Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Cơ sở lý luận của việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên XHCN nói chung.DOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (166.39 KB, 18 trang )

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

lời Mở đầu
Vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20, về cơ bản nền kinh tế nớc ta sản xuất
nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên hiện vËt, tù cung, tù cÊp cßn
chiÕm u thÕ. X· héi Việt Nam vẫn dựa trên nền tảng của văn minh nông nghiệp
lúa nớc, nông dân chiếm đại đa số. Vì vậy Việt Nam vẫn là nớc nghèo nàn, lạc hậu
và kém phát triển, Do đó phát triển trở thành nhiệm vụ, mục tiêu số 1 đối với toàn
Đảng, toàn dân ta trong những bớc đờng đi tới. Muốn vậy phải chuyển nền kinh tế
quốc dân sang trạng thái của sự phát triển, là phát triển nền kinh tế thị trờng cùng
với nó là thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Để làm đợc điều đó chúng ta cần phải phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng XHCN. Đây là giải pháp cơ bản để chuyển từ sản xuất
nhỏ lên sản xuất lín ë níc ta hiƯn nay. Chun nỊn kinh tÕ từ hoạt động theo cơ
chế kế hoạch hoá tập trung, hành chính, quan liêu bao cấp sang phát triển nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của
nhà nớc, theo định hớng XHCN là nội dung, bản chất và đặc ®iĨm kh¸i qu¸t nhÊt
®èi víi nỊn kinh tÕ cđa níc ta trong hiện tại và trong tơng lai để đẩy mạnh quá
trình chuyển dịch cơ cấu theo hớng công nghiệp hoá hiện đại hoá để huy động sức
mạnh của toàn dân vào việc khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa, cần phải
phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN. Đó là
chủ trơng có tính chiến lợc trong công cuộc xây dựng và ph¸t triĨn kinh tÕ x· héi
cđa níc ta hiƯn nay mà Đảng và nhà nớc ta đà xác định.
Vấn đề phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng
XHCN là giải pháp cơ bản để chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nớc ta
hiện nay đợc giải quyết ở trong tiểu luận này với những nội dung chính nh sau:
I. Cơ sở lý luận của việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ lên XHCN nói chung.
II. Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần ở nớc ta.
III. Những giải pháp để phát triển kinh tế hàng hoá Việt Nam



1


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

I. c¬ së lý luận của việc phát triển kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ đi lên cnxh nói
chung.
1. Lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin về sự phát sinh và phát triển của
sản xuất hàng hoá và kinh tế hàng hoá, sự khác biệt giữa chúng để làm rõ
vấn đề đà nêu ở trên.
Trớc khi đi vào nghiên cứu sản xuất hàng hoá và kinh tế hàng hoá ta cần
hiểu rõ hàng hoá là gì?
- Hàng hoá là sản phẩm của sức lao động trong đó:
Một là: nó có thể thoả mÃn đợc nhu cầu nào đó của con ngời.
Hai là: nó đợc sản xuất ra không phải để ngời sản xuất ra nó tiêu dùng mà
là để bán.
Vì vậy hàng hoá trớc hết là một đối tợng bên ngoài, là một vật nhờ có thuộc
tính của nó mà thoả mÃn đợc bất cứ loại nhu cầu nào của con ngời, thì tính chất
của những nhu cầu đó không làm cho vấn đề thay đổi gì cả.
- Hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. Trong đó giá trị sử
dụng là thuộc tính tự nhiên còn giá trị là thuộc tính xà hội của hàng hoá, hai thuộc
tính là hai mặt đối lập cùng tồn tại trong hàng hoá.
+ Giá trị sử dụng của hàng hoá:
Đó là những công dụng khác nhau do thuộc tính tự nhiên của vật mang lại
có thể thoả mÃn một nhu cầu nào đó của con ngời.
Ví dụ: cơm để ăn, áo để mặt, máy móc, thiết bị nguyên nhiên vật liệu để sản
xuất.
Giá trị sử dụng của vật phẩm chỉ đợc thể hiện ra khi đem tiêu dùng chúng.

Khoa học kỹ thuật và công nghệ càng phát triển thì dần dần ngời ta sẽ tìm ra nhiều
tính có ích của các vật phẩm.
Giá trị sử dụng của hàng hoá rất phong phú nó vừa thoả mÃn nhu cầu vật
chất đồng thời nó còn thoả mÃn nhu cầu tinh thần: nh sách báo, băng hình, băng
tiếng... giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn nhng trong nền kinh tế hàng hoá
thì giá trị sử dụng đồng thời là một vật mang giá trị trao đổi tức là nó có thể đợc
đổi lấy vât khác.
Hàng hoá phải có giá trị sử dụng nhng không phải mọi vật có giá trị sử dụng
lại là hàng hoá.
Ví dụ: không khí, ánh sáng..
+ Giá trị của hàng hoá: giá trị của hàng hoá là một phạm trù rất trìu tợng
bởi vì nó là thuộc tính xà hội của hàng hoá và muốn hiểu đợc giá trị của hàng hoá
chúng ta phải xuất phát từ việc nghiên cứu giá trị trao ®ỉi.

2


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Kh¸i niƯm gi¸ trị trao đổi: Giá trị trao đổi đó là quan hệ tỷ lệ về lợng mà
một giá trị sử dụng này đợc trao đổi với một giá trị sử dụng khác mà phơng thức
biểu hiện giá trị trao đổi có dạng.
Ví dụ nh: 1 rìu = 20kg thóc.
Từ phơng thức này thì có hai vấn đề cần đợc giải đáp:
Vì sao hàng hoá có công dụng khác nhau lại đợc trao đổi với nhau.
Tại sao hai hàng hoá lại đợc trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định (nh 1
=20).
Giải đáp
Hai hàng hoá có công dụng khác nhau mà đợc trao đổi lẫn nhau, vì vậy giữa
chúng phải có cơ sở chung. Cái chung đó không phải là thuộc tính tự nhiên của vật

phẩm. Nếu loại trừ điều đó ra thì các hàng hoá mang ra trao đổi chỉ còn một thuộc
tính chung duy nhất đó là chúng đều là sản phẩm của lao động con ngời và nhờ
thuộc tính này chúng đợc trao đổi với nhau.
Việc trao đổi hàng hoá đó chính là việc trao đổi lao động của ngời sản xuất
hàng hoá đà đợc kết tính trong hàng hoá. Trong phơng trình trên thì thời gian lao
động để làm ra một rìu bằng thời gian lao động làm ra 20 kg thóc vì vậy tỷ lệ này
là 1 và 20.
Tóm lại: Thông qua trao đổi hàng hoá (giá trị trao đổi) thì chúng ta phát
hiện ra đợc thuộc tính thứ hai của hàng hoá đó là giá trị.
Kết luận về thực thể giá trị: Thực thể của giá trị hàng hoá (chất của giá trị
hàng hoá) đó là lao động của ngời sản xuất hàng hoá đợc kết tinh ở trong hàng
hoá, giá trị biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những ngời sản xuất hàng hoá hay có
thể nói giá trị chính là một quan hệ xà hội.
Một vật không phải là sản phẩm của lao động thì vật đó không có giá trị.
Không phải bất kỳ lao động nào cũng tạo thành thực thể của giá trị mà chỉ trong
kinh tế hàng hoá thì lao động của con ngời mới tạo thành thực thể lao động.
a. Sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng hoá:
-Quá trình chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp lên sản xuất hàng hoá.
+ Khái niệm sản xuất tự cung tự cấp: Đó là một kiểu tổ chức sản xuất mà
trong đó sản phẩm của lao động làm ra để thoả mÃn nhu cầu tiêu dùng của nội bộ
của từng hộ gia đình, từng công xà hay từng cá nhân riêng lẻ. Sản xuất tự cung tự
cấp hay còn đợc gọi là sản xuất tự túc tự cấp hoặc nền kinh tế tự nhiên. Đây là
kiểu tổ chức khép kín tức là không có sự giao lu với bên ngoài vì vậy nó thờng gắn
liền với sự bảo thủ, trì trệ, bị giới hạn bởi nhu cầu hạn hẹp, kỹ thuật thô sơ lạc hậu.
Nền kinh tế tự nhiên tồn tại trong các giai đoạn phát triển thấp của xà hội: thời
nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến.
Nhng ở nớc ta hiện nay thì kinh tế tự nhiên vẫn còn tồn tại ở các vùng sâu,
vùng xa, vùng núi phía bắc, tây nguyên,vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
+ Sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá.
3



