Tải bản đầy đủ (.pdf) (24 trang)

ĐẶC ĐIỂM CÁC TRƯỜNG HỢP THIẾU MÁU doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.26 KB, 24 trang )

ĐẶC ĐIỂM CÁC TRƯỜNG HỢP THIẾU MÁU

TÓM TẮT
Mục tiêu:Mô tả đặc điểm các trường hợp thiếu máu nhập khoa nội tổng hợp 4
bv nhi đồng 2 tphcm từ tháng 6/2005 đến 6/2006.
Phương pháp: Mô tả loạt ca.
Kết quả: Nghiên cứu này thực hiện trên 143 trường hợp thiếu máu nhập
khoa nội tổng hợp 4 bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/6/2005 đến 31/5/2006. Kết quả
nghiên cứu cho thấy: xác định nguyên nhân thiếu máu đạt 91,9%, chỉ định truyền
máu đạt 43,4%. Tần suất thiếu máu cao nhất ở trẻ từ 6 tháng – 6 tuổi (64,3%),
nam gặp nhiều hơn nữ. Các nguyên nhân thiếu máu thường gặp là thiếu máu thiếu
sắt-dinh dưỡng (24,9%), Thalassemia (28,7%). Thiếu máu mức độ trung bình
chiếm tỷ lệ cao nhất (45,5%) và thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc chiếm 86%.
Hồng cầu lắng là chế phẩm truyền máu chiếm tỷ lệ cao nhất 41,3%, máu toàn phần
chỉ chiếm 1,4%.
Kết luận: Thiếu máu là một hội chứng thường gặp ở trẻ em,có thể gây
chậm phát triển thể chất và tinh thần của trẻ. Nó còn có thể để lại nhiều biến
chứng, thậm chí có thể gây tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.
SUMMARY
Objective: Observe to characteristics of the anemic cases admitted to
general internal department N
0
4 in the children

s hospital N
0
2 hcm city from june
2005 to june 2006
Method: Described by case series
Result: This study included 143 anemic cases who were admitted to
general internal Department N


0
4 in the Children

s Hospital N
0
2 HCM City from
1
th
june 2005 to 31
th
may 2006. The result showed that the successful rate of the
causal identification was about 91.1%, the rate of indication for transfusion was
43.3%. Children from 6 months – 6 years were the highest group getting anemia
(64.3%), male was more than female, common causes of anemia were iron
deficiency (29.4%), Thalassemia (28.7%). Moderate anemia was the highest group
(45.5%) and 86% patients had weak colour- small erythrocyte anemia. 41.3%
patients were given packed red cells, whereas only 1.4% received whole blood
transfusion.
Conclusion: Anemia is a common syndrome in children, which will retard
the physical and mental development of the child and may cause complications or
death if it is not detected at early period. Therefore, this study aims to contribute
in the diagnostic and therapy of this syndrome.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiếu máu là một hội chứng huyết học thường gặp ở trẻ em và do nhiều
nguyên nhân bệnh lý khác nhau gây ra nên đòi hỏi bác sĩ cần nắm rõ tình trạng lúc
nhập viện, để từ đó có thái độ chẩn đoán và điều trị phù hợp như: chọn lọc các xét
nghiệm cần thiết, nhanh chóng chẩn đoán nguyên nhân và quyết định truyền máu
chính xác an toàn nhằm giúp bệnh nhân rút ngắn thời gian nằm viện và giảm tai
biến sau điều trị. Nhằm góp phần chẩn đoán và điều trị thiếu máu hiệu quả, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm các trường hợp thiếu máu nhập khoa Nội tổng

