Tải bản đầy đủ (.pdf) (49 trang)

Phát triển xuất khẩu các mặt hàng truyền thống tại các làng nghề ở Thủ đô Hà Nộii doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (285.86 KB, 49 trang )

Lời mở đầu
Trong những năm gần đây, với mục tiêu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa- hiện đại
hóa đất nước, đồng thời từng bước tham gia hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới,
việc đẩy mạnh xuất khẩu được Nhà nước đặc biệt coi trọng. Xuất khẩu phát triển đã
đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước, giải quyết công ăn việc làm cho hàng
triệu lao động, thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển.
Ngành dệt may nước ta là một ngành công nghiệp mũi nhọn trong quá trình công
nghiệp hoá - hiện đại hóa đất nước. Công ty dệt Minh Khai là một trong những doanh
nghiệp dệt của Nhà nước đứng đầu trong ngành công nghiệp nhẹ Hà nội, đã có những
thành tựu đáng kể trong công cuộc đổi mới. Trong thời gian qua Công ty dệt Minh
Khai luôn hoàn thành nhiệm vụ sản xuất và các chỉ tiêu kinh tế do Nhà nước giao và
ngày càng chiếm lĩnh các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU, Mỹ…đồng thời tạo
được uy tín của công ty trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh tự do hoá
thương mại ngày nay, công ty đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ
cạnh tranh lớn mạnh trong ngành dệt may là Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia…đặc
biệt là Trung Quốc. Đây là thách thức to lớn đòi hỏi công ty phải có biện pháp giải
quyết, nhằm tăng sức cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu, nâng cao uy tín của công ty trên
trường quốc tế.
Sau một thời gian thực tập tìm hiểu tại công ty và những kiến thức tích luỹ được ở nhà
trường đã giúp em viết thu hoạch thực tập tốt nghiệp “Thực trạng và giải pháp thúc
đẩy xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai”. Em mong muốn những giải pháp mà em
đề xuất dưới đây sẽ giúp công đạt được những kết quả cao hơn trong hoạt động xuất
khẩu.
Thu hoạch thực tập tốt nghiệp này gồm các nội dung sau :
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu và vai trò của nó đối với nền kinh tế
quốc dân.
Chương 2: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai.
Có được nội dung và sự thành công của bản Thu hoạch thực tập tốt nghiệp này, em xin
chân thành cảm ơn sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn PGS.TS
Nguyễn Thị Quy và các cô chú trong phòng Kế hoạch thị trường – Công ty dệt Minh


Khai trong quá trình em thực tập và hoàn thành đề tài này.
Do thời gian thực tập có hạn và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế nên bản Thu
hoạch thực tập tốt nghiệp này không tránh khỏi những thiếu sót. Vậy em kính mong
được sự giúp góp ý của các thầy cô và các bạn sinh viên để em có điều kiện hoàn thiện
hơn nữa kiến thức của mình.
Hà nội, tháng 10- 2003.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Ngọc Ly.
Lớp: Nhật 2- K38F- Kinh tế ngoại thương.
Chương I Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu và vai trò của nó đối với nền kinh tế
quốc dân
I. Những vấn đề chung về hoạt động xuất khẩu
1. Khái niệm
Xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá của quốc gia này cho một quốc gia khác trên
cơ sở thanh toán bằng tiền tệ. Hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia, tiền
tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai quốc gia. Hoạt động xuất khẩu là
hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát
triển.
Hoạt động xuất khẩu khác với hoạt động buôn bán trong nước. Nếu như trong buôn
bán nội địa, hàng hóa chỉ được vận chuyển trong phạm vi một quốc gia, đồng tiền
thanh toán là đồng nội tệ của quốc gia đó và các bên chủ thể có chung quốc tịch thì
trong hoạt động xuất khẩu, hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia, đồng
tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên và các bên chủ thể phải có quốc
tịch ở hai nước khác nhau.
Hoạt động xuất khẩu, diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất
khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến dịch vụ, tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị và kỹ
thuật công nghệ cao. Tất cả các hoạt động đó đều nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho
các quốc gia tham gia.
2. Bản chất
Hoạt động xuất khẩu là một trong những hình thức biểu hiện của hoạt động kinh doanh
thương mại quốc tế. Nó được biểu hiện thông qua trao đổi hàng hoá dịch vụ của một

nước này cho nước khác và dùng tiền tệ làm phương tiện trao đổi. Đằng sau việc trao
đổi này là mối quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những
người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia. Với ý nghĩa đó, hoạt động xuất
khẩu đóng vai trò trong việc khai thác tiềm năng của đất nước.
Hoạt động xuất khẩu rất cần thiết vì nó mở rộng khả năng tiêu dùng của nước nhập
khẩu và khai thác được lợi thế so sánh của nước xuất khẩu. Thực tế cho thấy, một quốc
gia cũng như một cá nhân không thể sống riêng rẽ, biệt lập với bên ngoài mà vẫn tồn
tại và phát triển được. Thương mại quốc tế cho phép đa dạng hoá các mặt hàng tiêu
dùng với chất lượng và số lượng cao hơn so với ranh giới của khả năng sản xuất trong
nước, khi thực hiện chế độ tự cung tự cấp, không buôn bán với nước ngoài. Vì vậy, sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng. Tuy nhiên, xét một cách cụ thể
hơn thì nguyên nhân cơ bản và sâu xa của việc trao đổi mua bán đó là xuất phát từ sự
đa dạng về điều kiện tự nhiên nên một nước có thể chuyên môn sản xuất một số mặt
hàng có lợi thế hơn và xuất khẩu để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác nhằm mục
đích lợi nhuận. Nhưng sự khác nhau về điều kiện sản xuất chỉ là một trong những lý
do để thúc đẩy các nước mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với nhau. Quan trọng hơn
cả là hai bên cùng có lợi do có sự khác nhau về sở thích và lượng cầu đối với hàng
hoá. Chính vì vậy, nước ta mặc dù với xuất phát điểm thấp và chi phí sản xuất hầu như
lớn hơn tất cả các mặt hàng của các cường quốc kinh tế, chúng ta vẫn có thể duy trì
quan hệ thương mại với các nước đó. Trong những năm qua, vấn đề phát triển ngoại
thương nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng luôn là mục tiêu chiến lược để phát
triển kinh tế được Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu.
II. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
1. Sơ lược tình hình xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua
Từ khi Nhà nước ta bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã
bước đầu đi vào phát triển ổn định. Tốc độ phát triển kinh tế bình quân trong giai đoạn
1991-1995 đạt 8,2%; giai đoạn 1996-2000 đạt 6,7%; tổng sản phẩm trong nước (GDP)
tăng bình quân hàng năm trong 10 năm là 7,5% (chiến lược đề ra 6,9-7,5%). Có được
những kết quả đó một phần là do sự đóng góp của các hoạt động kinh tế đối ngoại.
Hoạt động ngoại thương của Việt Nam, trong đó có hoạt động xuất khẩu, đã có bước