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Trong quá trình sản xuất công cụ dần dần đợc cải tiến, lực lợng sản xuất
phát triển làm cho sản phẩm sản xuất ra đợc nhiều hơn, điều đó dẫn tới việc trao
đổi hàng hoá và dẫn tới sự ra đời của nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá là
nền sản xuất trong đó ngời ta sản xuất ra những sản phẩm để mang ra trao đổi trên
thị trờng. Sản xuất hàng hoá đợc ra đời khi có đầy đủ 2 điều kiện sau:
Thứ nhất: Phải có sự phân công lao động sản xuất, đó là việc mỗi ngời sản
xuất hoặc mỗi ngành sản xuất chỉ chuyên môn sản xuất ra một loại sản phẩm nào
đó cho nhu cầu của xà hội. Cho đến nay trong lịch sử đà diễn ra ba cuộc phân
công lớn đó là: làm cho việc chăn nuôi ra khỏi trồng trọt, làm cho thủ công nghiệ
tách ra khỏi nông nghiệp hình thành các ngành sản xuất ®éc lËp nh: rÌn, gèm,..
DÉn tíi lµm xt hiƯn ngµnh thơng nghiệp. Sự phân công lao động dẫn tới kết quả
là tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những ngời sản xuất bởi vì mỗi ngời sản
xuất chỉ làm ra một loại sản phẩm nhất định nhng trong đời sống của ngời đó phải
cần đến nhiều loại sản phẩm vì vậy họ có nhu cầu cần trao đổi sản phẩm của mình
với sản phẩm của những ngời khác.
Ví dụ: trong điều kiện sản xuất tự cung, tự cấp một gia đình vừa trồng lúa,
vừa tạo ra các công cụ lao động sản xuất nh: xẻng, cuốc, cày, bừa. Khi có sự phân
công lao động xà hội ngời nông dân chuyên môn hoá sản xuất còn việc chế tạo ra
công cụ sản xuất thì do ngời thợ rèn đảm nhiệm. Ngời nông dân không chỉ cần có
lơng thực để ăn, mà còn phải có công cụ để sản xuất, ngời thợ rèn cũng vậy họ
không thể sống bằng xẻng, cuốc, cày, bừa mà cần có lúa gạo. Điều đó làm cho ngời nông dân và ngời thợ rèn phải có mối liên hệ trao đổi sản phẩm cho nhau và phụ
thuộc vào nhau.
Thứ hai: Chế độ t hữu về t liệu sản xuất, tức là t liệu sản xuất thuộc quyền
sở hữu của từng cá nhân và vì vậy ngời ta có quyền chi phối đối với sản phẩm làm
ra. Chế độ t hữu về t liệu sản xuất đà làm cho những ngành sản xuất trở thành độc
lập với nhau trong điều kiện đó để thoả mÃn các nhu cầu khác của mình thì ngời

sản xuất có quyền sử dụng sản phẩm của mình để trao đổi với các sản phẩm khác.
Hai điều kiện trên làm cho những ngời sản xuất vừa phụ thuộc lẫn nhau và
vừa độc lập đối với nhau. Đây là một quan hệ mang tính thuẫn và để giải quyết
mâu thuẫn này ngời ta phải tiến hành trao đổi hàng hoá. Vì vậy muốn có sản xuất
hàng hoá phải có đầy đủ cả hai điều kiện nêu trên.
- Ưu thế của sản xuất hàng hoá.
+ Sản xuất hàng hoá làm cho phân công lao động ngày càng phát triển. Làm
cho trình độ chuyên môn hoá, hợp tác hoá ngày càng nâng cao. Thiết lập mối liên
hệ giữa các ngành, các vùng, các đơn vị sản xuất nh vậy nó sẽ xoá bỏ đợc tính tự
túc tự cấp sự bảo thủ trì trệ và góp phần vào việc đẩy mạnh quá trình sản xuất hàng
hoá.
+ Sản xuất hàng hoá buộc những ngời sản xuất phải cạnh tranh trên thị trờng bằng cách phải cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để hạ giá thành. Nâng
cao chất lợng hàng hoá. Những việc làm đó có tác dụng thúc đẩy lực lợng sản xuất
phát triển. Sản xuất hàng hoá càng phát triển quy mô của nó càng lớn thì hiệu quả
kinh tế của nó đối với x· héi cµng lín vµ u thÕ cđa nã so với sản xuất nhỏ cũng
tăng lên.
4


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

+ S¶n xuÊt hàng hoá góp phần vào việc thúc đẩy quá trình tích tụ và tập
trung sản xuất mở rộng giao lu kinh tÕ trong níc vµ níc ngoµi, hoµ nhËp vµo kinh
tế thế giới.
Với những tác dụng kể trên hiện nay trên thế giới có nhiều nớc (trong đó có
nớc ta) tập trung vào phát triển kinh tế hàng hoá.
b. Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ nói
chung và ở Việt Nam
- ở Anh, Đức kinh tế hàng hoá xuất hiện từ cuối chế độ cộng sản nguyên
thuỷ và phát triển tới ngày nay. ở mỗi nớc tính chất và phạm vi của kinh tế hàng

hoá có mức độ khác nhau. Hiện nay hầu hết trên thế giới các nớc đều thực hiện
kinh tế hàng hoá đó là mô hình kinh tế mà giai đoạn phát triển cao là kinh tế thị trờng.
Kinh tế hàng hoá: Là một kiểu tổ chức kinh tế xà hội mà trong đó hình thái
phổ biến của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi trên thị trờng.
Đây cũng chính là những điểm hoàn toàn khác biệt giữa sản xuất hàng hoá và kinh
tế hàng hoá muốn có kinh tế hàng hoá phải có sản xuất hàng hoá.
Sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá thời kỳ quá độ của Việt Nam là
một trong những tất yếu khác quan vì điều kiện ra đời và phát triển của kinh tế
hàng hoá vẫn đợc duy trì hoàn toàn giống nh trên chỉ khác là Việt Nam đi từ thời
kỳ phong kiến lên CNXH. Phân công lao động với t cách là cơ sở của sự trao đổi.
- Nền kinh tế đa và đang tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về t liệu
sản xuất và sản phẩm lao động. Công nghệ mới, trình độ quản lý nhằm tạo cơ sở
để phát triển hàng hoá. Trong thời kỳ quá độ từ TBCN lên XHCN, xét về mặt sở
hữu đó là quá trình chuyển từ sở hữu t nhân về TLSX lên sở hữu xà hội về t liệu
sản xuất. Cho nên trong nền kinh tế sẽ tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
Do vậy ứng với nó là nền kinh tế nhiều thành phần do đặc điểm của thời kỳ quá
độ: Đặc điểm nổi bật nhất của nền kinh tế là sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành
phần và ứng với nó là một xà hội có nhiều giai cấp.
+ Thành phần kinh tế: đó là những tổng thể kinh tế bao gồm những cơ sở về
nền kinh tÕ víi nh÷ng quan hƯ kinh tÕ cã nh÷ng đặc trng nhất định và những quan
hệ kinh tế này là do chế độ sở hữu TLSX quyết định. Khi cách mạng vô sản thành
công thì chúng ta phải cải tạo nền kinh tế dựa trên chế độ t hữu. Bao gồm hai loại
chính sau:
T bản lớn:
Nguyên tắc cải tạo: phải quốc hữu hoá các t liệu sản xuất và phải tiến hành
qua nhiều giai đoạn trong 1 thời gian dài, tiến hành bằng nhiều biện pháp thích
hợp. Vì vậy trong thời kỳ quá độ vẫn tồn tại thành phần kinh tế t bản t nhân và ngời ta hớng thành phần này theo con đờng CNTB nhà nớc.
T hữu nhá:

