Tải bản đầy đủ (.pdf) (12 trang)

Công nghệ tác tử trong quản lý mạng Internet (Phần 2) doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (142.34 KB, 12 trang )

Công nghệ tác tử trong quản lý mạng Internet (Phần 2)
3.1.Quản lý lỗi

Phân tích chuẩn đoán hiện trạng mạng. Các phương thức được sử dụng để mô hình
hoá mạng đều có thể được sử dụng để phân tích chẩn đoán lỗi trong mạng. Việc
phát hiện các lỗi cũng là một quá trình xây dựng một mô hình đặc biệt của mạng.
Nếu các ràng buộc cho sự tìm kiếm phát hiện mô tả các xung đột được coi là bình
thường của các thành phần mạng, thì các tác tử kiểm tra các ràng buộc đó rồi mới
thực hiện chức nǎng phát hiện lỗi. Deglet có thể được sử dụng để phản ứng lại kết
quả phát hiện hoặc đưa ra các vấn đề nghi vấn. Chúng cố gắng thu thập thêm các
thông tin, thực hiện các bài kiểm tra mở rộng hoặc thi hành các tác vụ khôi phục.

Các ràng buộc không hạn chế cho một thiết bị mạng đơn lẻ nào. Chúng có thể mã
hoá các thuật toán phức tạp với chức nǎng tìm kiếm phát hiện lỗi, và chỉ có giới
hạn về kích cỡ của netlet là liên quan trực tiếp đến khả nǎng di chuyển và khả
thông của mạng. Vấn đề đó có thể được giảm thiểu bằng cách tận dụng các ưu
điểm của Java, các kĩ thuật nén mã, và các phương thức thông minh. Các cơ sở về
lý thuyết hỗ trợ kĩ thuật cho hoạt động tác tử di động cũng đang được các tổ chức
quan tâm xúc tiến nghiên cứu.

Với sự phân bố tác tử, chúng ta có một "xã hội" các tác tử có mối quan hệ với nhau
mà nhu cầu cần thiết là phối hợp để phân chia mức độ thông minh cần thiết cho
việc phân tích và phát hiện lỗi trong mạng. Một số lượng nhất định các loại tác tử tí
hon được đưa vào mạng, mỗi một loại có thể nghiên cứu giải quyết một vấn đề nào
đó, và được giải quyết bằng cách tǎng cường giả thuyết theo sự quan sát của một
số lượng lớn các tác tử cùng loại. Như vậy để có giải pháp giải quyết vấn đề trong
mạng cần kết hợp các giả thuyết được đưa ra bởi mỗi loại tác tử.

Cả hai loại tác tử netlet và deglet cùng tuân theo một cách bảo mật cung cấp trước
nào đó có thể được cho phép thực hiện các hoạt động trên các thiết bị mạng [hình
3]. Mỗi một netlet "tích cực" có thể được sử dụng để giải quyết một vấn đề nào đó


một cách tự động theo cách khôi phục ngay tức thì khi có thể. Người quản lí mạng
sẽ được thông báo về sự kiện xảy ra hoặc được cảnh báo nếu như sự khôi phục tự
động của tác tử không thực hiện được hoặc yêu cầu sự trợ giúp từ phía người điều
hành. Mức độ kĩ thuật của mạng sẽ giảm được phần nào các lỗi xuất hiện trên
mạng. Trong khi với các deglet, mà các tác vụ được uỷ quyền khi cần thiết thông
qua sự giao tiếp của tác tử với thực thể uỷ quyền thì với netlet, chúng có thể được
gán cho các tác vụ dựa theo quyền ưu tiên do người thiết kế tự đặt hoặc được khởi
động tự động như là một phần trong mạng, kết cấu tổ chức và mật độ các netlet
được điều khiển bởi các kĩ thuật bảo mật nào đó (ví dụ, tần suất di chuyển đến các
nút mạng có thể được đo và sử dụng để tái tạo hoặc kết thúc các netlet)


Sự bảo dướng duy trì từ xa với các thành phần mạng hỗn hợp Các tác tử di động
cần phải tương tác với các nút mạng thông qua một giao diện mà tại đó cung cấp
đầy đủ các phương tiện: bảo mật, truy nhập gián tiếp đến tài nguyên của nút mạng
và một số dịch vụ đi kèm khác. Giao diện này được gọi là thành phần quản lý ảo
(VMC-Virtual Managed Component): được thiết kế bởi nhà cung cấp thiết bị. Nó
có thể nằm ngay trong thiết bị hoặc trên proxy trong trường hợp thiết bị không có
khả nǎng chấp nhận tác tử di động. Trong thực tế, nhà cung cấp thiết bị mạng
thường trang bị một phương tiên cho VMC là khả nǎng tải được các dữ liệu về
trình điều khiển thiết bị (driver), và điều này làm cho việc quản lý các thiết bị được
dễ dàng hơn. Khi thiết bị được nối mạng, nó sẽ biết được các phương tiện có sẵn
được quảng bá trong mạng. Ví dụ, một tác tử làm nhiệm vụ tìm kiếm có thể sẽ yêu
cầu một danh sách các thiết bị được hỗ trợ trong mạng, người sử dụng dựa vào
danh sách các thiết bị này để kiểm tra một thiết bị cụ thể [hình 3], nếu như thiết bị
có trong danh sách thì nó được cài đặt ngay trạm. Nó có thể thi hành trên trình
duyệt Web hoặc như một chương trình độc lập. Applet cung cấp dữ liệu và các
chức nǎng thành phần mà nhà cung cấp đã trang bị phù hợp với thiết bị: có thể đơn
giản chỉ là danh sách thiết bị đơn giản hoặc đồ hoạ của thiết bị phần cứng hoặc các
dịch vụ.


