Tải bản đầy đủ (.doc) (31 trang)

người bào chữa trong tố tụng hình sự việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (359.66 KB, 31 trang )


 
 
!"#$ %&'
 (
 )
*+,-
GVHD: ./0/123456
/75/8/9:/;<5/
/=56">5?@>A">
BCD*
+,-E
1

FG56
H<@IJKL&
 /=<ML=NO/L56PQ563H<R7SO/TGNFS56ULVNN9NW56/X5/YZ[
" /=<5<\@563H<R7SO/TG[
> <QL]<\5J^NFIN/75/563H<R7SO/TG'
 /H<J<^@N/G@6<GN9NW56O_G563H<R7SO/TG$ML2Q5P756/`G
PWO_G563H<R7SO/TGa
" /H<J<^@N/G@6<GN9NW56O_G563H<R7SO/TGa
> L2Q5O_G563H<R7SO/TG"A
& 6/`GPWO_G563H<R7SO/TG"&
 /ZONFb56RcSP\8/=8ULVNP7Od56UeO_G563H<R7SO/TGP7
@fNY9]<g556/0/S75N/<\5"#
" /T56/b5O/gOK5]/hO8/WO"i
> 6L2.55/j5O_G5/T56/b5O/g"k
& fNY9]<g556/0/S75N/<\5>'
gNULV5&A
7<U<\LN/G@]/cS&"


2
lm
Quyền bào chữa là một quyền dân chủ trọng yếu của công dân. Để đảm
bảo người bị buộc tội thực hiện một cách có hiệu quả nhất quyền bào chữa của mình
thì cần thiết phải cho phép họ được nhờ người khác bào chữa cho họ. Chính vì vậy mà
ngay sau khi thành lập chính quyền cách mạng, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã kí sắc lệnh số 46/SL trong đó quy định tạm thời duy trì các tổ chức luật sư của
chế độ cũ nhằm kịp thời bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội. Và ngay cả
trong những giai đoạn đất nước phải trải qua cuộc kháng chiến khốc liệt, Nhà nước ta
vẫn luôn quan tâm tới việc duy trì các tổ chức luật sư, bào chữa viên nhân dân để làm
nhiệm vụ bào chữa và bảo về quyền lợi cho người bị buộc tội. Tuy rằng phải đến khi
Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 được ban hành thì vị trí, vai trò của
người bào chữa mới chính thức được ghi nhận về mặt lập pháp, nhưng lịch sử tố tụng
hình sự của nhà nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung đã khẳng định vai trò to
lớn của người bào chữa đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
cũng như đối với việc bảo đảm dân chủ trong hoạt động tố tụng hình sự và quá trình
giải quyết vụ án hình sự.
Tuy nhiên, tầm quan trọng của chế định người bào chữa và vai trò của
người bào chữa chữa trong thực tiễn tố tụng bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn
tồn tại những hạn chế về hình thức và kém hiệu quả của hoạt động bào chữa, vai trò
của người bào chữa chưa được thể hiện đúng mực. Và khi đó sự cho phép người bị
buộc tội được quyền nhờ người bào chữa sẽ trở thành vô nghĩa, có chăng thì chỉ là sự
thể hiện dân chủ về hình thức. Xuất phát từ sự nhìn nhận một cách đúng đắn về vai trò
của người bào chữa và với chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng taị phiên tòa
cũng như nâng cao chất lượng của hoạt động tố tụng hình sự, Nhà nước ta đã chủ
trương tạo điều kiện thuận lợi để người bào chữa phát huy vai trò của mình. Chủ
trương đó đã được hiện thực hóa thông qua các quy định trong BLTTHS năm 2003 và
Luật Luật sư năm 2006.
Để có thể đưa ra nhận xét, đánh giá về giá trị thực tiễn các quy định trong
BLTTHS năm 2003 về người bào chữa, từ đó đưa ra các ý kiến đóng góp vào quá trình

cải cách, hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự thì nhất thiết phải có sự nghiên cứu
những vấn đề lý luận, thực tiễn hoạt động của người bào chữa cũng như các quy định
của pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến chế định người bào chữa.
Từ những lý do trên, nhóm chúng em đã chọn “Người bào chữa trong tố tụng hình
sự Việt Nam” làm đề tài cho bài tiểu luận.
3
 /=<ML=NO/L56PQ563H<R7SO/TGNFS56ULVNN9NW56/X5/YZ
" /=<5<\5563H<R7SO/TG
Hiện nay, trong khoa học pháp lý và thực tiễn tố tụng có những cách hiểu
khác nhau về người bào chữa. Có một số quan điểm cho rằng: “Người bào chữa là
người giúp đỡ Tòa án trong việc xác định tất cả các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối
cùng Tòa án ra một bản án có căn cứ và đúng pháp luật”. Một tác giả khác còn khẳng
định rõ hơn rằng: “Người bào chữa là người tham gia tố tụng để giúp đỡ Tòa án”.
Ngoài ra, cũng có không ít người vẫn quan niệm người bào chữa là “thầy cãi”…
Những cách hiểu nói trên là không chính xác, chưa làm rõ được khái niệm,
vị trí, vai trò, chức năng của người bào chữa cũng như chưa phân biệt được người bào
chữa với người tiến hành tố tụng, với người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Thật ra,
người bào chữa là người tham gia tố tụng (NTGTT) không có quyền và lợi ích liên
quan đến vụ án. Họ tham gia tố tụng là nhằm để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
cho người bị buộc tội. Người bào chữa không phải là người tiến hành tố tụng mà chỉ là
người tham gia tố tụng. Từ “tham gia” nói lên tính chất, vai trò của người bào chữa.
“Người tham gia” chỉ là người góp phần hoạt động của mình vào một hoạt động
chung nào đó, do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiến hành. Hơn nữa,
người bào chữa không phải là người được nhân danh quyền lực nhà nước và không
được sử dụng quyền lực nhà nước như những tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, cũng
không thể đồng nhất khái niệm người bào chữa với người bảo vệ quyền lợi của đương
sự. Và trong BLTTHS 2003 đã có sự phân biệt giữa người bào chữa với người bảo vệ
quyền lợi của đương sự. Tiêu chí để phân biệt chính là chức năng của họ và đối tượng
mà họ bào chữa, bảo vệ. Người bào chữa tham gia tố tụng chủ yếu để chứng minh sự
vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trong khi đó, người

