Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong đơn vị xây lắp hiện nay.DOC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (161.88 KB, 28 trang )

lời nói đầu
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là khâu hết sức
quan trọng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh của doanh nghiệp. Kết
quả của công tác hạch toán này giúp doanh nghiệp xác định tổng số hao phí của
quá trình sản xuất sản phẩm để từ đó có thể tính giá cho sản phẩm. Tuy trong
điều kiện nền kinh tế thị trờng hiện nay thì giá cả của sản phẩm là giá thị trờng -
đợc xac định qua quan hệ cung cầu nhng công tác hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm vẫn có vai trò rất thiết thực : định hớng cho doanh
ngiệp trong việc giảm chi phí sản xuất để có thể hạ thấp giá thành của sản
phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm của mình và giúp cho doanh
nghiệp thu đợc nhiều lợi nhuận.
So với trớc kia thì hiện nay công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trở nên khó khăn, phức tạp hơn nhiều do các thị trờng có liên
quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn luôn có những
biến động ảnh hởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và
công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng. Thực
tế này đòi hỏi ngời làm công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm phaỉ hết sức năng động, bám sát diễn biến của thị trờng để có thể thực
hiện hiệu quả việc hạch toán : luôn luôn chính xác, có tác dụng hạn chế những
hành vi tiêu cực và đóng góp hữu ích cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm đôí với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cũng nh những thay đổi và khó khăn của công tác hạch toán này trong
điều kiện hiện nay, em đã quyết định lựa chọn đề tài cho chuyên đề tôt nghiệp
lớp bồi dỡng kế toán trởng của mình là:
" Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong đơn vị
xây lắp hiện nay"
Trong quá trình thực hiện chuyên đề cuối khoá của mình em đã đợc hoàn
thành với sự giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo - những ngời tham gia giảng
dạy lớp bồi dỡng kế toán trởng tháng 10-2001.


Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo khác vì sự giúp đỡ
tận tình của các thầy cô giáo đối với chuyên đề tôt nghiệp của em.
Do kiến thức trong lĩnh vực Kế toán - Tài chính còn hạn chế nên bài viết
của em không thể tránh khỏi những sai sót, lệch lạc. Mong các thầy cô giáo có
những nhận xét, đóng góp cho chuyên đề của em.
1
Phần I.
Cơ sở lý luận hạch toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm trong đơn vị xây lắp hiện
nay
Đặc điểm của sản xuất xây lắp tác động đến tổ chức kế
toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng tái
sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Xây dựng cơ bản tạo cơ sở
vật chất cho toàn xã hội, tăng tiềm năng kinh tế và quốc phòng cho toàn quốc.
Vì vậy một bộ phận lớn thu nhập quốc dân và tích luỹ nói chung cùng với đầu
t và tài trợ nớc ngoài đợc sử dụng trong lĩnhvực xây dựng cơ bả
So với các ngành sản xuất khác, xây dựng cơ bản có những đặc điểm kinh tế
kỹ thuật đặc trng thể hiện rõ ở sản phẩm xây lắp với quá trình sáng tạo ra sản
phẩm của ngành.
Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc, hạng mục công trình,công
trình dân dụng và có đủ điều kiện để đa vào sản xuất, sử dụng và phát huy tác
dụng sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về nhiều mặt: kinh tế, chính
trị, mỹ thuật, và sản phẩm của nó luôn gắn liền với một địa điểm nhất định và
đợc tạo thành bằng vật liệu xây dựng máy móc và lao động.
_ Đặc điểm của sản phẩm xây dựng đợc thể hiện: sản phẩm xây lắp là những
công trình, vật kiến trúc có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính chất đơn
chiếc, thời gian sản xuất kéo dài, nơi sản xuất đồng thời là nơi tiêu thụ theo giá
dự toán, đấu thầu hoặc theo giá thoả thuận.