Nếu thiết bị không cung cấp một applet đại diện, thì người điều hành phải điều
khiển thiết bị hoặc một thiết bị chung nhất (thường gọi là mặc định) được sử dung
thay thế. Đây cũng là giải pháp mà hiện nay các hệ thống quản lý mạng đang áp
dụng trong các tác tử. Một thiết bị không chỉ có phần đại diện được thực thi mà
chúng còn phải thực thi một giao thức truyền thông chẳng hạn như SNMP với
người quản lí, để có thể nhận được hoặc truyền đi các thông số về thiết bị. Chính
điều này một lần nữa đã góp phần làm cho việc quản lí mạng càng thêm lớn, phức
tạp và bất tiện hơn. Chúng ta có thể kết luận giải pháp các applet có thể tải về được
không bị những ràng buộc trên.

Một khía cạnh hấp dấn nữa cho xu hướng trên được cung cấp bởi các kho chứa các
applet trên máy chủ, ví dụ như máy chủ của nhà cung cấp thiết bị. Và giao diện
VMC được đóng gói cùng thiết bị sẽ chứa một con trỏ trỏ đến applet trên máy chủ.
Một điều hiển nhiên là nhà cung cấp có thể duy trì kho chứa applet, cập nhật và
làm cho nó thuận tiện hơn, ví dụ bằng cách sử dụng các phần mềm. Đó cũng là một
trong những xu hướng hiện nay với các thiết bị plug-n-play.

Một ví dụ khác sử dụng tác tử di động để duy trì bảo dưỡng thiết bị từ xa: cung cấp
dịch vụ video theo yêu cầu. Cùng với sự phát triển của mạng trong tương lai, mà
không phát triển về việc quản lí mạng thì một điều không thể giải quyết được đó là
việc phải gửi các nhà kĩ thuật để giải quyết các lỗi về thiết bị, do có nhiều các thiết
bị được cài đặt nằm rải rác nhiều vùng địa lý-> gây khó khǎn cho việc quản lí
mạng. Để giải quyết vấn đề này chúng ta chỉ cần gửi đi các tác tử, nó sẽ thực hiện
các bài kiểm tra phù hợp và sẽ cố gắng đưa ra các phương án giải quyết vấn đề nếu
có thể, nếu không nó sẽ thông báo để con người can thiệp. Với khả nǎng tự học thì
tác tử có thể tự bồi đắp, làm giàu thêm thư viện kiến thức của mình với các tác vụ
đã thực hiện.

3.2 Quản lí cấu hình


Các dịch vụ. Việc cung cấp dịch vụ (tất nhiên ở đây ta không xét khía cạnh cấp
dịch vụ đến người sử dụng) trong mạng viễn thông cũng như mạng Internet hiện
nay tương đối phức tạp và liên quan đến nhiều thành phần. Công việc này sẽ được
giảm nhẹ khi sử dụng các tác tử di động. Ví dụ, cung cấp PVC trong mạng ATM
(giả sử có mạng IPoATM). Người điều hành sẽ mất rất nhiều thời gian với các khái
niệm phức tạp của PVC để có thể thiết lập được kết nối giữa hai tổng đài ATM,
đặc biệt là hai tổng đài do hai hãng khác nhau cung cấp. Một hệ thống tác tử (hình
vẽ [4]) có thể làm nhiệm vụ này một cách tự động: yêu cầu thiết lập PVC được gán
cho deglet. Các dữ liệu cần thiết được trao đổi giữa các EP (endpoint) deglet lấy
thông tin đó qua VMC sử dụng một loại ontology xác định trứơc. Deglet khác lại
thông tin với người điều hành, các dữ liệu cần thiết được thu gom và hoàn thành
kết nối.

