chính sách tiền tệ trong lộ trình hội nhập tài
chính.
Vì vậy, kết quả nghiên cứu của IIIa Patnaik và Ajay được kế thừa và phát triển để đánh giá

hiệu quả chế độ trung gian bộ ba bất khả thi trong bài nghiên cứu này.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Chỉ số đo lường độ hội nhập tài khoản vốn trên lý thuyết chỉ số Chinn – Ito
(Chinn – Ito Index, KAOPEN)
Năm 2008, Chinn và Ito đã xây dựng một cơ sở dữ liệu Chinn – Ito để đo lường những
đánh đổi chính sách trong bộ ba bất khả thi. Trong đó, chỉ số KAOPEN được đề xuất để
đo lường mức độ hội nhập tài chính. Thông qua chỉ số KAOPEN ta sẽ nhận biết được
một quốc gia có thực hiện kiểm soát vốn hay không thông qua sự tồn tại của cơ chế đa tỷ
7
giá (cơ chế mà một loại tỷ giá áp dụng trên tài khoản vãng lai và một loại tỷ giá áp dụng
cho tài khoản vốn).
KAOPEN dựa trên thông tin trong báo cáo hàng năm về cơ chế tỷ giá và những hạn chế
ngoại hối do IMF phát hành (Annual Report on Exchange Arrangements and Exchange
Restrictions - AREAER). Chinn và Ito đã phân loại các biến số này thành bốn nhóm
chính:
• Nhóm 1 gồm những biến biểu thị sự hiện diện của cơ chế đa tỷ giá (k1);
• Nhóm 2 gồm những biến biểu thị những hạn chế về giao dịch tài khoản vãng lai (k2);
• Nhóm 3 gồm những biến biểu thị những hạn chế về giao dịch tài khoản vốn (k3); và
• Nhóm 4 gồm những biến biểu thị sự thúc đẩy xuất khẩu (k4).
Chinn và Ito tính trung bình trượt 5 năm (năm t và 4 năm trước đó) của nhóm k3 và hình
thành biến SHAREk
3,t
.
Sau đó, Chinn và Ito xây dựng chỉ số độ mở tài khoản vốn (KAOPENt) bằng cách chuẩn
hóa bậc một các thành phần chính của k
1t
, k
2t
SHAREk
3t

, k
4t
. Chỉ số KAOPEN biến thiên
từ 0 đến 1. Giá trị càng cao của chỉ số này cho thấy quốc gia mở cửa thị trường vốn hơn
với những giao dịch vốn xuyên quốc gia.
3.2. Phương pháp xác định cơ chế tỷ giá hối đoái
3.2.1. Mô hình Frankel-Wei
Mục tiêu nghiên cứu: Tìm ra tỷ giá hối đoái tự do ở tất cả các quốc gia bao gồm những
quốc gia có cơ chế trung gian.
Phương pháp nghiên cứu: Mô hình hồi quy tuyến tính dựa vào tỷ giá hối đoái chéo (với
một đơn vị tính toán phù hợp) còn được gọi là mô hình Frankel-Wei. Trong phương pháp
này, một loại tiền tệ độc lập như Franc Thụy Sĩ (CHF) được chọn là một “đơn vị tính
toán” Nếu ước tính đồng rupee Ấn Độ (INR) thì mô hình ước lượng là:
8
 Hàm hồi quy này đưa ra mức độ dao động của tỷ giá INR/CHF khi cặp tỷ giá
USD/CHF dao động
 Nếu có sự neo giá đồng USD thì độ dao động của đồng JPY và DEM sẽ bằng 0
 Nếu không có sự neo giá đồng USD thì ba giá trị beta sẽ khác 0
 Giá trị của R
2
trong hàm hồi quy này rất được quan tâm, giá trị gần đến 1 thì tỷ giá
hối đoái giảm dần độ linh động
 Dữ liệu: chuỗi thời gian
3.2.2. Phương pháp Zeileis, Shah và Patnaik năm 2008
 Mục tiêu nghiên cứu: Dùng phương pháp kỹ thuật để dõi theo sự ổn định của cơ
chế tỷ giá hối đoái. Bên cạnh đó nhằm mục đích kiểm tra (testing) thông qua dữ liệu lịch
sử (history data), giám sát (monitoring) thông qua những dữ liệu mới vào (incoming data)
và quan trọng là tìm ra điểm phá vỡ trong sự biến chuyển của cơ chế tỷ giá hối đoái
(dating). Mô hình này trả lời các câu hỏi sau:
1. Liệu mô hình tỷ giá hối đoái được đưa ra có ổn định suốt khoảng thời gian mà nó được

