Tải bản đầy đủ (.pdf) (171 trang)

biện pháp quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của hiệu trưởngtrường trung học phổ thông lí thường kiệt thành phố bắc ninh, bắc ninh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.11 MB, 171 trang )

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
  




NGUYỄN VĂN TÁM




BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA HIỆU TRƢỞNG
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÍ THƢỜNG KIỆT
THÀNH PHỐ BẮC NINH – BẮC NINH







LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC









THÁI NGUYÊN - 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
  




NGUYỄN VĂN TÁM




BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA HIỆU TRƢỞNG
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÍ THƢỜNG KIỆT
THÀNH PHỐ BẮC NINH – BẮC NINH



Chuyên nghành : Quản lí giáo dục
Mã số : 60.14.05



LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC


Người hướng dẫn nghiên cứu khoa học:
TIẾN SĨ: NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI






THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành của một học viên, tôi vô cùng cảm ơn Ban
giám hiệu, các thày cô giáo của phòng Quản lí khoa học, Khoa quản lí giáo
dục; Khoa tâm lí giáo dục; Thư viện trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
đã giúp tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
này. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Nguyễn Thị
Tuyết Mai – Người đã tận tình, chu đáo hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình
nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và chuyªn viên Sở
Giáo dục và §ào tạo Bắc Ninh; Các đồng chí cán bộ quản lí; giáo viên; các
bạn đồng nghiệp ở các trường THPT và những người thân đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu
sót và hạn chế, tôi rất mong được sự thông cảm, góp ý phê bình của các thầy
cô giáo và các bạn đồng nghiệp để công trình nghiên cứ tiếp theo của tôi được
tốt hơn.

Xin trân trọng cám ơn !

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Tác giả



Nguyễn Văn Tám


S húa bi Trung tõm Hc liu i hc Thỏi Nguyờn

bảng kí hiệu viết tắt

Viết đầy đủ
viết tắt
Ban giỏm hiờu
BGH
Cỏn b
CB
Cỏn b qun lớ
CBQL
Cụng nghip húa
CNH
Hin i húa
HH
Ch ngha xó ni
CNXH
Giỏo viờn
GV

Giỏo viờn ch nhim
GVCN
Giỏo viờn b mụn
GVBM
Hc sinh
HS
Hot ng
H
Hot ng giỏo dc
HGD
Hot ng giỏo dc ngoi gi lờn lp
HGDNGLL
Ph huynh hc sinh
PHHS
Qun lớ giỏo dc
QLGD
Trung hc c s
THCS
Trung hc ph thụng
THPT
Xó hi húa giỏo dc
XHHGD
Thành phố
Tp
Cơ sở vật chất
CSVC
Kinh tế Xã hội
KTXH




Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc cũng như của toàn thể nhân
loại ngày càng khẳng định vai trò to lớn của giáo dục đối với kinh tế xã hội.
Giáo dục tác động đến toàn bộ cấu trúc, các bộ phận hợp thành của xã hội, do
vậy Giáo dục là một động lực thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội nhanh chóng và bền vững. Ngày nay, xã hội loài người bước sang thời
đại văn minh hậu Công nghiệp, cho nên con người vừa là mục tiêu, vừa là
động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Chính vì lẽ đó, các quốc gia trên thế
giới đều hướng tới sự phát triển con người. Đó là những con người năng
động, toàn diện, thích ứng cao với mọi yêu cầu, hoàn cảnh xã hội.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay của Đất nước, Đảng và nhà nước ta đã
xác định “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, là con đường cơ bản để CNH-
HĐH đất nước. Nghị quyết hội nghị lần thứ II BCH TW Đảng khoá VIII cũng
đã chỉ rõ: “ Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của Giáo dục là nhằm xây dựng
con người mới, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm
năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính
tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại ”[26].
Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt “ Nhân cách HS được hình thành theo hai con
đường cơ bản: Con đường dạy học và con đường HĐGDNGLL” [14]. Vì vậy,
việc tổ chức HĐGDNGLL là một đòi hỏi tất yếu của quá trình giáo dục và
không thể thiếu được trong quá trình giáo dục nhân cách cho HS.
HĐGDNGLL thực chất là một bộ phận rất cơ bản, quan trọng của kế hoạch
giáo dục trong trường THPT, đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ
học, là sự kết nối bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học trên lớp, là con
đường gắn lý thuyết với thực tiễn tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và