tăng trưởng đáng kể. Nếu chỉ xét riêng về xuất khẩu, cũng đã thấy rõ những tiến bộ
đáng kể qua các thời kỳ.
Như vậy, từ 95 đến nay kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng đều qua các năm. Sở
dĩ có được những kết quả như vậy là do Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng
chủ lực. Cụ thể:
+ Dầu thô tăng với tốc độ cao, đạt 3,5 tỷ USD (2000); 2,71 tỷ USD (2002), tăng
37,2%. Đây là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua.
+ Các sản phẩm dệt may đứng ở vị trí thứ 2 nhưng tốc độ tăng không cao, đạt 1,82 tỷ
USD vào năm 2000.
+ Tiếp theo là các mặt hàng thuỷ sản đạt 1,48 tỷ USD (2000), giầy dép đạt 1,4 tỷ USD
(2000) và 1,82 tỷ USD (2002)…
Ngoài ra tỷ trọng của các nhóm hàng xuất khẩu đã có sự chuyển dịch qua các giai
đoạn. Từ 1991- 2000, tỷ trọng nhóm hàng nông lâm thuỷ sản có xu hướng giảm dần
trong cơ cấu xuất khẩu chiếm hơn 68% trong năm 1986 nhưng đến năm 2000 thì chỉ
chiếm 19,8%. Trong đó nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản tăng dần qua các
năm đạt 35,6% vào năm 2000. Sự thay đổi này là do Việt Nam tăng dần xuất khẩu dầu
thô. Hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ cũng có xu hướng tăng dần đạt mức
34,3% vào năm 2000. Tỷ trọng hàng nguyên liệu thô giảm và tỷ trọng mặt hàng qua
chế biến tăng giúp cho giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng lên. Bởi khi xuất hàng
nguyên liệu thô, ngoại tệ thu về thấp đồng thời lại không thúc đẩy được nền sản xuất
trong nước phát triển và tạo việc làm cho người lao động.
Sự biến động của tình hình kinh tế khu vực và thế giới cùng với sự chuyển dịch khá
tích cực trong cơ cấu xuất khẩu đã kéo theo sự thay đổi về thị trường xuất khẩu. Thị
trường xuất khẩu so với thời kỳ trước những năm 90 đã được mở rộng nhanh theo
hướng đa phương hoá, đa dạng hoá. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào các nước
Châu á tăng đều. Trong khi kim ngạch xuất khẩu vào Châu Âu và đặc biệt là Đông Âu
và các nước thuộc Liên Xô (cũ) giảm mạnh vào những năm 80 và nửa đầu năm 1990
thì kim ngạch xuất khẩu sang Châu Mỹ và Châu Đại Dương lại có xu hướng tăng lên
trong những năm gần đây. Tỷ trọng thị trường xuất khẩu năm 1999 là Châu á 57,7%,
Châu Âu 28), EU 21,7% và Nhật Bản là 15,5%. Đây là sự đổi mới trong đường lối

phát triển kinh tế và chính sách kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Nhìn vào tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu qua các năm ta thấy được những tín hiệu
đáng mừng, nhưng đồng thời cũng thấy được những thách thức mà các mặt hàng xuất
khâủ của ta sẽ gặp phải khi gia nhập sâu hơn vào thị trường thế giới. Do vậy đòi hỏi
Nhà nước phải có chính sách đúng đắn kịp thời và các doanh nghiệp phải tự nỗ lực
vươn lên đứng vững trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của các nền kinh tế khu vực và thế
giới.
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân
2.1. Xuất khẩu là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hoạt động xuất khẩu có ý nghĩa rất quan trọng và cần thiết đối với nước ta. Với một
nền kinh tế chậm phát triển, cơ sở vật chất, kỹ thuật lạc hậu, không đồng bộ như nước
ta thì việc đẩy mạnh xuất khẩu tạo thêm công ăn việc làm cải thiện đời sống, tăng thu
ngoại tệ, thúc đẩy phát triển kinh tế là một chiến lược lâu dài. Để thực hiện được chiến
lược lâu dài đó chúng ta phải nhận thức rõ được ý nghĩa của việc xuất khẩu hàng hoá:
- Thông qua việc xuất khẩu những mặt hàng có thế mạnh chúng ta có thể phát huy
được lợi thế so sánh, sử dụng hợp lý các nguồn lực, trao đổi các thành tưu khoa học
công nghệ tiên tiến.
- Thông qua hoạt động xuất khẩu, tính cạnh tranh được nâng cao nên chất lượng hàng
hoá không ngừng được tăng lên, tạo điều kiện nâng cao năng lực sản xuất thể hiện nội
lực kinh tế của đất nước.
Mặt khác hoạt động xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất
trong nước phát triển. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt các ngành sản xuất
khác phát triển, đồng thời cũng thúc đẩy các ngành dịch vụ hỗ trợ hoạt động xuất khẩu
như ngành bảo hiểm, hàng hải, thông tin liên lạc quốc tế dịch vụ tài chính quốc tế đầu
tư Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tạo điều kiện thuận
lợi mở rộng khả năng cung cấp đầu tư trở lại cho sản xuất, tạo tiền đề kinh tế kỹ thuật
đồng thời nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Điều đó chứng tỏ xuất khẩu là
phương tiện quan trọng để tạo vốn đưa kỹ thuật công nghệ nước ngoài vào Việt Nam
nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước.
2.2. Xuất khẩu tạo ra nguồn vốn, nguồn ngoại tệ lớn góp phần quan trọng vào việc cải