thành lập?
2. Nếu nó ổn định, thì liệu trong tương lai nó vẫn duy trì sự ổn định hay không?
3. Nếu nó không ổn định thì khi nào và như thế nào cơ chế tỷ giá hối đoái thay đổi?
 Nền tảng:
Andrews1993; Hansen2001;Zeileis2005 trả lời câu hỏi thứ nhất.
Chu, Stinchcombe, và White 1996; Zeileis, Leisch, Kleiber, Hornik2005 trả lời câu hỏi
thứ hai.
Mở rộng mô hình Frankel-Wei, phương pháp tương tự của Perron-Bai (Bai1997; Bai and
Perron2003) để xác định ngày thay đổi cấu trúc trong một hồi quy OLS trả lời câu hỏi thứ
ba.
 Ứng dụng: Tập trung vào giai đoạn sau năm 1976, sử dụng tỷ giá hối đoái được
thay đổi hàng tuần cho các ước tính
+ Áp dụng với Trung Quốc (nước này từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định với đồng USD
vào năm 2005)
9
+ Áp dụng với Ấn Độ (đặc biệt khi nước này chuyển qua chế độ tỷ giá trung gian vào
năm 1993)
+ Áp dụng với Hàn Quốc và một số quốc gia Châu Á khác
 Phương pháp:
1. Hàm hồi quy (ứng dụng từ mô hình Frankel-Wei):
Để xác định tiền tệ nào đó có neo giá với đồng tiền tệ nào khác hay không ta sử dụng mô
hình hồi quy tuyến như sau:
y
i
: những thống kê của đồng tiền tệ mục tiêu
x
i
: những vector của thống kê các nhóm (rổ) gồm k tiền tệ khác cộng với một hằng số
 Khi một quốc gia có chế độ tỷ giá hối đoái cố định thì β =1 và các yếu tố khác sẽ bằng 0,
Ϭ

2
= 0
 Khi một quốc gia có chế độ tỷ giá hối đoái neo giá theo một đồng tiền khác thì giá trị β
gần bằng 1, các yếu tố khác gần bằng 1 và Ϭ
2
với giá trị thấp
 Khi một quốc gia có chế độ tỷ giá hối đoái neo giá với rổ đồng tiền khác thì Ϭ
2
với giá trị
thấp, β thì tương ứng với phần lớn giá trị của nhiều đồng tiền khác
 Cuối cùng, đối với tỷ giá thả nổi, σ
2
thì cao, giá trị β phản ánh giá trị tài khoản tiền tệ tự
nhiên và tài khoản vốn liên quan đến quốc gia
 Đối với mỗi quốc gia, một tập hợp các giai đoạn nhỏ được xác định, trong mỗi giai đoạn
R
2
của hàm hồi quy phục vụ như bảng thống kê tóm tắt độ linh hoạt của tỷ giá. Giá trị
càng gần 1 cho thấy tỷ giá càng neo chặt. Tỷ giá thả nổi có giá trị từ 0,4-0,5.
Xử lý thông tin đầu vào như sau
 Cả 2 giá trị x
i
và y
i
được tính từ log thống kê sự chênh lệch của những tiền tệ
Với p
i
là giá trị của tiền tệ ở thời gian i
 Phương trình 1 được tính nhờ phương pháp OLS
 Thông số được đo lường hàng tuần cho các ước tính

2. Tìm số ngày phá vỡ cơ chế tỷ giá hối đoái (m):
10
Phương pháp Bai and Perron(2003) Phương pháp Zeileis, Shah và Patnaik năm 2008
Thông số dùng để tối ưu hóa
(optimize) các giá trị tiền tệ là RSS
(sum of squares) trong mô hình hồi
quy tuyền
Sử dụng thông số NLL (negative log-
likelihood)
ΨRSS chỉ phụ thuộc vào các hệ số
hồi quy
ΨNLL còn liên kết chặt chẽ với phương sai σ
2
=> chính xác hơn
Qua nhiều bước tính toán ta có thể xác định m
bằng cách tối ưu hóa hàm:
Với:

thường sử penalty LWZ
Trong đó:
n là số quan sát
Nguồn: />Exchange Rate Regime Analysis Using Structural Change Methods (Achim Zeileis, Ajay
Shah, Ila Patnai)
4. Những thay đổi trong tiến trình lựa chọn chế độ của Bộ ba bất khả thi ở Châu Á
-11
4.1. Về kiểm soát vốn
Để đo lường mức độ kiểm soát dòng vốn hay mức độ tự do hóa trong chu chuyển vốn của
Châu Á - 11, bài viết dùng hai công cụ. Một công cụ để đo mức độ tự do chu chuyển vốn
theo lý thuyết hay theo tuyên bố chính thức của quốc gia và một công cụ để đo mức độ
chu chuyển vốn trên thực tế.