hành động, giữa qúa trình dạy học và quá trình giáo dục, nhằm thực hiện

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
nguyên lý giáo dục: “ Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản
xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục
gia đình và xã hội” [24]. Đặc biệt là tạo ra môi trường thân thiện nhằm thúc
đẩy học sinh hứng thú, sây mê học tập. Nhận thức rõ tầm quan trọng của
HĐGDNGLL trong việc giáo dục toàn diện HS, nên ngày 19/11/2002 Bộ
GD&ĐT đã ban hành quyết định số 47/2002/QĐ - Bộ GD &ĐT quyết định
chính thức đưa HĐGDNGLL vào kế hoạch dạy học và giáo dục ở các trường
THCS và THPT được bắt đầu từ năm học 2006 - 2007 với số tiết và chủ đề
qui định kèm theo cho từng khối lớp.
Theo quyết định trên Sở GD& ĐT tỉnh Bắc Ninh đã triển khai thực hiện
đưa HĐGDNGLL vào các trường THPT trên toàn tỉnh nói chung và trường
THPT Lí Thường Kiệt nói riêng. Tuy nhỉên trong quá trình thực hiện có một
bộ phận cán bộ quản lí, một số giáo viên và học sinh cũng như cha mẹ HS
chưa nhận thức đúng đắn vai trò của HĐGDNGLL, những hoạt động này còn
được coi là hoạt động phụ khoá, mất thời gian, ảnh hưởng đến các hoạt động
học tập nên còn bị xem nhẹ, coi thường và bỏ qua. Bên cạnh đó dù vẫn thực
hiện theo quy định của chương trình song nhiều GVCN không mấy hứng thú,
không chủ động, tự giác xây dựng các hoạt động giáo dục NGLL bởi công
việc đòi hỏi mất nhiều thời gian, công sức trong khi chế độ thanh toán, đãi
ngộ vẫn chưa được cải tiến, sửa đổi phù hợp; Bên cạnh đó, một số GVCN
còn hạn chế về năng lực tổ chức chỉ đạo hoạt động cho HS, hơn nữa kinh phí tổ
chức HĐGDNGLL cũng là một khó khăn đáng kể cho các trường THPT, nhà
trường phải hoàn toàn tự túc vấn đề kinh phí, trong khi việc tổ chức
HĐGDNGLL lại rất tốn kém. Mặt khác, vẫn có nhiều HS không tự giác, tích cực
tham gia vào các HĐGDNGL do giáo viên chủ nhiệm và nhà trường tổ chức.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3
Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Biện pháp quản lí
HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt thành phố
Bắc Ninh – Bắc Ninh”.

2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát thực trạng quản lí HĐGDNGLL của Hiệu trưởng
Trường THPT Lí Thường Kiệt - Thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh và một
số trường THPT khác trong tỉnh, đề xuất một số biện pháp quản lí
HĐGDNGLL của trường THPT Lí Thường kiệt tỉnh Bắc Ninh nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đáp ứng yêu cầu giáo dục
trong thời kỳ mới.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý HĐGDNGLL
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí HĐGDNGLL của Hiệu
trưởng một số trường THPT Tỉnh Bắc Ninh.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý HĐGDNGLL của một số trường THPT Tỉnh Bắc Ninh
(thuộc địa bàn nghiên cứu) trong thời gian qua đã đạt được những kết quả
đáng khích lệ, song vẫn còn nhiều hạn chế nhất định cần khắc phục. Nguyên
nhân của thực trạng đó là do chưa có các biện pháp quản lý phù hợp. Nếu xây
dựng được các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của hiệu trưởng THPT một
cách khoa học, phù hợp với điều kiện của nhà trường sẽ góp phần nâng cao
hiệu quả HĐGDNGLL, đồng thời nâng cao hiệu quả giáo dục cho trường
THPT Lí Thường Kiệt- Bắc Ninh cũng như các trường khác của tỉnh trong
các năm học tới.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận của đề tài như lý luận về quản lý, biện pháp
quản lý giáo dục, quản lí HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THPT.
5.2 Nghiên cứu thực trạng biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu
trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt; Lí Nhân Tông - Thành phố Bắc
Ninh và Trường THPT Yên Phong số II - Huyện Yên Phong; Trường
THPT Nguyễn Văn Cừ - Thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân
của thực trạng đó.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL của trường THPT
Lí Thường Kiệt - TP Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh.
6. Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài
6.1 Địa bàn nghiên cứu
Tính đến thời điểm này, tỉnh Bắc Ninh có 34 trường THPT trong đó có 23
trường Quốc lập; 11trường Dân lập (không kể các trung tâm GDTX). Trong
điều kiện và thời gian có hạn, tôi chỉ khảo sát thực trạng quản lí hoạt động
GDNGLL của Hiệu trưởng các trường THPT Lí Thường Kiệt; Lí Nhân Tông;
Yên Phong số II; Nguyễn văn Cừ. Từ đó, đề xuất biện pháp quản lí
HĐGDNGLL của hiệu trưởng TrườngTHPT Lí Thương Kiệt - TP Bắc Ninh -
Tỉnh Bác Ninh nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng trong việc quản lí
HĐGDNGLL của nhà trường trong những năm học tiếp theo.
6.2 Thời gian nghiên cứu khảo sát
Đề tài đi nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lí HĐGDNGLL của hiệu
trưởng các trường THPT Lí Thường Kiệt; Lí Nhân Tông; Yên Phong số II;
Nguyễn Văn Cừ qua cỏc năm học: 2008 - 2009: 2009 – 2010 và 2010 – 2011
nhằm có đánh giá sát thực về công tác chỉ đạo, quản lí HĐGDNGLL của nhà
trường . Đồng thời qua đây rút ra được những kinh nghiệm, bài học và biện