bảo vệ quyền lợi cho đương sự tham gia tố tụng chủ yếu là để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp về dân sự cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Như đã trình bày, người bào chữa không có quyền và lợi ích trong vụ án
hình sự. Việc họ tham gia tố tụng bất luận trong trường hợp nào cũng chỉ để nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội. Cơ sở cho sự hiện diện của họ
trong tố tụng hình sự xuất phát từ hợp đồng bào chữa giữa họ với người bị buộc tội
(hoặc với người đại diện hợp pháp của người bị buộc tội) và phải được sự chấp thuận
của cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT). Trong trường hợp đặc biệt do BLTTHS quy
định, nếu người bị buộc tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào
chữa thì các CQTHTT yêu cầu Đoàn Luật sư cử người bào chữa cho họ và dĩ nhiên
ngay trong trường hợp này sự tham gia của người bào chữa cũng phải được sự đồng ý
của người bị buộc tội.
4
Tuy BLTTHS không nếu khái niệm thế nào là người bào chữa, nhưng căn cứ
vào quy định tại các Điều 56, 57 và 58 BLTTHS thì, người bào chữa là người được
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ, những người khác
được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo uỷ quyền mời hay được cơ quan tiến hành tố tụng
yêu cầu Đoàn Luật sư phân công; Văn phòng luật sư cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử để bào chữa cho người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự (TNHS) cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp
lý. Vậy cơ bản có thể thấy rằng “Người bào chữa trong tố tụng hình sự là NTGTT để
chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội,
giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ,
thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
> <QL]<\5J^NFIN/75/563H<R7SO/TG
Điều kiện trở thành người bào chữa là tổng hợp những yêu cầu, đòi hỏi mà
khi hội đủ những yêu cầu đòi hỏi đó một người có thể tham gia tố tụng với tư cách
người bào chữa. Theo các quy định của pháp luật hiện hành thì để trở thành chủ thể

tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa phải hội đủ các điều kiện sau đây:
/n5/oN$8/c<N/LfO@fNNFS56RGJ9<N3p56ML2J05/Nb<]/Sc5"$
<QL'#, Như vậy, người bào chữa có thể là:
1. Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định
của Luật luật sư 2006, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng.
Theo quy định tại Điều 10 Luật luật sư 2006 thì tiêu chuẩn của luật sư là công
dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có
phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã
qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư
thì có thể trở thành luật sư. Điều kiện hành nghề Luật sư theo quy định tại Điều
11 Luật luật sư là “phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn
luật sư”. Luật sư là người bào chữa chuyên nghiệp. Pháp lệnh tổ chức luật sư
1987 đã quy định một trong những hình thức giúp đỡ pháp lý chủ yếu của luật
sư là tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa. Thực tiễn hoạt động tố
tụng hình sự ở nước ta cũng cho thấy sự hiện diện của luật sư với tư cách là
người bào chữa trong các vụ án hình sự ngày càng phổ biến.
2. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố
tụng hình sự thường là những người ruột thịt, thân thích của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo như bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, người đỡ đầu, anh, chị em ruột và
những người theo quy định của pháp luật đối với bị can bị cáo là người chưa
thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần. Người đại diện hợp
pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không bào chữa cho bị cáo thì họ
5
cũng có những quyền như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, họ tham gia tố tụng
với tư cách là người đại diện hợp pháp, nếu họ tham gia tố tụng với tư cách là
người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đối với người bào chữa. Thực
tiễn xét xử cho thấy, việc xác định người đại diện hợp pháp của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo không khó nhưng lại khó ở chỗ: người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo là người đã thành niên không có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần mà
người thân thích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo tuy không phải là Luật sư,

bào chữa viên nhân dân nhưng lại yêu cầu được bào chữa cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo vì họ là người có trình độ pháp lý, đã từng hoạt động trong các cơ
quan pháp luật nay nghỉ hưu. Vậy những người này có được bào chữa cho
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hay không? Về vấn đề này, tuy còn nhiều ý kiến
khác nhau, nhưng thực tiễn xét xử Toà án đã công nhận và cấp giấy chứng nhận
cho họ để họ thực hiện việc bào chữa cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhất thiết
phải là người đã có đủ năng lực hành vi dân sự, có quốc tịch Việt Nam và cư trú
tại Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác đối với người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo là người có quốc tịch nước ngoài, người không có quốc tịch
hoặc là người Việt Nam ở nước ngoài.
3. Bào chữa viên nhân dân là người được đại diện cho cơ quan, tổ chức nơi
bị can cư trú, hoặc làm việc như đại diện đại diện Công đoàn, Đoàn thanh niên,
Hội phụ nữ, v.v. có khả năng bào chữa và được cơ quan tiến hành tố tụng công
nhận. Hiện nay chưa có quy định cụ thể về bào chữa viên nhân dân và trong
thực tế hoạt động của bào chữa viên nhân dân cũng không được tổ chức thành
một hệ thống, điều kiện để trở thành bào chữa viên nhân dân cũng không được
quy định, trong khi đó trong xã hội có nhiều người có trình độ pháp lý có hiểu
biết về công việc bào chữa nhưng họ chưa được kết nạp vào đoàn Luật sư và họ
lại được bị can, bị cáo nhờ bào chữa. Căn cứ vào hướng dẫn của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày
02-10-2004 về quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự thì một
người được coi là bào chữa viên nhân dân khi người đó được Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho
thành viên của tổ chức mình.
/n/G<$8/c<J3pO@H</SqOJ3pOOr
Những người thuộc ba đối tượng nêu trên để trở thành người bào chữa phải
được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mời (có thể do thân nhân của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo mời nhưng phải được sự đồng ý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo). Việc
mời này phải là mời đích danh (có thể thông qua Đoàn luật sư) và phải thể hiện bằng