Các thành phần mạng. Cấu hình một thiết bị yêu cầu một số các thuộc tính trong
mạng và ở thiết bị phải được đặt tương tự như các thành phần mềm được cài đặt.
Ví dụ, một máy in cần có trình điều khiển nằm trên các trạm làm việc để các trạm
này sử dụng chúng. Hiện nay, người quản lý mạng phải thực hiện tất cả các tác vụ
trên một cách thủ công. Với sự phát triển của công nghệ tác tử thì việc sử dụng các
tác tử di động sẽ đem lại một viễn cảnh các thành phần mạng được thực thi theo xu
hướng cắm và chạy (plug-n-play)
Bây giờ ta phân tích kĩ hơn ví dụ nêu ở trên, cài đặt máy in trong mạng. Tác vụ này
liên quan đến mạng doanh nghiệp gồm một số các trạm làm việc với các yêu cầu
khác nhau: các trình điều khiển cần thiết cho máy in sẽ khác nhau giữa các máy
tính sử dụng Windows và OS/2, giữa các máy Maccintosh và Unix. Bây giờ ta lại
giả sử rằng mạng này lại được nối đến Internet. Để sử dụng được máy in thì các
trạm làm việc cần được cung cấp các trình điều khiển hợp lý. Nếu như máy in có đi
kèm tất cả các trình điều khiển yêu cầu hoặc hệ điều hành đã chứa các trình điều
khiển đó thì công việc cài đặt máy in trên mạng không có gì đáng nói cả, và hoán
toàn có thể quản lí được. Còn trong trường hợp không có các trình điều khiển máy

in phù hợp, thì toàn bộ quá trình cài đặt sẽ gặp nhiều khó khǎn. Sự biến đổi về topo
mạng cần được quản lí ngay cả khi các máy in và các trạm làm việc được thêm
vào: các máy in phải được cho cấp phép dịch vụ, các hệ điều hành được cập nhật.

Ta có thể mô hình hoá hệ thống quản lí cấu hình sử dụng tác tử như hình [5].

Trong đó: Execution Agent: tác tử thực thi. Monitoring Agent: tác tử giảm sát chỉ
huy.Reasoning Agent: tác tử phân tích suy luận. DBMS: hệ thống dữ liệu

Trong hình [6], chúng ta mô tả việc sử dụng các tác tử động và các tác tử tĩnh.
VMC của thiết bị mới, ở đây là máy in, bao gồm cả tác tử làm nhiệm vụ cung cấp
dịch vụ. Trên kết nối tới mạng, một số các deglet hoặc netlet được gửi đi để tìm
kiếm phát hiện các thiết bị mạng đang cần trình điều khiển máy in, sau đó nó liên
hệ với trang Web của nhà cung cấp máy in và phiên bản mới nhất của máy in sẽ
được tải về. VMC của máy in có thể chứa danh sách các thiết bị sử dụng máy in, vì
vậy nó có thể kết hợp để cài đặt các trình điều khiển mới khi cần. Máy in sẽ đǎng
kí với nhà cung cấp, khi có trình điều khiển mới, nó sẽ được tự động gửi cho tác tử
cung cấp dịch vụ cho máy in. Cũng giống như các tác tử làm nhiệm vụ phân tích
lỗi, việc quản lí cấu hình cũng cần sự kết hợp của nhiều loại tác tử đơn giản.

3.3. Quản lí hoạt động mạng

Chúng ta đều biết rằng, các khái niệm về đo kiểm đánh giá chất lượng mạng là rất
khó khǎn khi mà sử dụng một máy chủ tập trung. Trễ trên mạng là một vấn đề đối
với việc đưa ra các quyết định đo kiểm mạng. Thay vì dùng các thành phần thǎm
dò từ xa, một tác tử di động được gửi đi để thực thi sự phân tích ngay tại thành
phần được đo. Các thông tin theo cách này sẽ đúng và chính xác hơn, bởi vì chúng
không chịu ảnh hưởng của trễ trên mạng. Một kết quả tương tự có thể nhận được
khi mà tiến trình điều khiển là một phần của thành phần kiểm tra và cũng là một
phần tĩnh nằm ngay trong thành phần kiểm tra. Song giải pháp với tác tử di động là

đáng quan tâm hơn cả, do nó không đòi hỏi một tài nguyên cố định trên trạm cần
đo. Và tất nhiên việc quản lí sẽ càng đơn giản, do chúng ta hoàn toàn dễ dàng sử
dụng các tác tử tiên tiến nhất mà không mất mấy công sức, trong khi chúng ta sẽ
phải rất khó khǎn để cập nhật cho các tác tử tĩnh nằm ngay tại nơi cần đo.

Các công nghệ hot-swapping (trao đổi thông tin nóng) cũng có thể dựa trên các
đoạn mã di động. Các bảng trao đổi đựoc áp dụng để cập nhật cho các tác tử quản
lí giám sát mạng tĩnh. Nếu các tác tử này là các ứng dụng có thể mở rộng, thì các
module chứa các đoạn mã động (extlet) được sử dụng để cập nhật mà không tạm

×