pháp quản lí tốt hơn cho trường mỡnh ở cỏc năm học tiếp theo.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
7.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản, chỉ thị, nghị quyết, sách báo, luận văn
có nội dung liên quan dến đề tài nghiên cứu, để từ đó phân tích, tổng hợp và
khái quát những vấn đề cơ bản làm cơ sở lí luận cho đề tài.
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được sử dụng để điều tra thực trạng công tác quản lí
HĐGDNGLL của Hiệu trưởng các trường THPT, nguyên nhân của thực trạng
đó.
7.2.2. Phương pháp đàm thoại
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập một số thông tin qua cán bộ
quản lí các cấp, các GVCN, cán bộ Đoàn, PHHS và HS…, để giúp cho việc
phân tích thực trạng và lý giải nguyên nhân, đồng thời nhằm tăng thêm tính
khách quan của các kết quả thu được bằng các phương pháp khác.
7.2.3. Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành quan sát quá trình chỉ đạo của nhà trường; công tác tổ
chức, công tác chuẩn bị của các GVCN, cán bộ Đoàn, đồng thời quan sát việc
tổ chức, thực hiện các HĐGDNGLL của họ nhằm thu thập thêm các cứ liệu
để làm rõ thực trạng các biện pháp quản lí HĐGDNGLL và nguyên nhân của
nó.
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng trong đề tài để thu thập ý kiến về kinh
nghiệm quản lí của các chuyên gia để từ đó xây dựng, bổ sung và hoàn thiện
các biện pháp quản lí HĐGDNGLL cho sát với thực tế, sát với đối tượng .

7.3. Nhóm phương pháp xử lí thông tin và đánh giá
Sử dụng một số công thức toán học để xử lí số liệu khảo sát, thực nghiệm
nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu một cách chính xác hơn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
8. Những đóng góp của đề tài
Phát hiện được thực trạng biện pháp quản lí HĐGDNGLL ở trường
THPT Lí Thường Kiệt - TP Bắc Ninh; trường THPT Yên Phong số 2 - Huyện
Yên Phong; trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Huyện Từ Sơn; trường THPT Lí
Nhân Tông - TP Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh.
Đề xuất một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng quản lí
HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt - Bắc Ninh.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương I. Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của
Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt, trường THPT Lí Nhân Tông,
trường THPT Nguyễn Văn Cừ, trường THPT Yên phong số II tỉnh Bắc Ninh
Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của
Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt thành phố Bắc Ninh – Bắc Ninh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

7
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP


1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Như chúng ta đã biết, mục tiêu cuối cùng của giáo dục là phát triển
toàn diện nhân cách của người được giáo dục. Muốn đạt được mục tiêu
giáo dục nêu trên thì giáo dục không chỉ dừng lại ở các giờ học trên lớp mà
phải mở rộng ra các HĐGDNGLL. Không chỉ bó hẹp trong không gian lớp
học, nhà trường mà phải mở rộng ra xã hội. Tham gia vào HĐGDNGLL, HS
không chỉ là khách thể, mà còn là chủ thể của quá trình giáo dục. Việc giáo dục
không chỉ diễn ra trên lớp, trong nhà trường, mà còn phải thực hiện ở ngoài
lớp, ngoài nhà trường theo phương thức kết hợp giữa giáo dục nhà trường, gia
đình và xã hội thông qua các hình thức như: Học tập, lao động, vui chơi giải trí,
sinh hoạt ngoài trời, tham quan, diễn đàn câu lạc bộ Trong lịch sử, những nhà
giáo dục tiêu biểu cho các thời kì lịch sử từ cổ đại đến hiện đại luôn thể hiện
quan điểm giáo dục của mình: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao
động sản xuất, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội.
Khổng Tử (551 - 479 trước Công nguyên), một triết gia, một nhà giáo dục
lỗi lạc của đất nước Trung Hoa cổ đại, Ông quan niệm học phải gắn với hành.
Ông khẳng định: “ Đọc thuộc 300 thước kinh thư giỏi, giao cho việc hành
chính không làm được, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp, học
kiểu như vậy chẳng có ích gì ”.
Thomas More (1478 - 1535), nhà giáo dục không tưởng người Đức đã
đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội, nên

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
trong việc giáo dục con người cần thực hiện kết hợp giáo dục nhà trường với
giáo dục ngoài nhà trường, giáo dục trong lao động và giáo dục xã hội [20].
J.A.Cômenxki [10] (1592 - 1670) được coi là “ Ông tổ của nền sư phạm
cận đại ” đã có nhiều đóng góp lớn lao cho nền giáo dục trên thế giới. Trong

thời gian làm cố vấn giáo dục tại Hungari, Ông đã rất coi trọng HĐGDNGLL
đối với HS. Ông cho HS tham gia biểu diễn sân khấu để giúp các em ghi nhớ
sâu sắc những nội dung cần thiết. Ông thấy rằng những chàng trai thường
ngày so đo, rụt rè ngại giao tiếp, phát biểu trước đám đông nay ra trước công
chúng với vẻ tự tin, xử sự điềm tĩnh, những con người mới mấy tuần lễ trước
còn đọc câu ngắc ngứ bây giờ đã có thể nói một đoạn độc thoại dài mà không
phạm lỗi hoặc giải thích những khái niệm hùng hồn đầy tính thuyết phục. ở
thời đó Cômenxki đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở
rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dạy và phát huy những khả
năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện nhân cách cho HS. Ông đã chứng minh cho
quan điểm giáo dục mới đầy thuyết phục này và khẳng định: “ Học tập không
chỉ là lĩnh hội kiến thức trong sách vở, mà còn là lĩnh hội kiến thức từ bầu
trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ ” [6; 93].
Pétxtalôzi (1746 - 1827) một nhà giáo dục lớn của Thuỵ sĩ và thế giới ở
cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỷ XIX, với lòng nhân ái sâu sắc ông muốn cứu vớt
trẻ em mồ côi, bất hạnh hay con nhà nghèo bằng con đường giáo dục thông qua
thực nghiệm. Đó là việc ông xây dựng ra những “ trại mớ ”, ở đây trẻ em vừa
được học văn hoá, vừa được lao động ở ngoài lớp, ngoài trường học. Ông cho
rằng HĐGDNGLL không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn là con đường giáo
dục toàn diện HS [22].
Robert Owen (1771 - 1858), một nhà giáo dục lớn, một nhà xã hội theo
chủ nghĩa không tưởng đầu thế kỷ XIX muốn cải tạo xã hội bằng con đường
giáo dục đi từ cuộc thực nghiệm giáo dục trong công xưởng của ông ở nước