5



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Là t hữu của những ngời sản xuất cá thể, những ngời sản xuất hàng hoá nhỏ.
Với loại này về nguyên tắc thì không tịch thu các TLSX của họ mà cải tạo họ một
cách dần dần thông qua công cuộc hợp tác hoá. Vì vậy trong thời kỳ quá độ tồn tại
nền kinh tế hợp tác xÃ.
Hiện nay ở nớc ta còn tồn tại nhiều trình độ phát triển của lực lợng sản xuất:
hiện đại có, thô sơ có, nửa cơ khí có. Vì vậy việc thiết lập quan hệ sở hữu đối với
TLSX cũng phải đa dạng do đó ở nớc ta còn nhiều thành phần kinh tế. Trong quá
trình xây dựng nên kinh tế mới thì có thể xuất hiện thêm một số thành phần kinh
tế khác: kinh tế nhà nớc, kinh tế t bản nhà nớc.
+ Cơ cấu thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nớc ta.
Theo t tởng của Lênin và căn cứ vào điều kiện kinh tế của nớc ta, tại Đại hội
VIII của Đảng thì ở nớc ta đang tồn tại 5 thành phần kinh tế:
Thành phần kinh tế nhà nớc (kinh tế quốc doanh)
Thành phần kinh tế hợp tác xÃ
Thành phần kinh tế t bản nhà nớc
Thành phần kinh tế cá thể và tiểu thủ
Thành phần kinh tế t bản t nhân.
Thành phần kinh tế nhà nớc
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế tồn tại dựa trên chế độ sở hữu nhà nớc đối với t liệu sản xuất chủ u. Kinh tÕ nhµ níc bao gåm 3 bé phËn sau:
Các doanh nghiệp nhà nớc: đây là bộ phận quan trọng và chủ yếu nhất của
thành phần kinh tế nhà nớc, các doanh nghiệp này trực tiếp sản xuất ra của cải vật
chất cho xà hội.
Các ngành kinh tế thuộc sở hữu nhà nớc: những ngành này thì nó cung cấp
hàng hoá hoặc dịch vụ cho xà hội. Bao gồm: hệ thống cơ sở hạ tầng: giao thông, bu điện. Nó bao gồm toàn bộ hệ thống ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, các xí
nghiệp liên doanh với các nớc ngoài trong đó vốn của nhà nớc chiếm tỷ lệ khống
chế 51% trở lên.

Những lực lợng vật chất thuộc sở hữu nhà nớc nh là đất đai, các nguồn tài
nguyên, khoáng sản, các vùng trời, vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Sự hình thành: các doanh nghiệp nhà nớc đợc hình thành nh sau:
Nhà nớc đầu t vốn để xây dựng mới hoàn toàn từ đầu.
Nhà nớc góp vốn để liên doanh với nớc ngoài với tỷ lệ 51% trở lên.
Nhà nớc quốc hữu hoá các xí nghiệp t bản t nhân.
Vai trò của kinh tế nhà nớc: trong thời kỳ quá độ và trong nền kinh tế
nhiều thành phần thì thành phần kinh tế nhà nớc cần phải giữ đợc vai trò chủ đạo:
kinh tế nhà nớc phải trở thành đòn bẩy để đẩy nhanh tốc độ tăng trởng kinh tế và
giải quyết các vấn đề xà hội. Kinh tế nhà nớc phải giữ vai trò là ngời më ®êng h6


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

íng dÉn vµ hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Kinh tế nhà nớc phải trở thành lực lợng vật chất chủ yếu để nhà nớc thực hiện chức năng điều
tiết và quản lý vĩ mô toàn bộ nền kinh tế. Kinh tế nhà nớc phải tạo đợc nền tảng
cho chế độ xà hội mới tức là phải trở thành mẫu mực về mọi mặt. Năng suất lao
động cao, phải tận dụng hết công suất, máy móc, công cụ, làm đủ trách nhiệm với
nhà nớc, bảo vệ tốt môi trờng.
Kinh tế nhà nớc ở nớc ta hiện nay mặc dù là nắm giữ một lợng tài sản tơng
đối lớn (chiếm 2/3 tài sản quốc gia, 80% lực lợng lao động lành nghề) nhng kinh
tế nhà nớc hoạt động cha hiệu quả: năng suất lao động thấp, cha sử dụng hết máy
móc, thiết bị, nhiều xí nghiệp là ăn thua lỗ, phá sản làm thất thoát vốn của nhà níc. HiƯn nay níc ta cã 600 doanh nghiƯp nhµ nớc, 35% làm ăn có lÃi còn lại 60%
làm ăn không có lÃi trong đó 25% liên tục bị lỗ. Vì vậy để củng cố thành phần
kinh tế nhà nớc thì: nhà nớc phải đầu t một cách đồng bộ cả vốn, công nghệ, nhân
lực cho những nhân lực kinh tế đang nắm những khâu then chốt của nền kinh tế
quốc dân. Ví dụ: ngành điện, dầu khí Thành lập các Tổng công ty nhà nớc để
tạo thành những ngành mịi nhän trong nỊn kinh tÕ. TÝch cùc ®Èy nhanh tiến trình
cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhà nớc. Biến doanh nghiệp nhà nớc thành các
công ty cổ phần. Đối với những doanh nghiệp thờng xuyên làm ăn thua lỗ thì giải

quyế bằng bán hoặc cho thuê hoặc cho tổ chức đấu thầu, khoán.
Thành phần kinh tế hợp tác
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tập thể về t
liệu sản xuất nó bao gồm các đơn vị kinh tế do cá nhân những ngời lao động tự
nguyện góp vốn, góp sức kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng
có lợi. Nó tồn tại dới các dạng sau: hợp tác xà nông nghiệp, hợp tác xà tiểu thủ
công nghiệp, hợp tác xà mua bán, hợp tác xà tín dụng.
Đặc điểm: các hợp tác xà đợc hình thành với những quy mô và mức độ
khác nhau tuỳ theo sự phát triển của lực lợng sản xuất. Ngời lao động thì ®ỵc tù do
trong viƯc tham gia cịng nh rót lui khỏi hợp tác xÃ.
Nếu xét về hiệu quả kinh tế thì hợp tác xà ở nớc ta làm ăn hiệu quả hơn.
Nhiều hợp tác xà có doanh thu lớn, thu nhập xà viên cao, hàng hoá có sức cạnh
tranh. Tuy nhiên ở nớc ta hiện nay vẫn còn những hợp tác xà làm ăn thua lỗ, hiệu
quả kém, thu nhập thấp, nhiều tiêu cực tron quản lý.
Phơng pháp củng cố: phải giải quyết thoả đáng vấn đề t hữu về t liệu sản
xuất. Nhất là đất đai trong nông nghiệp phải thực hiện giao quyền sử dụng lâu dài
đối với đất, rừng, mặt nớc cho các hộ sử dụng. Phát triển các hình thức hợp tác đa
dạng trong nhiều lĩnh vực: giao thông vận tải, xây dựng chế biến nông lâm hải
sản Mở rộng các hình thức kinh tế hợp tác nhng phải triệt để theo đúng nguyên
tắc tự nguyện, bình đẳng dân chủ và việc tổ chức các hợp tác xà này phải theo
đúng luật hợp tác mới ban hành năm 1997. Nhà nớc có những biện pháp cần thiết
hỗ trợ, giúp đỡ các hợp tác xà về vốn, về nhân lực, về tiêu thụ sản phẩm.
Thành phần kinh tế cá thể.
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu t nhân về t liệu sản
xuất dựa trên lao động của bản thân ngời sản xuất nên không có hiện tợng bóc lột
7