hợp 4 Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 1/6/2005 đến tháng 31/5/2006”.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng, nguyên nhân, và xử
trí truyền máu trên các trường hợp thiếu máu nhập khoa Nội tổng hợp 4 Bệnh viện
Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh từ 1/6/2005 đến 31/5/2006.
Mục tiêu chuyên biệt
1. Xác định tỷ lệ các đặc điểm về: tuổi, giới, nơi cư ngụ, tiền sử bệnh lý
huyết học gia đình và bản thân.
2. Xác định tỷ lệ các đặc điểm lâm sàng: lý do nhập viện, mức độ thiếu
máu, gan to, lách to, hạch to ngoại biên, hội chứng tán huyết và hội chứng xuất
huyết.
3. Xác định tỷ lệ các loại thiếu máu theo hình dạng hồng cầu: hồng cầu nhỏ
nhược sắc, hồng cầu đẳng sắc đẳng bào, hồng cầu to.
4. Xác định tỷ lệ các nguyên nhân gây thiếu máu.
5. Xác định tỷ lệ các trường hợp được truyền máu, loại chế phẩm máu, và
khối lượng máu trung bình được sử dụng.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Tiền cứu mô tả các ca bệnh.
Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu
Bệnh nhi trên 1 tháng tuổi bị thiếu máu.
Dân số chọn mẫu
Bệnh nhi trên 1 tháng tuổi bị thiếu máu nhập khoa Nội tổng hợp 4 BVNĐ 2
từ tháng 1/6/2005 đến tháng 31/ 5/2006.
Cỡ Mẫu
Lấy trọn
Phương pháp chọn mẫu
- Tiêu chí chọn mẫu

Các bệnh nhi nhập khoa NTH 4 BV Nhi Đồng 2 từ tháng 1/6/2005 đến
tháng 31/5/2006 được xác định thiếu máu dựa trên tiêu chuẩn WHO-2001
(1,2)

TUổI
CH
ẩN ĐOÁN
THIếU MÁU
HB
(G/DL)
HCT
(%)
2 THÁNG –
6 THÁNG
<
9,5
<
28,5
6 THÁNG –
6 TUổI
<
11,0
< 33

6 TUổI –
12
TUổI
<
11,5
<

34,5
NAM

<
13,0
< 39

>
12
TUổI
Nữ
<
12,0
< 36

- Tiêu chí loại trừ
Các trường hợp thiếu máu được chẩn đoán thiếu máu theo tiêu chuẩn
WHO-2001 nhưng được truyền máu trong vòng 2 tháng trước nhập viện.
KẾT QUẢ
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Bảng 1: Phân bố tuổi, giới, nơi cư ngụ
TS-
DD
(N)

THAL
(N)
TC

(N)


HEMO

(N)
G6PD

(N)
ST
(N)
2-5TH 1 2 15

1 1
0
6TH-6T

33 33 12

6 0
1
7-12T 6 5 1 0 2
2
Tuổi

>12T 2 1 1 0 0
1
NAM 32 20 19

7 3
3
Giới


Nữ 10 21 10

0 0
1
Nơi
TP.HCM 23 24 17

4 0
1
TS-
DD
(N)

THAL
(N)
TC

(N)

HEMO

(N)
G6PD

(N)
ST
(N)

KHÁC 19 17 12


3 3
3
TổNG 42 41 29

7 3
4

Ghi chú: Chữ viết tắt ở các bảng kết quả: TS-DD: Thiếu máu thiếu sắt-dinh
dưỡng; THAL: Thalassemia; TC: Bệnh lý tiểu cầu; HEMO: Hemophilia; G
6
PD:
Thiếu men G
6
PD; ST: Suy tủy; KHÁC: Bệnh khác; KXĐ: Không xác định
Bảng 2: Phân bố tiền sử bệnh huyết học bản thân và gia đình
TS-
DD
(N)

THAL

(N)
TC
(N)
HEMO

(N)
G6PD


(N)
KHÁC
(N)
KXĐ
(N)

b
ản
thân
1 18 5 6 2 2 2
gia
đình
1 3 1 1
Đặc điểm lâm sàng
Bảng 3: Đặc điểm lâm sàng thường gặp
TS-
DD
(N)

THAL

(N)
TC
(N)
HEMO

(N)
G6PD

(N)

ST
(N)
xanh
xao
25 28 0 0 1 2

vàng
da
0 3 0 0 1 0

xuất
huyết
0 2 27

6 0 1

LDNV

khác 17 8 2 1 1 1

Mức
độ TM
> 9
(G/DL)
14 4 23

3 0 1

TS-
DD

(N)