thiện cán cân thanh toán.
Cần khẳng định rằng nhập siêu là tình trạng chung ở các nước đang phát triển. Tình
trạng này không dễ khắc phục một sớm một chiều. ở những nước này, nhu cầu về mọi
mặt đều lớn hơn khả năng kinh tế đang có. Để thoả mãn nhu cầu cho phát triển sản
xuất và đời sống nhân dân, việc nhập khẩu đòi hỏi ngày càng mở rộng. Tuy nhiên,
nhập siêu trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều không tích cực vì nó sẽ dẫn đến mất cân
bằng trong cán cân thương mại từ đó sẽ dẫn tới sự mất cân bằng trong cán cân thanh
toán. Điều này trở nên rất nguy hiểm , đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế thế giới biến
động thường xuyên như hiện nay.
Việt Nam là một nước đang phát triển, nhu cầu nhập khẩu là rất lớn. Cho nên việc xuất
khẩu ít hơn nhập khẩu là tất yếu. Nhưng việc nhập khẩu nhiều như hiện nay chỉ nên
kéo dài trong một thời gian ngắn nữa và cùng với quá trình phát triển sản xuất thì
chúng ta cần đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu. Điều này sẽ tạo thế vững chắc cho sự phát
triển kinh tế của đất nước.
2.3. Xuất khẩu có tác dụng tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
đời sống cho người lao động.
Việt Nam là một nước có dân số đông, cơ cấu dân số thuộc loại dân số trẻ. Số người
trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số hơn 80 triệu người. Hàng năm, số
người trong độ tuổi lao động được bổ sung khoảng 1,5-2 triệu người. Việc giải quyết
việc làm cho số người này hoàn toàn không đơn giản. Hơn nữa, số dân làm việc trong
ngành nông nghiệp của nước ta rất lớn nên còn phải tính đến số người thất nghiệp theo
mùa vụ. Thực tế cho thấy vấn đề thất nghiệp là một vấn đề nan giải mà Việt Nam cũng
như nhiều nước khác cần phải giải quyết.
- Xuất khẩu tạo nguồn vốn để nhập khẩu các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu phục vụ đời
sống hàng ngày, nâng cao chất lượng cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần.
- Thông qua xuất khẩu, quy mô của các ngành sản xuất hàng xuất khẩu sẽ được mở
rộng, có thêm nhiều ngành nghề mới từ đó thu hút nhiều lao động vào làm việc.
- Xuất khẩu phát triển là tiền đề cho các quan hệ kinh tế đối ngoại khác như du lịch,
xuất khẩu sức lao động, tạo điều kiện đưa lực lượng lao động tham gia vào quá trình
phân công lao động quốc tế. Đây là nhân tố rất quan trọng giải quyết tình trạng thất

nghiệp.
2.4. Hoạt động xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy mối quan hệ kinh tế đối
ngoại của nước ta.
Với đường lối kinh tế “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp”, Đảng ta đã chủ trương
đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, trong đó chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực, đẩy mạnh các quan hệ kinh tế đối ngoại. Mặc dù xuất khẩu chỉ là
một lĩnh vực của kinh tế đối ngoại nhưng lại có quan hệ mật thiết với các lĩnh vực còn
lại như thu hút đầu tư trực tiếp, vay tín dụng quốc tế, hợp tác và triển khai công nghệ
mới. Thực tiễn trong thời gian qua đã chứng tỏ sự phát triển của hoạt động xuất khẩu
và những ngành có liên quan đã thúc đẩy sự phát triển của các quan hệ tín dụng- vay
nợ quốc tế, đầu tư, mở rộng vận tải quốc tế…Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối
ngoại này lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu.
3. Một số hình thức xuất khẩu ở nước ta hiện nay
3.1. Xuất khẩu uỷ thác
Hoạt động xuất khẩu uỷ thác là hoạt động hình thành giữa một doanh nghiệp
trong nước có nhu cầu xuất khẩu một số loại hàng hoá nhưng không đủ điều kiện để
xuất khẩu đã uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng giao dịch ngoại thương tiến
hành đàm phán với đối tác nước ngoài để làm thủ tục xuất khẩu hàng hoá theo yêu cầu
của bên uỷ thác và được hưởng một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.
Trong hoạt động xuất khẩu uỷ thác, doanh nghiệp nhận uỷ thác không phải bỏ
vốn, không phải xin hạn ngạch (nếu có), không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ do
không phải tiêu thụ hàng mà chỉ phải đứng ra thay mặt bên uỷ thác tìm và giao dịch
với bạn hàng nước ngoài, ký hợp đồng và làm thủ tục xuất khẩu hàng hoá cũng như
thay mặt bên uỷ thác khiếu nại, đòi bồi thường với bên nước ngoài khi có tổn thất.
3.2. Xuất khẩu tự doanh
Xuất khẩu tự doanh là hoạt động xuất khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường trong và ngoài nước, tính
toán đầy đủ chi phí đảm bảo kinh doanh xuất khẩu có lãi, đúng phương hướng, chính
sách, pháp luật của quốc gia cũng như quốc tế.