Website: Email : Tel (: 0918.775.368


lao động. Thành phần này chịu sự tác động của quy luật giá trị và tác động của thị
trờng.
Đặc điểm: do làm chủ về t liệu sản xuất và sức lao động nên thành phần
này có thể nói là họ rất năng động, linh hoạt dễ thích nghi với thị trờng, vì vậy
thành phần này có thể khai thác triệt để các thế mạnh về vốn, về lao động, về tay
nghề của từng cá nhân, từng gia đình hoặc từng cộng đồng để làm ra nhiều hàng
hoá trong xà hội.
Vị trí: trong suốt thời kỳ quá độ thì thành phần này giữ một vị trị rất quan
trọng nó cùng với một số ngành công nghiệp nhẹ khác cung cấp những mặt hàng
tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân: lơng thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình
Thực trạng phát triển: trớc năm 1986 thành phần này bị phân biệt đối xử do
đó không đợc phát triển. Sau năm 1986 thành phần này đợc coi trọng và đợc
khuyến khích phát triển với tền gọi là kinh tế gia đình.
Thành phần kinh tế t bản t nhân
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế dựa trên chế độ t hữu t bản về t liệu
sản xuất có thuê mớn lao động nên có hệ thống bóc lột lao động làm thuê: Các xí
nghiệp t nhân của ngời Việt Nam, các xí nghiệp t nhân của ngời Việt Nam và ngời
nớc ngoài cùng cộng tác, các công ty và các tổ chức làm dịch vụ.
Thế mạnh: quá nhiều phơng pháp linh hoạt để huy động vốn phục vụ sản
xuất kinh doanh. Nó có khả năng sử dụng khoa học kỹ thuật công nghệ mới và
đổi mới nhanh các thiết bị. Nó có trình độ quản lý cao, có kinh nghiệm trong việc
điều hành sản xuất vì vậy có thể nói thành phần này có vai trò lớn trong việc phát
triển sản xuất.
Nhợc điểm: do chạy theo lợi nhuận tối đa nên nhiều doanh nghiệp t bản t
nhân có việc làm trái pháp luật: bóc lột công nhân quá mức, bắt công nhân làm
quá giờ, tăng ca. Họ kinh doanh những mặt hàng trái với đăng ký trong giấy phép,
trốn thuế, gian lận trong thơng mại.
Thái độ của nhà nớc ta: Một mặt vẫn tạo điều kiện thuận lợi cho thành phần
kinh tế phát triển nhng mặt khác cần phải tăng cờng kiểm soát, giám sát những
hành động của thành phần này đa các thành phần này theo con đờng chủ nghĩa t

bản nhà nớc.
Thành phần kinh tế t bản nhà nớc
Khái niệm: đây là thành phần kinh tế đợc ra đời dựa trên lý luận về chủ
nghĩa t bản nhà nớc của Lênin.
Sự hình thành: đợc hình thành trên cơ sở nhà nớc và các t bản cùng góp vốn
kinh doanh và nó tồn tại dới các dạng sau:
Các xí nghiệp công ty hợp doanh tồn tại ở nớc ta sau năm 1954 ở Miền Bắc
và sau 1975 ở Miền Nam.
Các liên doanh nớc ngoài: sản xuất ô tô, lắp ráp xe máy, sản xuất các mặt
hàng điện tử.
Nhà nớc cho thuê tài sản: cho thuê đất.
8


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Vai trò và tác dụng: trong thời kỳ quá độ ở nớc ta thành phần này giữ vai trò
là những hình thức kinh tế giữ sinh ra để chuyển biến từ những thành phần kinh tế
phi XHCN thành thành phần kinh tế XHCN: nó tạo thêm công ăn việc làm, làm
tăng thêm sản phẩm xà hội và nó là điều kiện để chúng ta tiếp xúc với công nghệ
mới, cách thức quản lý mới và qua đây ta hoà nhập đợc với thế giới.
ii. tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta
Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam đà xác định: "cần có chính sách sử
dụng và cải tạo các thành phần kinh tế Đó là giải pháp có ý nghĩa chiến lợc, là
sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là
một đặc trng của thời kỳ quá độ". Hội nghị lần thứ 6, Đảng ta xác định rõ hơn:
"chính sách kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lợc lâu dài có tính
quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên XHCN" Tới Đại hội toàn quốc lần thứ VII qua
thực tiến 5 năm đổi mới, Đảng ta khẳng định: "Phát triển nền kinh tế hàng hoá

nhiều thành phần theo định hớng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc" coi đó là một trong những phơng hớng mà Đảng và nhà nớc
ta nắm vững trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Tổng kết 10 năm đổi
mới, tại Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng ta một lần nữa lại khẳng định: "tiếp tục
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản
lý của nhà nớc theo định hớng XHCN"
Nền kinh tế nhiều thành phần tồn tại và phát triển ở nớc ta là tất yếu khách
quan bởi vì: nền kinh tế nhiều thành phần là một cái tồn tại khách quan của lịch sử
và trong thời kỳ quá độ thì có những thành phần kinh tế vẫn có lợi cho sự phát
triển đất nớc: kinh tÕ c¸ thĨ. Ph¸t triĨn nh vËy nh»m thùc hiện nhu cầu của quy
luật mà là quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và sự phát triển của lực lợng
sản xuất. Phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta là nhằm cho sản xuất phát
triển liên tục không bị gián đoạn. Phát triển nh vậy là nhằm tạo ra sự cạnh tranh
giữa các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trờng hiện nay
1. Do yêu cầu của việc phát triển lực lợng sản xuất và thực chất của nó
là chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn (XHCN).
Về phơng diện kinh tế, có thể khái quát rằng lịch sử phát triển sản xuất và
đời sống xà hội của nhân loại đà và ®ang tr¶i qua hai kiĨu tỉ chøc kinh tÕ thÝch
øng với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất và phân công lao động xà hội, hai
thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là thời đại kinh tế tự nhiên, tự cung, tự
cấp; và thời đại kinh tế hàng hoá.
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế xà hội đầu tiên của nhân loại. Đó là
phơng thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ thấp ban đầu là sử dụng những tặng vật của
tự nhiên và sau đó đợc thực hiện thông qua những tác động trực tiếp vào tự nhiên
để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì của con ngời. Nó đợc bó hẹp
trong mỗi quan hệ tuần hoàn khép kín giữa con ngời và tự nhiên. kinh tế tự nhiên
lấy quan hệ trực tiếp giữa con ngời và tự nhiên mà tiêu biểu là giữa lao động và đất
đai làm nền tảng. Hoạt động kinh tế đó gắn liỊn víi x· héi sinh tån, víi kinh tÕ
n«ng nghiƯp, tự cung, tự cấp. Nó đà tồn tại và thống trị trong các xà hội: Cộng sản
nguyên thuỷ, nô lệ, phong kiến và tuy không còn giữ địa vị kinh tÕ. Kinh tÕ tù

9


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

nhiªn, hiƯn vËt,sinh tồn, tự cung, tự cấp, gắn liền với kém phát triển và lạc hậu.
Kinh tế hàng hoá bắt đầu bằng kinh tế hàng hoá đơn giản, ra đời từ khi chế độ
công sản nguyên thuỷ, dựa trên hai tiền đề cơ bản đó là có sự phân công lao động
xà hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữu khác nhau về t liệu sản xt.
Chun tõ kinh tÕ tù nhiªn, tù cung, tù cÊp sang kinh tế hàng hoá là đánh dấu bớc
phát triển rất lớn của lực lợng sản xuất, bớc chuyển sang thời đại kinh tế của sự
phát triển, thời đại văn minh của nhân loại.
Sự ra đời và phát triển của kinh tế hàng hoá là quá trình kinh tế khách quan.
Nó bắt đầu khi kinh tế tự nhiên phát triển với trình độ làm xuất hiện những tiền đề
của kinh tế hàng hoá. Trong lịch sử những quan hệ hiện vật, tự nhiên và quan hệ
hàng hoá tồn tại đan xen và mâu thuẫn với nhau. Sự xuất hiện của kinh tế hàng
hoá cũng chính là sự xuất hiện tiền đề phủ định kinh tế tự nhiên và khẳng định
kinh tế hàng hoá. Mỗi bớc phát triển của kinh tế hàng hoá là một bớc đẩy lùi kinh
tế tự nhiên. Nh vậy, trong quá trình vận động và phát triển kinh tế hàng hoá đà phủ
định dần kinh tế tự nhiên nh vậy trong quá trình vận động và phát triển, kinh tế
hàng hoá đà phủ định dần kinh tế tự nhiên và khẳng định mình là một kiểu tổ chức
kinh tế xà hội độc lập. Quá trình xuất hiện, vận động và phát triển của kinh tế
hàng hoá diễn ra với sự tác động mạnh mẽ của những tiền đề sau: phân công lao
động xà hội, sự độc lập tơng đối về kinh tế giữa mọi ngời, lu thông hàng hoá và lu
thông tiền tệ, hệ thống thông tin và giao thông vận tải.
2. Do nớc ta hiện nay tồn tại nhiều thành phần kinh tế.
Nền kinh tế nớc ta trớc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI gắn liền với việc
thực thi chính sách công cộng hoá, hiện vật hoá trong cơ chế quản lý hành chính
tập trung. Cùng với thời gian, tính chất và cơ chế quản lý đó ngày càng bộc lộ
thêm nhiều khuyếm khuyết. Vì vậy, đến Đại hội VII, quan điểm phát triển kinh tế