11
4.1.1. Mức độ tự do chu chuyển vốn theo lý thuyết
Đầu tiên chúng ta bắt đầu với sự mô tả của việc kiểm soát vốn về mặt pháp lý ở 11 nền
kinh tế Châu Á trong mối tương quan với phần còn lại của Thế giới. Năm 2008 Chinn và Ito đã
xây dựng một bộ dữ liệu để đánh giá mức độ kiểm soát vốn về mặt pháp lý dựa trên thông
tin trong báo cáo hàng năm về cơ chế tỷ giá và những hạn chế ngoại hối do IMF phát hành (Annual
Report on Exchange Arrangements and Exchange Restrictions - AREAER). Theo đó, các nền kinh
tế với tài khoản vốn hoàn toàn khép kín ứng với giá trị từ -1,81 điểm đến +2,53 điểm cho
những nền kinh tế khác với các tài khoản vốn hoàn toàn tự do hóa. Mặc dù thường được
sử dụng để đánh giá việc kiểm soát vốn về mặt pháp lý nhưng bộ dữ liệu để phân tích
theo giá trị Chinn-Ito vẫn có những giới hạn nhất định.
Hình 1: Mức độ mở cửa tài khoản vốn của tất cả các nền kinh tế trong năm 1970 và 2007.
Biểu đồ trên thể hiện mật độ Kernel mức độ mở cửa tài khoản vốn đo lường bằng thước
đo phát triển bởi Chinn-Ito cho tất cả các nền kinh tế. Đường màu xanh ứng với năm
1970, còn màu đỏ ứng với năm 2007. Trên cả hai đường này đầu có hai đỉnh cao, một
đỉnh ứng với mẫu gồm tập hợp các quốc gia gần như mở cửa tài khoản vốn trong khi đỉnh
còn lại ứng với các quốc gia có sự kiểm soát chặt chẽ tài khoản vốn.
Cơ sở dữ liệu Chinn-Ito cho thấy rằng trong những năm qua, trên thực tế việc bãi bỏ kiểm
soát tài khoản vốn của Chính phủ đã diễn ra trên toàn thế giới. Hình 1 cho thấy mật độ
Kernel của giá trị Chinn-Ito trên tất cả các nền kinh tế trong năm 1970 và năm 2007.
Trong cả hai năm, mật độ đạt cực đại tại hai đỉnh, ứng với một mẫu gồm tập hợp các
quốc gia gần như mở cửa tài khoản vốn trong khi đỉnh còn lại ứng với các quốc gia có sự
12
kiểm soát chặt chẽ tài khoản vốn. Điều này cho ta thấy một sự thay đổi mức độ kiểm
soát vốn từ gần như đóng cửa đến gần như mở cửa tài khoản vốn của các quốc gia. Đỉnh
của đường mật độ trong năm 2007 cao hơn nhiều so với đường mật độ năm 1970 tại mức
giá trị quanh -1. Ngày nay, số lượng các quốc gia đóng và mở cửa tài khoản vốn gần như
bằng nhau.
Hình 2.Tiến trình mở cửa tài khoản vốn của Châu Á – 11 so với Thế Giới
Mỗi năm giá trị Chinn-Ito trung bình được ước tính cho các nền kinh tế. Đường màu

xanh thể hiện xu hướng toàn cầu trong khi đường màu đỏ biểu thị xu hướng trung bình
của Châu Á – 11. Biểu đồ trên cho thấy trong những năm gần đây sự kiểm soát vốn về
mặt pháp lý nhìn chung ở 11 quốc gia Châu Á có xu hướng tương đồng với của thế giới.
Trong khi đó ở những thập niên trước xu hướng chung là nới lỏng quản lý hơn so với
toàn cầu.
Cơ sở dữ liệu Chinn-Ito có thông tin cho tất cả 11 nền kinh tế Châu Á, ngoại trừ các nền
kinh tế Trung Quốc và Đài Bắc là hai nơi kiên trì nhất với mục tiêu ổn định tỷ giá. Hình 2 cho
thấy xu hướng tự do hóa dòng vốn bình quân của khu vực Châu Á-11 (không bao gồm
Đài Bắc và Trung Quốc) và thế giới bằng giá trị Chinn-Ito. Tại cả hai điểm bắt đầu và kết
thúc, xu hướng kiểm soát vốn tại Châu Á-11 là tương tự với mức trung bình thế giới. Tuy
nhiên, có một giai đoạn mức độ nới lỏng kiểm soát ở Châu Á-11 đã tiến nhanh hơn so với
mức trung bình thế giới. Trên thực tế, các quốc gia Châu Á-11 khuyến khích dòng vốn
13
dài hạn như đầu tư trực tiếp nước ngoài, một vài quốc gia trong số đó hạn chế dòng vốn
ngắn hạn. Trong đó có thể kể đến Ấn Độ với nỗ lực hạn chế khoản nợ ngắn hạn.
Bảng 1:Giá trị của chỉ số Chinn-Ito đối với Ấn Độ, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Hàn
Quốc và mức bình quân của khu vực châu Á-11.
Năm Ấn Độ Trung Quốc Hàn Quốc
Trung bình của
Châu Á-11
1970 -1.13 -1.13 -1.13 -0.07
1975 -1.13 -1.13 -1.13 0.12
1980 -1.13 -1.13 -0.09 0.45
1985 -1.13 -1.13 -1.13 0.96
1990 -1.13 -1.81 -0.09 0.74
1995 -1.13 -1.13 -0.09 0.96
1996 -1.13 -1.13 -1.13 0.76
1997 -1.13 -1.13 -1.13 0.56
1998 -1.13 -1.13 -1.13 0.41
1999 -1.13 -1.13 -1.13 0.56

