Tải bản đầy đủ (.pdf) (96 trang)

Thử nghiệm mô hình nuôi thương phẩm và khảo sát tập tính ăn nhau của ếch Thái Lan

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.96 MB, 96 trang )


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA THỦY SẢN
  



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


ĐỀ TÀI :

THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH NUÔI THƯƠNG
PHẨM VÀ KHẢO SÁT TẬP TÍNH ĂN NHAU
CỦA ẾCH THÁI LAN (Rana tigerina)






NGÀNH: THỦY SẢN
KHÓA: 2001 – 2005
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN ĐÌNH THỌ
PHAN NGUYỆT THI








THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2005
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH NUÔI ẾCH THƯƠNG PHẨM
VÀ KHẢO SÁT TẬP TÍNH ĂN NHAU CỦA ẾCH THÁI
LAN (Rana tigerina)


Thực hiện bởi


NGUYỄN ĐÌNH THỌ
PHAN NGUYỆT THI







Luận văn được đệ trình để hoàn tất yêu cầu cấp bằng kỹ sư nuôi trồng thủy sản









Giáo viên hướng dẫn: NGUYỄN VĂN TƯ













Thành Phố Hồ Chí Minh
09/2005
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
-ii-
TÓM TẮT


Đề tài “Thử nghiệm nuôi thương phẩm và khảo sát tập tính ăn nhau của ếch
Thái Lan (Rana tigerina)” được thực hiện tại Trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản
Trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh.

* Thí nghiệm 1 (NT1): thí nghiệm được tiến hành trên nòng nọc ếch từ ngày

tuổi thứ 1 đến ngày thứ 25 và được cho ăn bình thường. Các nghiệm thức (NT) tương
ứng với từng ngày tuổi, mỗi NT gồm 3 mật độ (1, 3 và 5 cặp/keo 3 lít) và lập lại 3 lần.

Kết quả cho thấy không xảy ra hiện tượng ăn nhau từ ngày tuổi thứ 1 – 4 và từ
ngày 22 trở đi. Sự ăn nhau nhiều nhất từ ngày tuổi thứ 10 – 16 và chủ yếu ở mật độ
5 cặp/keo, còn mật độ 1 cặp/keo không có hiện tượng ăn nhau trong thời gian thí
nghiệm.

* Thí nghiệm 2 (TN2): gồm 4 đợt TN tương ứng với các ngày tuổi 7, 14, 21 và
28 ngày. Gồm 3 nghiệm thức (1, 3 và 5 cặp/keo 3 lít) được kí hiệu lần lượt là NT1,
NT2 và NT3; mỗi nghiệm thức được bố trí ở 3 khoảng thời gian nhòn đói: 24, 36 và 48
giờ.

Kết quả: thời gian nhòn đói càng dài và mật độ càng cao thì xảy ra hiện tượng
ăn nhau càng nhiều. (NT3, thời gian nhòn đói 48 giờ có sự ăn nhau nhiều nhất và ít
nhất là NT1).

* Thí nghiệm 3 (TN3): TN được bố trí với các mức trọng lượng ban đầu là 3
và 5 g so với các mức trọng lượng khác. Mỗi NT gồm 2 mật độ (1 và 5 cặp/bể kính)
và lập lại 3 lần. Để so sánh mức độ ăn nhau của các cặp ở các mức chênh lệch trọng
lượng, TN được tiến hành đến khi nào có tỷ lệ ăn nhau đạt 100% thì dừng lại.

Kết quả: hiện tượng ăn nhau ở ếch xảy ra càng nhiều khi sự chênh lệch trọng
lượng càng cao cũng như mật độ càng dày nhưng khi ếch càng lớn thì sự ăn nhau
càng giảm.

* Thí nghiệm 4 (TN 4): các mô hình nuôi thương phẩm ếch Thái Lan

TN được bố trí trong giai đặt trong ao đất với 2 mật độ 30, 40 con và 2 loại giá
thể là xốp có lỗ và không lỗ, gồm 4 NT được kí hiệu là NTC40, NTC30, NTK40,

NTK30. Mỗi NT lập lại 3 lần và TN được thực hiện trong 75 ngày.

Kết quả cho thấy ở các NT với giá thể xốp có lỗ (NTC40, NTC30) có sự tăng
trọng, tỷ lệ sống cao hơn và sự phân đàn ít hơn so với 2 NT còn lại, về năng suất thì
nghiệm thức NTC40 cao nhất rồi đến NTK40, NTC30 và thấp nhất là NTK30.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
-iii-
ABSTRACT


A study on size differentiation cannibalism and growth performance of
Thailand frog (Rana tigerina) was conducted at Experimental Farm for Aquacuture
of Fisheries Faculty Nong Lam University – Ho Chi Minh City.

* Experiment 1: tadpoles of frog from one-day old to twenty-five-day old
were stocked in 3-L bottles and fed for whole experiment. There were three
densities of one, three and five pairs per bottle.

Results of experiment 1 showed that cannibalism did not occur with the
tadpoles from one to four-day old and over twenty two days of stocking. The
cannibalism occured more requent with tadpoles from ten to sixteen-day old and with
stocking density of five pairs per bottle. There was no cannibalism observed with
stocking density one pair per bottle.

* Experiment 2 was comprised four age groups of the tadpoles, seven,
forteen, twenty one and twenty eight-day old. The tadpoles were starved for twenty
four, thirsty six and fourty eight hours. There were three treaments (one, three and
five pairs per 3-L bottle).


Results of experiment 2 showed that the longer starved time and the more
crowded stocking, the higher cannibalism.

* Experiment 3: the frog initial size of three and five (g) were stocked in
aquarium with bigger-size frogs at stocking densities of one and five pairs per
aquarium. Cannibalistic habit of the frog was observed for 48 hours.

Results of experiment 3 showed that the cannibalistic rate of the frogs was
increased with higher-size difference and reduced with higher initial size.

* Experiment 4 on growth performance

Thailand frog was reared in hapas suspended in earthen pond, with two
stocking densities of thristy and fourty individuals per m
2
and with two kinds of hole
and holeless-plastic subtrates for 75 days. There were 4 treaments namely NTC40,
NTC30, NTK40 and NTK30.

Results of experiment 4 showed that the frogs in NTC40 and NTC30
treaments had survival rate and growth rate were higher than those of the frogs in
NTK40 and NTK30 treaments. The yield

of the NTC40 treaments was higher,
followed by the treaments of NTK40, NTC30 and NTK30, respectively.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

- iv -
CẢM TẠ



Chúng tôi xin chân thành cảm tạ:

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh và quý
thầy cô trong trường đã tận tình dạy dỗ chúng tôi trong bốn năm học qua.

Ban chủ nhiệm và quý thầy cô trong Khoa Thủy Sản đã dạy dỗ và tạo điều
kiện cho chúng tôi hoàn tất tốt khoá học.

Chúng tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc đến:

Thầy Nguyễn Văn Tư đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành
tốt luận văn tốt nghiệp này.