hàng hoá nhiều thành phần đợc thực hiện trên thực tế trong chính sách và cơ chế
quản lý kinh tế đổi mới. Đờng lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tất
yếu đa đến sự cấu trúc l¹i nỊn kinh tÕ, tõng bíc chun nỊn kinh tÕ thuần khiết
chủ yếu với hai thành phần kinh tế là nhà nớc và tập thể sang nền kinh tế thị trờng
hỗn hợp gồm nhiều thành phần, nhiều khu vực kinh tế và nhiều hình thức sở hữu
tồn tại đan xen lÉn nhau.
Së dÜ níc ta hiƯn nay tån t¹i nhiỊu thành phần kinh tế vì: hiện nay ở nớc ta
còn tồn tại nhiều trình độ phát triển của lực lợng sản xuất: hiện đại có, thô sơ có,
nửa cơ khí có vì vậy việc thiết lập quan hệ sở hữu với t liệu sản xuất cũng phải đa
dạng do đó ở nớc ta còn nhiều thành phần kinh tế. Trong quá trình xây dựng nền
kinh tế mới thì có thể xuất hiện thêm một số thành phần kinh tế khác: kinh tế nhà
nớc, kinh tế t bản nhà nớc. ở nớc ta hiện nay, quan hệ, hình thức, quy mô sở hữu
đối với t liệu sản xuất luôn là căn cứ cho việc phân định các thành phần kinh tế
khác nhau. ở dạng tổng quát nhất, có thể nói rằng trong nền kinh tế nớc ta đang
tồn tại 3 hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu nhà nớc (toàn dân), sở hữu t nhân và sở
hữu hỗn hợp (gồm giữa nhà nớc với nớc ngoài, giữa nhà nớc với t nhân nớc ngoài
và trong nớc, giữa nhà nớc và t nhân trong nớc, giữa t nhân với t nhân, giữa nhà nớc vói t nhân và ngời lao động..). Từ ba hình thức sở hữu t bản đó đà hình thành
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và những loại hình doanh nghiệp đa dạng
và phong phú.
10


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

3. Ph¸t triĨn kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta nó đòi hỏi
phải nâng cao đời sống nhân dân:
Mặc dù nền kinh tế nớc ta đang nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát
triển nhng khi nớc ta chuyển sang phát triển kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng thì
thế giới đà chuyển sang giai đoạn kinh tế thị trờng hiện đại. Bởi vậy chúng ta
không thể và không nhất thiết phải trải qua giai đoạn kinh tế hàng hoá giản đơn và

giai đoạn kinh tế thị trờng tự do mà đi thẳng vào phát triển kinh tế thị trờng hiện
đại. Đây là nội dung và sự yêu cầu của sự phát triển rút ngắn. Mặt khác thế giới
vẫn đang nằm trong thời đại qúa độ từ CNTB lên CNXH, cho nên sự phát triển
kinh tế xà hội nớc ta phải theo định hớng XHCN là cần thiết, khách quan và cũng
là nội dung, yêu cầu của sự rút ngắn. Sự nghiệp "dân giầu, nớc mạnh, xà hội công
bằng và văn minh" vừa là mục tiêu, vừa là néi dung nhiƯm vơ cđa viƯc ph¸t triĨn
kinh tÕ nhiỊu thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc,
theo đinh hớng XHCN ở nớc ta. Đảng và nhà nớc khuyến khích mọi ngời dân
trong xà hội làm giầu một cách hợp pháp. Dân có giầu thì nớc mới mạnh, nhng
dân giầu phải làm cho nớc mạnh, đảm bảo độc lập, tự chủ và toàn vẹn lÃnh thổ của
quốc gia.
Nhà nớc ta quản lý nên kinh tế là nhà nớc pháp quyền XHCN là nhà nớc
của dân do dân và vì dân. Thành tố quan trọng mang tính quyết định trong nền
kinh tế hàng hoá vận hành trong nền kinh tế thị trờng hiện đại là nhà nớc tham gia
vào các quá trình kinh tế. Nhng khác với nhà nớc của nhiều nền kinh tế trên thế
giới, nhà nớc ta là nhà nớc của dân, do dân và vì dân, nhà nớc công nông. Nhà nớc
của đại đa số nhân dân lao động, đặt dớc sự lÃnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam. Nó có đủ bàn lĩnh, khả năng và đang đổi mới để bảo đảm và giữ vững định
hớng XHCN trong việc phát triển nền kinh tế thị trờng hiện đại ở nớc ta. Sự khác
biệt về bản chất nhà nớc là một nội dung và là một điều kiện, một tiền đề cho sự
khác biệt về mô hình kinh tế thị trờng ở nớc ta so với nhiều mô hình kinh tế thị trờng khác hiện có trên thế giới.
Mở cửa, héi nhËp nỊn kinh tÕ trong níc víi nỊn kinh tế thế giới trên cơ sở
giữ vững độc lập, tự chđ vµ toµn vĐn l·nh thỉ cđa qc gia lµ một nội dung quan
trọng của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng ở
nớc ta. Quá trình phát triển của nó đi liền với xà hội hoá nền sản xuất xà hội. Tiến
trình xà hội hoá trên cơ sở phát triển của kinh tế thị trờng đi liền với xà hội hoá
nền sản xuất xà hội. Tiến trình xà hội hoá trên cơ sở của phát triển nền kinh tế thị
trờng là không có biên giới quốc gia về phơng diện kinh tế. Một trong những đặc
trng quan trọng của kinh tế thị trờng hiện đại là việc mở rộng giao lu kinh tế với
nớc ngoài. Xu hớng quốc tế hoá đời sống kinh tế với những khu vực hoá và toàn

cầu hoá đang ngày càng phát triển và trở thành xu thế tất yếu trong thời đại của
cuộc cách mạnh khoa học và công nghệ hiện nay. Tất cả các nớc trên thế giới, dù
muốn hay không muốn phải ít nhiều đều bị lôi cuốn, thu hút vào các quan hệ kinh
tế quốc tế. Tranh thủ thuận lợi và cơ hội, tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn và vợt qua
thách thức là yêu cầu nhất thiết phải thực hiện. Để phát triển trong điều kiện của
nền kinh tế thị trờng hiện đại. Việt Nam không thể đóng cửa, khép kín nền kinh tế
trong trạng thái tự cung, tự cấp mà phải më cưa, héin nhËp víi nỊn kinh tÕ thÕ giíi.
Sù mở cửa, hội nhập đợc thực hiện trên 3 nội dung chính là: thơng mại, đầu t và
11