6
văn bản. Trong các trường hợp bào chữa bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 57
BLTTHS 2003 thì điều kiện đối với luật sư là phải được Đoàn luật sư phân công văn
phòng luật sư cử, đối với bào chữa viên nhân dân là do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, tổ chức thành viên của mặt trận cử. Trường hợp này vẫn cần có sự đồng ý của bị
can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ thông qua việc không yêu cầu thay đổi
hoặc từ chối bào chữa.
/nRG$8/c<J3pOOo86<o2O/n565/V5R7SO/TG
Việc được mời hoặc được cử chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ để trở thành
người bào chữa là phải được CQTHTT cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Tương
ứng với từng giai đoạn tố tụng, giấy chứng nhận người bào chữa có thể do cơ quan
điều tra (CQĐT), viện kiểm sát (VKS), tòa án cấp. Tuy nhiên, BLTTHS 2003 lại
không quy định cụ thể giấy chứng nhận bào chữa do CQĐT, VKS, tòa án cấp có giá trị
trong suốt quá trình từ khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm
hay chỉ có giá trị trong từng giai đoạn tố tụng và khi chuyển sang giai đoạn tố tụng
khác phải cấp giấy chứng nhận bào chữa khác. Trên thực tế, CQĐT xác định giấy
chứng nhận người bào chữa được cấp trong giai đoạn tố tụng nào chỉ có giá trị trong
chính giai đoạn tố tụng ấy và khi chuyển sang giai đoạn tố tụng khác phải cấp giấy
chứng nhận bào chữa khác. Điều này đã gây không ít khó khăn cho hoạt động của
người bào chữa. Khắc phục tình trạng đó, Luật luật sư 2006 quy định cụ thể tại khoản
4 Điều 27 như sau: “Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luât sư có giá trị trong các
giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật sư bị thay đổi hoặc không được tham
gia tố tụng theo quy định của pháp luật”.
/nN3$]/d56N/LfOO=ONF3H56/p8]/d56J3pOR7SO/TGN/sSML2
J05/O_G8/=8ULVN
Theo khoản 2 điều 56 BLTTHS thì những người sau đây không được bào
chữa:
- 63H<JtN<g5/75/N9NW56NFS56PW=5Juv563H<N/j5N/;O/O_G563H<Jt
/SqOJG56N<g5/75/N9NW56NFS56PW=5Juv
+ Đối với người đã tiến hành tố tụng trong vụ án: Quy định này nhằm đảm

bảo sự vô tư, khách quan khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa. Một vụ án có thể
trải qua nhiều giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc
thẩm… và trong những trường hợp hủy án để điều tra lại hoặc xét xử lại, quy
trình có thể lặp lại nhiều lần. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án là người
mà trong các giai đoạn tố tụng trước họ đã tham gia tố tụng với tư cách điều tra
viên (ĐTV), kiểm sát viên (KSV), thẩm phán (TP), hội thẩm (HT), thư ký tòa
án. Những người này trong quá trình tiến hành tố tụng, tiếp xúc với hồ sơ vụ án
và với tư cách là người buộc tội hoặc người xét xử, ít nhiều họ cũng đã có
7
những định kiến về tội lỗi của người bị buộc tội. Trái lại, người bào chữa phải
là người nhìn nhận các tình tiết của vụ án trên quan điểm gỡ tội, cố gắng tìm tất
cả các tình tiết chứng cứ có thể bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ tội của người
được họ bào chữa. Do vậy, nếu quy định cho những người này tham gia tố tụng
với tư cách người bào chữa sẽ không đảm bảo chất lượng của hoạt động bào
chữa. Hơn nữa, về mặt logic, một người không thể vừa đồng thời khẳng định
một người là có tội lại vừa phải tìm cách chứng minh người đó vô tội.
+ Người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án:
Trong các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTHS không giải thích chi tiết thế
nào là người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng trong vụ án.
Nhưng căn cứ vào hướng dẫn về người thân thích của người bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bị can,
bị cáo (điểm 4b Mục 1 Nghị quyết số 03/2004/NQ – HĐTP) có thể hiểu người
thân thích của người đang tiến hành tố tụng trong vụ án là người có quan hệ sau
đây với những người này:
• Là vợ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi;
• Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột;
• Là cụ nội, cụ ngoại của một trong những người trên đây: là bác ruột, chú
ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột.
Pháp luật cấm những người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố
tụng làm người bào chữa nhằm loại trừ khả năng họ lợi dụng mối quan hệ thân