Đồng thời chúng tôi xin chân thành cảm ơn:

Thầy Ngô Văn Ngọc

Thầy Lê Thanh Hùng

Các anh trong Trại thực nghiệm Khoa Thủy Sản Trường Đại học Nông Lâm
Tp. HCM đã tạo điều kiện tốt cho chúng tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp.

Tất cả bạn bè và tập thể sinh viên lớp thủy sản 27 đã giúp đỡ và động viên
chúng tôi thực hiện đề tài.

Do thời gian thực hiện đề tài ngắn và bước đầu làm quen với công tác nghiên
cứu khoa học nên không tránh khỏi những sai sót. Chúng tôi kính mong sự chỉ bảo
của quý thầy cô cũng như sự đóng góp ý kiến của các bạn.











Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

- v -
MỤC LỤC


ĐỀ MỤC TRANG

TÊN ĐỀ TÀI i
TÓM TẮT TIẾNG VIỆT ii
TÓM TẮT TIẾNG ANH iii
CẢM TẠ iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ẢNH và ĐỒ THỊ ix

I. GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt Vấn Đề 1

1.2 Mục Tiêu Đề Tài 2

II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Giới Thiệu về Đặc Điểm Sinh Học của Ếch 3
2.1.1 Phân loại 3
2.1.2 Phân bố 3
2.1.3 Đặc điểm hình thái của ếch 4
2.1.4 Cấu tạo trong 5
2.1.5 Sinh trưởng và phát triển 7
2.1.6 Điều kiện sống của ếch 8
2.1.7 Tập tính ăn 10
2.2 Sơ Lược về Thành Phần Dinh Dưỡng các Loại Thức Ăn của Ếch 10
2.2.1 Thức ăn tự nhiên (mồi di động) 10
2.2.2 Moina 11
2.2.3 Trùn chỉ 11
2.2.4 Thức ăn công nghiệp 11
2.3 Một Số Mô Hình Nuôi Ếch Công Nghiệp 12
2.3.1 Nuôi ếch trong bể xi-măng 12
2.3.2 Nuôi ếch trong giai, nuôi đăng quầng 12
2.3.3 Nuôi ếch trong ao đất 13
2.3.4 Nuôi ếch kết hợp với nuôi cá trê 13
2.4 Triển Vọng Nghề Nuôi Ếch 13
2.4.1 Tình hình nuôi ếch 14
2.4.2 Thò trường 14
2.5 Vài Đặc Điểm về Sự Ăn Nhau của Ếch 15
2.6 Sơ Lược về Một Số Bệnh Thường Gặp và Cách Phòng Trò 15
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.


- vi -
2.6.1 Bệnh ở nòng nọc 15
2.6.2 Bệnh trên ếch giống và ếch nuôi thương phẩm 16

III. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

3.1 Thời Gian và Đại Điểm 18
3.2 Vật Liệu và Trang Thiết Bò 18
3.2.1 Đối tượng thí nghiệm 18
3.2.2 Dụng cụ và nguyên vật liệu thí nghiệm 18
3.2.3 Nguồn nước 19
3.3 Bố Trí Thí Nghiệm 19
3.3.1 Nuôi thương phẩm ếch Thái Lan 19
3.3.2 Khảo sát sự ăn nhau 22
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 25
3.4 Phương Pháp Xử Lý Thống Kê 26

IV. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Khảo Sát Tập Tính Ăn Nhau 27
4.1.1 Phân tích các yếu tố môi trường 27
4.1.2 Thí nghiệm 1: khảo sát sự ăn nhau của nòng nọc ếch theo ngày tuổi
và mật độ 29
4.1.3 Thí nghiệm 2: khảo sát sự ăn nhau của nòng nọc ếch theo thời gian
nhòn đói và mật độ 31
4.1.4 Thí nghiệm 3: khảo sát sự ăn nhau của ếch theo sự chênh lệch
trọng lượng và mật độ 34
4.2 Kết Quả Thí Nghiệm Nuôi Thương Phẩm Ếch Thái Lan 38
4.2.1 Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm 38
4.2.2 Sự tăng trưởng về trọng lượng 41

4.2.3 Tỷ lệ tăng trọng tuyệt đối 44
4.2.4 Tỷ lệ sống 46
4.2.5 Sự phân đàn 48
4.2.6 Năng suất 53

V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60

5.1 Kết Luận 60
5.1.1 Khảo sát tính ăn nhau 60
5.1.2 Nuôi thương phẩm 60
5.2 Đề Nghò 61
5.2.1 Khảo sát ăn nhau 61
5.2.2 Nuôi thương phẩm 61

Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

- vii -
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Tài liệu tiếng việt 62
Tài liệu tiếng anh 63

PHỤ LỤC 1 64

1. Chỉ tiêu chất lượng nước ở thí nghiệm 1 và 2 64
2. Chỉ tiêu chất lượng nước trong nuôi thương phẩm 65

PHỤ LỤC 2 66


1. Kết quả nòng nọc ăn nhau theo ngày tuổi 66
2. Kết quả nòng nọc ăn nhau theo thời gian nhòn đói 67
3. Kết quả ếch ăn nhau theo sự chênh lệch trọng lượng 68

PHỤ LỤC 3 69

1. Trọng lượng ếch sau 15 ngày nuôi 69
2. Trọng lượng ếch sau 30 ngày nuôi 70
3. Trọng lượng ếch sau 45 ngày nuôi 71
4. Trọng lượng ếch sau 60 ngày nuôi 72
5. Trọng lượng ếch sau 75 ngày nuôi 73

PHỤ LỤC 4 KẾT QUẢ XỬ LÝ THỐNG KÊ 74



















Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

- viii -
DANH SÁCH CÁC BẢNG


BẢNG NỘI DUNG TRANG

Bảng 3.1 Hàm lượng đạm và kích cỡ viên thức ăn 21
Bảng 4.1 Các yếu tố thủy lý hoá trong keo thí nghiệm 27
Bảng 4.2 Tỷ lệ ăn nhau của nòng nọc ếch theo ngày tuổi 29
Bảng 4.3 Tỷ lệ nòng nọc ăn nhau ở thí nghiệm 1 cặp qua 3 khoảng
thời gian nhòn đói (24, 36 và 48 giờ) 31
Bảng 4.4 Tỷ lệ nòng nọc ăn nhau ở thí nghiệm 3 cặp qua 3 khoảng
thời gian nhòn đói (24, 36 và 48 giờ) 32
Bảng 4.5 Tỷ lệ nòng nọc ăn nhau ở thí nghiệm 5 cặp qua 3 khoảng
thời gian nhòn đói (24, 36 và 48 giờ) 33
Bảng 4.6 Tỷ lệ ăn nhau của ếch có trọng lượng 3 g với các cỡ ếch khác 35
Bảng 4.7 Tỷ lệ ăn nhau của ếch có trọng lượng 5 g với các cỡ ếch khác 37
Bảng 4.8 Một số yếu tố môi trường trong thí nghiệm 38
Bảng 4.9 Trọng lượng trung bình của ếch qua các lần kiểm tra 41
Bảng 4.10 Tỷ lệ tăng trọng tuyệt đối của ếch theo thời gian 45
Bảng 4.11 Tỷ lệ sống của ếch ở các giai đoạn nuôi 46
Bảng 4.12 Các giá trò thu thập sau 30 ngày thí nghiệm 48
Bảng 4.13 Sự phân bố tần số về trọng lượng ếch sau 30 ngày nuôi 49
Bảng 4.14 Các giá trò thu thập sau 60 ngày thí nghiệm 50
Bảng 4.15 Sự phân bố tần số về trọng lượng ếch sau 60 ngày nuôi 50
Bảng 4.16 Các giá trò thu thập sau 75 ngày thí nghiệm 51