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

chuyÓn giao khoa học công nghệ. Tuy nhiên, sự mở cửa hội nhập không có nghĩa
là sự hoà tan, đánh mất mình mà phải trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và không
ngừng nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, giữ vững độc lập, tự chủ và toàn
vẹn lÃnh thổ quốc gia.
III -Những giải pháp để phát triển kinh tế hàng hoá Việt
Nam
1-Nội dung của kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng xÃ
hội chủ nghĩa
Chuyển nền kinh tÕ níc ta sang nỊn kinh tÕ nhiỊu thµnh phần, vận hành theo
cơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xà hội chủ nghĩa là
yêu cầu khách quan, phát triển lực lợng sản xuất xà hội. Quá trình đó phù hợp với
xu thế của thời đại và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân ta. Quá trình chuyển
nền kinh tế nớc ta sang kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trờng, theo đinh
hớng xà hội chủ nghĩa tất yếu đòi hỏi phải nghiên cứu những đặc trng của mô hình
kinh tế hớng tới quá trình hình thành phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận
hành theo cơ chế thị trờng, theo định hớng xà hội chủ nghĩa ở nớc ta là một quan
hệ phức tạp, có nhiều khó khăn, không nên quan niệm giản đơn và nóng vội, cần

phải tuân thủ những tính quy luật của quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị
trờng. Quá trình đó trải qua các giai đoạn sau đây:
-Giai đoạn quá độ chuyển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hớng xà hội chủ nghĩa ở nớc ta .
Về mặt lịch sử giai đoạn này đợc bắt đầu từ năm 1979 với mốc lịch sử rất
quan trọng là nghị quyết hội nghị BCH trng ơng lần thứ VI ( khoá VI ) tháng 9
năm 1979. Về mặt logic, giai đoạn này bắt đầu từ việc hình thành và củng cố
những đơn vị sản xuất hàng hoá theo đúng nghĩa nhằm t¹o ra mèi quan hƯ võa tù
chđ, võa lƯ thc lẫn nhau giữa các chủ thể sản xuất.
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là khắc phục tính hiện vật của quan hệ
trao đổi, hình thành quan hệ hàng hoá tiền tệ trên thị trờng .
Nội dung trên đợc thực hiện với những giải pháp chủ yếu sau:
Một là: Hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hoá nhằm chuyển
quan hệ trao đổi có tính hiện vật sang quan hệ hàng hoá tiền tệ. Cả về lý luận và
thực tiễn đều cho thấy không thể có đợc nền kinh tế hàng hoá nếu nh không có
đơn vị sản xuất hàng hoá. Những tởng kinh tế quan trọng của hội nghị TW VI
( khoá VI ) có liên quan tới giải pháp trên là:
Thừa nhận thành phần kinh tế t nhân và thị trờng tự do là bộ phận của nền
kinh tế quốc dân và của thị trờng xà hội .
Bảo đảm quyền tự chủ về tài chính cho các cơ sở kinh tế. Nhà nớc để những
cơ sở này đợc chủ động phát triển sản xuất và lu thông hàng hoá.
Nhấn mạnh lợi ích cá nhân ngời lao động và lợi ích của các đơn vị sản xuất
cơ sở.

12


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

B·i bá chÕ độ giao nộp nông sản đối với nông dân, chuyển sang chế độ thu

mua nông sản theo hợp đồng 2 chiều.
Thực hiện nghị quyết hội nghị Trung ơgn VI sản xuất đợc bung ra kể cả sản
xuất của quốc doanh, tập thể, t nhân. Tuy nhiên trong lĩnh vực lu thông hàng hoá
vẫn cha có những thay đổi đáng kể.
Hai là: Đẩy mạnh phân công lao động xà hội nhằm mở rộng thị trờng
Ba là: Chuyển quan hệ sở hữu có tính đơn nhất sang quan hệ sở hữu có tính
đa dạng với nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
Quan hệ sở hữu về TLSX đợc coi là một điều kiện không thể thiếu đợc của
điều kiện tồn tại và phát triển nền kinh tế hàng hoá. ở nớc ta để khắc phục tình
trạng vô chủ, lÃi giả, lỗ thật trong các doanh nghiệp nhà nớc, để tạo ra sự tự do
kinh tế và hình thành nhiều nhà kinh doanh giỏi thích ứng với cơ chế thị trờng, tất
yếu phải đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Nó bắt nguồn từ trình độ phát triển của
lực lợng sản xuất x· héi vµ xu híng chung cđa thÕ giíi. Trong ®iỊu kiƯn cđa níc ta
chóng ta ®· ®iỊu chØnh c¬ cấu sở hữu theo những hớng sau:
Phát huy hình thức kinh tế hộ nông dân, thợ thủ công bằng cách tạo thị trờng cho chúng, trớc hết là thị trờng nông thôn rộng lớn.
Xây dựng khu vực kinh tế công cộng với chức năng là bảo đảm sự ổn định
và là cơ sở cho sự phát triển các thành phần kinh tế. Kh vực kinh tế công cộng tập
trung những ngành kinh tế then chốt: năng lợng, dầu khí, hệ thống giao thông vận
tải, thông tin, an ninh quốc gia, bảo vệ môi trờng cơ cấu của khu vực kinh tế này
không phải là cố định, nhng nó phải luôn luôn có trình độ công nghệ tiên tiến và
trình độ quản lí tốt.
Hình thành và phát triển các công ty cổ phần. Đây là xu thế khách quan của
nền kinh tế thị trờng. ở nớc ta hình thức công ty cổ phần còn phát sinh từ quá
trình điều chỉnh khu vực kinh tế nhà nớc.
Bốn là: Đổi mới chính sách kinh tÕ nh»m chun c¸c quan hƯ kinh tÕ theo
chiỊu däc sang c¸c quan hƯ kinh tÕ theo chiỊu ngang.
Trong các chính sách kinh tế chúng ta đà đặc biệt quan tâm chính sách giá
cả, đà từng bớc thực hiện tự do hoá giá cả. Thực chất của việc điều chỉnh giá cả ỏ
nớc ta trong những năm 80 là thay cơ chế 2 giá bằng cơ chế 1 giá, cơ chế 2 giá
thực chất là 2 cơ chế xử lý giá cả: Một là, cơ chế xử lý giá cả trên cơ sở tập trung

tính toán giá cả và điều chỉnh giá theo luật hành chính. Hai là, cơ chế sử lý giá cả
trong quan hệ hạch toán theo nguyên tắc thoả thuận trên thị trờng. Cả hai cơ chế
đó đều đạt đợc mục tiêu làm chủ giá cả. Nhng chúng khác nhau về cách thực hiện.
Cơ chế đó dựa vào quyền lực hành chính là chủ yếu, còn cơ chế thứ hai lại dựa vào
quan hệ thị trờng là chủ yếu. Mục đích của việc điều chỉnh giá cả là nhằm từ bỏ cơ
chế cũ chuyển sang cơ chế thị trờng. Đây là khâu quan trọng tạo tiền đề cho đổi
mới cơ chế trong các lĩnh vực khác nh tài chính tiền tệ, tiền lơng, quản lý thị trờng.
Việc tự do hoá giá cả làm cho sản xuất thích ứng nhạy cảm với nhu cầu thị trờng
và đem lại sức sống mới cho sản xuất.

13


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

-Giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng
XHCN:
Đại hội VI của đảng năm 1986 đà đặt nền móng vững chắc cho quan điểm
phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN ở nớc ta quan
điểm này đợc tái khảng định rõ hơn ở đại hội lần thứ VII và lần thứ VIII của đảng
ta. Nội dung chủ yếu của giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hớng XHCN ở nớc ta là: Phát triển và mở rộng quan hệ hàng hoá tiền tệ
tạo tiền đề cho kinh tế hàng hoá phát triển.
- Giai đoạn hình thành và phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng XHCN:
Nội dung chủ yếu của giai đoạn này là tiền tệ hoá các quan hệ kinh tế tạo lập
cơ sở kinh tế cho các quy luật kinh tế của kinh tế thị trờng phát huy tác dụng một
cách đầy đủ, phát triển kinh tÕ trong níc vµ hoµ nhËp ví kinh tÕ thế giới. Nội dung
này đợc thực hiện với những giải pháp then chốt sau đây:
+ Phát triển cơ cấu kinh tế mở nhằm hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân. đây
là giải pháp có tính thời đại. Cần lựa chọn các dự án đầu t nớc ngoài trên các mặt:

