HÚT THUỐC LÁ VÀ TÌNH TRẠNG NHA
CHU Ở NAM GIỚI 35 – 44 TUỔI
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ hiện mắc và mức độ trầm trọng của bệnh viêm nha chu ở
nam giới 35 - 44 tuổi tại quận 5, TP.HCM; so sánh tỉ lệ và mức độ trầm trọng của
bệnh nha chu ở nam giới 35-44 tuổi trong cư dân quận 5, TP.HCM có và không
hút thuốc lá; xác định mối liên quan giữa lượng thuốc sử dụng, thời gian hút thuốc
và mức độ phơi nhiễm tích lũy với các chỉ số của bệnh nha chu: độ trụt nướu, độ
sâu túi, mất bám dính, chảy máu nướu, mảng bám răng.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện ở các
công dân nam tuổi từ 35 – 44, đang sinh sống tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh,
miền Nam Việt Nam.
Kết quả: Tỉ lệ người hiện đang hút thuốc lá là 60%, trong đó 75% là nghiện nặng
(hút trên 10 điếu mỗi ngày). Chỉ số mảng bám (CSMB 1 là 42,5 % và CSMB 2 là
48 %) và tỉ lệ vôi răng cao (trên 22 răng trong 28 răng được khám). Tỉ lệ viêm nha
chu là 19,3%. Mảng bám ở nhóm hút thuốc lá nhiều hơn nhóm không hút thuốc lá,
nhưng chảy máu nướu ở nhóm hút thuốc lá ít hơn ở nhóm không hút thuốc lá và
nhóm hút thuốc lá nhưng đã bỏ (p<0,05). Trụt nướu, độ sâu túi và mất bám dính ở
nhóm hút thuốc lá cao hơn so với nhóm không hút thuốc (p<0,01). Kết luận: có
mối liên quan giữa tình trạng nha chu (mảng bám, chảy máu nướu, trụt nướu, độ
sâu túi, mất bám dính) với số điếu hút mỗi ngày, số năm hút thuốc và mức độ phơi
nhiễm tích lũy.
ABSTRACT
TOBACCO SMOKING AND PERIODONTAL STATUS IN 35- 44 YEARS
OLD MALES, IN DISTRICT 5, HOCHIMINH CITY, 2007
Nguyen Quoc Viet, Ngo Dong Khanh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 13 –
Supplement of No 2 - 2009: 88 - 94
Objective: To determine tobacco smoking and the relationship between tobacco
smoking and periodontal status in 35- 44 years old males, in district 5, hochiminh
city, 2007.
Methods: A cross-sectional study was conducted among males aged from 35 to 44
years old, living in district 5 of HoChiMinh City.
Results: The prevalence of smokers was 60%, among them 75% were heavy
smokers (>10 cigarettes/day). Plaque index (PlI 1: 42.5% and PlI 2: 48%) and
Calculus index (>22 teeth out 28 examined ones) were equally high. Dental plaque
index among smokers was higher than in non smokers, however Bleeding index
was lower as compared to non smokers group and to group that quitted smoking
(p<0.05). Gingival recession, pocket depth and loss of attachment among smokers
were more important than in non smokers (p<0.01).
Conclusion: There was a correlation between periodontal status (plaque, gingival
bleeding, recession, pocket depth, loss of attachment) and the number of cigarettes
consumed per day, the duration of smoking habit and the cumulative exposure
level to tobacáco smoking.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hút thuốc lá là thói quen phổ biến ở người trưởng thành. Tỉ lệ hút thuốc lá đang
giảm dần ở các nước phát triển nhưng tăng dần ở các nước đang phát triển. Nhiều
nghiên cứu cho thấy hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh nha
chu
(1,2,4,6,9)
. Tuy nhiên, có một số nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt giữa
người hút thuốc lá và không hút thuốc đối với một số tổn thương mô nha chu. Ở
Việt nam, tỉ lệ người hút thuốc lá ở mức cao, đặc biệt là nam giới, nhưng có rất ít
nghiên cứu về mối liên quan giữa việc hút thuốc với tỉ lệ và mức độ trầm trọng của
bệnh nha chu
(12,16)
.