THAL

(N)
TC
(N)
HEMO

(N)
G6PD

(N)
ST
(N)
6 -
9
(G/DL)
17 27 5 4 2 2

< 6
(G/DL)
11 10 1 0 1 1

có 6 23 0 0 0 0

Gan to

không


36 18 29

7 3 4

có 1 26 0 0 1 0

Lách
to
không

41 15 29

7 2 4

Hạch
to
có 1 1 0 0 0 0

TS-
DD
(N)

THAL

(N)
TC
(N)
HEMO

(N)

G6PD

(N)
ST
(N)
không

41 40 29

7 3 4

cấp 0 0 0 0 1 0

mãn 0 16 0 0 1 0

tán
huyết
không

42 25 29

7 1 4

da 0 0 20

3 0 2

niêm 0 1 9 2 1 1

xuất

huyết
nơi
khác
0 0 0 2 0 0

TS-
DD
(N)

THAL

(N)
TC
(N)
HEMO

(N)
G6PD

(N)
ST
(N)
không

42 40 0 0 2 1

TổNG 42 41 29

7 3 4







Phân loại thiếu máu theo hình dạng hồng cầu
Bảng 4: Phân loại thiếu máu theo hình dạng hồng cầu

S-DD

T
HAL C
H
EMO
G
6PD T
K
HÁC
K

T
ổNG N
(%)
H
ình
N
hỏ, NS

9
4

1 3
7

1
2

1
0
1
23
(86%)
Đ
S, ĐB

0

0

2
1

2
1
7
(11,9%)

dạng
HC
T
O

0

0

0
1

1
3
(2,1%)

TổNG

2
4
1 9
7

3
4

1
3
1
43
Nguyên nhân thiếu máu
Bảng 5: Phân bố các nguyên nhân thiếu máu
Nguyên nhân
thiếu máu
Số

bệnh
nhân
Tỷ
lệ %
Thiếu sắt-
dinh dưỡng
Thalassemia
(@)

B
ệnh tiểu
cầu
($)

42
41
29
7
29,4
28,7
20,3
4,9
Nguyên nhân
thiếu máu
Số
bệnh
nhân
Tỷ
lệ %
Hemophilia

(#)

Thi
ếu men
G
6
PD
Suy tủy
Bệnh khác
(&)

Không xác
định
(*)

3
4
4
13
2,1
2,8
2,8
9,1
Tổng số
143

100

Ghi chú: (trường hợp)
(@)

Thalassemia: -Thalassemia (29), -Thalassemia – Hb E (9), -Thalassemia
trait (2), -Thalassemia (1).
(#)
Hemophilia: hemophilia A (5), hemophilia B (2).
($)
Bệnh lý tiểu cầu: xuất huyết giảm tiểu cầu (24), giảm chất lượng tiểu cầu
(5).
(&)
Bệnh khác: hội chứng thực bào máu (1), afibrinogen (1), thiếu máu huyết
tán miễn dịch (1), Henoch Schonlein purpura (1).
(*)
Không xác định: thiếu máu tán huyết chưa rõ nguyên nhân (6), thiếu máu
hồng cầu nhỏ nhược sắc chưa rõ nguyên nhân (1), thiếu máu hồng cầu đẳng sắc
đẳng bào chưa rõ nguyên nhân (2), thiếu máu hồng cầu to chưa rõ nguyên nhân (1),
theo dõi bệnh máu ác tính (1).
Đặc điểm điều trị
Bảng 6: Các trường hợp được truyền máu và loại máu sử dụng

S-DD

T
HAL C
H
EMO
G
6PD T
K
HÁC XĐ
T
ổNG

N (%)

H
CL 0
3
4
1
1
3
5
9
(41,3%
)
M
TP
0
0
0
0
2
(1,4%)

H
CL+MTP

0
0
0
0
1

(0,7%)

T
ruyền
máu
K
7
6
2
1
8
1
HÔNG 2 8 (56,6%
)
TổNG
2
4
1 9
7
3
4
3
1
43
Ghi chú: HCL: Hồng cầu lắng; MTP: Máu toàn phần; HCL+MTP: Hồng
cầu lắng + máu toàn phần
Bảng 7: Phân bố lượng hồng cầu lắng và máu toàn phần sử dụng

hồng
cầu lắng

máu
toàn phần
không
truyền
≤ 10
(ml/kg)
> 10 –
20 (ml/kg)
> 20
(ml/kg)
83
(58%)
23
(16,1%)
26
(18,2%)
11
(7,7%)
140
(97,9%)
2
(1,4%)
1
(0,7%)
0
tổng số 143 143
Bảng 8: Lượng hồng cầu lắng trung bình sử dụng trong từng nhóm nguyên
nhân