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
Anh. Qua cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại này, ông đặt ra một phương thức
giáo dục bất hủ là: “ Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất ”, “ kết hợp giáo
dục trong trường lớp với giáo dục trong lao động và hoạt động xã hội ” [22].

C.Mac (1818 - 1883) và F.Anghen (1820 - 1895) là hai nhà triết học lón,
xuất sắc của thế giới, là người sáng tạo ra học thuyết cách mạng XHCN và cũng
là ông tổ của nền giáo dục hiện đại. Hai ông đã xác định mục đích của nền giáo
dục XHCN là tạo ra “ con người phát triển toàn diện ”, với phương thức giáo dục
là “ giáo dục kết hợp với lao động sản xuất ” [22].
AX.Macarencô (1888 - 1939), nhà giáo dục Xô viết vĩ đại, người có công
làm cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại trong gần 20 năm trời ở “ trại lao động
Goocki và Deczinxki ” nhằm cải tạo trẻ em hư, phạm pháp. Macarencô đã
gắn liền giáo dục với lao động, với sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội.
Nhiều em ở trại lao động này sau này đã trở thành các kĩ sư, các nhà khoa học
giỏi và các anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động [22].
Cairốp [5] nhà giáo dục học người Nga đã viết: “ Khi đặt kế hoạch công
tác giảng dạy chung cho cả năm học mới, người Hiệu trưởng, xét kết quả hoạt
động ngoài lớp năm học trước nhằm mục đích nâng cao thành tích của HS,
củng cố kỷ luật và nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường mà định
nhiệm vụ hoạt động ngoài lớp cho năm học tới. Trong kế hoạch công tác của
nhà trường, có dành một mục riêng cho hoạt động ngoài lớp. Mục đích đó
gồm mấy yếu tố sau: xây dựng điều kiện và cơ sở vật chất cho hoạt động
ngoài lớp năm tới, các hoạt động ngoài lớp của nhà trường và của lớp, phân
phối lực lượng và định kỳ hạn cho kế hoạch. Về kế hoạch tỉ mỉ, cụ thể, về
cách tổ chức các hoạt động quần chúng đặc biệt hoặc các ngày nghỉ… thì
người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo sẽ quyết định riêng và bổ sung cho
kế hoạch cả năm. Những người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo ấy chính là
những người được uỷ nhiệm thi hành những điều khoản bổ sung kia”.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
Như vậy, những nhà giáo dục tiêu biểu cho các thời kỳ lịch sử từ cổ đại
đến hiện đại đã làm nổi bật tầm quan trọng của các HĐGDNGLL và đã chỉ ra

một số biện pháp cần thiết cho nhà quản lý. Vấn đề đặt ra ở đây là người Hiệu
trưởng phải làm gì để tổ chức và quản lý chỉ đạo tốt các hoạt động này nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục trong cơ sở của mình.
1.1.2. Ở Việt Nam
Vào những năm 60 của thế kỉ trước, khi xây dựng chương trình giáo dục,
Bộ giáo dục đã xác định rõ: “Muốn thực hiện giáo dục và giáo dưỡng trong
môn học đạt kết quả đầy đủ thì nhà trường cần tổ chức ngoại khoá cho các
môn học. Hoàn cảnh kháng chiến trước đây chưa cho phép chúng ta thực hiện
đầy đủ công tác này cho nên trong chương trình cũng chưa ghi phần ngoại
khoá. Từ lúc hoà bình lập lại vấn đề này được nêu ra và được các địa phương
thực hiện nhưng không đồng đều và không theo chủ đề thống nhất. Trong
chương trình mới, công tác ngoại khoá trở thành một phần quan trọng, khăng
khít với chính khoá. Công tác ngoại khoá không nên vì cái tên ngoại khoá
của nó mà bị đặt vào vị trí quá ư thấp kém như một số trường vẫn làm như
vậy. Công tác ngoại khóa không hề mâu thuẫn gì với nội dung giáo dục, giáo
dưỡng của nhà trường XHCN mà trái lại bổ sung và nâng cao chất lượng nội
khoá lên một bước”[10].
Tác giả Nguyễn Lê Đắc với công trình nghiên cứu: “Cơ sở tâm lý học của
công tác giáo dục HS ngoài giờ lên lớp trên địa bàn dân cư”[8] đã khẳng định
quan điểm nhóm là chủ thể của hoạt động, tập thể cơ sở là chủ thể của quá
trình giáo dục”. Nó vạch ra vai trò của chủ thể của hoạt động ngoài giờ lên
lớp trên địa bàn dân cư đối với sự phát triển tâm lý HS. Từ đó khẳng định sự
cần thiết phải có một cơ chế tổ chức để thực hiện tốt lĩnh vực giáo dục này.
Tác giả Phạm Lăng [19] khi tìm hiểu HĐGDNGLL ở trường Trung học
Chu Văn An Hà nội đã xác định nhiều hình thức HĐGDNGLL và nhấn mạnh:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
“ Nếu tổ chức hoạt động này một cách khoa học sẽ không làm giảm đi chất