kinh tế, môi trờng, công nghệ theo hớng bảo đảm lợi thế so sánh và chủ quyền của
nớc ta.
+ Hoàn thiện và phát triển kinh tế thị trờng các yếu tố sản xuất nhằm đáp ứng
nhu cầu về vốn, về sức lao động và các điều kiện vật chất khác cho sản xuất; Cần
tạo các điều kiện để tăng nhanh tính cơ động của các nguồn nhân lực. Nhà nớc chủ
động điều tiết và kiểm soát các nguồn nhân lực thông qua kế hoạch đào tạo và các
quy chế về tiền lơng, về thuế thu nhập và luật lao động. Cần hình thành nhanh
chóng thị trờng tiền vốn.
+ Lựa chọn chính sách khoa học công nghệ vì mục tiêu phát triển. Cần quan
niệm khoa học và công nghệ là biến số có ý nghĩa chiến lợc của sự phát triển. Tiêu
chuẩn quan trọng để lựa chọn cơ cấu công nghệ là phù tính phù hợp và tính hiệu
quả. Hớng công nghệ đợc lựa chọn ở tầm quốc gia là công nghệ điện tử, tin học,
công nghệ sinh học và gia công vật liệu. Hớng công nghệ này sẽ khắc phục sự
khan hiếm các nguồn lực và đa nền kinh tế phát triển theo chiều sâu trong đó lao
động trí tuệ trở thành đặc trng nổi bật.
2. Thực trạng nền kinh tế hàng hoá của nớc ta hiện nay.
Khi chuyển sang kinh tế thị trờng, chúng ta đứng trớc một thực trạng là: đất
nớc đà và đang từng bớc quá độ lên CNXH từ một xà hội vốn là thộc địa nửa
phong kiến với trình độ phát triển của với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất
xà hội rất thấp. đất nớc lại trải qua hàng trục năm chiến tranh, hậu quả để lại rất
nặng nề, những tàn d thực dân phong kiến còn nhiều, lại chịu ảnh hởng nặng nề
của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Với những điểm xuất phát nh trên có thể thấy rằng: Nền kinh tế nớc ta không
còn không còn hoàn toàn là kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc nhng vẫn cha phải là
kinh tế hàng hoá theo nghĩa đầy đủ. Mặt khác, do có sự đổi mới về mặt kinh tÕ cho
nªn cho nªn nỊn kinh tÕ níc ta càng không còn là nền kinh tế chỉ huy. Có thĨ nãi
thùc tr¹ng nỊn kinh tÕ níc ta khi chun sang kinh tế thị trờng là nền kinh tế hàng
hoá kém phát triển còn mang nặng tính chất tự túc, tự cấp và chịu ảnh hởn nặng nề
14



Website: Email : Tel (: 0918.775.368

cđa c¬ chÕ tập trung quan liêu bao cấp. Thực trạng đó đợc biểu hiện ở các mặt sau
đây.
- Kinh tế hàng hoá còn kém phát triển, nền kinh tế còn mang nặng tÝnh chÊt
tù cÊp, tù tóc. Sù u kÐm cđa kinh tế hàng hoá nớc ta đợc thể hiện ở những dấu
hiệu có tính điển hình dới đây:
+ Trình độ cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ sản xuất còn thấp kém.
+ Hệ thống kết cấu hạ tầng dịch vụ sản xuất và dịch vụ xà hội cha dủ để phát
triển kinh tế thị trờng ở trong nớc và cha có khả năng để mỏ rộng giao lu với thị trờng quốc tế.
+ Cơ cấu kinh tế còn mất cân đối và kén hiệu quả. Từ điểm xuất phát thấp,
nền kinh tế còn phổ biến là sản xuất nhỏ cho nên cơ cấu kinh tế nớc ta còn mang
nặng đặc trng của mộtt cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Hiện tợng độc canh cây lúa
vẫn còn tồn tại. Ngành nghề cha phát triển. Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng đến
nay, tuy cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu thành phần kinh tế đà có nhiều thay đổi,
nhng vẫn cha hình thành đợc một cơ cấu kinh tế mới hợp lý và có hiệu quả.
Một cơ cấu kinh tế đợc coi là hợp lý và có hiệu quả khi nó phản ánh đúng
yêu cầu của quy luật khách quan, khi nó cho phép khai thác mọi năng lực của đất
nớc và thực hiện đợc sự phân công, hợp tác quốc tế.
+ Cha có thị trờng theo đúng nghĩa của nó:
Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nớc ta đà đợc hình thành và đang
phát triển, vì vậy thị trờng ở nớc ta cũng đang đợc hình thành và phát triển. Xem
xét một cách khái quát về thị trờng ở nớc ta trong những năm vừa qua thì thấy thị
trờng ở nớc ta còn là thị trờng ở trình độ thấp, tính chất của nó còn hoang sơ. Dung
lợng thị trờng còn thiếu và có phần rối loạn. chúng ta mới từng bớc có thị trờng
hàng hoá nói chung, trớc hết là thị trờng hàng têu dùng thông thờng với hệ giá cả
và quan hệ mua bán bình thờng theo cơ chế thị trờng. Về cơ bản nớc ta vẫn cha có
thị trờng sức lao động hoặc chỉ mới có thị trờng này ở khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh với hình thức thuê mớn còn thô sơ. Trong khu vực kinh tế nớc ngoài về cơ

bản còn số đông chế độ lao động theo biên chế. Chúng ta vẫn cha có thị trờng tiền
tệ và thị trờng tiền vốn hoặc chỉ có thị trờng ở khu vực ngoài quốc doanh với hình
thức thuê mớn còn thô sơ. Khu vực kinh tế nhà nớc vẫn sử dụng lÃi suất, trị giá và
quan hệ tc tiền tệ do nhà nớc quy định. Cha có lÃi suất, tỷ giá và tín dụng thực sự
theo cơ chế thị trờng.
Thực trạng trên của thị trờng nớc ta là hậu quả của nhiều nguyên nhân khác
nhau:
- Về mặt khách quan đó là do trình độ phát triển của phần công lao động xÃ
hội còn thấp. Nền kinh tế con mang nặng tính tự cấp, tự túc.
- Về mặt chủ quan là do những nhận thức cha đúng đắn về nền kinh tế
XHCN, do sự phân biệt duy ý chí giữa thị trờng có tổ chức và thị trờng tự do. Một
thời gian khá dài ở nớc ta đà tồn tại quan niệm cho rằng những t liệu sản xuất lu
chuyeern trong nội bộ các xí nghiệp quốc doanh là những hàng hoá đặc biệt. Nó
không đợc mua bán một cách tự do và sở dĩ nh vậy là vì vai trò đặc biệt quan trọng
của những t liệu sản xuất. Nếu TLSX rơi vào t nhân nó sẽ trở thành phơng tiƯn n«
15


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

dịch lao động của ngời khác. Số lao động thị trờng vốn cùng đợc quan niệm
không phải là hàng hoá, Mặt khác, do quản lý theo chiều dọc, theo chức năng kinh
doanh của từng ngành (công nghiệp, nông nghiệp vận tải, nội thơng, ngoại thơng)
một cách máy móc, cho nên đà dẫn tới hiện tợng cửa quyền, cắt đứt mối liên hệ tự
nhiên giữa các ngành dẫn tới thị trờng bị chia cắt và manh mún. Điều cần thiết
phải rút ra từ thực trạng của thị trờng trên đây là: với tất cả tính phức tạp và các
mặt tiêu cực đà xảy ra trên thị trờng, việc chuyển sang nền kinh tế thị trêng vÉn
cha tíi bíc tiÕn bé vỊ mỈt kü tht hơn hẳn trớc đây và tạo ra khả năng dẫn tới bớc
ngoặt quyết định. Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải tiếp tục thúc đẩy quá trình hình
thành và phát triển thống nhất trên phạm vi cả nớc, gắn thị trờng trong nớc với thị