Trong xuất khẩu tự doanh, doanh nghiệp phải đứng mũi chịu sào trước tất cả
mọi việc. Doanh nghiệp phải xem xét một cách kỹ càng từ bước nghiên cứu thị trường
đến việc ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng vì doanh nghiệp phải tự bỏ vốn của
mình ra, chịu mọi chi phí và rủi ro có thể xảy ra.
3.3. Xuất khẩu liên doanh
Đây là hoạt động xuất khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kinh tế một cách tự
nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp khả năng để cùng nhau giao dịch và đề
ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến hoạt động xuất khẩu, thúc đẩy hoạt động
này phát triển theo hướng có lợi nhất cho tất cả các bên, cùng chia lãi và cùng chịu lỗ.
So với hình thức xuất khẩu tự doanh thì trong hình thức này, doanh nghiệp ít
phải chịu rủi tro hơn vì mỗi doanh nghiệp liên doanh xuất khẩu chỉ góp một phần vốn
nhất định, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên cũng phân theo số vốn góp.
3.4. Xuất khẩu đổi hàng
Xuất khẩu đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu của
buôn bán đối lưu, nó là hình thức xuất khẩu gắn liền với nhập khẩu, thanh toán theo
hình thức này không phải dùng tiền mà chuyển bằng hàng hoá.
Để có thể thực hiện được hình thức xuất khẩu này thì hàng hoá nhập và hàng
hoá xuất phải tương đương nhau về giá trị, tính quý hiếm và phải cân bằng về giá cả,
bạn hàng bán và mua là một.
Trên đây là khái quát một số hình thức xuất khẩu được ap dụng phổ biến ở
nước ta hiện nay. Bên cạnh đó còn có các hình thức khác nhưng chưa được áp dụng
nhiều.
Chương II: Thực trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai
Công ty dệt Minh Khai là một doanh nghiệp Nhà nước, một đơn vị lớn của Sở công
nghiệp Hà Nội được thành lập năm 1974 theo quyết định số 25- QĐUB của UBND
thành phố Hà Nội ngày 20-3-1974.
Tên Công ty : Công ty dệt Minh Khai
Tên giao dịch quốc tế : Minh Khai Textile Company
Trụ sở chính : 423 Đường Minh Khai-Hà Nội
I. Giới thiệu khái quát về Công ty dệt Minh Khai

1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty dệt Minh Khai
Các giai đoạn phát triển của Công ty dệt Minh Khai gắn liền với sự phát triển của
ngành công nghiệp Hà Nội riêng và của nền kinh tế Việt Nam nói chung.
Công ty dệt Minh Khai (trước đây là nhà máy dệt khăn mặt khăn tay) được khởi công
xây dựng từ cuối năm 1960, đầu những năm 1970. Tuy nhiên, do cuộc chiến tranh phá
hoại của giặc Mỹ, mãi đến năm 1974, Công ty cơ bản được xây dựng xong và chính
thức thành lập theo quyết định của UBND thành phố Hà Nội. Với sự nỗ lực của cán bộ
công nhân viên trong Công ty, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan, ban
ngành cấp thành phố, những năm tiếp theo, Công ty dần đi vào ổn định, hoàn thiện nhà
xưởng, hiệu chỉnh lại máy móc thiết bị, đào tạo thêm lao động để tăng cường sản xuất.
Nhiệm vụ chủ yếu lúc này của Công ty là sản xuất khăn mặt, khăn bông, khăn tắm…
phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa.
Từ năm 1981- 1989 là thời kỳ phát triển với tốc độ cao của Công ty. Trong giai đoạn
này, để giải quyết khó khăn về vấn đề cung cấp nguyên vật liệu và thị trường, chủ
động sản xuất kinh doanh, Công ty đã chuyển hướng để xuất khẩu (cả hai thị trường
XHCN và TBCN) là chủ yếu. Năm 1988, Công ty được Nhà nước cho phép thực hiện
xuất khẩu trực tiếp và là doanh nghiệp đầu tiên ở miền Bắc được Nhà nước cho phép
làm thí điểm về xuất nhập khẩu trực tiếp ra nước ngoài. Những năm đầu thập kỷ 90
của thế kỷ 20, nền kinh tế nước ta chuyển mạnh sang cơ chế quản lí mới cùng với việc
hệ thống XHCN sụp đổ ở Đông Âu và Liên Xô (cũ) đã làm cho nhiều doanh nghiệp
nhà nước trong đó có Công ty dệt Minh Khai gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, được sự
giúp đỡ của nhà nước (đặc biệt là Sở công nghiệp Hà Nội) cùng với sự nỗ lực của cán
bộ công nhân viên trong Công ty, Công ty dệt Minh Khai đã đầu tư thêm nhiều trang
thiết bị mới nhằm từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, chăm lo tốt đời
sống cán bộ công nhân viên và hoàn thành nhiệm vụ nhà nước giao.
Nhìn lại quá trình gần 30 năm xây dựng và phát triển của Công ty dệt Minh Khai, tuy
có những thăng trầm song Công ty đã khẳng định vị trí của mình – một doanh nghiệp
nhà nước kinh doanh có hiệu quả trong tiến trình phát triển và đổi mới đi lên của đất
nước.
2. Chức năng nhiệm vụ của Công ty dệt Minh Khai