2000 -1.13 -1.13 -1.13 0.49
2001 -1.13 -1.13 -0.09 0.49
2002 -1.13 -1.13 -0.09 0.49
2003 -1.13 -1.13 -0.09 0.49
2004 -1.13 -1.13 -0.09 0.49
2005 -1.13 -1.13 -0.09 0.49
2006 -1.13 -1.13 -0.09 0.49
2007 -1.13 -1.13 0.18 0.36
14
Chênh lệch 2000-
2007
0 0 1.31 -0.13
Trong khi chỉ số của Trung Quốc và Ấn Độ duy trì ở mức -1,13, thì Hàn Quốc có xu
hướng biến động. Tự do hóa tài khoản vốn cho đến trước khủng hoàng tài chính Châu Á
năm 1997 đã dẫn đến sự sụt giảm chỉ số Chinn-Itot ừ giá trị -0,09 vào năm 1995 xuống
-1,13 vào năm 1997. Giá trị này được duy trì cho đến mãi năm 2001 khi tài khoản vốn
được tự do hóa trở lại.
Chỉ số này ở Châu Á-11 tăng ngoạn mục từ 0.07 vào năm 1979 đến 0.96 năm 1985. Tuy
nhiên vào năm 1988 sau cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á, chính phủ các quốc gia tăng
kiểm soát vốn, nên chỉ số này lại giảm xuống 0.41 vào năm 1998. Giá trị 0,96 trước
khủng hoảng vẫn chưa đạt đươc kể từ đó.
Nhìn chung bảng này cho chúng ta thấy quá trình tự do hóa tài khoản vốn của Ấn Độ,
Trung Quốc, và Hàn Quốc, so sánh với khu vực Châu Á-11. Chỉ số Chinn-Ito của Ấn Độ
và Trung Quốc duy trì gần như không đổi ở -1,13, tương ứng với trường hợp “đóng cửa
nền kinh tế". Sau khủng hoảng tài chính Châu Á, Hàn Quốc cũng duy trì chỉ số ở mức
-1,13 đến năm 2000 và tăng lên 0.18 năm 2007.
Từ các số liệu thống kê đã trình bày ở trên trong mối tương quan giữa Trung Quốc,
Ấn Độ, Hàn Quốc và Châu Á-11 ta thấy rằng các nước Châu Á-11 vẫn còn hạn chế
hội nhập tài chính trên cơ sở pháp lý.
4.1.2. Mức độ tự do chu chuyển vốn trên thực tế

Tỷ số của tổng lượng xuất nhập khẩu trên tổng sản phẩm quốc gia đo lường mức độ hội
nhập thương mại. Ý tưởng này được phát triển để đo lường sự hội nhập tài chính bằng tỷ
lệ của tổng dòng luân chuyển tài chính ra và vào một quốc gia trong cán cân thanh toán
trên GDP.
15
Khả năng kiểm soát tỷ giá hối đoái của ngân hàng trung ương phụ thuộc vào khối lượng
tổng dòng tiền trên thị trường ngoại hối. Cho dù các khoản thanh toán nhập khẩu, doanh
thu xuất khẩu, và các dòng tài chính ảnh hưởng đến tỷ giá hàng ngày.
Hình 3 cho thấy quá trình toàn cầu hóa theo thời gian tại khu vực Châu Á-11 (không bao
gồm Việt Nam, do không có dữ liệu). Việc mở cửa tài khoản vốn làm GDP trung bình
tăng từ khoảng 100% vào năm 1998 lên khoảng 160% vào năm 2008 nhờ sự đóng góp
của các nền kinh tế mở nhỏ thuộc Châu Á-11 như Singapore, HongKong, Trung Quốc.
Hình 3: Giá trị trung bình của tổng dòng luân chuyển vốn trên GDP khu vực
Châu Á - 11
Biểu đồ này đánh giá mức độ toàn cầu hóa dựa trên phân tích GDP. Giá trị 1 tương ứng
với mức 100% của GDP trong một năm. Hai ước lượng vị trí (trung bình và trung vị) chỉ
ra tốc độ hội nhập đáng kể vào nền kinh tế thế giới của Châu Á-11
Bảng 2 thể hiện cái nhìn chi tiết hơn đối với mẫu nghiên cứu. Tỷ lệ của tổng dòng luân
chuyển vốn ra và vào một quốc gia trong cán cân thanh toán trên GDP của cả Trung
Quốc và Ấn Độ đều thấp từ 1998 đến 2000. Tuy nhiên con số này tăng đáng kể sau đó.
Như với Ấn Độ từ 2000 đến năm 2008 tỷ lệ này tăng gần gấp đôi.
Những kết quả trên cho thấy trên mặc dù về mặt hành chính các quốc gia CA miễn
cưỡng mở cửa thị trường vốn nhưng trên thực tế sự lưu chuyển vốn của các quốc
gia Châu Á có xu hướng giống xu hướng của TG.
16
Bảng 2: Tổng dòng luân chuyển vốn trên GDP của Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc
Bảng này cho thấy tỷ lệ tăng của tổng dòng luân chuyển vốn trên GDP của Ấn Độ, Trung
Quốc, Hàn Quốc và khu vực Châu Á-11. Giá trị 1 tương ứng với mức 100% của GDP
trong một năm. Giữa năm 2000 và 2008, tỷ lệ này đã tăng 56% ở Ấn Độ, 30% ở Trung
Quốc; 69% ở Hàn Quốc, và 45% cho nền kinh tế của châu Á-11.