thích đó để tác động làm sai lệch hướng điều tra, sai lệch hồ sơ vụ án giúp bị
can, bị cáo thoát tội hoặc theo hướng ngược lại làm giảm hiệu quả của hoạt
động bào chữa.
Trên thực tế xảy ra trường hợp, một người đã tham gia tố tụng với tư cách
người bào chữa trong các giai đoạn trước của vụ án, giai đoạn sau người thân
thích của họ được phân công tiến hành tố tụng trong vụ án đó. Để đảm bảo
quyền bào chữa, trong trường hợp này pháp luật cho phép người đó tiếp tục
thực hiện việc bào chữa và phân công người khác không có quan hệ thân thích
với người được nhờ bào chữa thay thế tiến hành tố tụng. Các trường hợp còn
lại, nếu người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhờ có mối quan hệ thân
thích với người đã hoặc đang tiến hành tố tụng thì cơ quan có thẩm quyền từ
chối cấp giấy chứng nhận người bào chữa (điểm 1 Mục 2 Nghị quyết
03/2004/NQ – HĐTP).
- 63H<N/G@6<GNFS56PW=5JuPw<N3O=O/U7563H<U7@O/n56$563H<6<=@
J05//SqO563H<8/<.5x0O/ Họ là những chủ thể tham gia tố tụng với mục đích
góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án. Do vậy để đảm bảo cho lời khai,
8
kết quả giám định hay nội dung phiên dịch là xác thực họ phải không là bên buộc
tội cũng không là bên gỡ tội. Từ lý do đó mà pháp luật quy định người tham gia
trong vụ án với tư cách là người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và
ngược lại, người tham gia với tư cách người bào chữa thì không được làm chứng,
tiến hành giám định hay phiên dịch. Nếu đã tham gia thì phải từ chối hoặc bị thay
đổi. Vấn đề quyết định ở đây là người đó tham gia với tư cách nào trước, tư cách
tham gia trước tiên sẽ được ưu tiên hơn các tư cách khác.
Như vậy, để trở thành chủ thể tham gia tố tụng với tư cách người bào chữa
phải hội đủ tất cả 4 điều kiện trên và có các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa.
Tức là nếu thiếu 1 trong 4 các điều kiện này thì sẽ không thể trở thành người bào chữa
theo quy định của luật tố tụng hình sự.
 /H<J<^@N/G@6<GN9NW56O_G563H<R7SO/TG$O=OML2Q5P756/`GPWO_G
563H<R7SO/TG

BLTTHS 2003 đã quy định cụ thể và chi tiết về các quyền và nghĩa vụ của
người bào chữa đồng thời cũng quy định thời điểm tham gia tố tụng của người bào
chữa sớm hơn so với BLTTHS 1988. Cụ thể như sau:
" /H<J<^@N/G@6<GN9NW56O_G563H<R7SO/TG
Khoản 1 Điều 58 BLTTHS 2003 quy định: “Người bào chữa tham gia tố
tụng từ khi khởi tố bị can. Trong trường hợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và
Điều 82 của Bộ luật này thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm
giữ. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia,
thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết
thúc điều tra”.
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay, nhiệm vụ và mục đích của người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự là
làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ
TNHS của người bị tạm giữ bị can, bị cáo và giúp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về
mặt pháp lý để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Như vậy, việc mở rộng
thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa như trên là hợp lý và phù hợp với việc
ghi nhận quyền bào chữa thuộc về một đối tượng là người bị tạm giữ.
Đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia, do tính chất phức tạp và liên
quan đến nhiều vấn đề “nhạy cảm” của những vụ án này, luật quy định cho người bào
chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra. Việc hạn chế sự tham gia của người bào
chữa trong trường hợp này rõ ràng không đảm bảo nguyên tắc đảm bảo quyền bào
chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng như nguyên tắc mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật.
9
Tóm lại, thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng phụ thuộc vào ý chí của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc phụ thuộc vào quyết định của CQTHTT (trong
những trường hợp cần giữ bí mật quốc gia, v.v. và những trường hợp bào chữa chỉ
định). Theo quy định của pháp luật, kể từ thời điểm có quyết định tạm giữ, người bị
tạm giữ đã có quyền nhờ người bào chữa, kể từ thời điểm có quyết định khởi tố bị can
là bị can đả có quyền nhờ người bào chữa. Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra

đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng VKS quyết định để người bào
chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.
> L2Q5O_G563H<R7SO/TG
Theo quy định tại khoản 2, Điều 58 BLTTHS 2003 người bào chữa có
những quyền sau đây:
- Có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giam tạm giữ, khi hỏi cung bị can và
nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người tạm giữ, bị can và có mặt trong những
hoạt động điều tra khác; xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của
mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
Để tạo điều kiện cho người bào chữa thu thập chứng cứ, BLTTHS 2003 quy
định cho người bào chữa có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu được ĐTV
đồng ý thì người bào chữa có quyền đặt câu hỏi đối với người bị tạm giữ, bị can để
tạo điều kiện cho người bị tạm giữ, bị can khai báo về hành vi của mình. Thông
thường nếu được ĐTV đồng ý thì người bào chữa thường đặt các câu hỏi về những
tình tiết chứng minh người bị tạm giữ, bị can vô tội hoặc những tình tiết giảm nhẹ
TNHS cho họ mà vì lý do nào đó ĐTV không hỏi đến. Ngoài ra người bào chữa
cũng có quyền có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về
hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến
người mà mình bào chữa để thu thập chứng cứ, chuẩn bị cho luận cứ bào chữa của
mình.
Sự có mặt của người bào chữa khi hỏi cung bị can tạo nên sự an tâm về mặt
tâm lý cho bị can. Bị can an tâm vì biết mình có sự trợ giúp pháp lý từ phía người
bào chữa. Đồng thời sự có mặt của người bào chữa tạo đối trọng pháp lý đối với
cán bộ điều tra và sẽ làm cho cán bộ điều tra có trách nhiệm hơn trong công việc
của mình cũng như giúp họ tránh được những vi phạm pháp luật không cần thiết
trong khi tiến hành hỏi cung như bức cung, mớm cung.v.v… Sự có mặt của người
bào chữa trong các hoạt động của người điều tra khác cũng có những ý nghĩa và tác
dụng tương tự.
- Đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để
có mặt khi hỏi cung bị can;