lượng các môn học mà ngược lại số HS đạt danh hiệu tiên tiến sẽ tăng. Số giờ
xếp loại trung bình, yếu, số HS cá biệt giảm đáng kể”.
Tác giả Nguyễn Văn Thiềm nhà giáo ưu tú, nguyên Hiệu trưởng Trường
THCS Nguyễn Thị Định trong bài: “ Mấy biện pháp giáo dục HS ngoài giờ
lên lớp theo địa bàn dân cư ” [38] đã cho rằng: chất lượng giáo dục HS ở nhà
trường giảm sút có nguyên nhân do việc giáo dục HS ngoài giờ lên lớp bị
buông lỏng; sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục HS bị coi nhẹ,
bởi vậy phải gắn hoạt động giáo dục của nhà trường với địa bàn dân cư. Ông
khẳng định, nhờ sự phối hợp các lực lượng giáo dục ở địa bàn dân cư mà chất
lượng giáo dục, chất lượng học tập của HS trường THCS Nguyễn Thị Định
được nâng lên.
Tác giả Phạm Hoàng Gia trong công trình nghiên cứu: “ Tổ chức hoạt
động ngoài giờ lên lớp cho HS lớp 6 " [9] bằng cách tác động đến cha mẹ HS,
các lực lượng giáo dục về định hướng giá trị và coi trọng hơn nữa kết quả học
tập cho thấy: Khi tổ chức hoạt động học tập, nếu lồng ghép được ý nghĩa tập
thể thì nhân cách HS sẽ được phát triển tốt hơn.
Tác giả Đinh Xuân Huy với công trình nghiên cứu: “ Các biện pháp quản
lý HĐGDNGLL của người Hiệu trưởng, trong trường phổ thông dân tộc nội
trú tỉnh Lai Châu”[15]. đã khẳng định vai trò quan trọng của tổ chức các
HĐGDNGLL đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường phổ
thông dân tộc nội trú đồng thời xây dựng được một số biện pháp quản lý
HĐGDNGLL của người Hiệu trưởng trong trường phổ thông dân tộc nội trú
góp phần thúc đẩy HĐGDNGLL ở trường phổ thông dân tộc nội trú phát
triển, nhằm hình thành ở HS những năng lực phẩm chất tốt của người cán bộ
dân tộc trong tương lai.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
Tác giả Đỗ Nguyên Hạnh trong công trình nghiên cứu: “ Một vài hình thức

giáo dục HS ngoài giờ lên lớp có hiệu quả” [12] đã xuất phát từ đặc điểm HS
ham thích hoạt động ngoài giờ lên lớp nên nhà trường cần tổ chức các hoạt
động phù hợp với sở thích của các em, phù hợp với trình độ, đáp ứng nhu cầu
nguyện vọng của các em. Các hình thức hoạt động: Bình thơ, trưng bầy tranh
ảnh, đóng kịch, tiếp súc với người thực việc thực, tham quan sẽ có tác dụng tốt
đối với viêc củng cố, bổ sung kiến thức trên lớp, giáo dục tình cảm, truyền
thống và ý thức tập thể; cộng đồng của HS.
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục ở nước ta, lần đầu tiên HĐGDNGLL
được chính thức đưa vào trong chương trình giáo dục của nhà trường phổ
thông với yêu cầu thực hiện bắt buộc thống nhất trong toàn quốc đối với khối
PTCS là từ năm học: 2003-2004, khối THPT là từ năm học 2006- 2007.
Tác giả Hà Nhật Thăng trong cuốn “Thực hành tổ chức hoạt động giáo
dục” [37] đã đề cập đến sự cần thiết về mục tiêu, nội dung, một số nguyên tắc
tổ chức hoạt động giáo dục và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục của
GVCN lớp.
Ngoài ra còn có một số tác giả như Đỗ văn Lợi, Lê thị Mỹ Phương… đã có
nghiên cứu về các khía cạnh của HĐGDNGLL, có một số tác giả nghiên cứu
về công tác quản lý các HĐGDNGLL ở các trường Tiểu học, THCS hoặc các
trường dân tộc nội trú. Tuy nhiên, việc nghiên cứu biện pháp quản lý
HĐGDNGLL của Hiệu trưởng ở trường THPT còn ít được nghiên cứu vì
HĐGDNGLL mới được coi là môn học bắt buộc quy định trong kế hoạch giáo
dục ở trường THPT từ năm học 2006-2007, hơn nữa chưa có công trình nghiên
cứu về vấn đề này tại trường THPT Lí Thường Kiệt - Bắc Ninh.
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 . Khái niệm quản lý và biện pháp quản lý
1.2.1.1. Khái niệm quản lí