Bảng 4.17 Sự phân bố tần số về trọng lượng ếch sau 75 ngày nuôi 52
Bảng 4.18 Năng suất ếch ở các nghiệm thức sau 75 ngày nuôi 53
















Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

- ix -
DANH SÁCH HÌNH ẢNH và ĐỒ THỊ


HÌNH NỘI DUNG TRANG

Hình 2.1 Cấu tạo ngoài của ếch Thái Lan 4
Hình 2.2 Vòng đời của ếch 7
Hình 3.1 Bố trí giai thí nghiệm 20

Hình 3.2 Giá thể bằng xốp có lỗ và không lỗ 21
Hình 3.3 Bể kính và keo thí nghiệm 22
Hình 4.1 Hiện tượng ăn nhau ở giai đoạn nòng nọc 37
Hình 4.2 Hiện tượng ăn nhau ở giai đoạn ếch giống 38
Hình 4.3 Ếch ban đầu thí nghiệm 54
Hình 4.4 Ếch sau khi nuôi 15 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 55
Hình 4.5 Ếch sau khi nuôi 15 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 55
Hình 4.6 Ếch sau khi nuôi 30 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 56
Hình 4.7 Ếch sau khi nuôi 30 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 56
Hình 4.8 Ếch sau khi nuôi 45 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 57
Hình 4.9 Ếch sau khi nuôi 45 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 57
Hình 4.10 Ếch sau khi nuôi 60 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 58
Hình 4.11 Ếch sau khi nuôi 60 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 58
Hình 4.12 Ếch sau khi nuôi 75 ngày ở nghiệm thức xốp có lỗ 59
Hình 4.13 Ếch sau khi nuôi 75 ngày ở nghiệm thức xốp không lỗ 59

ĐỒ THỊ

Đồ thò 4.1 Tỷ lệ ăn nhau của nòng nọc ếch theo ngày tuổi 30
Đồ thò 4.2 Tỷ lệ ăn nhau ở nghiệm thức 1 cặp qua thời gian nhòn đói 32
Đồ thò 4.3 Tỷ lệ ăn nhau ở nghiệm thức 3 cặp qua thời gian nhòn đói 33
Đồ thò 4.4 Tỷ lệ ăn nhau ở nghiệm thức 5 cặp qua thời gian nhòn đói 34
Đồ thò 4.5 Tỷ lệ ăn nhau của ếch có trọng lượng 3 g so với các cỡ ếch khác 35
Đồ thò 4.6 Tỷ lệ ăn nhau của ếch có trọng lượng 5 g so với các cỡ ếch khác 36
Đồ thò 4.7 Sự biến động nhiệt độ nước theo thời gian 39
Đồø thò 4.8 Sự biến động nhiệt độ không khí theo thời gian 40
Đồø thò 4.9 Sự biến động pH nước theo thời gian 41
Đồ thò 4.10 Tăng trọng của ếch ở các nghiệm thức theo thời gian 42
Đồ thò 4.11 Tăng trọng của ếch thí nghiệm 42
Đồ thò 4.12 Tăng trọng tuyệt đối của ếch 45

Đồ thò 4.13 Tỷ lệ sống của ếch sau 75 ngày nuôi 47
Đồ thò 4.14 Phân bố tần số về trọng lượng ếch sau 30 ngày nuôi 49
Đồ thò 4.15 Phân bố tần số về trọng lượng ếch sau 60 ngày nuôi 51
Đồ thò 4.16 Phân bố tần số về trọng lượng ếch sau 75 ngày nuôi 52
Đồ thò 4.17 Năng suất ếch ở các nghiệm thức sau 75 ngày nuôi 53
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

I. GIỚI THIỆU


1.1 Đặt Vấn Đề

Những thập niên gần đây, ngành nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam không ngừng
phát triển và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều tỉnh thành trong cả nước.
Ngành thủy sản đã đem lại nguồn ngoại tệ to lớn cho đất nước và cung cấp khối
lượng sản phẩm thủy sản vô cùng phong phú cho thò trường trong và ngoài nước như:
tôm, cá, giáp xác, nhuyễn thể,… Để đạt được điều đó thì ngành nuôi trồng thủy sản
không chỉ dừng lại ở những giống cũ mà phải luôn tìm tòi, thuần dưỡng và sản xuất
những giống mới có giá trò hơn.

Thủy đặc sản như cá sấu, ếch, ba ba,… đang là các đối tượng nuôi được nhiều
người quan tâm. Trong đó ếch được nuôi nhiều ở một số nước trên thế giới như: Đài
Loan, Mỹ, Thái Lan,... và Việt Nam. Thêm vào đó, ếch là sản phẩm thủy sản rất
được ưa chuộng trên thò trường trong và ngoài nước. Thòt ếch được ví như “thòt gà
đồng” và được chế biến thành nhiều món ăn rất ngon, rất bổ dưỡng, da ếch còn làm
ví, găng tay, giày dép và nhiều sản phẩm mỹ nghệ có giá trò cao.

Tuy nhiên từ trước đến nay, sản lượng ếch phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên.
Mặc dù ở nước ta đã có nhiều mô hình nuôi ếch đồng với phương pháp thủ công dân

gian nhưng không phổ biến do tỷ lệ sống thấp, tốn nhiều thời gian, không mang lại
hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó, việc khai thác ếch ngoài tự nhiên làm ảnh đến môi
trường sinh thái, tạo điều kiện cho côn trùng phá hoại mùa màng phát triển và ảnh
hưởng xấu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp.

Trong vài năm gần đây, nước ta đã du nhập, thuần dưỡng và nhân giống ếch
Thái Lan (Rana tigerina) với tập tính lớn nhanh và tỷ lệ sống cao hơn thích hợp cho
việc nuôi công nghiệp so với ếch đồng Việt Nam (R. rugulosa). Tuy nhiên, việc nuôi
thương phẩm giống ếch này còn khá mới mẻ đối với người dân nước ta. Do đó việc
tìm ra mô hình nuôi thích hợp và có hiệu quả kinh tế là rất cần thiết. Bên cạnh đó,
chúng ta cũng biết ếch có tập tính ăn nhau, dẫn đến sự hao hụt trong quá trình ương,
nuôi. Do đó cần tìm hiểu điều kiện dẫn đến sự ăn nhau của chúng để khắc phục và
tìm ra biện pháp nuôi có hiệu quả hơn.

Xuất phát từ những yều cầu trên, được sự phân công của Khoa Thủy Sản
Trường Đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành thực hiện
đề tài: “Thử Nghiệm Mô Hình Nuôi Thương Phẩm và Khảo Sát Tập Tính Ăn
Nhau của Ếch Thái Lan (Rana tigerina)”.

Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 2 -

1.2 Mục Tiêu Đề Tài

Đề tài thực hiện với mục tiêu sau:

- Tìm ra mô hình nuôi ếch thương phẩm thích hợp với giá thể là tấm “xốp cao
su” có đục lỗ (tùy theo kích cỡ ếch) và không đục lỗ, và mật độ nuôi khác nhau.


- Tìm hiểu điều kiện dẫn đến sự ăn nhau trên ếch từ giai đoạn nòng nọc (khi
ếch tiêu hết noãn hoàng) đến khi thành ếch con, từ đó đề xuất phương pháp ương
nuôi đạt hiệu quả hơn.
































Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 3 -

II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU


2.1 Giới Thiệu về Đặc Điểm Sinh Học của Ếch

2.1.1 Phân loại

Ếch được phân loại như sau:

Ngành: Chordata

Lớp: Amphibia

Bộ: Anura

Bộ phụ: Phaneroglossa

Họ: Ranidae

Giống: Rana

Loài: Rana tigerina Daudin, 1802


Tên Việt Nam: Ếch Thái Lan.

2.1.2 Phân bố

Trên thế giới có trên 2000 loài ếch nhái, họ ếch là một trong những họ lớn
nhất trong lớp ếch nhái gồm 46 giống và 555 loài (Ngô Trọng Lư, 2001). Riêng ở
Việt Nam, có khoảng 82 loài ếch nhái như: ếch xanh, ếch gai, ếch vạch, ếch bám đá,
ếch leo cây,… trong đó ếch đồng là loài giá trò hơn cả (Trần Kiên, 1996). Hiện nay có
thêm ếch Thái Lan (Rana tigerina) là loài có giá trò nhất hiện nay và rất thích hợp
trong nuôi công nghiệp.

Ở Thái Lan, ếch phân bố ở khắp đất nước, chủ yếu là hai loài Rana tigerina và
R. rugulosa. Ngoài ra, Thái Lan còn nhập ếch bò từ Ấn Độ, Mỹ về nuôi, chủ yếu ở
phía bắc của đất nước (Anonth và Daorerk, 1995).






Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 4 -

2.1.3 Đặc điểm hình thái của ếch






Hình 2.1 Cấu tạo ngoài của ếch Thái Lan

Theo Trần Kiên (1996), cơ thể ếch chia thành 3 phần: đầu, thân và tứ chi
(gồm hai chi trước và hai chi sau).

Ếch có thân ngắn và rộng, cổ không rõ ràng, chân sau dài to hơn chân trước,
đùi to khoẻ, hai bàn chân sau có màng bơi nên ếch bơi lội rất giỏi. Ở trên cạn, ếch di
chuyển bằng cách thực hiện các bước nhảy. Ếch có thể nhảy liên tục hàng chục bước
rất xa.

2.1.3.1 Đầu

Tương đối hẹp và rộng, miệng là một khe rộng đến mang tai nên ếch đớp và
giữ mồi được dễ dàng, phía trước đầu nằm ở mặt lưng có một đôi lỗ mũi ngoài. Mắt
lớn lồi ra có 3 mí: mí trên phát triển, mí dưới không cử động, mí thứ 3 là một màng
nhầy ở gốc mắt rất linh hoạt có thể phủ kín cả mắt. Mắt ếch nhìn rất kém chỉ thấy
những con mồi di động cách khoảng 10 cm. Sau mắt là màng nhó tròn.

Ở ếch đực phía dưới miệng có hai túi âm thanh được cấu tạo bằng một màng
mỏng có màu đen, dùng kêu gọi con cái vào mùa sinh sản. Khi ếch kêu hai túi âm
thanh phồng lên.



Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 5 -

2.1.3.2 Thân


Toàn thân ếch phủ da trần, hơi sần sùi, thường xuyên ướt. Da ếch không dính
liền với lớp cơ bên dưới, có thể nhấc da qua lại. Da chỉ gắn với lớp cơ bên dưới theo
một vài đường tạo thành những xoang chứa đầy bạch huyết góp phần làm da ếch ẩm
ướt thích ứng với sự vận chuyển và hô hấp.

Lưng ếch hơi gù, mặt bụng hơi sáng và trơn láng, mình ngắn và không phân
cách với đầu. Cuối thân có một lỗ gọi là lỗ huyệt (Trần Kiên, 1996).

2.1.3.3 Tứ chi

Chi trước có 4 ngón vừa ngắn vừa nhỏ và vừa yếu. Trong sinh hoạt hàng ngày,
hai chân trước của ếch chỉ giúp nó giữ được con mồi, giữ được thế cân bằng trong di
chuyển. Ở chi trước, gốc ngón thứ 1 (ngón hướng vào trong cơ thể) của con đực khi
trưởng thành có một mấu lồi gọi là “chai sinh dục”. Chai này phát triển to trong mùa
sinh sản và có vai trò như cái mấu. Khi giao phối con đực ôm con cái, hai mấu đó
mắc vào nhau làm cho động tác ôm con cái được chặt hơn, làm hai tay không bò tuột.

Chi sau có 5 ngón dính liền nhau bằng một màng mỏng như chân vòt, màng
này giúp ếch bơi dễ dàng trong nước. Hai chân sau của ếch khá dài, có cơ bắp to
khoẻ giúp ếch phóng xa, bơi lội, leo cây,…

2.1.4 Cấu tạo trong

2.1.4.1 Hệ hô hấp

Ếch là động vật lưỡng cư vừa sống dưới nước vừa sống trên cạn. Cơ quan hô
hấp của ếch gồm hai bộ phận: da và phổi. Phổi ếch là cơ quan hô hấp khi ếch sống
trên cạn còn da giúp ếch thở trong nước hoặc trong môi trường ẩm ướt.


Theo Phạm Văn Trang và Phạm Báu (1999), da ếch có khả năng vận chuyển
51% O
2
và 86% CO
2
. Trên da ếch có nhiều mao mạch, O
2
trong không khí hoà tan
vào chất nhầy trên da, thấm qua da vào các mao mạch, CO
2
theo con đường ngược lại
để ra ngoài. Do đó da thiếu nước hoặc bò khô thì ếch sẽ chết. Ngoài ra da ếch còn có
khả năng thay đổi màu sắc để thích nghi và trốn tránh kẻ thù.

2.1.4.2 Hệ tiêu hoá

Hệ tiêu hoá của ếch gồm: miệng, lưỡi, dạ dày, ruột và hố huyệt.

Ếch có khe miệng rất rộng dẫn đến khoang miệng lớn giúp con vật có thể đớp
được mồi to. Răng ếch nhỏ, hình nón có đỉnh hướng về phía sau và gắn vào xương
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 6 -

hàm trên, hàm dưới và xương lá mía ở vòm miệng, giúp cho việc giữ cho con mồi
khỏi bò tuột ra khỏi miệng.

Lưỡi ếch có phần trước dính vào thềm miệng và phần sau tự do, hướng lưỡi về
phía trong họng. Do đó lưỡi có thể lật ra ngoài để bắt mồi. Mặt trên có chất dính do
lưỡi tiết ra, nhờ đó lưỡi khi phóng ra có thể dính vào con mồi.