10
Đây là quyền rất quan trọng để người bào chữa thực hiện tốt nhiệm vụ của
mình. CQĐT cần phải thông báo kịp thời cho người bào chữa về thời gian, địa
điểm hỏi cung bị can để người bào chữa sắp xếp công việc, tham gia vào cuộc hỏi
cung.
Đồng thời, đây là trách nhiệm của CQĐT trong quá trình điều tra vụ án.
Thực tế cho thấy, ĐTV cùng một lúc phải thụ lý nhiều vụ án, trong đó có vụ án có
bị can, người bào chữa cũng đảm nhận bào chữa cho nhiều vụ án, khi sắp xếp được
lịch làm việc của ĐTV thì người bào chữa bận, và ngược lại. Hơn nữa, không phải
mọi cuộc hỏi cung bị can người bào chữa đều phài có mặt và việc có mặt hay
không còn phục thuộc vào ý chí của họ. Do đó, việc người bào chữa có mặt khi hỏi
cung đòi hỏi phải có sự chủ động từ hai phía, khi có đề nghị của người bào chữa thì
CQĐT mới bố trí sắp xếp để họ tham gia. Đây là quy định mới trong BLTTHS
2003, BLTTHS 1988 người bào chữa không có quy định quyền này.
- Đề nghị thay đổi Người tiến hành tố tụng, Người giám định, người phiên dịch
theo quy định của Bộ luật này;
Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng (NTHTT), người giám định, người
phiên dịch nếu có căn cứ rõ rằng, những người này không vô tư, khách quan trong
việc xác định sự thật vụ án theo các căn cứ quy định tại Điều 42, 44, 45, 46, 47,
khoản 4 Điều 60, khoản 3 Điều 61 BLTTHS 2003. Ví dụ: khi có căn cứ rõ rằng,
ĐTV có mối quan hệ mật thiết với gia đình người bị hại, chịu ơn gia đình người bị
hại, người bào chữa có quyền đề nghị thay đổi ĐTV để bảo đảm tính khách quan
của hoạt động điều tra.
- Thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ việc người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ
chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tam giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí
mật của nhà nước, bí mật công tác;
Người bào chữa có quyền độc lập thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan
đến vụ án để chuẩn bị luận cứ cho bài bào chữa của mình. Đây không phải là hoạt
động tố tụng mà đơn thuần là một biện pháp để người bào chữa thực hiện nhiệm vụ

của mình.
Đây là những quyền giúp cho người bào chữa thực hiên hoạt động chứng
minh của mình có hiệu quả và đáp ứng được các yêu cầu của pháp luật tố tụng hình
sự về thực hiện chức năng gỡ tội. Quy định này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt
động bào chữa, bởi chính trong quá trình thu thập chứng cứ, người bào chữa mới
có khả năng phát hiện ra những tình tiết vụ án, từ đó mới có phương án bào chữa
nhằm bảo vệ cho thân chủ của mình. Mặt khác, với quy định này người bão chữa sẽ
11
góp phần khách quan, chính xác và đúng pháp luật trong hoạt động giải quyết vụ
án.
- Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
Quy định này được sửa đổi từ quy định về nguyên tắc đưa ra chứng cứ,
những yêu cầu trong BLTTHS 2003. Xét về mặt thuật ngữ, quy định này là chính
xác hơn bởi vì quyền thu thập chứng cứ thuộc về các CQTHTT, chỉ có CQTHTT
mới có quyền thu thập chứng cứ, người bào chữa là người tham gia tố tụng nên họ
chỉ được thu thập tài liệu, đồ vật mà thôi.
- Gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam;
Gặp người bị tạm giữ; bị can, bị cáo đang bị tạm giam để thu thập, trao đổi
thông tin giúp đỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo về mặt pháp lý. Quyền được gặp
gỡ bị can, bị cáo sẽ giúp chi người bào chữa hiểu biết về nhân thân của bị can, bị
cáo, hiểu thêm được nguyên nhân, điều kiện của những hành vi mà bị can, bị cao bị
tình nghi thực hiện…v.v. Người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam, họ bị hạn chế
về quyền tự do thân thể nên thường ở trong trạng thái hoang mang, lo sợ. Do đó,
BLTTHS cho người bào chữa có quyền gặp gỡ, trao đổi, tiếp xúc với thân chủ để
có thể nắm được thêm các tình tiết nhằm có lợi cho hướng cho thân chủ. Những
hiểu biết này cần thiết cho người bào chữa và giúp cho họ chuẩn bị kĩ càng, chu
đáo cho công việc bào chữa của mình.
- Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc
bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật;
Sau khi kết thúc điều tra, CQĐT có những thông tin tương đối đầy đủ về vụ