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

13

Quản lý là một hiện tượng có tính lịch sử, nó là một hiện tượng xã hội
xuất hiện từ rất sớm. Bởi thông qua quản lí mà mọi hoạt độnga của con người
trong lĩnh vực kinh tế, xã hội đi vào nền nếp và mang lại hiệu quả nhất định.
Theo quan niệm của C. Mác: Bất cứ lao động nào của xã hội hay cộng
đồng ở một quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định của hoạt
động quản lý. Quản lý là sự xác lập tương hợp giữa công việc cá thể nhằm
hoàn thành chức năng chung, xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ chế
sản xuất khác với sự vận động đối với các bộ phận riêng lẻ của nó.
Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực: Các nhà luật học
nghiên cứu những quy luật quản lý nhà nước, các nhà xã hội học thiên về
nghiên cứu hoạt động quản lý về các mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp
xã hội, dân tộc, quốc gia. Các nhà tâm lý học nghiên cứu tâm lý giữa người
lãnh đạo và người thực hiện, giữa cấp trên với cấp dưới… vì vậy, có nhiều
định nghĩa khác nhau về quản lý, chẳng hạn:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm thực
hiện được mục tiêu dự kiến” [39].
Theo tác giả Mai Văn Bưu: “ Quản lý là công tác phối hợp xã hội của các
lao động, của những người cộng sự khác cùng trong một tổ chức ” [5].
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “ Quản lý là một hệ thống tác động khoa học
nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm
đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống.
[22].
Theo tác giả Trần Kiểm: “ Quản lí một hệ thống xã hội là tác động có
mục đích đến tập thể người- thành viên của hệ nhằm làm cho hệ vận hành
thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến ”[17].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “ Quản lí là sự tác động có mục đích đến tập
thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao
động”[31].
Theo tác giả Nguyễn Kỳ, Bùi Trọng Tuấn: “ Quản lý là việc bảo đảm
hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống
và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng
với hoàn cảnh mới ”.
* Từ những định nghĩa nêu trên ta thấy:
Quản lý là quá trình tác động, có định hướng có tổ chức, của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý thông qua cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có
hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ
thống ổn định, phát triển đạt được những mục tiêu đã định.
1.2.1.2. Khái niệm biện pháp quản lý
Theo từ điển tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể”. Như vậy, biện pháp quản lý là cách làm cụ thể được chủ thể sử
dụng trên cơ sở phương pháp đã được xác định. Tính hiệu quả của quản lý
một phần quan trọng phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng đắn và áp dụng linh
hoạt các biện pháp quản lý. Thực tế cho thấy, các đối tượng quản lý phức tạp,
đòi hỏi những biện pháp quản lý cũng rất đa dạng và linh hoạt. Các biện pháp
quản lý có mối liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống các biện
pháp. Các biện pháp này sẽ giúp cho người quản lý thực hiện tốt các biện
pháp quản lý của mình mang lại kết quả tối ưu cho bộ máy [42].
1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục và quản lý trường học
1.2.2.1. Khái niệm quản lý giáo dục
Thực tế khái niệm “Quản lý giáo dục”, được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa
hẹp trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ “giáo dục”, “Quản lý giáo
dục” được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi “Giáo dục” được coi là hoạt động diễn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


15
ra ở ngoài xã hội. Còn khi “Giáo dục” được diễn ra trong ngành giáo dục (Từ
Bộ giáo dục - Đào tạo đến cơ sở trường học) hay các trung tâm kỹ thuật tổng
hợp - hướng nghiệp thì “ Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa hẹp là quản
lý một hệ thống giáo dục, quản lý nhà trường, để hiểu một cách chính xác hơn
về: “Quản lý giáo dục”, ta xem xét những quan niệm sau đây:
“ Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà
trường, làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học, giáo dục theo
đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất
của nhà trường XHCN Việt Nam bằng cách đó đạt được mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái chất lượng mới ” [19].
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “ Mục đích cuối cùng của quản lý giáo
dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông
minh sáng tạo, năng động tự chủ biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản
thân, gia đình và xã hội” [45].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ QLGD là hệ thống tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí, nhằm cho hệ vận hành theo
đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã
hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế
hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất ” [30].
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu khái quát như sau:
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích
của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận
của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo
dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng cả về chất lượng và số
lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục.
Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, vì cần tập trung giải quyết tốt các vấn
đề xã hội để phục vụ công tác giáo dục. Ngoài ra, quản lý giáo dục còn được