T

S-DD
T
HAL C
H
EMO
G
6PD
S
T
K
HÁC
K

N
1
0
3
4
1 1

2
3

8
t
rung
bình
1
1,5
1

2,4 ,5
9,
1
2
5
1
0,7
2
8,9
1
2,6
t
ối thiểu

5
,5
2,
7 ,5
9,
1
2
5
1
0,4
2
0,8
5
,5
H
CL

(ML/
KG)
t
ối đa
2
7,1
2
6,6 ,5
9,
1
2
5
1
1
3
5,7
2
2,2
Bảng 9: Lượng máu toàn phần trung bình sử dụng trong từng nhóm nguyên
nhân

ST
N= 1
KXĐ
N=2
trung
bình
9,3 10,7

tối

thiểu
9,3 7,6
MTP
(ML/KG)

tối
đa
9,3 13,8

BÀN LUẬN
Đặc điểm dân số nghiên cứu
Tuổi
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm bệnh nhân có tuổi từ 6 tháng-6 tuổi
chiếm tỷ lệ cao nhất (64,3%), điều này phù hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ cũng cho
rằng lứa tuổi ≤ 6 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (53,9%)
(3)
. Nhóm bệnh nhân có tỷ lệ
thấp nhất là > 12 tuổi (4,9%), điều này không phù hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ khi
cho rằng nhóm tuổi ≤ 6 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất (8,6%)
(3)
. Sự khác biệt này có
thể do sự khác biệt về dân số nghiên cứu và thời điểm tiến hành nghiên cứu.
Giới
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy giới nam chiếm ưu thế hơn nữ
(64,3% so với 35,7%). Giới nam cũng chiếm ưu thế hơn giới nữ trong hầu hết các
nguyên nhân gây thiếu máu ngoại trừ Thalassemia tỷ lệ nam và nữ như nhau. kết
quả này phù hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ khi cho rằng giới nam chiếm ưu thế hơn
giới nữ trong đa số các nguyên nhân
(3)
.

Nơi cư ngụ
Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ bệnh nhân cư ngụ tại TP.HCM và các
tỉnh thành khác là tương đương nhau. Điều này không phù hợp với tác giả Lâm
Thị Mỹ khi cho rằng bệnh nhân đến từ các tỉnh thành khác (73,4%) chiếm tỷ lệ
cao hơn bệnh nhân cư ngụ tại TP.HCM (26,5%)
(3)
. Sự khác biệt này có thể do địa
điểm tiến hành làm nghiên cứu của chúng tôi (khoa NTH 4 BVNĐ2) khác với địa
điểm tiến hành làm nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Mỹ (BVNĐ1). Kết quả nghiên
cứu của chúng tôi phù hợp với tác giả Villalpando S và cộng sự khi cho rằng tần
suất thiếu máu ở trẻ dưới 2 tuổi là 50% và không có sự khác biệt giữa thành thị và
nông thôn và giữa các vùng
(10)
.
Tiền sử bệnh lý huyết học bản thân và gia đình
Phần lớn các trường hợp có tiền sử bệnh huyết học bản thân đều được chẩn
đoán cùng loại với bệnh huyết học đã mắc trước đó và hầu hết các trường hợp có
tiền sử bệnh huyết học gia đình đều là bệnh bẩm sinh di truyền.
Đặc điểm lâm sàng
Lý do nhập viện
Xanh xao là lý do nhập viện thường gặp nhất trong nghiên cứu của chúng
tôi (46,2%), kế đến là xuất huyết bao gồm xuất huyết da, xuất huyết niêm (chảy
máu chân răng, chảy máu mũi, ) (25,9%) ð có tới 53,8% các trường hợp thiếu
máu nhập viện không phải vì xanh xao vì thế chúng ta cần lưu ý các xét nghiệm
thường qui về thiếu máu để tránh bỏ sót bệnh.
Mức độ thiếu máu
Thiếu máu trung bình (Hb 6-9 g/dl) chiếm tỷ lệ cao nhất 45,5%, kế đến là
thiếu máu nhẹ (Hb > 9g/dl) chiếm 32,9%, và thiếu máu nặng (Hb < 6 g/dl) chiếm
21,7%. Thiếu máu nặng và trung bình chủ yếu gặp trong bệnh thiếu máu thiếu sắt-
dinh dưỡng và Thalassemia. Thiếu máu nhẹ chủ yếu gặp trong bệnh lý tiểu cầu,

thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và tác giả Lâm
Thị Mỹ có sự khác biệt, tác giả Lâm Thị Mỹ cho rằng thiếu máu nhẹ chiếm tỷ lệ
cao nhất (42,9%), thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng là nguyên nhân thường gặp nhất
trong thiếu máu nhẹ, bạch huyết cấp và thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng là nguyên
nhân thường gặp nhất trong thiếu máu trung bình, và suy tủy là nguyên nhân
thường gặp nhất trong thiếu máu nặng. Sự khác biệt này có thể do chúng tôi lấy
vào nghiên cứu cả các trường hợp Thalassemia cũ (18 trường hợp đã được chẩn
đoán xác định ở lần nhập viện trước đó) và mới chẩn đoán (23 trường hợp mới
được xác định chẩn đoán trong lần nhập viện này), còn tác giả Lâm Thị Mỹ chỉ lấy
vào nghiên cứu các trường hợp Thalassemia mới chẩn đoán
(3)
. Chính sự khác biệt
này làm cho tỷ lệ bệnh Thalassemia trong nhóm bệnh nhân thiếu máu nặng và
trung bình của chúng tôi tăng lên. So với các tác giả Siegel EH (thiếu máu nặng rất
hiếm gặp: ít hơn 2%)
(9)
, Ahmed F (thiếu máu nặng ở cộng đồng dân cư Banglades
thì hiếm gặp, chỉ khoảng 2-3% dân số)
(4)
, Rawat CM (thiếu máu nhẹ 55,2%, chỉ có
4% là thiếu máu nặng)
(8)
, Barduagni P (Chỉ 12% trẻ bị thiếu máu và không có
trường hợp nào bị thiếu máu nặng)
(5)
thì kết quả nghiên cứu của chúng tôi không
phù hợp. Điều này có lẽ do sự khác biệt về đối tượng nghiên cứu.
Phân loại thiếu máu theo hình dạng hồng cầu
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc chiếm
tỷ lệ cao nhất (86%), kế đến là thiếu máu hồng cầu đẳng sắc đẳng bào (11,9%), và

thiếu máu hồng cầu to (2,5%). Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi không phù
hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ, tác giả Lâm Thị Mỹ cho rằng thiếu máu hồng cầu
đẳng bào chiếm tỷ lệ cao nhất (44,5%), kế đến là thiếu máu hồng cầu nhỏ (37,5%).
Sự khác biệt này có thể là do mẫu nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Mỹ chỉ có các
trường hợp Thalassemia mới chẩn đoán và không có các trường hợp thiếu máu do
bệnh lý tiểu cầu. Chính hai nhóm bệnh nhân này làm cho tỷ lệ thiếu máu hồng cầu
nhỏ nhược sắc của chúng tôi cao hơn so với tác giả Lâm Thị Mỹ.
Nguyên nhân thiếu máu
Các nguyên nhân thiếu máu thường gặp trong nghiên cứu của chúng tôi bao
gồm: thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng chiếm 29,4%, kế đến là Thalassemia 28,7%
(41 trường hợp: 29 trường hợp -Thalassemia, 9 trường hợp -Thalassemia + Hb E,
2 trường hợp -Thalassemia trait, 1 trường hợp -Thalassemia), bệnh lý tiểu cầu
20,3% (29 trường hợp: 24 trường hợp xuất huyết giảm tiểu cầu, 5 trường hợp giảm
chất lượng tiểu cầu). Một số các nguyên nhân còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp như
không xác định 9,1%, hemophilia 4,9% (7 trường hợp: 5 trường hợp hemophilia
A, 2 trường hợp hemophilia B), suy tủy 2,8%, bệnh khác 2,8% (4 trường hợp: 1
trường hợp hội chứng thực bào máu, 1 trường hợp afibrinogen, 1 trường hợp thiếu
máu tán huyết miễn dịch, và 1 trường hợp Henoch Schonlein), và thiếu men G
6
PD
2,1%. Điều này tương đối phù hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ khi cho rằng thiếu máu
thiếu sắt-dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất (24,2%).
Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi cũng có sự khác biệt với tác giả Lâm
Thị Mỹ: trong nghiên cứu của chúng tôi Thalassemia là nguyên nhân thường gặp
đứng hàng thứ hai sau thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng, trong khi đó Thalassemia
(7,8%) là nguyên nhân đứng hàng thứ năm trong nghiên cứu của tác giả Lâm Thị
Mỹ sau thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng, bạch huyết cấp 19,5%, suy tủy 14,8%,
không xác định 12,5% (3). Sự khác biệt này có thể do chúng tôi đưa vào nghiên cứu
nhóm bệnh lý tiểu cầu và 18 trường hợp Thalassemia cũ, còn tác giả Lâm Thị Mỹ
không đưa vào nghiên cứu nhóm bệnh lý tiểu cầu và các trường hợp Thalassemia