Hiện nay phòng chống hút thuốc lá là một nhiệm vụ được đặc biệt quan tâm của
nhà nước và ngành y tế. Riêng quận 5, TP.HCM đã và đang thực hiện chiến dịch
phòng chống hút thuốc lá, tuyên truyền và giáo dục cho người dân giảm hút thuốc
và sau đó bỏ hút thuốc. Câu hỏi đặt ra là tình hình hút thuốc lá của cư dân tại quận
5 như thế nào? Tình trạng bệnh nha chu của người trưởng thành ở quận 5,
TP.HCM thực sự ra sao? Hút thuốc lá có liên quan đến bệnh nha chu ở người
trưởng thành như thế nào? Để trả lời những cu hỏi trên đây, chúng tôi tiến hành
thực hiện nghiên cứu đề tài “Hút thuốc lá và tình trạng nha chu ở nam giới 35-44
tuổi trong cộng đồng dân cư quận 5, TP.HCM”.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Xác định tình trạng hút thuốc lá, bệnh nha chu và mối liên quan giữa hút thuốc lá
và bệnh nha chu ở nam giới 35 - 44 tuổi tại quận 5, thành phố Hồ Chí Minh, năm
2007.
Mục tiêu chuyên biệt
1. Xác định tỉ lệ hiện mắc và mức độ trầm trọng của bệnh viêm nha chu ở nam
giới 35 - 44 tuổi tại quận 5, TP.HCM (năm 2007).
2. So sánh tỉ lệ và mức độ trầm trọng của bệnh nha chu ở nam giới 35-44 tuổi trong cư
dân quận 5, TP.HCM có và không hút thuốc lá (năm 2007).
3. Xác định mối liên quan giữa lượng thuốc sử dụng, thời gian hút thuốc và mức
độ phơi nhiễm tích lũy với các chỉ số của bệnh nha chu: độ trụt nướu, độ sâu túi,
mất bám dính, chảy máu nướu, mảng bám răng (năm 2007).
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế, địa điểm, đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả có sử dụng bộ câu hỏi, ở các công dân nam tuổi từ 35
- 44 đang sinh sống tại quận 5, TP. HCM trong thời gian từ 5/6/2006 đến 4/2007.
Tiêu chí chọn mẫu
Người trong nhóm tuổi nghiên cứu có hộ khẩu thường trú quận 5. Có trạng thái
tinh thần bình thường, trả lời được câu hỏi, hợp tác khi khám và đồng ý tham gia
nghiên cứu.
Tiêu chí loại trừ
Người trong mẫu nghiên cứu không có mặt lúc điều tra hoặc không có khả năng trả lời
phỏng vấn hay không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu
Cỡ mẫu
Theo công thức
Z
2
1 - /2
P (1 - P)
N =
d
2
Theo số liệu điều tra quốc gia năm 2001 - 2002 chọn mẫu đại diện ở 61 tỉnh thành
trong cả nước thì có tới 56,1 % nam giới trưởng thành hút thuốc lá. Với Z
1 - /2
=
1,96; P = 0,561 % và d = 5%. Nên số người trong mẫu nghiên cứu khoảng 397 #
400.
Kỹ thuật chọn mẫu: chọn mẫu cụm – phân tầng nhiều bậc.
Giai đoạn 1: dựa theo thống kê tình trạng kinh tế - xã hội của các phường trong địa
bàn quận 5 và dựa theo cách phân tầng của Petersen chia mẫu làm 3 nhóm
phường:
Nhóm thu nhập cao: phường 2, phường 10, phường 12, phường 14
Nhóm thu nhập trung bình: phường 8.
Nhóm thu nhập thấp: phường 1, phường 6.
Giai đoạn 2: chọn ngẫu nhiên phường theo tỉ lệ phân bố dân cư nam giữa các cụm
Giai đoạn 3: bốc thăm ngẫu nhiên tổ, liệt kê danh sách cư dân nam từ 35-44 tuổi
hộ gia đình theo danh sách, khám tất cả các cá thể đã chọn.
Các bước tiến hành
Hướng dẫn cụ thể trả lời bộ câu hỏi
Khám lâm sàng: Mảng bám – Vôi răng – Chảy máu nướu – Độ trụt nướu – Độ sâu
túi - Mức độ mất bám dính.
Việc khám lâm sàng sẽ do một người thực hiện cho tất cả các đối tượng, người
khám không biết lịch sử hút thuốc của bệnh nhân.
Mảng bám sử dụng chỉ số Loe & Silness để đánh giá ở mặt ngoài sáu răng chỉ số:
tất cả các răng cối lớn thứ nhất, răng cửa giữa hàm trên bên phải và răng cửa giữa
hàm dưới bên trái.