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên


16
xem như quản lý một hệ thống giáo dục. gồm tập hợp các cơ sở giáo dục như
trường học, các trung tâm kỹ thuật - hướng nghiệp dạy nghề mà đối tượng quản
lý là đội ngũ giáo viên, HS cơ sở vật chất kỹ thuật các phương tiện, trang thiết
bị phục vụ cho giảng dạy và học tập
1.2.2.2 . Khái niệm quản lý trường học
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của giáo viên, HS và các lực lượng giáo dục khác,
cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo trong nhà trường.
Có nhiều cấp quản lý trường học trong hệ thống giáo dục: Cấp cao nhất là
BGD&ĐT, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô. Có hai cấp trung
gian quản lý trường học là sở GD&ĐT ở cấp tỉnh và các phòng giáo dục ở cấp
quận, huyện. Cấp quản lý quan trọng, trực tiếp của hoạt động giáo dục là bộ
phận quản lý trong các nhà trường.
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đã và đang
có, tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát
triển mạnh mẽ các nguồn lực và đưa các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng
cường chất lượng giáo dục.
Công tác quản lý nhà trường bao gồm các nội dung:
- Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, đội ngũ cán bộ công nhân viên và tập
thể HS thực hiện tốt các nhiệm vụ kế hoạch trong chương trình công tác của nhà
trường. Giáo dục HS phấn đấu, học tập tu dưỡng để trở thành những công dân tốt.
- Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình của BGD&ĐT
làm sao để chương trình được thực hiện nghiêm túc và các phương pháp giáo
dục luôn được cải tiến, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao. Biện
pháp quản lý là theo dõi sát sao mọi công việc, kiểm tra kịp thời, thanh tra để
uốn nắn những lệch lạc, thiếu xót


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
- Quản lý tốt việc học tập của HS theo quy chế của Bộ GD&ĐT. Quản lý
HS bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần, thái
độ và phương pháp học tập.
- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị của nhà trường nhằm phục vụ
tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS. Quản lý tốt cơ sở vật chất
nhà trường không đơn thuần chỉ là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt giá trị,
khả năng cho dạy học và giáo dục, đồng thời phải làm sao để có thể thường
xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới và có giá trị.
- Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc
quản lý tài chính của nhà nước và của ngành giáo dục. Đồng thời biết động
viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua
sắm thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học.
- Quản lý nhà trường cũng có nghĩa là chăm lo đến đời sống vật chất và
tinh thần của tập thể giáo viên, công nhân viên. Cần tạo một phong trào thi
đua phấn đấu liên tục trong nhà trường.
- Quản lí nhà trường còn phải làm tốt công tác thi đua khen thưởng đối
với giáo viên và học sinh.
- Quản lí nhà trường còn phải làm tốt công tác kiểm tra, kết hợp thanh tra
của các cấp nhằm đánh giá kịp thời các bộ môn văn hóa của học sinh; chất
lượng giảng dạy của giáo viên; chất lượng giáo dục tư tưởng đạo đức cho
học sinh.
1.2.3. Hoạt động giáo dục và hoạt động GDNGLL; Quản lý hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2.3.1. Hoạt động giáo dục
Hoạt động giáo dục là những hoạt động do cá nhân hoặc tổ chức xã hội
tiến hành theo kế hoạch, chương trình, điều hành và chịu trách nhiệm hướng
tới các mục đích giáo dục về: Trí tuệ; Thể chất; Đạo đức; Thẩm mĩ và các


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
hành vi xã hội Các chủ thể của hoạt động giáo dục phải chịu trách nhiệm về
hoạt động giáo dục. Chủ thể giáo dục chính là các nhà giáo dục, GVvà các chủ
thể có liên quan khác như: Cha mẹ HS, các tổ chức giáo dục xã hội và các cơ
sở giáo dục. Hoạt động giáo dục là sự vận hành các yếu tố của giáo dục đã
được nhận thức và kiểm soát. Hoạt động giáo dục cơ bản của xã hội được thực
hiện bởi nhà trường và trong nhà trường.
Các hoạt động giáo dục trong nhà trường được phân làm hai bộ phận chủ yếu sau:
- Các hoạt động trong hệ thống các môn học và các lĩnh vực học tập, giáo
dục trên lớp
- Các hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hoá
như: giáo dục thể chất, đạo đức, thẩm mỹ, dân số, môi trường, pháp luật.
Những hoạt động này được thực hiện trong và ngoài các môn học và chiụ sự
quản lí, chi phối chính của nhà trường và GV.
Các hoạt động giáo dục tạo môi trường cho hoạt động học của người học
qua đó người học được học tập, giáo dục và trưởng thành. Khi tham gia các
hoạt động giáo dục, người học tiến hành các hoạt động của mình theo những
nguyên tắc mục tiêu, chuẩn mực và giá trị chung, như vậy HS được giáo dục
theo những tiêu chí chung và diễn ra ở cấp độ cá nhân.
Như vậy hoạt động giáo dục muốn có hiệu quả phải được tổ chức phù hợp
với tâm lý lứa tuổi của HS đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học sinh
tham gia.
Cơ cấu các hoạt động giáo dục trong nhà trường cần được xác định theo
mục tiêu giáo dục, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch
sử nhất định. Các hoạt động giáo dục tạo môi trường cho hoạt của HS và chính
những hoạt động của HS quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân.
1.2.3.2. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
HĐGDNGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục trong nhà trường nói
chung, trường THPT nói riêng. Đó là nhứng hoạt động được tổ chức ngoài
giờ học các môn văn hoá ở trên lớp, đựợc tổ chức trong nhà trường, ngoài xã
hội. HĐGDNGLL là sự tiếp nối dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết
với thực hành tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần
hình thành và phát triển nhân cách cho các em.
Mục tiêu: HĐGDNGLL tạo điều kiện và môi trường để HS phát huy vai
trò chủ thể tính tích cức chủ động của các em trong quá trình học tập, rèn
luyện toàn diện, HĐGDNGLL vừa củng cố bổ sung mở rộng kiến thức đã
học, vừa phát triển các kỹ năng của các lực lượng giáo dục, góp phần quan
trọng, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông, đặt HS (lứa
tuổi thanh niên, vị thành niên) trước những vấn đề, thách thức của thời đại,
của xã hội, cũng như những khó khăn thách thức của thực tiễn mà các em
phải được chuẩn bị hành trang để gánh vác trách nhiệm đối với chính bản
thân, gia đình và đất nước (chủ nhân của đất nước trong tương lai).
Với vị trí và vai trò như vậy, HĐGDNGLL thực sự là một bộ phận hữu
cơ không thể thiếu của hệ thống hoạt động giáo dục ở trường THPT. Tổ chức
có hiệu quả HĐGDNGLL ở trường THPT sẽ gắn liền nhà trường với đời sống
xã hội, góp phần phát huy vai trò của giáo dục vào quá trình hình thành và
phát triển toàn diện nhân cách thanh niên HS trong sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước.
Theo giáo sư Đặng Vũ Hoạt: “ Hoạt động giáo dục giáo dục ngoài giờ lên
lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động, thực tiễn của HS về khoa
học, kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, văn
hoá nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, để giúp các em