cũ. Ngoài ra trong nghiên cứu của chúng tôi tần suất suy tủy và bạch huyết cấp rất
thấp, chính điều này cũng góp phần vào sự khác biệt về kết quả giữa nghiên cứu của
chúng tôi và tác giả Lâm Thị Mỹ.
Theo Derman O và cộng sự: thiếu máu thiếu sắt (47,7%), thiếu máu kết hợp
với nhiễm trùng (43,1%), b-Thalassemia (6,8%) và bạch huyết cấp (2,2%)
(6)
. Điều
này tương đối phù hợp với kết quả nghiên cứu của chúng tôi (thiếu máu thiếu sắt
là nguyên nhân hàng đầu và bạch huyết cấp là nguyên nhân không gặp).
El Ati J. Gaigi và cộng sự cho rằng thiếu máu thiếu sắt chiếm đa số (70%),
thiếu máu do thiếu folate và sinh tố B
12
thì không đáng kể, thiếu máu do viêm
nhiễm mãn tính khoảng 3%, thiếu máu do Thalassemia (5%)
(7)
. Điều này khác biệt
với kết quả nghiên cứu của chúng tôi (Thalassemia là nguyên nhân thường gặp
nhất). Nhưng chúng tôi và El Ati J. Gaigi cũng có điểm tương đồng khi cho rằng
thiếu máu thiếu sắt là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất.
Đặc điểm điều trị
Truyền máu và loại máu sử dụng
Tỷ lệ bệnh nhân được truyền máu là 43,4%, trong đó hồng cầu lắng được
sử dụng phổ biến nhất. Tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng hồng cầu lắng là 41,3%,
máu toàn phần là 1,4%, hồng cầu lắng+máu toàn phần là 0,7%, các sản phẩm máu
khác không được sử dụng trong nghiên cứu của chúng tôi. Điều này tương đối phù
hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ khi cho rằng: tỷ lệ sử dụng hồng cầu lắng (30,6%),
máu tươi (14%), hồng cầu lắng+máu tươi (21,1%), không truyền máu (34,3%)
(3)
.
Điều khác biệt nếu có ở đây là tỷ lệ sử dụng máu toàn phần và hồng cầu lắng+máu