Vôi răng được ghi nhận có hay không ở mỗi vị trí, không cần quan tâm đến số
lượng và sự khác biệt giữa vị trí trên nướu và dưới nướu.
Chảy máu nướu: được xem là dương tính khi quan sát thấy máu chảy trong vòng
20 đến 30 giây sau khi thăm dò bằng cây đo túi.
Độ trụt nướu: được đo từ đỉnh bờ nướu viền đến đường nối men-xê măng, tính
bằng mm. Vị trí được đo ở giữa ngòai và gần ngòai của mỗi răng trừ răng khôn.
Độ sâu túi: là khoảng cách từ đỉnh bờ nướu viền cho đến đáy khe nướu, tính bằng
mm. Vị trí được đo ở giữa ngòai và gần ngòai của mỗi răng trừ răng khôn.
Tình trạng hút thuốc lá được chia thành các nhóm hiện đang hút, hút nhưng đã bỏ
và không hút. Mức sử dụng thuốc lá được tính theo số điếu hút mỗi ngày và chia
thành hai mức: nặng (hút ≥10 điếu/ngày) và nhẹ (hút <10 điếu/ngày). Thời
gian hút thuốc được tính theo số năm hút thuốc và chia thành hai mức:
nặng (hút ≥15 năm) và nhẹ (hút <15 năm). Mức độ phơi nhiễm tích lũy
được tính theo đơn vị điếu-năm (số điếu hút mỗi ngày nhân với số năm hút
thuốc) và cũng chia thành hai mức: nặng (≥200 điếu-năm) và nhẹ (<200
điếu-năm).
Tình trạng vệ sinh răng miệng được đánh giá dựa trên ba chỉ tố: mảng bám, vôi
răng và chảy máu nướu. Mảng bám được đánh giá theo trung bình chỉ số mảng
bám và tỉ lệ phần trăm từng mức chỉ số mảng bám. Vôi răng và chảy máu nướu
được đánh giá theo số răng có vôi răng hay có chảy máu nướu.
Thông số đánh giá tình trạng nha chu của nghiên cứu là tỉ lệ, phân bổ, mức độ
trầm trọng của mất bám dính và phân chia tình trạng bệnh dựa trên mất bám dính
và độ sâu túi. Mất bám dính được tính bằng cách cộng độ sâu túi và độ trụt nướu ở
mỗi vị trí. Tỉ lệ mất bám dính là phần trăm số cá thể có ít nhất một vị trí có mức độ
mất bám dính cao hơn một ngưỡng nhất định. Phân bổ hay phạm vi mất bám dính
được tính theo trung bình số vị trí có mất bám dính cao hơn ngưỡng. Mức độ trầm
trọng của mất bám dính được tính là mất bám dính trung bình của tất cả các vị trí có
mức độ mất bám dính ≥ 2mm.
Những trường hợp có viêm nha chu được xác định theo tiêu chuẩn mà Beck sử dụng là
những cá thể có từ hai vị trí trở lên mất bám dính ≥ 5mm và ít nhất một vị trí có độ sâu
túi ≥ 4mm.
Thu thập và phân tích dữ liệu
Dữ liệu được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS phiên bản 15.0. Sử dụng
kiểm định Chi bình phương để đánh giá mối liên quan giữa hút thuốc lá với các
yếu tố khác. Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập và phân tích ANOVA một yếu tố để
so sánh sự khác biệt về tỉ lệ và mức độ trầm trọng của bệnh nha chu giữa các
nhóm. Khảo sát tương quan Pearson để đánh giá mối tương quan giữa tình trạng
nha chu và các thông số liên quan đến tình trạng hút thuốc lá.
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Trong thời gian nghiên cứu có 400 người tham gia phỏng vấn và khám lâm sàng,
có một người bị mất răng toàn bộ, do đó mẫu nghiên cứu còn lại là 399 người. Cán
bộ công chức chiếm 49,5%, doanh nhân và những người lao động phổ thông có tỉ
lệ tương đương. Hầu hết đều tốt nghiệp phổ thông cơ sở (90%), trong đó 44% tốt
nghiệp phổ thông trung học, 22% trung học chuyên nghiệp và 22% đại học và trên
đại học. Đa số là dân tộc kinh (74,5%), còn lại là dân tộc Hoa (25%). Tất cả ở độ
tuổi 35 – 44 tuổi, đại diện cho lứa tuổi trung niên ở Quận 5 TP.HCM.