Sản phẩm xây dựng có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng lâu
dài, giá sử dụng lớn.
2
Mang tính chất đơn chiếc, mỗi công trình xây dựng theo gía dự toán riêng,
thiết kế kỷ thuật riêng và và tại một địa điểm nhất định.
Quá trình từ thi công xây dựng cho đến khi công trinh hoàn thành bàn
giao đào sử dụng là dài, phụ thuộc vào quy mô tinh chất phức tạp của từng công
trình.
Quá trình khở công xây dựng đợc chia thành nhiều dai đoạn, mmỗi giai
đoạn bao gồm nhiều công iệc khác nhau. Khi tiến hành từng công việc cụ thể
đôi khi chịu nhiều ảnh hửng của các yếu tố thời tiết, công trình đều đợc tiến
hành thi công theo đơn đặt hàng cụ thể phụ thuộc vào yêu cầu của khách hàng.
Dựa trên những đặc điểm riêng có của ngành xây dựng cơ bản mà công
tác tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẫm xây lắp
cũng có những phơng pháp thích hợp.
Xác định chính xác đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính
giá thành phù hợp với điều kiện thực tế của doanh ngiệp thoả mãn yêu cầu quản
lý ạt ra.
Vận dụng phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành một
cách khoa học hợp lý. Đảo bảo cung cấp đầy đủ chính xác, kịp thời các số liệu
cho công tác quản lý.
Phản ánh đầy đủ kịp thời, chính xác toàn bộ các chi phí phát sinh thực
tế.
Kiểm tra việc thực hiện các định mức về vật t, nhân công, sử dụng máy
thi công và các dự toán chi phí khác, phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch,
các khoản thiệt hại, mất mát h hỏng... trong sản xuất và đề ra các biện pháp
ngăn chặn kịp thời, đúng khối lợng công tác xây lắp hoàn thành . Địh kỳ kiểm
tra đánh giá khối lợng thi công dở dang theo đúng nguyên tắc quy định.
Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là công cụ đắc
lực trong quản trị doanh nghiệp, để thấy rõ điều đó ta đi vào nghiên cứu cụ thể

phần kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành.
3
II- chi phí sản xuất và tính giá thành.
. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất.
A.Chi phí sản xuất.
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất vì vậy trong quá trình
sản xuất để tạo ra sản phẩm. Các xí nghiệp xây lắp cũng phải bỏ ra chi phí về
lao động sống và lao động vật hoá. Trong quá trình sản xuất đòi hỏi các doanh
nghiệp phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý để tạo ra sản phẩm tốt, giá thành hạ.
Giá trị của sản phẩm đợc biểu thị bằng công thức
G = C + V + M.
G: Giá trị sản phẩm xây lắp
C: là toàn bộ giá trị t liệu sản xuất đã tiêu hao trong quá trình tạo ra.
V: Là chi phí về tền lơng, tiền công của ngờng lao động tham gia vào
quá trình sản xuất.
M: Giá trị mới do lao động sống tạo ra trong quá trình hoạt động tọ ra
sản phẩm.
Để thuận tiện cho việc hạch toán chi phí sản xuất chính xác trong xí
nghiệp xây lắp cũng tiến hành phân loại chi phí sản xuất theo những nội dung
và tiêu thức khác nhau, theo yêu cầu quản lý của xí nghiệp.
b. Phân loại chi phí sản xuất.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp có những nét không giống
với các ngành vật chất khác.Trong doanh nghiệp xây lắp việc phân loại chi phí
sản xuất theo hai tiêu thứcchủ yếu.
* Phân loại chi phí sản xuất xây lắp theo nội dung kinh tế: toàn bộ chi phí
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp đợc chia thành yếu tố sau.
Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về đối tợng lao động
nh nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, thép, sắt, xi măng, cát đá, gạch
4
sỏi... Thành phẩm và nửa thành phẩm mua ngoài nh các vật kết cấu: panen, cửa

gỗ, cửa sắt, khung nhôm kính...
+ Chi phí về nhân công: là toàn bộ số tiền công và các khoản phải trả cho
ngời lao động trong doanh nghiệp. Bao gồm: lơng chính, lơng phụ, kinh phí
công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội trích theo tỷ lệ quy định (19%) so
với quỹ lơng.
+ Chi phí về khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số phải trích khấu hao
trong kỳ đối với các loại TSCĐ trong đơn vị xây lắp.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền trả cho dịch vụ mua
ngoài, thuê ngoài phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. VD:
điện, nớc, TSCĐ, điện thoại...
+ Chi phí bằng tiền khác: là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp ngoài và yếu tố chi phí trên.
Phân loại chi phí theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí cho phép
chúng ta biết đợc tỷ trọng từng loại chi phí. Phục vụ cho yêu cầu thông tin và
quản trị doanh nghiệp để phân tích tình hình dự toán, lập dự toán cho chi phí
sản xuất kỳ sau.
* Phân loại chi phí theo khoản mục giá thành
Do đặc điểm của ngành XDCB và phơng pháp lập dự toán trong XDCB là
dự toán đợc lập cho từng đối tợng xây lắp theo các khoản mục. Nên trong
doanh nghiệp xây lắp chủ yếu phân loại theo khoản mục, giá thành. Theo ph-
ơng pháp này chi phí sản xuất đợc chia thành chi phí sản xuất và chi phí chung.
- Chi phí trực tiếp bao gồm:
+ Chi phí nguyên vật liệu: là chi phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật
liệu phụ, vật luân chuyển (ván, khuôn, cây trồng)...cần thiết để tạo nên sản
phẩm xây lắp. Chi phí nguyên vật liệu trong xây lắp không bao gồm chi phí
nguyên vật liệu đã tính và chi phí chung đã tính vào chi phí máy thi công.
5
+ Chi phí nhân công: Bao gồm tiền lơng cơ bản và các khoản phụ cấp
theo chế độ hiện hành.
+ Chi phí sử dụng máy thi công là chi phí bỏ ra trong quá trình sử dụng