Dạ dày của ếch có thành cơ dày, ruột ngắn có các tuyến tiêu hoá phát triển. Ở
gan ếch chứa chất dự trữ, đặc biệt glycogen và mỡ được tích nhiều; bởi thế vào cuối
hè gan ếch thường to hơn bất kỳ mùa nào khác trong năm, nó chuẩn bò nguồn năng
lượng dự trữ cho ếch trong mùa ếch trú đông. Khi ếch thiếu ăn gan ếch thường nhỏ và
bụng ếch lép. Phân được đổ vào xoang huyệt rồi mới đổ ra ngoài qua hố huyệt nằm ở
cuối lưng.

2.1.4.3 Hệ bài tiết

Ếch có nhu cầu về nước rất lớn, do đó sự hấp thu cũng như sự bài tiết nước ở
ếch rất nhanh.

Thận bài tiết nước tiểu theo ống dẫn niệu vào xoang huyệt rồi mới vào bọng
đái. Bọng đái ếch là một túi lớn mỏng đổ thẳng vào xoang huyệt. Do nhu cầu về nước
cao nên da ếch có khả năng hấp thụ nước và bài tiết nước rất nhanh. Có khi trong 24
giờ lượng nước tiểu được bài tiết bằng một nửa khối lượng cơ thể vì thế mà bọng đái
ếch lớn. Khi gặp nguy hiểm ếch phóng nước tiểu ra ngoài để cơ thể nhẹ nhàng và dể
dàng di chuyển (Trần Kiên, 1996).

2.1.4.4 Hệ sinh dục – sinh sản

Sự thụ tinh của ếch là sự thụ tinh ngoài, do ếch đực không có cơ quan giao
cấu; còn ếch cái có buồng trứng rất lớn. Thể mỡ là nơi dự trữ năng lượng cho tinh
hoàn và buồng trứng.

Ếch đực có một đôi tinh hoàn nhỏ hình bầu dục, ếch cái có hai buồng trứng.
Tinh dòch được đổ vào ống dẫn niệu rồi vào xoang huyệt. Trứng rơi vào trong ống
dẫn trứng rồi cũng đi tới xoang huyệt. Bám trên tinh hoàn và buồng trứng là thể mỡ
màu vàng cần thiết cho sự phát triển của tinh hoàn và buồng trứng. Vì thế về mùa

sinh sản thể mỡ nhỏ và cò màu vàng sậm. Trong mùa trú đông thể mỡ lớn và có màu
vàng nhạt, ếch béo, chất lượng thòt ngon.

Ếch đến một tuổi có thể tham gia sinh sản. Ếch hai đến ba tuổi sẽ cho thế hệ
con tốt hơn ếch một tuổi.

Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 7 -

Ếch đẻ rộ vào mùa xuân, rõ nhất và rộ nhất từ tháng 3 đến tháng 6 có khi kéo
dài đến tháng 7. Vào những đêm mưa rào chúng gọi nhau ra các đồng lúa, đồng màu
để đẻ. Ếch đực dùng âm thanh để kêu gọi con cái. Những tiếng kêu là sự đấu khẩu
giữa các con đực để giành con cái, khiến con cái không thể chòu đựng được nữa sẽ
theo tiếng gọi mà tìm đến kết đôi (Phạm Văn Trang, 2005).

Ngày nay, người ta có thể sản xuất giống nhân tạo bằng cách tiêm chất kích
thích sinh sản. Khi bắt cặp, con đực luồn hai tay vào nách con cái, ôm ghì chặt và
dùng bàn tay chai chà sát vào phần ngực ếch cái. Khi bò kích thích con cái sẽ đẻ trứng
đồng thời con đực cũng kòp phóng tinh lên trứng, đó là sự thụ tinh ngoài. Trứng gặp
tinh trùng thụ tinh, rơi xuống nước và trương to lên, dính vào nhau tạo thành màng
trứng nổi trên mặt nước. Trứng ếch hình tròn, đường kính khoảng 2 mm, có hai phần
trắng đen rõ rệt, một nửa hình cầu màu đen hướng lên trên gọi là cực động vật, một
nửa sau màu trắng nằm phía dưới là cực dinh dưỡng. Trứng tiếp tục phát triển thành
phôi, sau đó nở thành nòng nọc và thở bằng mang như cá.

2.1.5 Sinh trưởng và phát triển

Trứng thụ tinh sẽ nở sau 18 – 38 giờ. Nòng nọc phát triển 28 – 36 ngày biến
thái thành ếch con (lúc đầu nòng nọc xuất hiện hai chân sau, rồi hai chân trước, đuôi

cụt dần, mang teo dần rồi xuất hiện phổi, lúc đó nòng nọc biến thái và sống trên cạn)
và đạt kích cỡ thương phẩm khoảng 300 – 400 g/con sau bốn đến năm tháng nuôi
(Anonth và Daorerk, 1995).




Hình 2.2 Vòng đời của ếch (Việt Chương, 2004)

1. Ếch mẹ
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 8 -

2. Trứng ếch (gồm hai tế bào)
3. Phôi
4. Mắt nòng nọc xuất hiện, đuôi dài ra
5. Thoái hoá các mang
6. Hình thành vòng xoắn
7. Vòng xoắn biến mất, chân xuất hiện
8. Đuôi rụng.

2.1.6 Điều kiện sống của ếch

2.1.6.1 Môi trường sống

Ếch là động vật máu lạnh, lưỡng cư, sống ở khắp nơi như: ao, hồ, đồng ruộng,
sông ngòi, mương máng, những nơi ẩm ướt,.. Nói chung nơi nào có nước quanh năm
dù mực nước sâu như ở đầm, bàu vẫn thích nghi tốt với đời sống của ếch. Tuy nhiên,
điều cần ở đây phải cóù nguồn nước ngọt; còn nước nhiễm mặn, nhiễm phèn không

thích hợp.

Ếch thích sống ở những nơi thực sự yên tónh, ít người qua lại; khi nghe tiếng
động lạ hoặc bóng người từ xa đến ếch đã tìm cách lẫn trốn ngay. Ở đâu có nước
ngọt, có cây cỏ, côn trùng là nơi ấy có mồi để ếch sống. Riêng ếch Thái Lan thì dạng
hơn do được thuần dưỡng thích nghi với mô hình nuôi công nghiệp và sử dụng được
thức ăn chế biến.

Do phổi ếch có cấu tạo đơn giản, nên ngoài thở bằng phổi ếch còn thở bằng da
(da ếch có khả năng vận chuyển 51% O
2
và 86% CO
2
). Trên da ếch có rất nhiều mao
mạch, oxy trong không khí hoà tan vào chất nhầy trên da ếch thấm qua da ếch và lọt
vào các mao mạch; còn CO
2
thải ra theo con đường ngược lại. Nếu da ếch thiếu nước,
bò khô ếch sẽ chết, ếch có thể sống tới 15 – 16 năm (Trần Kiên, 1996).