Tình hình hút thuốc lá ở lứa tuổi trung niên
Kết quả điều tra cho thấy tỉ lệ người hiện hút thuốc lá là 60%, nếu cộng thêm những
người đã từng hút thuốc thì tỉ lệ này lên đến 72%. Trong đó, 75% hút trên 10 điếu thuốc
mỗi ngày và 81,5% hút thuốc từ 15 năm trở lên. Như vậy, thói quen hút thuốc lá vẫn
còn rất phổ biến trong cộng đồng dân cư. Đây thực sự là những con số đáng báo động,
đòi hỏi cần đẩy mạnh hơn nữa công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe cho mọi người.
Thực thi những biện pháp làm thế nào hạn chế thanh niên hình thành thói quen hút
thuốc lá và khuyến khích từ bỏ thuốc lá.
Hút thuốc lá phổ biến nhất ở người lao động phổ thông (70,4%). Trình độ học vấn cũng
có mối liên hệ mật thiết, người có trình độ càng cao thì tỉ lệ hiện đang hút thuốc càng
thấp (40%) và tỉ lệ bỏ thuốc lá cũng cao (17%). Kết quả này cũng phù hợp với kết quả
Điều tra Y tế quốc gia 2001-2002.
Việt nam là một trong những nước có tỉ lệ đàn ông hút thuốc lá cao trên thế giới.
Vì thế, hút thuốc lá là mối quan tâm lớn đối với tình trạng sức khỏe người Việt
Nam. Nếu không có những biện pháp hữu hiệu để làm giảm tỉ lệ nam giới hút
thuốc và ngăn chặn thanh thiếu niên tiếp cận với thuốc lá, chúng ta sẽ phải đối mặt
tình trạng sức khỏe ngày càng tồi tệ và gánh nặng kinh tế trong tương lai gần.
Nghiên cứu này mong muốn góp thêm bằng chứng khoa học về tác hại của thuốc
lá và từ đó giúp mọi người ý thức rõ hơn về sự cần thiết từ bỏ thuốc lá và không
đến với thuốc lá.
Hút thuốc lá và tình trạng vệ sinh răng miệng
Tình trạng vệ sinh răng miệng trong nhóm nghiên cứu kém, hầu hết đối tượng
nghiên cứu có mảng bám tích tụ và chủ yếu nằm ở mức chỉ số mảng bám cao (1 và
2). Mảng bám ở nhóm có hút thuốc (1,63 ± 0,57) nhiều hơn nhóm không hút thuốc
(1,38 ± 0,56; p ≤ 0,05), ngược lại tình trạng chảy máu nướu ở nhóm hút thuốc lá
(0,85 ± 2,20) ít hơn ở nhóm không hút (1,56 ± 3,14; p ≤ 0,05). Tình trạng vôi răng
tính chung cho tất cả các răng không có sự khác biệt giữa các nhóm. Tuy nhiên,
khi khảo sát từng răng thì tình trạng vôi răng tập trung ở các răng 15, 14, 13, 12,
11, 21, 22, 23, 24, 34.
Người hút thuốc lá ít chảy máu nướu hơn người không hút thuốc lá. Trước đây,
người ta nghĩ điều này có thể là do tác dụng co mạch của nicotine trong khói thuốc
lá làm giảm lưu lượng máu, nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng tại
các vị trí viêm ở những người hút thuốc lá có mật độ mạch máu và sự sản sinh
mạch máu giảm so với các vị trí viêm ở những người không hút thuốc lá, vì thế
làm tổn hại đáp ứng viêm và sự lành thương
(2,3,6,10)
. Tuy nhiên, khi so sánh về tình
trạng chảy máu nướu giữa những người hút thuốc lá lâu năm (trên 15 năm) so với
những người hút dưới 15 năm thì thấy không có sự khác biệt. Phải chăng đây là do
khả năng thích nghi của cơ thể đối với môi trường.
Hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ đối với bệnh nha chu trong dân số nghiên
cứu
Phơi nhiễm thuốc lá và tình trạng mô nướu
Số răng chảy máu nướu ở những người có hút thuốc lá ít hơn những người không hút
thuốc lá. Điều này có thể giải thích do tác dụng tại chỗ của nicotine trong việc làm giảm
lưu lượng máu. Kết quả này tương tự nghiên cứu của Preber và Bergstrom(1,3), mức
độ viêm nướu giảm ở người hút thuốc lá có hiệu ứng đáp ứng liều. Phát hiện này cần
được quan tâm vì biểu hiện chảy máu nướu khi thăm dò là một trong những dấu hiệu
trước tiên của bệnh, có thể giúp chẩn đoán sớm sự phá hủy mô nha chu. Hơn nữa, chảy
máu nướu khi thăm dò cũng là tiêu chuẩn cho kế hoạch điều trị nha chu. Do đó, nếu
không để ý đến khuynh hướng giảm chảy máu nướu ở những người hút thuốc lá thì có
thể đánh giá sai lệch (nhẹ đi) tình trạng bệnh nha chu và hậu quả là điều trị không đúng
mức, kịp thời
(1,8,10)
.
Phơi nhiễm thuốc lá và sự phá hủy mô nha chu
Bảng 1: Tình trạng viêm nha chu ở các nhóm
Có viêm nha
chu
Không có
viêm nha chu
N % N %
Tổng số 77 19,3 322 80,7
Không hút
thuốc
13 11,6 99 88,4
Hi
ện đang
52 21,8 186 78,2
hút
Hút nhưng
đã bỏ
12 25 36 75
2
= 6,238 p = 0,044
Có sự khác biệt về tình trạng viêm nha chu giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê (p
≤ 0,05).
Kết quả của nghiên cứu cho thấy tình trạng trụt nướu, độ sâu túi và mất bám dính
ở nhóm những người có hút thuốc lá luôn có khuynh hướng cao hơn so với nhóm
những người không hút thuốc lá (p ≤ 0,01)(bảng 2). Tỉ lệ, phân bổ và mức độ trầm
trọng của mất bám dính ở những người có hút thuốc lá luôn cao hơn so với những
người không hút thuốc
(1,2,3,5,915)
.
Bảng 2: Tình trạng trụt nướu, độ sâu túi, mất bám dính theo trung bình tất cả các
vị trí của các nhóm.
Nhóm
TB
trụt
nướu
giữa
ngoài
(TB
TB
trụt
nướu
gần
ngoài
(TB
TB đ
ộ
sâu túi
giữa
ngoài
(TB
±ĐLC)
TB đ
ộ
sâu túi
gần
ngoài
(TB
±ĐLC)
TB
mất
bám
dính
giữa
ngoài
(TB
TB
mất
bám
dính
gần
ngoài
(TB
±ĐLC)±ĐLC) ±ĐLC)
±ĐLC)
Không
hút
thuốc
1,44 ±
1,01
#
1,33 ±
0,85
#
2,10 ±
0,22
# @
2,11 ±
0,21
# @
3,54 ±
1,15
#
3,38 ±
1,02
# *
Hiện
đang
hút
1,79 ±
0,91
#
1,65 ±
0,82
#
2,20 ±
0,27
#
2,20 ±
0,26
#
3,96 ±
1,09
#
3,82 ±
1,01
#
Hút
nhưng
đã bỏ
1,77 ±
1,09
1,65 ±
1,00
2,23 ±
0,28
@
2,24 ±
0,28
@
3,98 ±
1,31
3,87 ±
1,23
*
One-way ANOVA. Tukey post hoc test. *: khác biệt theo cặp p ≤ 0,05 # và @:
khác biệt theo cặp
p ≤ 0,01.
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan bệnh học giữa hút thuốc lá và sự phá hủy
mô nha chu. Trong mẫu nghiên cứu, những người hút thuốc lá luôn có tỉ lệ, phạm
vi và mức độ trầm trọng của tình trạng trụt nướu, độ sâu túi và mất bám dính cao
hơn đáng kể so với những người không hút thuốc lá và có sự giảm nhẹ về tình
trạng tổn thương nha chu ở nhóm hút thuốc nhưng đã bỏ so với nhóm hiện vẫn
đang hút thuốc (bảng 3). Mối tương quan còn chắc chắn hơn vì trong nghiên cứu
này các yếu tố góp phần khác đã được kiểm soát. Độ tương quan giữa hút thuốc lá
và tình trạng tổn thương nha chu ở mức ý nghĩa cao. Cũng qua khảo sát mối tương
quan này, cho thấy có hiệu ứng đáp ứng liều của hút thuốc lá đối với bệnh nha chu,
nghĩa là hút thuốc càng nhiều thì tình trạng tổn thương nha chu càng nặng
(4,6,8,10)
.