Như vậy, hội nhập tài chính có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của
Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Châu Á-11 (Tổng dòng luân chuyển tài chính trên
GDP của Ấn Độ, Trung Quốc và Hàn Quốc có xu hướng tăng và lớn hơn 1).
17
Từ những số liệu thống kê đã được trình bày, chúng ta thấy rằng trên thực tế Châu Á-11
đã nhanh chóng tăng cường hội nhập tài chính với thế giới.
Kết luận về độ hội nhập tài chính của Châu Á: Từ những kết quả trên ta thấy rằng
mặc dù trên tuyên bố, Châu Á để tài khoản vốn mở tự do một cách miễn cưỡng hay
có kiểm soát, nhưng trong thực tế, các nước Châu Á-11 đã gia tăng hội nhập tài
chính vào nền kinh tế toàn cầu một cách nhanh chóng.
4.2. Tỷ giá hối đoái
Mô hình xây dựng từ mô hình Frankel-Wei và mô hình Frankel-Wei được áp dụng để
kiểm tra chế độ tỷ giá hối đoái trên thực tế của 11 nền kinh tế của Châu Á - 11.
• Ấn Độ:
Khi quan sát các thông số, đặc biệt chú ý hệ số các β, σ và giá trị R
2
(áp dụng mô hình
Frankel-Wei, Zeileis, Shah và Patnaik 2008, thông số β hàng phía trên là tính theo
phương pháp NLL, hàng dưới tính theo phương pháp LWZ, ta chỉ chú tâm đến hàng
trên):
• Giai đoạn 1976-1998: giá trị R
2
= 0.84(thấp hơn giai đoạn 2), các giá trị β biến động khác
nhau tùy theo giá trị của đồng tiền đó, σ tương đối cao (0.73)
 Có sự linh động hơn trong tỷ giá hối đoái
 Nguyên do:trên thực tế là vào năm 1993, Ấn Độ đã thực sự đi vào chế độ tỷ giá trung
gian
• Giai đoạn 1998-2004: giá trị σ thấp hơn 2 giai đoạn còn lại, β1 = 1,01 (gần bằng 1), các
giá trị β còn lại gần bằng 0, R
2

lớn (0.97) gần bằng 1
 Có sự neo giá của đồng INR với đồng USD do β1 = 1,01, gần bằng 1, các giá trị β còn lại
phần lớn bằng 0, R
2
gần bằng 1 cho thấy sự neo giá này rất chặt chẽ, σ thấp cho thấy tỷ
giá hối đoái càng không linh động (gần cố định).
18
 Nguyên do: Khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1998 đã khiến cho tỷ giá Ấn Độ neo
theo tỷ giá Mỹ, tác động của khủng hoảng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế Ấn Độ.
• Giai đoạn 2004-2009: các giá trị R
2
bắt đầu giảm xuống còn 0.81 (thấp nhất trong ba giai
đoạn), σ có giá trị 0.77 (cao nhất trong 3 giai đoạn), các giá trị β biến động tùy theo giá
trị, không có giá trị nào bằng 0.
 Điều này chứng tỏ, Ấn Độ trở nên càng linh hoạt hơn trong sử dụng tỷ giá hối đoái
 Nguyên do: phục hồi kinh tế sau khủng hoảng
Ấn Độ có chế độ tỷ giá trung gian, sự linh động trong tỷ giá hối đoái rất rõ ràng thể
hiện qua các thông số một cách đáng kể.
• Trung Quốc:
• Giai đoạn 1981-1985: R
2
=0.89, σ=0.72, các giá trị β khác 0, β
1
khác 1
 Tỷ giá hối đoái nhìn chung là khá linh động tuy so với Ấn Độ tại khoảng thời gian này thì
vẫn còn khá rụt rè
• Hai giai đoạn 1985-1991 và 1995-2005: khi tính theo phương pháp NLL, nhìn vào các
thông số, ta thấy giá trị R
2
=1, σ=0, β

1
=1 và các β còn lại bằng 0
 Có sự neo giá hoàn hảo của CNY với đồng tiền USD, tỷ giá hối đoái cố định hoàn toàn
• Hai giai đoạn còn lại tỷ giá kém linh động hơn giai đoạn 1981-1985 nhưng cũng có phần
linh động hơn hai giai đoạn cố định
19
Sự linh động trong tỷ giá hối đoái của Trung Quốc nhìn chung khiêm tốn hơn nhiều
so với Ấn Độ
• Hàn Quốc:
• Giai đoạn đầu: Hàn Quốc có cơ chế tỷ giá kém linh động với giá trị σ = 0.25 (khá thấp),
R
2
= 0.98 ( gần =1), β
1
= 0.97 và các β khác gần bằng 0
• Giai đoạn sau: Hàn Quốc như có sự chuyển mình đáng ngạc nhiên với giá trị R
2
= 0.65,
giá trị σ = 1.12 rất lớn và các giá trị β phản ánh khác nhau theo giá trị đồng tiền của nó.
Giai đoạn này cho thấy sự linh động lớn trong cơ chế tỷ giá hối đoái.
Cơ chế tỷ giá hối đoái Hàn Quốc rất linh động, mức độ linh động nhìn chung lớn
hơn cả Ấn Độ
• Châu Á-11:
Hình trên chỉ ra số trung bình, giá trị trung vị R
2
của 11 nền kinh tế Châu Á. Tại mỗi thời
điểm, và tại mỗi đất nước, cơ chế tỷ giá hối đoái thực tế đã được xác định, giá trị R
2
của
từ kỳ giai đoạn này đã được tận dụng.