Ếch kém chòu rét và nóng, thích những nơi nước có nhiều lục bình và có nhiều
thức ăn thiên nhiên như: ruồi, muỗi, các loài ấu trùng, côn trùng,…

Da ếch có khả năng thay đổi màu sắc để phù hợp với môi trường sống, cũng là
cách ngụy trang để trốn tránh kẻ thù và rình bắt mồi.

2.1.6.2 Nhiệt độ và độ ẩm không khí

Ếch là động vật lưỡng cư, máu lạnh, thích khí hậu ấm áp, độ ẩm không khí
cao, có vực nước ngọt quanh năm. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của ếch là: 25

– 32
0
C, tối ưu là 28 – 30
0
C. Khả năng chòu đựng với sự biến đổi nhiệt độ cũng tương
đối cao, nhiệt độ càng cao hoặc càng thấp ếch đều giảm ăn.
Những ngưỡng nhiệt độ đối với sự sống của ếch (Trần Kiên, 1996):
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 9 -


- Nhiệt độ tử vong thấp: 0
0
C;

- Nhiệt độ ếch lạnh cóng: 8 – 9
0
C;

- Nhiệt độ bò tê liệt vì nóng: 40
0
C;

- Nhiệt độ tử vong cao: 50
0
C.

Ở những vùng lạnh như Sapa, Tam Đảo,… số lượng ếch ít hơn so với vùng
đồng bằng do khí hậu khô và nóng không phù hợp với sự phát triển và sinh sống của

ếch. Da ếch trần ẩm ướt và tương đối mỏng không chống được sự thoát hơi nước khi
chúng sống trong môi trường khô; càng khô hơi nước càng thoát nhanh dẫn đến thân
nhiệt càng giảm nhanh con vật dễ chết và chúng sẽ chết khi mất 15% khối lượng cơ
thể ban đầu; khi da khô chậm ếch sẽ chết khi mất 75% khối lượng cơ thể.

2.1.6.3 pH

Theo Trần Kiên (1996), khoảng pH thích hợp cho sự phát triển nòng nọc trong
tự nhiên là 6,5 – 8,5 và tối ưu là 6,8 – 7,5.

2.1.6.4 Độ mặn

Ếch sống ở những vùng nước ngọt, đặc biệt chúng rất nhạy cảm với vùng đất
bò nhiễm mặn. Theo Trần Kiên (1996), nước có độ mặn khoảng 1% cũng đủ gây tử
vong cho nòng nọc và đa số ếch trưởng thành. Theo Lê Thanh Hùng (2005), ếch phải
nuôi ở nước ngọt hoàn toàn, độ mặn không quá 5‰.

2.1.6.5 Hoạt động theo mùa và ngày đêm

a. Hoạt động theo mùa

Thời gian hoạt động của ếch bao gồm hai thời kỳ: thời kỳ hoạt động và thời kỳ
trú đông.

+ Thời kỳ hoạt động: chúng thường hoạt động từ tháng 3 – 10. Về đầu mùa hè
nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, ếch rời khỏi hang và bắt đầu thời kỳ hoạt động. Khả năng
hoạt động mạnh từ tháng 4 đến tháng 7 và những tháng này cũng là thời kỳ ếch sinh
sản, là thời gian nòng nọc biến thái.

+ Thời kỳ trú đông: từ đầu hoặc cuối tháng 11. Về mùa đông nhiệt độ thấp, độ

ẩm thấp ếch thường ngưng hoạt động và đi trú ẩn trong các hang hốc ở ven các vực
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 10 -

nước ngọt. Tuy nhiên, thỉnh thoảng trong những hôm nắng ấm ếch có thể rời khỏi
hang ra phơi nắng hoặc vào ban đêm chúng có thể ra khỏi hang bắt mồi.

b. Hoạt động ngày đêm

Giai đoạn nòng nọc: hoạt động chủ yếu vào ban ngày, mạnh nhất từ 5 giờ – 9
giờ 30’ và 16 giờ – 19 giờ. Sự nghỉ ngơi của nòng nọc thể hiện là chúng nằm sâu
trong ao, đáy bể, bơi lội chậm và tập trung thành từng đám ở gần bờ hoặc ẩn dưới rễ
của bèo, rau muống,…

2.1.7 Tập tính ăn

Ngoài thức ăn tự nhiên như: ruồi, muỗi, trùn, dế, cào cào, mối, thiêu thân,…
ếch còn ăn các loài động vật như: cá, tôm, cua, tép, lươn,… và thực vật như: bột cám,
bột ngô, bột ngũ cốc,… Khi còn nhỏ chúng rất thích ăn cám gạo, trùn chỉ, ốc, cua giã
nhỏ (có canxi giúp phát triển bộ xương). Sau khi biến thái thành ếch con, ếch thường
ngồi một chỗ quan sát con mồi di động, khi con mồi tiến lại gần, ếch ngóc đầu lên và
phóng lưỡi ra đớp lấy con mồi. Chúng có thể nuốt được con mồi rất to tương đương
với cơ thể chúng.

Theo Việt Chương (2004), ếch có tập tính ăn thòt lẫn nhau nên khi chúng đói
hoặc quá đói thì xảy ra hiện tượng ăn nhau, con lớn nuốt con bé, đôi khi đồng cỡ cũng
ăn nhau.

Ngày nay, con người đã thuần dưỡng được ếch ăn được thức ăn công nghiệp

và kỹ thuật nuôi ếch với thức ăn công nghiệp hiện đang phổ biến rộng khắp cả thế
giới.

2.2 Sơ Lược về Thành Phần Dinh Dưỡng Các Loại Thức Ăn của Ếch

Trong giai đoạn đầu khi tiêu hết noãn hoàng, nòng nọc bắt đầu ăn Moina tiếp
đó là trùn chỉ với lượng trùn chỉ tăng dần rồi được bổ sung bột cám; sau đó cho ăn
thức ăn viên hoặc mồi di động.

2.2.1 Thức ăn tự nhiên (mồi di động)

Do thò lực kém nên ếch có thói quen ăn mồi ở dạng di động nghóa là mồi phải
chuyển động như bay, nhảy trước mắt nó thì nó mới thấy mà vồ chụp. Còn những mồi
chết nằm bất động dù ngay trước miệng ếch cũng đành chòu đói mà thôi.

Trong tự nhiên các loài như: châu chấu, cào cào, dế, cuốn chiếu, tôm, cua, giun
đất,… là loại thức ăn khoái khẩu của ếch, có thành phần dinh dưỡng và đạm cao.

Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 11 -

2.2.2 Moina

Moina là nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng, kích cỡ phù hợp với miệng nòng
nọc ở những ngày đầu. Moina là mồi động nên rất thích hợp cho sự bắt mồi của nòng
nọc. Càng về sau thì kích cỡ nòng nọc càng lớn nên Moina không còn là thức ăn phù
hợp nữa, lúc này cần chuyển sang thức ăn khác thích hợp hơn.

Thành phần dinh dưỡng của Moina (dạng thô 10%), như sau (Nguyễn Quốc

Đạt và Phạm Trung Phương, 2003).