Hơn nữa, ảnh hưởng của việc hút thuốc lá có thể giải thích rõ nhờ những hiểu biết
hiện nay về tiến trình của bệnh. Vì thế, hút thuốc lá có liên quan rõ rệt với tình
trạng bệnh nha chu trong mẫu nghiên cứu.
Bảng 3: Tương quan giữa các yếu tố tình trạng nha chu và các thông số liên quan
đến tình trạng hút thuốc lá.
Số
điếu
hút
mỗi
ngày
p
Số
năm
hút
thuốc
p
Mức
độ
phơi
nhi
ễm
tích
lũy
p
TB
Chỉ
số
m
ảng
bám
r =
0,181*
<0,05
r =
0,168*
<0,05
r =
0,198*
<0,05
Chỉ
r =
<0,05
r =
<0,05
r =
<0,05
số
m
ảng
bám
0,139* 0,138* 0,158*
Số
răng
chảy
máu
nướu
r = -
0,161*
<0,05
r = -
0,013*
<0,05
r = -
0,114*
<0,05
TB
trụt
nư
ớu
giữa
ngoài
r =
0,24*
<0,05
r =
0,147
>0,05
r =
0,252
>0,05
TB
trụt
nư
ớu
gần
ngoài
r =
0,259*
<0,05
r =
0,128*
<0,05
r =
0,261*
<0,05
TB
độ
r =
0,117*
<0,05
r =
0,066
>0,05
r =
0,115
>0,05
sâu
túi
giữa
ngoài
TB
độ
sâu
túi
gần
ngoài
r =
0,121*
<0,05
r =
0,098
>0,05
r =
0,126*
<0,05
TB
mất
bám
dính
giữa
ngoài
r
=
0,23*
<0,05
r =
0,130*
<0,05
r =
0,237*
<0,05
TB
mất
bám
dính
r =
0,24*
<0,05
r =
0,121*
<0,05
r =
0,24*
<0,05
gần
ngoài
*: tương quan có ý nghĩa ở mức p ≤ 0,05
Những bằng chứng về mối liên quan giữa hút thuốc láv bệnh nha chu được tìm
thấy trong nghiên cứu này phù hợp với những phát hiện từ những nghiên cứu khác
có mô hình nghiên cứu tương tự. Phần lớn các nghiên cứu sử dụng mất bám dính
như là tiêu chuẩn đo lường về mối liên quan giữa hút thuốc láv bệnh nha chu.
Nhiều nghiên cứu trước đây cũng chứng minh về mối liên quan giữa hút
thuốc lá và các bệnh lý nha chu. Trong nghiên cứu của J.Bergstrom, S.
Eliasson và J. Dock về ảnh hưởng của phơi nhiễm thuốc lá đối với sức khỏe mô
nha chu cho thấy tình trạng sức khỏe mô nha chu kém đi có liên quan đến hút
thuốc lá. Cụ thể là tần suất các vị trí tổn thương lớn hơn đáng kể và có sự giảm có
ý nghĩa về chiều cao xương ổ ở những người hiện đang hút thuốc so với những
người không hút thuốc lá. Một nghiên cứu khác đánh giá ảnh hưởng lâu dài (qua
thời gian 10 năm) của việc hút thuốc lá đối với tiêu xương ổ theo chiều đứng do
M. Baljoon, S. Natto và J. Bergstrom thực hiện, kết quả cho thấy hiện tượng tiêu
xương theo chiều đứng có mối liên quan có ý nghĩa với hút thuốc lá, đặc biệt là
giữa những người hiện đang hút và những người không hút thuốc
(1,2,3)
.
Một khuynh hướng khác nhận thấy từ nghiên cứu này là nhóm những người hút
thuốc nhưng đã bỏ thường có tình trạng nha chu nằm trung gian giữa nhóm hiện
đang hút và nhóm không hút thuốc. Sự khác biệt giữa nhóm hút nhưng đã bỏ với
nhóm không hút thuốc thường không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này giống với
nghiên cứu của Bergstrom và cộng sự và nghiên cứu của Baljoon và cộng sự. Điều
này cho thấy, từ bỏ thuốc lá có thể giúp phục hồi tình trạng nha chu và bình
thường hóa trở về tình trạng như những người không hút thuốc lá
(1,3,10).