Giá trị trung bình R
2
bắt đầu với giá trị cao là 0.9. Có một sự gia tăng nhỏ trong sự linh
động trong năm 1980 và 1981. Sau đó, tuy nhiên, có một thời kỳ duy trì tỷ giá hối đoái
cứng nhắc.
20
Từ năm 1982 đến 1997, trung bình R
2
đều hơn 0.9. Sự linh động của tỷ giá hối đoái này
đi theo với sự gia tăng của chính sách mở cửa nguồn vốn, mang đến sự mở màn của
khùng hoảng tài chính Châu Á, điều này liên quan tới những xí nghiệp và những ngân
hàng mượn tiền từ những nguồn ngoại hối dựa vào những kỳ vọng tỷ giá hối đoái cứng
nhắc.
Suốt cuộc khủng hoảng, sự linh hoạt trong tỷ giá hối đoái gia tăng. Vào năm 1998, trung
bình R
2
rớt xuống 0.61. Tuy nhiên, ngay lập tức sau đó, sự cứng nhắc của tỷ giá hối đoái
gia tăng. Thực tế được quan sát và thử nghiệm này được làm nổi bật bởi Calvo và
Reinhart (2002), họ nhấn mạnh rằng sau cuộc khủng hoảng, những thay đổi trong cơ chế
tỷ giá hối đoái là nhỏ ở Châu Á. Quan điểm này được khuyếch đại hơn bởi giả thuyết
Bretton Woods II, giả thuyết này cố gắng giải thích một cách hợp lý về độ cứng của tỷ
giá hối đoái trong trường hợp này (Dooley, Folkerts-Landau và Garber 2003).
Bằng chứng của chúng tôi cung cấp một quan điểm hơi khác nhau ở hai khía cạnh. Đầu
tiên, trong khi sự kém linh động của tỷ giá hối đoái tại 11 nước Châu Á gia tăng sau
khủng hoảng lắng xuống, nhưng nó trở lại giá trị thấp hơn khi so sánh với chính nó trong
giai đoạn chiếm ưu thế trước khủng hoảng. Trung bình R
2
là 0.93 vào 1997; hậu khủng
hoảng, nó thay đổi là 0.88 trong giai đoạn 2002-2004.
Quan sát thú vị thứ nhất là kể từ năm 2002, độ linh động trong tỷ giá hối đoái tại 11 nước

Asia đã từ từ nâng lên. Trung bình R
2
giảm xuống dần từ 0.886 trong giai đoạn 2002-
2004 còn 0.85 trong năm 2009.
Kết luận: Tỷ giá hối đoái của Châu Á - 11 được duy trì tương đối ổn định dù mức
độ linh hoạt của Tỷ giá hối đoái gia tăng trong những năm gần đây.
4.3. Phân tích chính sách tiền tệ đối với các sự lựa chọn .
 Châu Á
Lý thuyết “bộ ba bất khả thi” khẳng định rằng một quốc gia chỉ có thể chọn hai trong số
ba mục tiêu: cơ chế tỷ giá cố định, mở cửa tài khoản vốn và chính sách tiền tệ độc lập.
Ở một thái cực, một quốc gia với tài khoản vốn mở cửa hoàn toàn tự do và một cơ chế
tỷ giá cố định hoàn toàn thì phải từ bỏ mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập. Tại một số
chế độ điển hình ở châu Á, trên thực tế việc tăng cường mở cửa diễn ra thông qua các
quy định tự do hóa, kết hợp với sự phát triển hệ thống tài chính nội địa, và sự tránh né
việc kiểm soát vốn là hoàn toàn có thể với một tài khoản vãng lai lớn. Với những điều
kiện này, cơ chế tỷ giá hối đoái cố định có thể dẫn đến làm sai lệch chính sách tiền tệ.
Mặc dù một đất nước có thể cố gắng để lấy lại quyền tự chủ về chính sách tiền tệ thông
21
qua áp chế tài chính, áp đặt kiểm soát vốn, hoặc chính sách vô hiệu hóa nhưng lập luận
của bộ ba bất khả thi cho thấy rằng muốn đạt mục tiêu tỷ giá hối đoái cố định thì phải
hi sinh quyền tự chủ trong chính sách tiền tệ.
Bảng 8: Châu Á và bộ ba bất khả thi
Bảng này tóm tắt kết quả chính của 11 quốc gia khu vực châu Á đã thảo luận trong phần
trên, với dữ liệu trên mỗi nền kinh tế cho năm quan sát gần đây nhất bao gồm: dữ liệu về
tỷ giá hối đoái cố định, mức độ mở cửa tài khoản vốn theo tuyên bố và trên thực tế.
Tỷ giá hối đoái
Tài khoản vốn mở
Country Cố định (2009)
Theo luật
(2007)

Trên thực tế
(2007)
Trung Quốc
0.98
-1.13
1.13
Hong Kong 1.00 2.53 23.91
India 0.81 -1.13 0.71
Korea, Republic of
0.65
0.18
1.35
Malaysia 0.92 -0.09 2.22
Philippines
0.78
0.14
1.32
Taipei,China 0.90 N.A. 3.37
Viet Nam
0.87
-1.13
1.30
Mean
0.85
0.20
4.08
Median
0.87
0.03
1.58