máy thi công để hoàn thành sản phẩm xây lắp bao gồm.
Chi phí khấu hao cơ bản.
+ Chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa nhỏ, bảo dỡng máy..v.v...
+Chi phí về động lực mua ngoài.
+ Chi phí thờng xuyên
+ Chi phí tạm thời
+ Các chi phí khác bằng tiền.
+ Chi phí sản xuất chung: Theo quyết định số 1864/1998/QĐ/BTC ngày
16/12/1998gồm:
- Chi phí nhân viên phân xởng.
- Chi phí nguyên vật liệu
- Chi phí dụng cụ sản xuất
- Chi phí TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí bằng tiền khác.
Trong giá thành dự toán, chi phí sản xuất chung đợc tính bằng tỷ lệ %
theo từng loại hình công trình so với chi phí nhân công.
c. Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất.
Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất là một phơng pháp hoặc một hệ
thống các phơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại chi phí sản xuất theo
nội dung kinh tế và khoản mục giá thành trong phạm vi giới hạn của hạch toán
chi phí.
Phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất phải đảm bảo những nguyên tắc chi
phí vào giá thành sản phẩm. ĐIều này có ý nghĩa rất to lớn trong việc tính đúng
6
tính đủ và hợp lý vào giá thành sản phẩm. Vì vậy các nhà quản lý phải lựa chọn
phơng pháp hạch toán chi phí thích hợp cho đơn vị mình. Dựa vào đối tợng tập
hợp chi phí trong đơn vị xây dựng cơ bản là các hạng mục công trình thì hàng
tháng căn cứ vào các nghiệp vụ kinh tế có liên quan đến công trình nào thì tập
hợp chi phí cho các công trình đó.

Trong trờng hợp doanh nghiệp xác định đối tợng tập hợp chi phí theo đơn
đặt hàng thì chi phí phát sinh sẽ đợc tập hợp theo từng đơn đặt hàng. Và nh vậy
tổng số chi phí sản xuất tập hợp từ khi khởi công đến khi hoàn thành toàn bộ
đơn đặt hàng chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.
Nếu đối tợng tập hợp chi phí là đội thi công hay công trờng thì chi phí đ-
ợc tập hợp theo đội hay công trờng đó. Cuối kỳ tổng số chi phí đợc tập hợp theo
phân bổ theo từng công trình để tính giá thành riêng.
2. Giá thành, phân loại giá thành
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ các chi phí tính bằng tiền để hoàn
thành khối lợng xây lắp theo quy định.
Theo thông t số 08/1999/TT-BXD ngày 16/11/1999 thì dự toán xây lắp
gồm các khoản mục:
Chi phí vật liệu
Chi phí nhân công
Chi phí máy thi công
Chi phí chung.
Thu nhập chịu thuế tính trớc.
Thuế giá trị gia tăng đầu ra.
* Phân loại giá thành: trong xây dựng cơ bản chúng ta thờng sử dụng các
loại giá thành sau:
Giá dự toán: là tổng số chi phí tính trớc để hoàn thành số lợng xây lắp
công trình. Giá này đợc xác định trên cơ sở khối lợng công tác xây lắp tính theo
7
thiết kế, đơn giá xây dựng cơ bản do uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, định
mức chi phí chung, thu nhập chịu thuế tính trớc ra thuế giá trị gia tăng đầu ra.
- Giá kế hoạch: là giá đợc xác định xuất phát từ những điều kiện cụ thể
của một xí nghiệp. Trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức và đơn giá áp
dụng trong nội bộ xí nghiệp. Giá thành thực tế: phản ánh toàn bộ các chi phí
thực tế để hoàn thành bàn giao khối lợng xây lắp mà doanh nghiệp đã nhận
thầu (giá đấu thầu). Giá này bao gồm các chi phí theo định mức, các khoản bội