án. Kết quả điều tra được thể hiện trong các biên bản hoạt động điều tra, bản kết
luận điều tra. Người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và nếu cần thiết thì sao chụp
những tài liệu có trong hồ sơ liên quan đến việc bào chữa. Quy định về việc được
đọc hồ sơ, ghi chép và sao chụp những tài liệu cần thiết trong hồ sơ sau khi kết thúc
điều tra là nhằm tạo điều kiên cho người bào chữa thực hiện tốt hoạt động bào chữa
của mình.
- Tham gia hỏi và tranh luận tại phiên tòa;
Theo quy định của BLTTHS 2003, sau khi các thành viên Hội đồng xét xử
(HĐXX) và KSV đặt câu hỏi (với bị cáo hoặc người bị hại…), người bào chữa
được đặt câu hỏi đối với người bị xét hỏi để làm rõ các tình tiết theo họ là cần thiết.
Trong thủ tục tranh luận tại phiên tòa, sau khi KSV trình bày lời luận tội, người bào
chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo và tham gia tranh luận với KSV và những
NTGTT khác. Đây là quyền quan trọng nhất của người bào chữa, tất cả các hoạt
động của người bào chữa khi thu thập tài liệu vật chứng, gặp gỡ bị can, bị cáo…
đều nhằm phục vụ cho việc tranh luận tại phiên tòa.
12
Tại phiên tòa, quyền xét hỏi thuộc về những người THTT (TP, HT, KSV) và
người bào chữa. Người bào chữa tham gia xét hỏi là nhằm kiểm tra và đánh giá
những chứng cứ mà họ sử dụng cho việc bào chữa. Người bào chữa tham gia tranh
luận và đối đáp với bên buộc tội tại phiên tòa để bảo vệ quyền lợi cho thân chủ.
- Khiếu nại những quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan, người có thẩm
quyền THTT;
Người bào chữa khi thấy việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn hay những
biện pháp cưỡng chế tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không
đúng theo quy định của pháp luật (không đúng thẩm quyền, không đúng thủ tục…)
thì được quyền khiếu nại về những quyết định của cơ quan có thẩm quyên tiến
hành tố tụng. Người bào chữa có quyền khiếu nại về các hành vi tố tụng sai trái của
người có thẩm quyền. Việc khiếu nại được thực hiện theo quy định của Chương 35
BLTTHS.
- Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp bị cáo là người

chưa thành niên, hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần;
Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược
điểm về thể chất hoặc tâm thần thì người bào chữa có quyền kháng cáo bản án,
quyết định của Tòa án vì bị cáo trong những trường hợp này bị hạn chế về khả
năng nhận thức hoặc bị hạn chế về mặt thể chất làm cho họ không thực hiện được
hoặc thực hiên không tốt quyền kháng cáo của mình. Nếu bị cáo là người đã thành
niên, không có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì tự bị cáo thực hiện quyền
kháng cáo, người bào chữa không có quyền kháng cáo thay.
& 6/`GPWO_G563H<R7SO/TG
Bên cạnh việc quy định quyền của người bào chữa trong các giai đoạn thì
luật tố tụng hình sự cũng đã quy định rất cụ thể về nghĩa vụ của người bào chữa. Cụ
thể tại khoản 3, Điều 58 BLTTHS:
- Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do luật định để làm sáng tỏ
những tình tiết xác định sự vô tội của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc những
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo.
Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan
tới vụ án, thì người bào chữa có trách nhiệm giao cho CQĐT, VKS, Tòa án. Việc
giao nhận tài liệu, đồ vật đó giữa người bào chữa và CQTHTT phải được lập biên
bản theo quy định tại điều 95 của bộ luật này.
Khi tham gia tố tụng, người bào chữa được xem như một trợ thủ đắc lực về
mặt pháp lý cho người bị tạm giữ, bị can. Người bào chữa phải dành toàn bộ thời
gian, trí tuệ của mình, sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để hoàn thành
trách nhiệm bào chữa của mình. Việc bào chữa qua loa, hình thức, vô trách nhiệm
13
với số phận pháp lý của người bị buộc tội là không thể chấp nhận được và đáng bị
lên án cả về đạo đức lần pháp luật. Pháp luật chỉ ghi nhận người bào chữa có quyền
thu thập các tài liệu, các đồ vật liên quan đến việc bào chữa nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho người bào chữa hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, khi thu thập được
các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, người bào chữa phải giao lại cho các CQĐT
để đảm bảo tính hợp pháp của các tài liệu, đồ vật này cũng như cung cấp thêm các

chứng cứ giúp đỡ các cơ quan điều tra giải quyết vụ án.
- Giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ;
Giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ như tư vấn cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để họ thực hiện tốt nhất
các quyền của mình trong tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Ví
dụ: khi ĐTV có những hành vi xâm hại một cách trái pháp luật tới quyền và lợi ích
hợp pháp của bị can, người bào chữa có thể giúp bị can khiếu nại hành vi trái pháp
luật đó của ĐTV. Giúp bị can, bị cáo phản bác những đòi hỏi vô căn cứ của người
bị hại, kiến nghị việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác thay thế cho biện pháp
tạm giam…
- Không được từ chối bào chữa cho bị can, bị cáo mà mình đã nhận bào chữa
nếu không có lý do chính đáng;
Khi nhận bào chữa người bào chữa phải thực hiện nghĩa vụ đó với tinh thần
trách nhiệm cao. Việc từ chối bào chữa không có lý do chính đáng được xem là
hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp và phải bị xử lý thích
đáng.
Quy định này của pháp luật nhằm đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị
cáo và ràng buộc trách nhiệm của người bào chữa đối với thân chủ của mình. Như
vậy, người bào chữa không được tùy tiện từ chối bào chữa nếu không nêu ra được
lý do chính đáng. Lý do chính đáng có thể là: không đồng quan điểm với bị can, bị
cáo và khi đã giải thích cho bị can, bị cáo về quan điểm của mình nhưng họ vẫn
không nhất trí mà người bào chữa không bào chữa theo quan điểm của bị can, bị
cáo.
Người bị buộc tội là người cần được sự hỗ trợ rất lớn về mặt pháp lý từ
người bào chữa. Khi đã xác định tham gia vào vụ án cụ thể người bào chữa phải
thực hiện nhiệm vụ với tinh thần trách nhiệm cao. Người bào chữa không được từ
chối bào chữa ảnh hưởng đến việc bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
tạm giữ, bị cáo, bị can.
- Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng bức hoặc xúi

giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
14
Đây là một nghĩa vụ mới của người bào chữa. Việc quy định nghĩa vụ này
trong BLTTHS 2003 xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn phải xử lý đối với hành vi
làm đảo lộn sự thật, sai lệch hướng điều tra, sai lệch hồ sơ vụ án của người bào
chữa, đồng thời khẳng định mục đích tham gia tố tụng của người bào chữa là bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa bên cạnh mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị buộc tội.
Người bào chữa tham gia tố tụng mục đích lớn nhất nhằm bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội nhưng bên cạnh đó họ cũng có nghĩa vụ bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong quá trinh tìm hiểu vụ án, người bào chữa phải
tiếp xúc với nhiều người tham gia tố tụng khác nhau nên người bào chữa có thể lợi
dụng việc gặp gỡ này để mua chuộc, cưỡng ép, hoặc xúi giục người khác khai báo
gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật. Điều này rất dễ dẫn tới việc xét xử không
đúng người, đúng tội, làm sai lệch mục đích đê người bào chữa tham gia tố tụng
của Nhà nước.
- Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án;
Thông thường người bào chữa tham gia phiên tòa sơ thẩm để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Nếu vụ án được xét xử ờ cấp sơ thẩm mà có liên
quan đến bị cáo mà họ nhận bào chữa, Tòa án xét xử phúc thẩm sẽ triệu tập người
bào chữa tham gia phiên tòa đó. Đối với thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm, chỉ
trong những trường hợp cần thiết thì Tòa án mới triệu tập người bào chữa. Khi
được triệu tập ở bất cứ cấp xét xử nào, người bào chữa có nghĩa vụ có mặt theo
giấy triệu tập. Việc có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án vừa là nghĩa
vụ, vừa là quyền của người bào chữa. Họ phải có mặt theo giấy triệu tập và họ
được có mặt tại phiên tòa để thực hiện nhiệm vụ bào chữa của mình.
- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào
chữa; không được sử dụng tải liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào
mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức và cá nhân.

Người bào chữa trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do tiếp xúc với hồ sơ vụ
án, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nên biết những thông tin liên quan đến hoạt
động tố tụng. Những thông tin này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết
vụ án, nếu để lộ ra ngoài có thể gây khó khăn cho hoạt động tố tụng, cho việc
chứng minh tội phạm và người phạm tội nói riêng, cũng như cho việc đấu tranh
phòng chống tội phạm nói chung. Bên cạnh đó pháp luật cũng nghiêm cấm người
bào chữa sử dụng các thông tin thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác của cơ
quan, tổ chức, bí mật đời tư của cá nhân nhằm mục đích xâm phạm lợi ích của nhà
15
nước, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nếu người bào chữa vi phạm
thì phải chịu những chế tài do pháp luật quy định.
Trên đây là những nghĩa vụ của người bào chữa và nếu người bào chữa
không thực hiện nghĩa vụ đó, làm trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý kỉ luật, xử phạt hành
chính hoặc bị truy cứu TNHS, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
của pháp luật.
Tóm lại, BLTTHS 2003 đã quy định tương đối đầy đủ và chặt chẽ về các
quyền và nghĩa vụ của người bào chữa cũng như chế tài khi người bào chữa vi phạm
nghĩa vụ. Vấn đề còn lại là thực hiện quyền và nghĩa vụ này như thế nào. Việc thực
hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa góp phần nâng cao vị trí, vai trò
của người bào chữa trên thực tế.
 /ZONFb56RcSP\8/=8ULVNP7Od56UeO_G563H<R7SO/TGP7@fNY9]<g5
56/0/S75N/<\5
Trong 5 năm (2007 – 2011) triển khai thi hành Luật luật sư, trên cả nước đã
phát triển được gần 1.600 tổ chức hành nghể luật sư, đưa số lượng tổ chức hành nghề
luật sư trên toàn quốc từ 1300 tổ chức hành nghề luật sư năm 2006 lên 2.831 tổ chức
hành nghề luật sư năm 2011. Đội ngũ luật sư ngày càng gia tăng về cả số lượng lẫn
chất lượng. Hiện nay cả nước có khoảng 7.200 luật sư và gần 3.500 người tập sự hành
nghề luật sư. So với năm 2006 đội ngũ luật sư đã tăng hơn 4.000 người (tăng
250,78%). Việc tham gia tố tụng của các luật sư không những bảo đảm tốt hơn quyền

bào chữa của bị can, bị cáo… mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa
chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Ví dụ vụ án Mạc Kim Tôn ở Sở Giáo dục
và Đào tạo tỉnh Thái Bình, vụ án Bùi Tiến Dũng – nguyên Tổng giám đốc ban quản lý
các dự án - PMU18, hoặc các vụ án mua bán trái phép chất ma túy có tổ chức…
Nhiều luật sư đã tích cực tham gia vào quá trình tìm kiếm, thu nhập những tài liệu, tình
tiết, đưa ra những căn cứ, lập luận đầy sức thuyết phục buộc CQTHTT phải giảm án,
thậm chí tuyên trắng án trả lại sự vô tội cho những người bị oan sai. Những luật sư này
đã được báo giới hết lời ca ngợi và được thân chủ của họ xem như là ân nhân cứu
mạng. Có thể kể đến một vài tên tuổi luật sư nổi tiếng với vai trò người bào chữa:
Phạm Hồng Hải, Trần Vũ Hải, Trần Công Ly Tao, Nguyễn Đăng Trừng… Trong
nhiều vụ án, các luật sư đã thể hiện rõ nét vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
Những đóng góp của người bào chữa nói chung và luật sư nói riêng trong tố
tụng hình sự (TTHS) là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả
đáng khích lệ ấy, sự tham gia của người bào chữa trong TTHS vẫn còn nhiều tồn tại
khá nhiều hạn chế.
16
" /T56/b5O/gOK5]/hO8/WO
- b5O/gN/n5/oNC Luật TTHS quy định có ba chủ thể có khả năng tham
gia bào chữa là luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và
bào chữa viên nhân dân. Nhưng, trên thực tế, tham gia bào chữa ở các phiên tòa chủ
yếu vẫn là luật sư. Còn sự tham gia hai chủ thể còn lại chưa được thể hiện rõ nét. Họ
chỉ xuất hiện với vai trò người bào chữa ở một số tòa án ở những vùng không có hoặc
ít có luật sư.
- b5O/gN/n/G<C Số vụ án hình sự (VAHS) có người bào chữa tham gia
còn thấp so với tổng số vụ án được xét xử. Theo thống kê của Bộ tư pháp trong báo
cáo 5 năm thi hành Luật luật sư thì trong vòng 5 năm (2007 – 2011), đội ngũ luật sư
chỉ tham gia 64.173 trên tổng số 299.574 VAHS tòa đã xét xử (chiếm 21,44%). Trong
đó có 32.752 vụ án do khách hàng mời và 31.421 vụ án theo yêu cầu của cơ quan tiến