Trong quá trình phát triển của mình, Công ty dệt Minh Khai ngay từ khi mới thành lập
đã được Nhà nước giao cho thực hiện chức năng và nhiệm vụ chủ yếu là sản xuất và
kinh doanh các sản phẩm ngành dệt phục vụ cho nhu cầu trong nước cũng như quốc tế,
làm tốt công tác nhập khẩu phục vụ cho nhu cầu sản xuất, góp phần nâng cao chất
lượng hàng hoá, tăng thu ngoại tệ và phát triển kinh tế đất nước.
Với chức năng và nhiệm vụ được giao, trong gần 30 năm qua, Công ty dệt Minh Khai
đã phát huy mọi nguồn lực của mình nhằm khắc phục khó khăn, trở ngại để Công ty
không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, đứng vững trên thương trường, góp phần thiết
thực vào việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Công ty
dệt Minh Khai luôn cố gắng đẩy mạnh chiến lược xuất nhập khẩu hai chiều nhằm tận
dụng lợi thế so sánh giữa các mặt hàng cũng như nguyên vật liệu phục vụ cho sản
xuất.
3. Cơ cấu tổ chức hoạt động của Công ty dệt Minh Khai
Là một doanh nghiệp nhà nước, Công ty dệt Minh Khai tổ chức bộ máy quản lí theo
một cấp, đứng đầu là Ban giám đốc chỉ đạo trực tiếp đến từng đơn vị thành viên, giúp
vịêc cho giám đốc có các phòng ban nghiệp vụ.
Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban:
- Ban giám đốc: gồm có giám đốc và hai phó giám đốc (PGĐ sản xuất và PGĐ kỹ
thuật). Đây là cơ quan đầu não của Công ty chịu trách nhiệm mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh, là nơi đưa ra những định hướng phát triển sự tồn tại của Công ty.
- Giám đốc: là người đứng đầu Công ty, bảo vệ quyền lợi cho nhân viên, phụ trách
chung những vấn đề đối nội, đối ngoại.
- Phòng tài vụ: giúp giám đốc thống kê kế toán tài chính, kiểm tra giám sát tình hình
thu chi tài chính, và hướng dẫn chế độ chi tiêu và hạch toán kinh tế nhằm giảm chi phí,
nâng cao việc sử dụng tốt vật tư, đề xuất với giám đốc các biện pháp tài chính để đạt
hiệu quả kinh tế cao.
- Phòng kế hoạch thị trường: là phòng nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc trong công
tác xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, tổ
chức thực hiện tốt công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty sản xuất ra và đảm bảo quay
vòng vốn nhanh.

- Phòng tổ chức: giúp giám đốc xây dựng mô hình tổ chức sản xuất và quản lí Công ty.
Phòng tổ chức có nhiệm vụ quản lí số lượng và chất lượng CBCNV, sắp xếp đào tạo
đội ngũ CBCNV trong Công ty nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh, thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách của Nhà nước đối với người lao động

- Phòng kỹ thuật: nghiên cứu tham mưu giúp đỡ giám đốc về công tác quản lí sử dụng
kế hoạch và biện pháp về dài hạn, ngắn hạn, áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong
thiết kế chế tạo sản phẩm và đưa công nghệ mới vào sản xuất.
- Phòng hành chính y tế: giúp giám đốc trong việc quản lí điều chỉnh mọi công việc
thuộc phạm vi hành chính, tổng hợp các giao dịch, văn thư và truyền đạt chỉ thị của
giám đốc đến các phòng ban phân xưởng, thực hiện công tác khám chữa bệnh tại chỗ
cho CBCNV trong Công ty.
Hàng năm, Công ty đều tiến hành các họat động rà soát lại các chức năng nhiệm vụ
của từng phòng ban để sửa chữa, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thay đổi của
công việc, tránh sự chồng chéo trong họat động của các phòng ban.
Sơ đồ bộ máy quản lí của Công ty dệt Minh Khai
4. Đặc điểm sản xuất kinh doanh
4.1 . Đặc điểm sản phẩm dịch vụ của Công ty dệt Minh Khai
Sản phẩm của Công ty là sản phẩm thiết yếu đối với người tiêu dùng, không thể thiếu
trong sinh hoạt hàng ngày của người tiêu dùng như: khăn mặt, khăn tắm, màn
tuyn…Sản phẩm của Công ty mang tính chất sử dụng nhiều lần, có tác dụng giữ gìn vệ
sinh, và bảo vệ sức khoẻ. Sản phẩm tiêu dùng cho cá nhân nên yêu cầu phải bền, mềm,
thấm nước, mầu sắc mẫu mã phong phú, không phai màu, nhiều kích cỡ khác nhau, độ
dày mỏng phù hợp.
Do nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của người dân ngày càng cao, cùng với sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật nên Công ty đã không ngừng cải tiến, thiết kế ra những mẫu
mới. Hiện nay cơ cấu sản phẩm của Công ty đã phong phú hơn rất nhiều và có đủ khả
năng đáp ứng nhu cầu tiều dùng trong nước và thị trường xuất khẩu (sản phẩm xuất
khẩu chiếm xấp xỉ 90 % khối lượng sản xuất ra). Có hai loại chủ yếu sau: Khăn bông
các loại và màn tuyn.

Với sản phẩm khăn bông Công ty sản xuất từ nguyên liệu sợi bông 100% nên
có độ thấm nước cao, mềm mại và phù hợp với yêu cầu sử dụng của người tiêu dùng.
Đây là nhóm sản phẩm chủ yếu của Công ty, chiếm tới 98% khối lượng sản phẩm của
Công ty, bao gồm :
- Khăn ăn: dùng trong các nhà hàng và gia đình.
- Khăn rửa mặt: phục vụ cho nhu cầu trong nước, tiêu thụ qua các nhà buôn và siêu thị.
- Khăn tắm : chủ yếu sản xuất cho nhu cầu xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Hiện
nay tiêu thụ khăn tắm trong nước có nhu cầu tăng lên.
- Bộ khăn dùng cho khách sạn bao gồm: khăn tắm, khăn mặt, khăn tay, thảm chùi
chân, và áo choàng tắm.
- Các loại vải sợi bông sử dụng để may lót và may mũi giầy phục vụ cho các cơ sở
may xuất khẩu như giầy Ngọc Hà, may X40
Với sản phẩm màn tuyn: Công ty sản xuất 100% sợi PETEX đảm bảo cho màn tuyn có
độ bền cao chống được oxy hoá gây màn vàng. Loại sản phẩm này mới được đưa vào
sản xuất trong Công ty hơn 10 năm, nên khối lượng sản xuất ra chỉ chiếm tỷ trọng
khiêm tốn.
4.2 Phương thức sản xuất kinh doanh của Công ty dệt Minh Khai
Với chức năng nhiệm vụ là một doanh nghiệp nhà nước sản xuất các sản phẩm khăn
tay phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu ra nước ngoài và nhu cầu trong nước. Công ty dệt
Minh Khai đã có phương thức sản xuất kinh doanh riêng rất hiệu quả.
Hình thức chủ yếu của Công ty là hợp đồng xuất khẩu trực tiếp. Công ty là một trong
những doanh nghiệp đầu tiên giành được quyền xuất khẩu trực tiếp. Với hình thức này,
Công ty trực tiếp tiếp xúc với khách hàng là các Công ty thương mại nước ngoài, khi
có những thoả thuận trao đổi đi đến thống nhất về mẫu mã, số lượng sản phẩm, hai bên
sẽ chính thức kí kết hợp đồng. Phần lớn mặt hàng khăn bông xuất khẩu của Công ty áp
dụng phương thức này.
Các mặt hàng khăn bông không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu được tiêu thụ tại thị trường
nội địa chiếm 10% nhưng kích thước, mầu sắc và mẫu mã sản phẩm không phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng. Công ty chỉ có một vài sản phẩm sản xuất theo thiết kế
phục vụ trong nước. Việc tiêu thụ chủ yếu thông qua các trung gian thương nghiệp