toàn phần trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn nhiều so với tác giả Lâm Thị
Mỹ.
Trong các nhóm nguyên nhân thiếu máu, Thalassemia là bệnh có tỷ lệ bệnh
nhân được truyền máu cao nhất (82,9%, 34 trường hợp được truyền máu trên tổng
số 41 trường hợp Thalassemia), kế đến là suy tủy 75%, 3 trường hợp trên tổng số 4
trường hợp suy tủy). Nguyên nhân thiếu máu có tỷ lệ bệnh nhân được truyền máu
thấp nhất là bệnh lý tiểu cầu (3,4%, 1 trường hợp được truyền máu trên tổng số 29
trường hợp bệnh lý tiểu cầu, cụ thể là bệnh xuất huyết giảm tiểu cầu). Điều này có
sự khác biệt với tác giả Lâm Thị Mỹ khi cho rằng: thiếu máu viêm nhiễm có tỷ lệ
bệnh nhân được truyền máu cao nhất (85,7%), kế đến là suy tủy (84,2%),
Thalassemia có tỷ lệ bệnh nhân được truyền máu đứng hàng thứ tư. Sự khác biệt
này có thể do Thalassemia trong nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Mỹ là các trường
hợp Thalassemia mới chẩn đoán, còn trong nghiên cứu của chúng tôi bao gồm cả
các trường hợp Thalassemia mới chẩn đoán và Thalassemia đã được chẩn đoán
trước đo (18 trường hợp). Chính điều này làm cho tỷ lệ bệnh nhân Thalassemia
được truyền máu trong nghiên cứu của chúng tôi tăng lên.
Lượng máu sử dụng
Trong nhóm bệnh nhân được truyền hồng cầu lắng (60 trường hợp), tỷ lệ
hồng cầu lắng sử dụng từ 10 đến 20 ml/kg chiếm tỷ lệ cao nhất 43,3%, kế đến là tỷ
lệ hồng cầu lắng sử dụng ≤ 10 ml/kg chiếm 38,3%. Lượng hồng cầu lắng trung
bình được sử dụng là 13,1 ml/kg, lượng hồng cầu lắng tối thiểu được sử dụng là
2,7 ml/kg, và lượng hồng cầu lắng tối đa được sử dụng là 35,7 ml/kg. Điều này
phù hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ khi cho rằng lượng máu sử dụng ≤ 20 ml/kg
chiếm tỷ lệ cao nhất (34,3%), lượng máu sử dụng > 20 ml/kg chiếm tỷ lệ thấp nhất
(9,3%).
Trong nhóm bệnh nhân được truyền máu toàn phần (3 trường hợp), tỷ lệ
máu toàn phần sử dụng ≤ 10 ml/kg là 66,6% (2 trường hợp), tỷ lệ máu toàn phần
sử dụng từ 10 đến 20 ml/kg là 33,3 ml/kg (1 trường hợp). Lượng máu toàn phần
trung bình được sử dụng là 10,2 ml/kg, lượng máu toàn phần tối thiểu được sử
dụng là 7,6 ml/kg, lượng máu toàn phần tối đa được sử dụng là 13,8 ml/kg. Trong

nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 62 bệnh nhân được truyền máu nhưng lại có 60
trường hợp truyền hồng cầu lắng và 3 trường hợp được truyền máu toàn phần là do
có 1 trường hợp vừa truyền hồng cầu lắng vừa truyền máu toàn phần.
KẾT LUẬN
Thiếu máu là một hội chứng thường gặp ở trẻ em, có ảnh hưởng đến sự
phát triển của trẻ và có thể gây biến chứng hay tử vong nếu không phát hiện kịp
thời. Để tăng hiệu quả chẩn đoán và điều trị, cần lưu ý đến bệnh lý này trong thăm
khám trẻ thường ngày. Cần thực hiện rộng rãi xét nghiệm thường qui về huyết học
(huyết đồ) nhằm mục đích phát hiện sớm những trường hợp thiếu máu (vì có tới
53,8% trường hợp thiếu máu nhập viện không phải vì lý do xanh xao) nhất là ở
những trẻ từ 6 tháng-6 tuổi, từ đó có thể can thiệp sớm nhằm tránh cho trẻ khỏi
những hậu quả do thiếu máu nặng, giảm chi phí điều trị về sau.
Thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng là nguyên nhân thiếu máu thường gặp nhất
ở trẻ em, nhất là lứa tuổi từ 6 tháng-6 tuổi. Đây là bệnh có thể được điều trị khỏi
với chi phí thấp nếu được phát hiện sớm. Do đó trong tương lai, nếu chúng ta có
thể tiến hành những nghiên cứu tiếp theo trong cộng đồng thì hy vọng sẽ có những
kết quả mang tính bao quát và thiết thực hơn.

×