chi về vật t lao động, tiền vốn trong quá trình thi công đợc phép tính vào giá
thành.
Giá thành thực tế đợc xác định theo số liệu của kế toán tập hợp đợc.
Ba loại giá trên nếu xét về thời gian ta thấy: giá thành dự toán đợc tính trớc khi
tiến hành thi công và trớc cả giá thành kế hoạch vì giá thành kế hoạch đợc tính
trớc khi bắt đầu sản xuất của kế hoạch. Giá kế hoạch chính là mục tiêu phấn
đấu của đơn vị để tiết kiệm đợc chi phí sản suất, hạ giá thành sản phẩm. Giá
thành thực tế phản ánh tổng hợp kết quả phấn đấu của đơn vị. Về nguyên tắc
khi xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giá thành phải theo nguyên tắc.
Zthực tế < Z kế hoạch < Z Dự toán.
Có nh vậy đơn vị mới bảo đảm kinh doanh có lãi, có tích luỹ cho xí nghiệp và
nộp ngân sách Nhà nớc.
Ngoài ba loại giá thành trên, do đặc điểm xây dựng cơ bản và do yêu cầu quản
lý vốn trong xây dựng cơ bản đòi hỏi phải chặt chẽ và kịp thời nên trong giá
thanàh còn tồn tại hai chỉ tiêu sau.
+ Giá thành khối lợng hoàn chỉnh: là giá thành của công trình đã thi công đến
giai đoạn cuối cùng phù hợp với tiêu chuẩn thiết kế đã đợc cả hai bên A và bên
B tổ chức kiểm nhận và thanh toán, bàn giao cho đơn vị sử dụng.
Giá thành khối lợng xây lắp hoàn chỉnh có u điểm ở chỗ nó phản ánh chính xác
kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị. Tuy nhiên nói không phản ánh kịp thời
giá thành trong quá trình thi công, do đó không đáp ứng kịp thời yêu cầu thông
8
tin trong quản lý vốn xây dựng cơ bản. Để khắc phục nhợc điểm đó ngời ta sử
dụng giá thành khối lợng hoàn thành quy ớc.
- Giá thành khối lợng hoàn thành quy ớc: là giá của các khối lợng xây lắp hoàn
thành đến giai đoạn quy ớc, thoả mãn các điều kiện.
Khối lợng đó phải đo đếm đợc và phải đợc bên A công nhận hoàn thành.
Khối lợng đó phải đạt độ dừng nhất định về kỹ thuật, đạt giá trị sử dụng.
3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
Giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

trong quá trình sản xuất ra sản phẩm. Chi phí biểu hiện mặt hao phí còn giá
thành biểu hiện mặt kết quả của sản xuất. Đây là hai mặt thống nhất của cùng
một quá trình vì giữa chúng có những điểm giống nhau và khác nhau.
Giống nhau: chúng đều là các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà
đơn vị đã bỏ ra trong quá trình sản xuất thi công.
Sự thống nhất về lợng xảy ra trong trờng hợp toàn bộ đối tợng đều khởi công và
hoàn thành trong một kỳ.
Khác nhau: giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp thờng không
thống nhất với nhau về mặt khối lợng bởi vì gía thành sản phẩm xây lắp trong
kỳ này có thể bao gồm cả chi phí sản xuất dở dang kỳ trớc.
Tổng giá thành =chi phí dở dang + chi phí sản xuất - chi phí sản xuất dở dang
sản phẩm đầu kỳ phát sinh trong kỳ cuối kỳ
Hơn nữa mối quan hệ này còn thể hiện ở chỗ: tài liệu hạch toán chi phí sản xuất
là cơ sở để tính giá thành sản phẩm. Nếu xác định công việc tính giá thành sản
phẩm là công việc chủ yếu trong hạch toán kế toán thì hạch toán chi phí sản
xuất có tác dụng quyết định đến tính chính xác của giá thành sản phẩm xây lắp.
III. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Nh ta đã biết dự toán công trình cơ bản đợc lập theo từng hạng mục công trình
và đợc phân tích theo từng khoản mục chi phí. Do đó việc hạch toán chi phí sản
9
xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp cũng phải đợc phân tích theo từng
khoản mục chi phí để có thể so sánh, kiểm tra việc thực hiện dự toán, thiết kế
của hạng mục công trình (một bộ phận quan trọng trong giá trị hợp đồng kinh
tế ký kết nhận thầu xây dựng) và phân tích đánh giá hiệu quả của quản lý.
1. Phơng pháp hạch toán khoản mục giá thành xây lắp
a . Phơng pháp kê khai thờng xuyên
- Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
+ Vật liệu là loại tài sản tồn kho thuộc tài sản lu động, là một trong những yếu
tố cơ bản của quá trình sản xuất. Là cơ sở vật chất tạo nên sản phẩm mới.Trong
xí nghiệp xây lắp, vật liệu thờng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí. Vì