như: các Công ty thương mại trong và ngoài nước, các trung tâm thương mại, các siêu
thị ở Hà nội và tư thương. Từ đó sản phẩm của Công ty được bán cho những người
mua bán và bán lẻ tới tay người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, còn có hình thức xuất khẩu uỷ thác. Công ty xuất khẩu sản phẩm thông
qua Công ty trung gian trong nước như: Tổng Công ty dệt may Vịêt Nam (Vinatex),
Công ty xuất khẩu thủ công mỹ nghệ (Artexpor). Công ty cũng kí hợp đồng với các
siêu thị ở Hà nội cung cấp các sản phẩm khăn bông để bán tại các siêu thị này với
phương thức giao hàng trước thanh toán tiền khi giao lô hàng sau.
Mặt khác, Công ty cũng nhận sợi, hoá chất, thuốc nhuộm của khách hàng để tiến hành
sản xuất sản phẩm cho khách hàng qua các hợp đồng gia công. Loại hợp đồng này đối
với Công ty không nhiều, tùy thuộc vào yêu cầu của khách hàng nhận gia công, đơn
giá gia công, thời hạn giao hàng, định mức tiêu hao nguyên vật liệu. Ngoài ra Công ty
còn thực hiện hợp đồng nhận vốn ứng trước
II. Phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu của công Ty
1. Tình hình xuất khẩu của Công ty trong thời gian qua
Đối với Công ty dệt Minh Khai, hoạt động xuất khẩu được coi là hoạt động quan trọng
nhất của Công ty. Doanh thu xuất khẩu luôn chiếm tỷ trọng lớn, từ 80-85% tổng doanh
thu hàng năm.
Để có thấy rõ tình hình xuất khẩu của Công ty chúng ta phải đi vào phân tích thực
trạng hoạt động xuất khẩu của Công ty trong những năm qua theo các tiêu thức sau:
1.1. Phân tích tình hình xuất khẩu theo thị trường xuất khẩu
Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu thì thị trường là vấn đề quan tâm hàng đầu của
Công ty. Thị trường có ý nghĩa quyết định tới sự sống còn của Công ty vì thị trường
liên quan tới các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng chiến lược kinh doanh xuất
khẩu cũng như các hoạt động khác. Vì vậy, Công ty phải biết lựa chọn, đánh giá và
phân tích những thị trường có triển vọng nhất để xây dựng chiến lược cạnh tranh phù
hợp.
Thị trường Nhật Bản là thị trường truyền thống của Công ty và cũng là một trong
những thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam. Công ty đã thiết lập
và duy trì mối quan hệ làm ăn với các khách hàng Nhật Bản trong một thời gian dài, từ

năm 1983 cho tới nay. Nhật Bản đã trở thành bạn hàng truyền thống của Công ty.
Công ty xuất khẩu sang Nhật Bản những sản phẩm khăn bông bao gồm khăn ăn, khăn
mặt, khăn tắm, khăn Jacquard, áo choàng tắm các loại phong phú về kiểu dáng và mẫu
mã.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang thị trường này luôn chiếm một tỷ trọng
cao nhất khoảng 90% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Công ty hàng năm (xem
bảng 2). Năm 1998 kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang Nhật Bản đạt 3,01 triệu
USD chiếm tỷ trọng 91,74% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Năm 1999 kim ngạch
xuất khẩu tăng lên 3.587.000 USD tức là chiếm 88,6% và sang đến năm 2001 con số
này đã tăng lên 4.240.000 USD đạt tỷ trọng 91,38%.
Tuy nhiên, mức tăng kim ngạch xuất khẩu của Công ty trên thị trường Nhật Bản không
đều và không ổn định. Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì hiện này Công ty đang vấp
phải sự cạnh tranh gay gắt của các đối thủ cạnh tranh lớn mạnh trong lĩnh vực xuất
khẩu hàng dệt may là Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… Kim ngạch xuất khẩu sang
thị trường Nhật Bản năm 2002 giảm xuống còn 4.038.000 USD tức là chỉ bằng 95% so
với năm 2001 (4.240.000USD). Nguyên nhân là do có sự cạnh tranh về giá giữa các
Công ty xuất khẩu hàng dệt may ở Việt Nam, các Công ty này liên tục tự giảm giá để
cạnh tranh, giành quyền được ký hợp đồng xuất khẩu, nên giá xuất khẩu của Công ty
giảm. Mặt khác các đối tác phía Nhật Bản khi sang đàm phán ký kết hợp đồng xuất
khẩu thường đưa ra mức giá giao dịch rất rẻ là mức giá mà Trung Quốc xuất khẩu vào
Nhật Bản để gây sức ép buộc Công ty phải giảm giá theo họ. Hơn nữa, chính phủ Nhật
Bản hiện nay đang có ý định hạn chế nhập khẩu mặt hàng dệt nên Bộ Thương Mại
Việt Nam đã yêu cầu các Công ty Việt Nam xuất khẩu sản phẩm dệt vào thị trường
Nhật Bản phải hạn chế số lượng xuất khẩu để phía Nhật Bản không áp dụng biện pháp
tự vệ tức là hạn chế nhập khẩu nữa.
Qua phân tích tình hình xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản của Công ty, chúng ta có
thể thấy trở ngại lớn nhất của Công ty đối với việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sang
thị trường Nhật Bản đó là vấn đề khả năng cạnh tranh của Công ty. Các sản phẩm khăn
bông của Trung Quốc mặc dù có chất lượng không cao hơn so với chất lượng sản
phẩm cuả Công ty nhưng lại có lợi thế là giá cả xuất khẩu rẻ hơn. Trong khi đó để sản