Nguồn: Chinn và Ito (2008), Lane và Milesi-Feretti (2007) và IIIa Patnaik và Ajay
Trong các thị trường mới nổi, tính đồng chu kỳ của các dòng vốn là đặc biệt quan
trọng. Khi xoay vòng kinh doanh tốt và điều kiện chu kỳ kinh doanh có tăng trưởng
mạnh, vốn có xu hướng di chuyển vào trong nước. Để ngăn chặn tỷ giá hối đoái lên cao,
các ngân hàng trung ương sẽ mua đô la, một động thái mà cuối cùng sẽ làm giảm lãi suất
trong nước. Ngược lại, khi nền kinh tế đang trong suy thoái, vốn có xu hướng di
chuyển ra khỏi đất nước. Các ngân hàng trung ương chống lại bằng cách bán đôla, dần
dần làm tăng lãi suất trong nước. Các dòng vốn đồng chu kỳ kết hợp với tỷ giá cố định
để đưa ra chính sách tiền tệ độc lập. Đây là điều có ý nghĩa đối với các chính sách tiền
tệ bị biến dạng trên một thị trường mới nổi.
Sự phản ứng của 11 quốc gia Châu Á đối với bộ ba bất khả thi khá đa dạng; chẳng hạn
một vài nền kinh tế như Singapore và Hồng Kông, Trung Quốc đã chọn mở cửa tài
khoản vốn mạnh và hạ thấp hoặc giữ tỷ giá hối đoái cố định, trong khi các nền kinh tế
như Ấn Độ và Trung Quốc đã chọn lựa mở cửa tài khoản vốn thấp và tỷ giá hối đoái
không linh hoạt. Giai đoạn những năm 2000 – 2008, nền kinh tế của 11 quốc gia Châu Á
22
trên thực tế đã chuyển hướng ngày càng mở cửa tài khoản vốn, ngoại trừ Malaysia,
Philippines, và Indonesia. Trong khi đó, tỷ giá hối đoái linh hoạt vẫn không thay đổi
trong hầu hết các nền kinh tế, ngoại trừ ở Indonesia thì giảm xuống, và ở các nước
Malaysia, Ấn Độ, và Trung Quốc thì tăng lên.
Trong khung lý thuyết về bộ ba bất khả thi, một quốc gia có thể có một cơ chế tỷ giá hối
đoái cố định và từ bỏ chính sách tiền tệ độc lập. Một tài khoản vốn mở cửa tự do kết
hợp với một cơ chế tỷ giá hối đoái cố định dẫn đến việc mất tự chủ về chính sách tiền
tệ, như đã có kinh nghiệm ở Hồng Kông (Trung Quốc). Các hội đồng tiền tệ của Hồng
Kông (Trung Quốc) có một khuôn khổ nhất quán chính sách tiền tệ, với lãi suất trong
nước biến động mạnh là kết quả của tỷ giá hối đoái cố định.
 Trung Quốc
Năm 2008 Trung Quốc đã duy trì để giữ tỷ giá hối đoái ít linh hoạt kết hợp với chính
sách mở cửa khá lớn tài khoản vốn. Điều này đặt một câu hỏi: Có phải Trung Quốc đã
có thể bảo vệ chính sách tiền tệ độc lập?

Cần xem xét chính sách tiền tệ của Trung Quốc với việc tập trung vào các vấn đề như
các chính sách vô hiệu hóa (chính sách bù trừ), các phép đo hệ số bù trừ, và sự tác động
qua lại giữa chính sách vô hiệu hóa và hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên những vấn đề
này không trực tiếp cần thiết để phân tích tính đồng chu kỳ của chính sách tiền tệ. Phân
tích những vấn đề này với yếu tố trung gian có ảnh hưởng đến kết quả của chính sách
tiền tệ: lãi suất ngắn hạn trong nước. Chúng tôi tái hiện lại lãi suất ngắn hạn của Trung
Quốc trong thực tế, và đặt nó bên cạnh những điều kiện của chu kỳ kinh doanh. Điều
này cho phép chúng tôi đánh giá mức độ mà tỷ lệ lãi suất cao trong một chu kỳ kinh tế
mở rộng và ngược lại, và kiểm tra xem chính sách tiền tệ có tính phản chu kỳ không.
1
Hình 8 Xem xét mức độ mà chính sách tiền tệ ở Trung Quốc trở nên đồng chu kỳ
trong chu kỳ mở rộng kinh doanh gần đây. Các đồ thị - trong đó sử dụng sự tăng trưởng
GDP hàng quý để đánh giá điều kiện chu kỳ kinh doanh - phản ánh một giai đoạn tăng
trưởng thần kì từ 2002 – 2007. Đặt điều này so với lãi suất trái phiếu kho bạc thời hạn
90 ngày (thể hiện trên thực tế), chúng ta thấy rằng từ năm 2002 đến đầu năm 2008, lãi
suất thực giảm một lượng lớn 800 điểm cơ sở. Điều này cho thấy chính sách tiền tệ đã
được nới lỏng trong giai đoạn tăng trưởng. Nó phù hợp với ý tưởng rằng tỷ giá hối đoái
cố định chuyển những dòng vốn đồng chu kỳ vào chính sách tiền tệ đồng chu kỳ. Việc
sử dụng chính sách tiền tệ nới lỏng trong một chu trình mở rộng kinh doanh chưa từng
có trước đây đã thúc đẩy gia tăng lạm phát và bùng nổ giá tài sản.
Hình 8: Chính sách tiền tệ và chu kỳ kinh doanh của Trung Quốc
1
23
Các giai đoạn tăng trưởng GDP hàng quý đã được sử dụng làm thước đo các điều kiện chu
kỳ kinh doanh. Để có được các giai đoạn của lãi suất thực, lãi suất danh nghĩa trong ngắn
hạn đã được tái hiện trong điều kiện thực tế có sử dụng tỷ lệ lạm phát hiện tại. Nhìn
chung, trong một chu trình mở rộng kinh doanh chưa từng có trước đây, lãi suất thực đạt
giá trị thấp.
Nguồn: Datastream
Nguồn: Datastream