Protein: 45%
Lipid: 6,3%
Xơ thô: 0,9%
Tro: 15,3%

2.2.3 Trùn chỉ

Cơ thể trùn chỉ có màu hồng, hình sợi chỉ mảnh, dài; sống chung thành tập
đoàn gồm nhiều cá thể liên kết lại với nhau thành búi, tỏa tròn, hoạt động uốn lượn
trong tầng nước để trao đổi khí và bài tiết. Chúng sống ở nền đáy các thủy vực giàu
chất hữu cơ như các nhánh sông nhỏ, các vùng đầm lầy, các mương nước thải,…

Trùn chỉ có khả năng sống khá cao nếu được giữ trong môi trường sống thích
hợp; ngược lại cũng rất là dễ chết khi môi trường nước thiếu oxy.

Trùn chỉ là thức ăn tự nhiên ưa thích của nhiều loài cá, đặc biệt là ếch, do có
giá trò dinh dưỡng rất cao, phù hợp với kích cỡ nòng nọc và không gây ô nhiễm môi
trường bể ương.

Thành phần dinh dưỡng của trùn chỉ như sau (Tô Thò Thảo Lil, 2005).

Protein: 56,6%
Lipid: 4,5%
Xơ thô: 9%
Tro: 8,25%

2.2.4 Thức ăn công nghiệp


Thường sử dụng các loại thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng đạm cao.
Lúc ếch còn nhỏ cho ăn thức ăn có hàm lượng đạm 40%, sau đó hàm lượng đạm giảm
khoảng 30% đến 25% đồng thời kích cỡ thức ăn tăng dần tùy thuộc vào cỡ miệng
ếch.

Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 12 -

Hiện tại thò trường Việt Nam chưa có thức ăn chuyên cho ếch. Có thể sử dụng
thức ăn viên nổi cho cá da trơn hay cá rô phi của các công ty CARGILL,
GREENFEED, JUMBO,… để nuôi ếch.

2.3 Một Số Mô Hình Nuôi Ếch Công Nghiệp

Ngày nay, do trữ lượng ếch hoang dã trên thế giới còn quá ít vì con người
đánh bắt bằng nhiều phương tiện. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ thòt ếch ngày càng
tăng nên đầu thế kỷ XX các bậc thầy về loài lưỡng cư này đã bắt tay vào việc nghiên
cứu phương pháp nuôi ếch công nghiệp và hiện nay các mô hình đó đang được phổ
biến rộng trên thế giới.

Nuôi ếch công nghiệp là nuôi những giống ếch đã được tuyển chọn và thuần
hoá nhiều đời để chúng có đủ những ưu điểm như: sinh sản tốt, tăng trọng nhanh và
có phẩm chất thòt thơm ngon được thò trường ưa chuộng, và là cách nuôi phù hợp có
tính khoa học để có lợi nhiều về số lượng và chất lượng. Sau đây là một số mô hình
nuôi ếch công nghiệp.

2.3.1 Nuôi ếch trong bể xi-măng

Bể xi-măng được xây theo kiểu hồ chứa, dạng hình vuông hoặc hình chữ nhật,

kích thước bể tùy thuộc vào người nuôi nhưng không quá lớn (do khó chăm sóc).
Người ta thường xây bể với diện tích 3x4 m
2
, 4x4 m
2
, cao 1,2 – 1,5 m. Hồ có thể xây
riêng biệt hay liên kết nhiều ngăn với nhau thành dãy dài.

Xung quanh vách phía sát đáy hồ nên xây bệ thấp, chiều dài của bệ là chiều
dài của bốn vách hồ, chiều rộng 20 cm và chiều cao cách đáy hồ 32 cm sao cho cách
mực nước trong hồ là 2 cm. Bệ này là nơi ếch lên nằm nghỉ ngơi. Ở đáy hồ nên đặt
ống để thay nước. Giữa hồ nên làm bè nổi bằng ván, tre hoặc tấm xốp cao su để ếch
lên nằm. Hồ nên xây những nơi thoáng mát ít người qua lại nên che lưới ni-lông để
tránh nắng trực tiếp (có thể sử dụng lưới lan) nhưng không che mát hoàn toàn bể.

2.3.2 Nuôi ếch trong giai, nuôi đăng quầng

Giai được đặt trong ao đất, kích cỡ giai tùy thuộc vào số lượng ếch và thường
6 – 50 m
2
(2x3, 4x5, 5x10 m
2
). Giai có chiều cao từ 1,2 m đến 1,5 m làm bằng lưới ni-
lông. Một phần giai được đặt ngập nước khoảng 30 cm. Trong giai nên bố trí giá thể
bằng xốp cao su, lục bình, rau muống,… chiếm từ 1/2 - 2/3 diện tích giai nuôi (Lê
Thanh Hùng, 2005).





Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 13 -

2.3.3 Nuôi ếch trong ao đất

Ếch công nghiệp cũng có thể nuôi trong ao đất, diện tích ao rộng hẹp tùy
thuộc vào người nuôi, nhu cầu nuôi và ao không quá lớn vì khó quản lý, thông thường
khoảng 30 – 300 m
2
(4x8 m
2
, 5x10 m
2
, 10x20 m
2
). Giữa ao nên đắp cù lao cao hơn
mặt nước khoảng 20 cm, nên tạo bờ dốc thoai thoải để ếch dễ lên xuống; trên cù lao
trồng cỏ, môn, bạc hà,… để tạo nơi ẩn nấp.

Nếu ao rộng vài trăm m
2
thì ngoài cù lao, xung quanh ao nên có bờ đất rộng
chừng 1 m hoặc lớn hơn, trên đó cũng trồng cây che mát cho ếch, bờ này nên cao hơn
mặt nước khoảng 20 – 30 cm.

Xung quanh ao nên xây hàng rào để tránh ếch đào thoát, hàng rào có thể làm
bằng tường gạch, tôn hoặc lưới có mắt lưới nhỏ, cao khoảng 1,2 –1,5 m. Trong ao
mực nước không nên sâu quá 1 m và nếu mặt ao rộng nên thả rau muống, lục bình,…
tạo nơi ẩn nấp.


Tuy nhiên, nuôi ếch trong ao đất có nhiều bất tiện như không thể kiểm soát
được số lượng vật nuôi cũng như chăm sóc.

2.3.4 Nuôi ếch kết hợp với nuôi cá trê

Trong bể xi-măng, ao đất và giai nuôi ếch thòt ta nên kết hợp nuôi thêm cá
trê, số lượng cá trê bằng 1/10 số lượng ếch. Mục đích của chúng là làm sạch môi
trường nước chống mầm bệnh nảy sinh, khi cá trê đủ lớn chúng ta thu hoạch (Việt
Chương, 2004).

2.4 Triển Vọng Nghề Nuôi Ếch

Trên thế giới có đến 2000 loài ếch, nhái, chúng có khả năng sinh sản nhanh.
Tuy nhiên, giống loài này có nguy cơ tuyệt chủng, do môi trường sống của chúng
càng ngày bò xấu đi mà tất cả đều do con người gây ra như:

- Diện tích đất nông nghiệp bò thu hẹp dần bởi nạn bùng nổ dân số trên thế
giới.

- Việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc dưỡng cây và các hoá chất khác trong lónh
vực nông nghiệp đã và đang gây hại môi trường sinh thái làm ảnh hưởng đến đời
sống của ếch cũng như các loài thủy sản khác.

- Chúng được đánh bắt bằng nhiều phương tiện trong đó việc chích điện đã
tiêu diệt hàng loạt loại ếch và gây hại rất nhiều loài thủy sản khác.

Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 14 -


Do môi trường sống của các loài thủy sản ngày càng bò thu hẹp và ô nhiễm
nên số lượng các loài thủy sản, đặc biệt như ếch, trong tự nhiên bò giảm sút rất nhiều.
Mặc khác thòt ếch rất được ưa chuộng trên thò trường nên việc săn bắt xảy ra ráo riết
hơn.

Ngày nay, trữ lượng ếch trong tự nhiên chỉ đáp ứng được một phần nào nhu
cầu của thò trường trong nước, chưa có khả năng đáp ứng thò trường xuất khẩu (Việt
Chương, 2004).

2.4.1 Tình hình nuôi ếch

Trong những năm gần đây, nước ta đã phát triển nghề nuôi ếch với qui mô
nông hộ, điển hình như: Hà Tây, Đông Anh (Hà Nội), Yên Phong (Hà Bắc),… và một
số tỉnh ở phía nam. Họ đã tiến hành nuôi ếch theo hình thức kinh nghiệm dân gian
với loài ếch bản đòa, thức ăn sử dụng là các loại côn trùng, cá tạp,... Tuy nhiên, trên
thực tế việc nuôi không đem lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi, do tỷ lệ sống thấp,
sản lượng thấp đặc biệt là vấn đề thức ăn dành cho ếch (Trần Kiên, 1996).

Ngày nay, ếch Thái Lan đã được thuần hoá. Chúng sử dụng được thức ăn tónh
như thức ăn công nghiệp dạng viên nổi dành cho cá, thức ăn tự chế biến. Và một số
tỉnh thành đã đạt được hiệu quả kinh tế cao trong việc ương nuôi giống loài này. Ví
dụ như : Trung tâm Khuyến Ngư và Giống thủy sản Hà Tónh, trại giống Quận 9, Củ
Chi (Tp. Hồ Chí Minh), Trung tâm giống An Giang,… (www.vietlinh.com.vn).

2.4.2 Thò trường

2.4.2.1 Về thò trường trong nước

Ngày nay, lượng thòt ếch càng được tiêu thụ nhiều hơn, những món ăn đặc sản

từ ếch mà thực khách ưa chuộng lại không đủ, các sản phẩm đồ hộp chưa xuất hiện
trong các siêu thò, nhà hàng.

2.4.2.2 Về thò trường xuất nhập khẩu

Các nước Châu Âu, Châu Mỹ đã và đang nhập một số lượng lớn thòt ếch, chủ
yếu là đùi ếch đông lạnh. Vào năm 2000, Pháp đã nhập khoảng 7500 tấn đùi ếch
đông lạnh, 1000 tấn ếch sống và hàng năm tăng dần đến mức hơn 15% tổng số.

Mỗi năm, Ai Cập xuất khẩu đến hơn 300 tấn thòt ếch. Ai Cập nhờ có khí hậu
thuận lợi với việc nuôi ếch nên có khả năng cung cấp mặt hàng này quanh năm cho
thò trường tiêu thụ thế giới. Kế đến là Ấn Độ mỗi năm cũng xuất khẩu được gần 4000
tấn đùi ếch. Brazil hàng năm cũng xuất khẩu được 500 tấn thòt ếch. Nhật Bản cũng
xuất khẩu được 600 tấn thòt ếch đóng hộp hàng năm.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.
- 15 -

Ngoài ra còn có các nước như Cuba, Nam Tư, Hungary, Ba Lan,… những nước
đã và đang không ngừng phát triển thêm nhiều trại nuôi ếch công nghiệp với qui mô
lớn và đã có nhiều thò trường tiêu thụ ở Bắc Mỹ và Châu Âu.

Ngoài việc nhập ếch thương phẩm và đùi ếch đông lạnh Châu Âu còn nhập
thêm 10 tấn ếch còn sống nhằm cung cấp cho các phòng thí nghiệm để nghiên cứu về
phôi học, nội tiết học, hormon sinh dục. Lợi ích của việc nuôi ếch không chỉ có từ
việc bán ếch con làm giống, bán ếch thòt mà còn có cả da ếch, phụ phế phẩm có thể
chế biến làm thức ăn cho gia súc hoặc làm phân bón. Riêng da ếch còn làm ví, găng
tay, giày dép và nhiều sản phẩm mỹ nghệ có giá trò cao.

Tóm lại, ếch là loài động vật lưỡng cư có giá trò kinh tế cao và hiện có thò

trường tiêu thụ rộng cả trong và ngoài nước. Hiện nay thòt ếch cũng được coi là thứ đặc
sản q hiếm, do có tỷ lệ đạm cao và có hương vò thơm ngon. Trong tương lai, nếu được
nuôi rộng rãi thòt ếch sẽ trở thành một loại thực phẩm cần thiết cho con người và là thứ
thòt thông dụng nhất thế giới (Việt Chương, 2004).

2.5 Vài Đặc Tính về Sự Ăn Nhau của Ếch

Giai đoạn nòng nọc: sống hoàn toàn trong môi trường nước, chúng ăn các loài
động vật phù du như Moina, ấu trùng muỗi,… động vật đáy như trùn chỉ,… ở giai đoạn
này thiếu thức ăn và ương mật độ cao làm cho khả năng ăn nhau của chúng xảy ra.

Giai đoạn ếch giống: chúng vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước, ăn thức ăn
tự nhiên là các loài động vật sống như côn trùng, giun, ốc,… Ngày nay, ếch có thể ăn
thức viên công nghiệp dạng nổi. Ở giai đoạn này chúng ăn nhau rất mạnh khi thiếu
thức ăn cũng như nuôi với mật độ cao (Lê Thanh Hùng, 2005). Vì ếch có tập tính rình
núp nhảy đớp mồi nên dù có cho ăn đầy đủ thì khả năng vồ cắn nhau vẫn xảy ra và
đặc biệt kích cỡ nuôi không đều thì xảy ra hiện tượng con lớn nuốt con bé.

2.6 Sơ Lược về Một Số Bệnh Thường Gặp và Cách Phòng Trò Bệnh

Ếch nuôi công nghiệp với mật độ cao dễ mắc một số bệnh làm giảm tỷ lệ sống
và năng suất. Theo Somsiri (1994) và Lê Thanh Hùng (2005), có một số bệnh phổ
biến ở ếch.

2.6.1 Bệnh ở nòng nọc

2.6.1.1 Trùng bánh xe

Triệu chứng: làm cho nòng nọc có một lớp trắng mỏng hoặc màng nhầy trắng
đục và xuất huyết trên bề mặt cơ thể và nghiêm trọng hơn làm cho mang nòng nọc bò

nhạt màu, đuôi bò thối rữa.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
For evaluation only.

×