trờng thế giới.
+ Năng suất LĐXÃ HẫI và thu nhập quốc dân tính theo đầu ngời còn thấp.
Phần này phản ánh tổng hợp thực trạng kinh tế hàng hoá còn kém phát triển.
Do cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ còn thấp, kết cấu hạ tầng dịch vụ sản xuất
và dịch vụ xà hội còn kém, cơ cấu kinh tế còn mất cân đối, thị trờng trong nớc cha
phát triển cho nên năng suất lao động xà hội và thu nhập bình quân đầu ngời ở nớc
ta tất yếu vẫn còn thấp. Theo số liệu thống kê của Ngân hàng thế giới năm 1991
thì mức thu nhập bình quân tính theo đầu ngời của nớc ta so với các nớc đang phát
triển ở Đông Nam á vào loại thấp nhất. Theo sự tính toán của các nhà kinh tế Việt
Nam thì mức GDP/ngời của nớc ta hiện nay là trên 200 USD. Trong khi đó
GDP/ngời của Trung Quốc là 370 USD, Thái Lan: 1420 USD, Malayxia: 2320
USD, Nam triỊu tiªn 5400 USD.
- Do nhËn thøc chđ quan duy ý chÝ vỊ nỊn kinh tÕ x· héi chđ nghÜa cho nªn
trong nhiỊu thËp kû vừa qua ở nớc ta đà tồn tại mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp. Thực tiễn hoạt động kinh tế đà chứng minh mô hình
này có nhiều. Nó gần nh đối lập với kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trờng.
3. Các giải pháp cụ thể
Để thực hiện đợc nội dung nói trên, chúng ta đà và đang thực hiện những giải
pháp chủ yếu dới đây:
Thứ nhất: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Yêu cầu của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là:
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải bảo đảm cho nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần tăng trởng và phát triển, bảo đảm sự ổn định của hệ thống kinh
tế quốc dân cũng nh sự ổn định về mặt chính trị xà hội, bảo đảm công bằng xà hội
và sự vững bền của môi trờng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải bảo đảm sự phát triển, tăng trởng đồng bộ và
cân đối, tạo điều kiện thúc đẩy những ngành trọng điểm mũi nhọn nhằm tạo ra
tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tÕ ph¶i dÉn tíi sù gi¶i phãng søc s¶n xuất xÃ
hội, khai thác có hiệu quả những tiềm năng của đất nớc, thu hút đợc nguồn vốn

đầu t từ bên ngoài để tạo ra nhiều công ăn việc làm cho ngêi lao ®éng.
16


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đáp ứng tối đa nhu cầu của thị trờng trong và
ngoài nớc, đồng thời hạn chế sự phát triển tự phát dẫn theo lợi nhuận trớc mắt phá
huỷ môi trờng sinh thái trong quá trình kinh doanh.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải tạo điều kiện thực hiện nền kinh tế mở, tranh
thủ những thành tựu mới của khoa học kỹ thuật công nghệ hiện đại nhằm đa lại
năng xuất, chất lợng và hiệu quả kinh tế cao.
Để bảo đảm thực hiện những yêu cầu nói trên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế đà đợc thực hiện cả về cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu vùng
kinh tế và cơ cấu kinh tế hớng ngoại.
Thứ hai: Chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng đồng bộ các yếu tố
của thị trờng, phát huy những u thế và động lực của thị trờng, đồng thời hạn chế
những mặt tiêu cực của cơ chế thị trờng. Trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá
đợc phản ánh qua trình độ phát triển của các quan hệ thị trờng. Sự phát triển của
thị trờng lại thúc đẩy hàng hoá phát triển hơn. Thị trờng vừa là điều kiện, vừa là
môi trờng của sản xuất. Một mặt nó cung cấp các yếu tố cho sản xuất, mặt khác nó
tiêu thụ những sản phẩm do sản xuất tạo ra. Do vậy thị trờng thúc đẩy quá trình
tái sản xuất. Hiện nay ở thị trờng đầu ra của sản xuất, khả năng cạnh tranh của
hàng nội địa còn kém. Vì vậy cần chú ý giải quyết 2 vấn đề: nâng cao chất lợng
sản phẩm hàng hoá và phấn đấu giảm giá cả hàng hoá. Từ đó tăng khả năng cạnh
tranh của hàng nội địa. ở thị trờng đầu vào của sản xuất, cần hình thành nhanh
chóng thị trờng tiền vốn và thị trờng sức lao động.
Thứ ba: Hoàn thiện và tăng cờng vận dụng các chính sách tài chính và tiền tệ
nhằm tạo nguồn vốn và thực hiện việc đầu t vốn theo mục tiêu phát triển, phân
phối và phân phối lại thu nhập quốc dân tạo lập sự ổn định tiền tệ, về giá cả và tỷ

giá hối đoái, qua đó tạo môi trờng thuận lợi cho sự phát triển sản xuất hàng hoá
phù hợp với cơ chế thị trờng.
Thứ t: Bồi dỡng và đào tạo cán bộ quản lí kinh doanh theo yêu cầu của kinh
tế thị trờng. Giải pháp này có liên quan đến nhân tố con ngời, động lực của sự phát
triển kinh tế xà hội. Chúng ta đà kết hợp giữa việc mở rộng quy mô đào tạo và
nâng cao dân trí với việc coi trọng chất lợng nhằm đào tạo nhân tài. Việc đào tạo
những cán bộ quản lí kinh doanh không chỉ chú ý đáp ứng những nhu cầu của khu
vực kinh tế nhà nớc, mà còn phải quan tâm tới khu vực ngoài quốc doanh cũng
nh kinh tế nông thôn và miền núi.
Thứ năm: Tăng cờng vai trò quản lí của nhà nớc nhằm phát huy những u thế
và khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trờng. Xây dựng nhà nớc pháp
quyền, đẩy mạnh việc cải cách, hoàn chỉnh, giảm bớt thủ tục trong kinh doanh.

17


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

KÕt ln
Ph¸t triĨn kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN là giải
pháp cơ bản để chuyển từ sản xuất nhá sang s¶n xt lín ë níc ta hiƯn nay.
Héi nghị lần thứ VI ban chấp hành trung ơng khoá VI Đảng đà xác định rõ:
Chính sách kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lợc lâu dài có tính
quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên CNXH. Tới Đại hội toàn quốc lần thứ VII qua thực
tiễn 5 năm đổi mới đảng ta khảng định: Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hớng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý
của nhà nớc. Đảng và nhà nớc ta coi đó là một phơng hớng quan trọng trong quá
trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc. để chuyển từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn thì nớc ta phải phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN đây
là điều tất yếu khách quan ®èi víi mäi qc gia nÕu nh mn ®a nỊn kinh tế tiến
lên. Để thực hiện điều đó đảng đà phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với

công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân để phát triển lực lợng sản xuất, đa nớc ta thành nớc công nghiệp hiện đại. Vì vậy phải phát triển
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo đinh hớng XHCN là giải pháp cơ bản để
chuyển từ s¶n xt nhá sang s¶n xt lín ë níc ta hiện nay.
Từ sự nhận thức về sự tồn tại khách quan có nhiều hình thức sở hữu và các
thành phần kinh tế. Để từ đó có chính sách phù hợp khuyến khích sản xuất hàng
hoá tạo môi trờng cho các thành phần kinh tế phát triển lành mạnh.
Phải biết khai thác thế mạnh của sản xuất hàng hoá và các thành phần kinh tế
để giải phóng sức sản xuất, tăng NSLĐ tạo nhiều sản phẩm cho xà hội, giải quyết
công ăn việc làm.
Nhà nớc có chính sách đúng đắn để quản lý các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau, thấy đợc xu hớng phát triển, yếu điểm của từng
thành phần để hạn chế ngăn chặn các tiêu cực trong xà hội.
Quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng
XHCN vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. ở nớc ta phải là
quá trình thực hiện dân giầu nớc mạnh, tiến lên hiện đại hoá trong một xà hội nhân
dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cơng, xoá bỏ áp bức bất công, tạo điều
kiện cho mọi ngời có cuộc sống ấm no, tù do, h¹nh phóc.

18


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Tµi liƯu tham khảo

1. Giáo trình kinh tế chính trị học Mác Lênin.
NXB Chính trị Quốc gia 1999
2. Văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII
3. Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin Đại học kinh tế quốc dân
NXB Giáo dục 1998, tập I, tập II

4. Tạp chí Cộng sản
5. Thông tin lÝ luËn

19


Website: Email : Tel (: 0918.775.368

môc lôc
Trang
Lêi më đầu

1

I. Cơ sở lý luận của việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
trong thời kỳ quá độ đi lên XHCN nói chung

2

II. Tính tất yếu khách quan phải phát triển kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần ở nớc ta

9

III. những giải pháp để phát triển kinh tế hàng hoá Việt Nam

12

Kết luận


19

Tài liệu tham khảo

20

20



×