xuất khăn bông xuất khẩu, Công ty phải nhập nguyên liệu từ nước ngoài, hơn nữa phải
đầu tư nhiều để đổi mới thiết bị công nghệ sản xuất nên chi phí giá thành sản xuất sản
phẩm mới đội lên cao, làm cho sản phẩm của Công ty có giá bán cao. Đặc biệt là
Trung Quốc vừa mới gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO nên thuế xuất
khẩu các sản phẩm của Trung Quốc cũng được giảm nhiều. Đây là một bất lợi lớn đối
với toàn ngành dệt may Việt Nam cũng như đối với Công ty, buộc Công ty phải có
biện pháp đối phó với vấn đề này.
Một vấn đề nan giải đối với Công ty và cũng là bài toán khó đối với các doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay đó là vấn đề thương hiệu. Trong tương lai Công ty nhất định phải
giải quyết được vấn đề này để nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty nhằm thúc
đẩy hoạt động xuất khẩu của Công ty sang thị trường Nhật Bản.
* Thị trường EU
Quan hệ thương mại Việt Nam EU đang ngày càng phát triển và có triển vọng tốt đẹp.
Hiện nay EU là thị trường nhập khẩu hàng dệt may theo hạn ngạch lớn nhất của Việt
Nam. Từ những năm 1980 Việt Nam đã thực hiện xuất khẩu hàng dệt may sang một số
nước thành viên EU như Đức, Pháp, Anh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
sang EU đặc biệt phát triển mạnh từ khi có hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam
EU.
Đối với Công ty dệt Minh Khai, thị trường EU chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng
kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường của Công ty. Theo đánh giá của Công ty phần
tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU chỉ đạt khoảng 3-5% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu.
Công ty xuất khẩu sang thị trường EU các mặt hàng khăn tắm, khăn mặt, khăn ăn,
thảm chùi chân, áo choàng tắm và một số loại khăn Jacquard.
Qua bảng 2, ta thấy kim ngạch xuất khẩu vào EU của Công ty không ổn định mức tăng
trưởng hàng năm không đều, biến đông tăng giảm khác nhau. Năm 1998 kim ngạch
xuất khẩu vào EU của Công ty đạt 118.402USD. Tuy đây là con số còn khá khiêm tốn
song cũng đẫ nói lên thành công bước đầu của Công ty trong quá trình thâm nhập vào
EU. Vì EU là thị trường khá mới mẻ đối với Công ty nên hiểu biết về thị trường này
còn nhiều hạn chế. Thông tin mà Công ty có được về thị trường EU chủ yếu là từ các

ấn phẩm tạp chí của bộ thương mại và các Công ty của các thương nhân Việt kiều
sống ở các nước EU.
Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu sang EU tăng lên 302.100USD. Đây là một dấu hiệu
đáng mừng, cho thấy Công ty hoàn toàn có khả năng thâm nhập vào thị trường EU.
Tuy nhiên sang những năm tiếp theo thì kim ngạch xuất khẩu vào EU của Công ty lại
bị giảm xuống. Năm 2000 giá trị kim ngạch xuất khẩu sang EU là 206.140USD năm
2001 có tăng lên đôi chút, đạt 250.000USD và trong năm 2002 vừa qua kim ngạch
xuất khẩu lại giảm xuống chỉ đạt ở mức 220.000USD.
Nguyên nhân của sự giảm sút trong kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang EU là do:
- Năm 2000 đồng EURO của Châu Âu bị sụt giảm giá trên 20% so với đồng
USD. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc nhập khẩu và tiêu thụ hàng hoá
nhập khẩu nói chung và hàng dệt may nói riêng của Việt Nam trên thị trường này.Vì
thế số lượng sản phẩm xuất khẩu của Công ty dệt Minh Khai cũng bị giảm xuống.
- Sau khủng hoảng khu vực các nước xuất khẩu hàng dệt may lớn như Indonesia,
Thái lan, ấn độ, đã phục hồi, cùng với Trung Quốc bắt đầu các chương trình phát
triển mới mạnh mẽ hơn trước đây bằng việc đổi mới công nghệ, trang thiết bị, khuyến
khích đầu tư, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực nên đã nâng cao chất lượng, hạ giá
thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh cho các sản phẩm của họ. Trong khi đó Việt
Nam, sau cuộc khủng hoảng thì giá nhân công Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất hàng
dệt may xuất khẩu lại trở nên cao hơn so với Trung Quốc và các nước khác trong khu
vực. Do đó giá hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực
khoảng 10-15% và cao hơn giá hàng Trung Quốc 20%. Hơn nữa, năng suất lao động
công nhân Việt Nam còn thấp chỉ bằng 50-70% so với các nước trong khu vực. Với
khả năng xuất khẩu hàng dệt may như vậy Việt Nam không thể tránh khỏi sự cạnh
tranh gay gắt với các đối thủ cạnh tranh lớn mạnh trên thị trường EU.
- Việt Nam mới thâm nhập vào thị trường EU nên hiểu biết về thị trường của
Công ty còn quá ít ỏi, thiếu thông tin về thị trường giá cả, thị hiếu và mặt hàng được
ưa chuộng, kinh nghiệm thương trường còn thiếu. Công ty thực hiện xuất khẩu sản
phẩm sang thị trường EU chủ yếu thông qua một số các Công ty thương mại trung gian
trong nước như Tổng công ty dệt may Việt Nam Vinatex, Tổng công ty xuất nhập