Vì đây là một nghiên cứu cắt ngang nên không thể xác định trình tự thời gian của
mối liên quan giữa hút thuốc lá và sự khởi phát bệnh nha chu và do đó không thể
xác định quan hệ nhân quả của mối liên kết. Vì thế, nghiên cứu chưa thể kết luận
hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ thực sự đối với sự phá hủy mô nha chu.
Một số khuyến cáo đối với cộng đồng và chính sách chăm sóc sức khỏe răng
miệng
Nghiên cứu khoa học đưa ra những lưu ý trong việc chăm sóc sức khỏe răng
miệng nói riêng và sức khỏe tòan thân nói chung. Nghiên cứu cho thấy tình hình
bệnh nha chu trong dân số nghiên cứu và tình trạng hút thuốc lá ở nam giới độ tuổi
trung niên. Từ những con số khảo sát được cho thấy cần có cách tiếp cận đúng đắn
cho hệ thống chăm sóc sức khỏe răng miệng, nên nhấn mạnh cải thiện sức khỏe
nha chu cho cộng đồng.
Một số thông tin có giá trị về các chỉ tố nguy cơ đối với bệnh nha chu góp phần
đưa ra chiến lược nhằm kiểm sốt những yếu tố quyết định của bệnh, làm giảm mức
độ của các yếu tố nguy cơ và làm thay đổi phơi nhiễm đối với nguy cơ theo chiều
hướng thuận lợi hơn
(1,3,5,6,7)
.
Giáo dục sức khỏe răng miệng, bao gồm hướng dẫn vệ sinh răng miệng và cung
cấp thông tin về những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe răng miệng có thể giúp cải
thiện tình trạng vệ sinh răng miệng và vì thế làm giảm tỉ lệ bệnh nha chu nói riêng
và bệnh lý răng miệng nói chung
(13,14)
.
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu tình trạng hút thuốc lá, bệnh nha chu và mối liên quan giữa hút
thuốc lá và bệnh nha chu ở nam 35 - 44 tuổi trong cộng đồng quận 5, TP. HCM,
có thể rút ra các kết luận sau:
Tình trạng hút thuốc lá khá phổ biến đặc biệt là ở nhóm những người có trình độ
học vấn thấp và những người lao động phổ thông. Tỉ lệ người hiện đang hút thuốc
lá là 60 % (trong đó tỉ lệ nghiện hút nặng - hút trên 10 điếu mỗi ngày - rất cao đến
75 %). Tỉ lệ những người hút nhưng đã bỏ là 12 %.
Tình trạng vệ sinh răng miệng của mẫu nghiên cứu kém, thể hiện ở chỉ số mảng
bám cao (CSMB 1 là 42,5 % và CSMB 2 là 48 %) và tỉ lệ vôi răng cao (trên 22
răng trong 28 răng được khám).
Tình trạng trụt nướu, độ sâu túi và mất bám dính trong mẫu nghiên cứu tương đối
cao thể hiện qua giá trị trung bình của các thông số. Tuy nhiên, chỉ một số giới hạn
vị trí hay số cá thể có vấn đề trầm trọng, tỉ lệ viêm nha chu là 19,3 %.
Mảng bám ở nhóm hiện đang hút thuốc nhiều hơn nhóm không hút thuốc. Ngược
lại, tình trạng chảy máu nướu ở nhóm hiện đang hút thuốc lá ít hơn ở nhóm không
hút thuốc lá, nhóm những người hút thuốc nhưng đã bỏ (p<0,05).
Tình trạng trụt nướu, độ sâu túi và mất bám dính ở nhóm những người có hút
thuốc cao hơn so với nhóm những người không hút thuốc lá (p<0,01).
Có liên quan có ý nghĩa giữa các yếu tố mô tả tình trạng nha chu (mảng bám, chảy
máu nướu, trụt nướu, độ sâu túi, mất bám dính) với các yếu tố mô tả tình trạng hút
thuốc lá như số điếu hút mỗi ngày, số năm hút thuốc và mức độ phơi nhiễm tích lũy.
Mối tương quan này theo khuynh hướng tình trạng hút thuốc càng nặng thì tình trạng
nha chu càng xấu. Tuy nhiên hút thuốc lá càng nhiều thì càng ít số răng chảy máu
nướu.