vậy tập trung sản xuất tiết kiệm vật t là nỗ lực phấn đấu hạ giá thành sản phẩm.
+ Nội dung khoản mục chi phí vật liệu trong giá thành sản phẩm xây lắp bao
gồm giá trị thực tế của vật liệu chính nh: xi măng, sắt, đá, cát...
Vật liệu phụ, các cấu kiện luân chuyển cần cho việc thực hiện và hoàn thành
khối lợng xây lắp (không kể vật liệu phụ cho máy móc, phơng tiện thi công và
những vật liệu tính trong chi phí chung)
+ Nguyên tắc hạch toán: vật liệu sử dụng cho xây dựng hạng mục công trình
nào phải tính trực tiếp cho công trình đó trên cơ sở chứng từ gốc theo giá thực
tế và số lợng thực tế đã sử dụng.
Cuối kỳ hạch toán và khi hoàn thành hạng mục công trình nào phải tínhtrực
tiếp, kiểm kê số lợng vật liệu còn lại để ghi giảm trừ chi phí vật liệu đã tính cho
công trình đó nếu điều kiện sản xuất thực tế không cho phép tính trực tiếp chi
phí vật liệu cho từng đối tợng thì áp dụng phơng pháp phân bổ theo khối lợng
sản phẩm.
+ Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 621
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Bên nợ: trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động
xây lắp (gồm có thuế VAT) hoặc không có thuế VAT:
10
Bên có giá trị nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết nhập lại
kho.
Kếtchuyển và phân bố trị giá nguyên vật liệu, vật liệu thực tế sử dụng
trong xây lắp trong kỳ vào tài khoản 154,TK621, không có số du cuối kỳ.
+ Trình tự hạch toán.
Xuất nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho hoạt động xây lắp
Nợ TK 621(giá cha có thuế VAT)
Có TK 152,153
Những nguyên vật liệu mua về không nhập kho sử dụng ngay cho công
trình.
Nợ TK 621

Nợ TK 133
Có Tk111,112,331,311v,v...
Nếu doanh nghiệp mua nguyên vật thuộc đối tợng không chịu thuế VAT
Nợ TK621 ( giá có thuế VAT)
Có TK 111,112,331
Cuối kỳ vật không dùng hết nhập kho.
Nợ TK 152
Có TK 621
- Chi phí nhân công trực tiếp: Phản ánh lao động trực tiếp tham gia vào quá
trình hoạt động xây lắp. Chi phí lao động trực tiếp bao gồm cả các khoản phải
trả cho ngời lao động thuộc quản lý của doanh nghiệp và cho lao động thuê
ngoài cho từng loại công việc.
+ Nguyên tắc hoạt động: Không hạch toán vào TK này những khoản phải trả
về tiền lơng và các khoản phụ cấp.v.v...cho nhân viên quản lý văn phòng của bộ
máy quản lý doanh nghiệp hoặc bộ phận bán hàng.
11
Riêng đối với bộ phận xâ lắp, không hạch toán vào tài khoản này khoản
trích BHXH, BHYT, CFCĐ Tính trên quỹ lơng công nhân trực tiếp của hoạt
động xây lắp.
+ Tài khoản sử dụng: 622- chi phí nhân công trực tiếp.
Bên nợ.
Chi phí nhân công trực tiếp tham gia vào qua trình sản xuất sản phẩm .
Bên có:
Kừt chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên nợ TK 154,TK 622 không
có số du cuối kỳ.
Trình tự hạch toán:
Căn cứ vào bảng tính lơng phải trả cho công nhân trực tiếp cho hoạt động xây
lắp.
Nợ TK 622
Có TK 334

Cuối kỳ kế toán phân bổ, kết chuyển chi phí nhân công theo đối tợng tập hợp
chi phí sản xuất.
Nợ TK 154
Có TK 622
- Chi phí sử dụng máy thi công: Dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng
xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình.
+ Nguyên tắc: TK này chỉ sử dụng để hạch toán chi phí sử dụng xe, máy thi
công đối với trờng hợp doanh nghiệp xây lắp thực hiện xây, lắp công trình theo
phơng thức thi công hỗn hợp vừa thủ công, vừa kết hợp bằng máy.
+ Tài khoản sử dụng: 623 - Chi phí sử dụng máy thi công
Bên nợ:
12

×