khẩu mỹ nghệ Artexport và các công ty của thương nhân Việt kiều. Không có điều
kiện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên Công ty thiếu sự hiểu biết về nhu cầu và sở
thích thực sự của người tiêu dùng trong cộng đồng các nước EU. Tuy nhiên Công ty
cũng có lợi thế về chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Nếu thị trường Nhật Bản đã chấp
nhận sản phẩm của Công ty có nghĩa là đã tạo nên uy tín và hình ảnh cho sản phẩm
của Công ty đối với các doanh nhân trên thị trường quốc tế. Do đó khả năng thâm
nhập vào một thị trường có đòi hỏi chất lượng cao như EU là hoàn toàn có thể được
hiện thực hoá.
* Thị trường Châu á
Bên cạnh hai thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất là Nhật Bản và EU, Công ty
dệt Minh Khai còn thực hiện xuất khẩu sang một số nước Châu á như Đài Loan, Hông
Kông, Hàn Quốc. Nói chung tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường các nước này là rất
thấp vì đây là những khách hàng không thường xuyên của Công ty.
Các nước này cũng là các quốc gia sản xuất và xuất khẩu khăn bông nên Công ty chủ
yếu xuất khẩu sang các thị trường này các loại sản phẩm áo choàng tắm, ga trải
giường, ngoài ra còn có một số loại khăn ăn.
Giá trị kim ngạch xuất khẩu của Công ty vào thị trường Châu á còn quá nhỏ bé chưa
xứng đáng với tiềm năng tiêu dùng của thị trường đông dân này. Năm 1998 kim ngạch
xuất khẩu của Công ty vào thị trường này là 152.700 USD đạt tỷ trọng 4,65%. Năm
1999 đạt 160.900 USD chiếm 3,94% tổng kim ngạch xuất khẩu. Theo đà tăng trưởng
này, năm 2000 kim ngạch xuất khẩu của Công ty sang các nước này đạt 168.660 USD.
Trong hai năm trở lại đây con số này lại tụt giảm. Năm 2001, mức xuất khẩu chỉ đạt
150.000 USD và sang đến năm 2002 thì giảm xuống chỉ còn 57.000 USD.
Kết quả này cho thấy mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Công ty trên thị
trường Châu á là không ổn định và có xu hướng giảm xuống. Công ty chưa chú trọng
tới việc xây dựng, củng cố và phát triển vị thế của mình và chỉ có quan hệ làm ăn nhỏ
lẻ với các khách hàng Châu á.
Tuy nhiên, lợi thế của Công ty trên thị trường này là sản phẩm áo choàng tắm. Đây là
sản phẩm cao cấp, tuy mới được sản xuất ra trong những năm gần đây nhưng đ• có
được chất lượng tốt và kiểu dáng mẫu mã đẹp hợp thời trang nên rất được người tiêu

dùng ưa chuộng.
1.2. Phân tích tình hình xuất khẩu theo mặt hàng
Từ khi nhà nước chuyển đổi cơ chế quản lý theo cơ chế thị trường, trong những năm
qua mặc dù gặp phải rất nhiều khó khăn song Công ty vẫn đứng vững được trên thị
trường, sản phẩm sản xuất ra đạt chất lượng tốt, màu sắc đẹp, độ bền cao. Mặt hàng
xuất khẩu chính của Công ty gồm có: khăn ăn, khăn mặt, khăn tay, áo choàng tắm và
một số sản phẩm khác như: thảm chùi chân, ga trải giường, khăn bếp
Ngay từ khi chuyển đổi sang kinh doanh xuất khẩu là chính, Công ty dệt Minh
Khai cũng xác định sản phẩm chính xuất khẩu của mình là khăn bông dệt các loại.
Hàng năm việc xuất khẩu sản phẩm này luôn mang lại cho Công ty nguồn lợi nhuận
xuất khẩu cao do doanh thu xuất khẩu lớn. Năm 1999 kim ngạch xuất khẩu khăn bông
đạt 3.037.000 USD. Năm 2000 do có khó khăn về thị trường và tỷ giá hối đoái không
ổn định nên kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 2.626.000 USD. Trong 2 năm vừa qua giá trị
xuất khẩu tăng lên với kim ngạch xuất khẩu năm 2001 là 3.312.960 USD và năm 2002
đạt 3.020.500 USD.
Sở dĩ nhóm sản phẩm này có giá trị xuất khẩu cao là do có sự đa dạng về kiểu dáng,
mẫu mã, màu sắc phong phú như vàng, trắng, xanh hồng Một số loại sản phẩm còn
được trang trí in hình các con giống, hoa văn rất bắt mắt do đó rất hấp dẫn và được
người tiêu dùng ưa chuộng. Hơn nữa, sản phẩm khăn bông lại có chất lượng tốt, khăn
dày dặn, thấm nước, độ mềm mại cao, tạo sự thoải mái khi sử dụng nên khả năng xuất
khẩu các sản phẩm này là rất cao và tốc độ tiêu thụ cao.
Sản phẩm áo choàng tắm là sản phẩm mới của Công ty trong những năm gần đây. Tuy
mới được đưa vào sản xuất chưa lâu song giá trị kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng áo
choàng tắm cũng đã có một vị trí đáng kể khoảng 10% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
của Công ty. Đây là loại sản phẩm cao cấp tuy có giá thành cao nhưng chất lượng tốt
nên sản phẩm rất được các khách hàng Nhật Bản, Châu á ưa chuộng. Năm 1999 giá trị
xuất khẩu áo choàng tắm đạt 405.000 USD chiếm 10% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu. Trong các năm tiếp theo tỷ trọng xuất khẩu mặt hàng này cũng chỉ dừng lại ở
mức 10%. Đó là vì hiện nay Công ty mới chỉ sản xuất được 12 loại áo choàng tắm,
kiểu dáng và mẫu mã còn thiếu đa dạng. Hơn nữa sản phẩm lại có giá bán cao phục vụ

cho nhóm người tiêu dùng có thu nhập cao là chủ yếu nên chưa mở rộng được thị
trường tiêu thụ.Vì vậy trong thời gian tới Công ty cần có hướng mở rộng thị trường
xuất khẩu cho sản phẩm này.

×