hình thành và phát triển nhân cách” [21].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
Trong chương trình THCS về HĐGDNGLL các tác giả đưa ra khái niệm: “
HĐGDNGLL là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trong lớp,
là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp là con đường gắn lý thuyết với thực
tiễn, tạo lên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của HS.”.
Trong chương trình THPT các tác giả đưa ra khái niệm: “ HĐGDNGLL
là một bộ phận của quá trình giáo dục ở trường phổ thông. Đó là những hoạt
động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trên lớp, là sự tiếp nối bổ sung,
hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn,
tạo lên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phằn hình thành tình
cảm, niềm tin đúng đắn ở HS ”.
Như vậy: HĐGDNGLL là sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ hoạt động dạy học
trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa
nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin ở HS.
1.2.3.3. Quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quản lí HĐGDNGLL là một bộ phận của quản lí trường học, bao gồm
hàng loạt những hoạt động tiến hành khai thác, lựa chọn tổ chức và thực hiện
các nguồn lực, các tác động của BGH và tập thể sư phạm, của lực lượng giáo
dục khác trong và ngoài nhà trường theo kế hoạch chủ động và chương trình
giáo dục để tác động đến tập thể GV và HS trong khuôn khổ thời gian ngoài
giờ học trên lớp nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết. Nó
được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà
trường hoặc trong đời sống xã hội, do nhà trường quản lí, diễn ra trong suốt
năm học và cả ba tháng hè.
Công tác quản lí HĐGDNGLL bao gồm các nội dung:
- Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, đội ngũ cán bộ công nhân viên

và tập thể HS và các lực lượng giáo dục khác để thực hiện tốt các nhiệm vụ
trong chương trình, kế hoạch HĐGDNGLL của nhà trường. Giáo dục HS tích

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
cực tham gia HĐGDNGLL, nhằm giúp các em rèn luyện, tu dưỡng để trở
thành những công dân tốt.
- Chỉ đạo tốt các HĐGDNGLL theo chương trình quy định của BGD và
ĐT làm sao để chương trình được thực hiện nghiêm túc và các phương pháp
tổ chức hoạt động luôn được cải tiến, chất lượng tổ chức các hoạt động ngày
càng được nâng cao. Biện pháp quản lý là theo dõi, kiểm tra sát sao mọi công
việc, kịp thời phát hiện những lệch lạc, thiếu sót để điều chỉnh, uốn nắn.
- Quản lý tốt việc tham gia hoạt động của học của HS theo quy chế của
Bộ GD&ĐT. Quản lý HS bao hàm cả quản lí thời gian và chất lượng hoạt
động, quản lý tinh thần, thái độ, ý thức của HS khi tham gia hoạt động .
- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị của nhà trường nhằm phục vụ
tốt nhất cho việc tổ chức các HĐGDNGLL cho HS. Quản lý tốt cơ sở vật chất
nhà trường không đơn thuần chỉ là bảo quản tốt, mà phải phát huy tối đa các
điều kiện cơ sở vật chất sẵn có của nhà trường để phục vụ cho việc tổ chức
HĐGDNGLL đạt hiệu quả, đồng thời phải thường xuyên bổ sung thêm những
thiết bị mới và có giá trị nhằm đáp ứng yêu cầu HĐGDNGLL cho HS .
- Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc
quản lý tài chính của nhà nước và của ngành giáo dục. Đồng thời biết động
viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua
sắm thiết bị phục vụ các HĐGDNGLL.
1.3. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng Trung học phổ thông
1.3.1. Vị trí, vai trò của HĐGDNGLL ở trường THPT
1.3.1.1 Vị trí của HĐGDNGLL ở trường THPT
HĐGDNGLL là môn học bắt buộc được qui định trong kế hoạch giáo dục

ở trường THPT nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra.
HĐGDNGLL được quy định thực hiện vào tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần,

×