Việc 800 điểm cơ bản giảm xuống của tỷ lệ lãi suất thực trong suốt chu trình mở rộng
kinh doanh chưa từng có trước đây cho rằng Trung Quốc không thể tránh khỏi tác động
24
của bộ ba bất khả thi, cho dù có dùng chính sách vô hiệu hóa hoặc các kỹ thuật can
thiệp khác dựa trên kiểm soát vốn hoặc áp chế tài chính. Trong khi cố gắng đưa ra một
loạt các biện pháp, họ đã thất bại trong việc ngăn chặn kết quả: cách duy nhất để có
được tỷ giá hối đoái cố định là phải giảm tỷ lệ lãi suất rất thấp trong điều kiện thực tế.
 Ấn Độ và các quốc gia khác
Ấn Độ cũng cho ta kết quả tương tự. Mặc dù Ấn Độ có chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt
hơn Trung Quốc, chính sách tiền tệ cuối cùng cũng buộc phải đầu hàng lãi suất thực
trong việc mở rộng và chuyển hướng sang lãi suất thực tích cực trong suy thoái kinh tế
Ấn Độ. Ở châu Á, Trung Quốc và Ấn Độ là những nước đứng đầu về việc duy trì chính
sách tiền tệ độc lập mặc dù tỷ giá hối đoái cố định, với việc trên thực tế mở cửa tương
đối khiêm tốn và một hệ thống tài chính trong nước kém phát triển. Tuy nhiên, bằng
chứng cho thấy rằng ngay cả ở hai nền kinh tế, tỷ giá hối đoái cố định dẫn đến kết quả
chính sách tiền tệ có tính đồng chu kỳ.
Những hạn chế của bộ ba bất khả thi có vẻ phù hợp hơn tại các nước Malaysia, Đài
Loan- Trung Quốc và Thái Lan, mà trên thực tế có mở cửa tài khoản vốn nhiều hơn và
hệ thống tài chính phát triển tốt hơn so với Trung Quốc và Ấn Độ, nhưng tỷ giá hối đoái
cũng ít linh hoạt hơn so với Ấn Độ.
Trong số các nền kinh tế của 11 quốc gia Châu Á, Hàn Quốc đã có nhiều tiến bộ nhất
đối với các mô hình chủ đạo của nền kinh tế công nghiệp. Hàn Quốc mở cửa tài khoản
vốn cao, và tỷ giá hối đoái thì gần như linh hoạt nhất ở Châu Á. Họ cũng đã đạt được
tiến bộ đáng kể trong việc xây dựng năng lực thể chế của ngân hàng trung ương của
quốc gia mình. Tuy nhiên, chế độ tỷ giá hối đoái của Hàn Quốc, với R
2
đạt giá trị 0.65,
độ linh hoạt thua so với tỷ giá thả nổi mà tại đó R
2
đạt giá trị từ 0.4 đến 0.5.

Kết luận: Để duy trì một tỷ giá kém linh hoạt và tăng cường việc hội nhập tài chính
các nước châu Á phải từ bỏ một phần độ độc lập của chính sách tiền tệ. Vì thế để
tăng cường mức độ độc lập tiền tệ các nước đã áp dụng các chính sách tiền tệ phù
hợp với hoàn cảnh của nước mình để mang lại những sự tự chủ khác nhau.
5. Đánh giá hiệu quả trong việc thực thi chế độ trung gian của bộ ba bất khả thi của
Châu Á - 11
Chế độ trung gian của bộ ba bất khả thi cuả Châu Á-11 là sự kết hợp giữa gia tăng hội
nhập tài chính nhưng vẫn giữ kiểm soát vốn, tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn và độc lập tiền
tệ ở mức độ vừa phải. Trong đó, hệ thống tỷ giá neo tiền tệ được xem là nền móng cho
chiến lược tăng trưởng kinh tế dựa trên xuất khẩu của hầu hết các quốc gia châu Á. Vì
vậy việc kiểm soát dòng vốn không chỉ góp phần ổn định tỷ giá hối đoái, nâng cao độ độc
25

×