hành tố tụng.
- b5O/gN/nRGC Tỉ lệ vụ án có luật sư tham gia bào chữa cho bị can từ
giai đoạn điều tra, khởi tố còn quá thấp so với tỉ lệ VAHS có luật sư tham gia ở giai
đoạn sau. Như vậy, luật sư sẽ ít có khả năng thu thập chứng cứ, hoặc không thể thu
thập được đầy đủ chứng cứ để chứng minh sự vô tội, hay làm giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho bị can, bị cáo.
Ngoài ra còn nhiều điểm bất cập về quyền của người bào chữa có mặt khi
lấy lời khai người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can, tham gia các hoạt động điều tra
khác; quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và yêu cầu; quyền được gặp bị can, bị cáo đang bị
tạm giam; quyền của người bào chữa tại giai đoạn xét xử… dù đã được quy định trong
luật nhưng trên thực tiễn đã không được các CQTHTT thực thi một cách nghiêm
chỉnh.
- b5O/gN/nN3C chất lượng của hoạt động của người bào chữa chưa cao.
Bên cạnh những trường hợp luật sư tham gia bào chữa một cách tích cực, chủ động
vẫn còn không ít trường hợp luật sư nhận bào chữa không làm việc hết mình, chuẩn bị
bài bào chữa một cách sơ sài, hời hợt hoặc thậm chí không tham gia phiên tòa. Như
trường hợp luật sư Tống Đức Ngũ (Đoàn luật sư tỉnh Gia Lai) bị hai thân chủ tố cáo vì
đã nhận thù lao bào chữa nhưng không quan tâm tới vụ việc, không tham gia phiên tòa.
Hay trường hợp luật sư Lê Bình An bị đoàn luật sư Tp.HCM áp dụng hình thức kỉ luật
cảnh cáo vì có những sai phạm về đạo đức nghề nghiệp. Theo thống kê của Đoàn luật
sư Tp.HCM tại báo cáo “Tổng kết 5 năm thi hành Luật luật sư” thì từ năm 2007 đến
tháng 7 năm 2011, Đoàn luật sư đã có các hình thức kỉ luật với các luật sư vi phạm
Quy tắc và đạo đức nghề nghiệp luật sư khi:
• Khiển trách: 1 (luật sư).
• Cảnh cáo: 6 (trong đó có 4 luật sư, 2 tập sự hành nghề luật sư).
• Tạm đình chỉ tư cách thành viên 6 tháng: 1 (luật sư).
17
• Xóa tên: 6 (trong đó có 1 luật sư, 5 tập sự hành nghề luật sư).
Như vậy, sự tham gia của người bào chữa trong các vụ án hình sự đã ít nhiều
mang lại những cải cách to lớn trong lĩnh vực tư pháp và góp phần bảo vệ các quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, để
nâng cao vai trò bảo vệ pháp luật và công lý của người bào chữa thì cần tìm những
nguyên nhân gây ra những hạn chế đang tồn tại và ảnh hưởng đến hoạt động của người
bào chữa.
> 6L2.55/j5O_G5/T56/b5O/g
- 6L2.55/j5N/n5/oN$ xuất phát từ hình thức tố tụng của TTHS Việt
Nam.
Như chúng ta đã biết, Việt Nam theo hình thức tố tụng pha trộn, CQTHTT
bao gồm CQĐT, VKS, tòa án. Đây là ba cơ quan chính trong hệ thống tư pháp hình sự,
có vị trí, vai trò, chức năng khác nhau nhưng có chung nhiệm vụ phải phát hiện chính
xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội
phạm, không làm oan sai người vô tội.
Theo trình tự, thủ tục chung, khi có hành vi phạm tội thì trước hết CQĐT
tiến hành các hoạt động như: khởi tố, tiến hành hoạt động điều tra, sau đó khi kết thúc
điều tra và có đề nghị truy tố gửi đến VKS. Lúc này, VKS sẽ xem xét để quyết định có
truy tố bị can ra tòa bằng bản cáo trạng hay không? Tòa án sẽ nhiệm vụ xét xử và đưa
ra quyết định thông qua bản án. Cơ quan thi hành án nhận bản án và thi hành. Việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn thường do CQĐT đề nghị hoặc trực tiếp tiến hành khi
có sự phê chuẩn của VKS. VKS vừa có chức năng công tố vừa có chức năng kiểm sát
các hoạt động tư pháp.
Như vậy, có thể thấy cách thức tổ chức hệ thống tư pháp hình sự nước ta
hiện nay theo một dây chuyền cố định. Cách tổ chức như vậy tạo cho hoạt động tố tụng
được diễn ra liên tục xuyên suốt, nhưng với hàng loạt các quy định, thủ tục tố tụng
phức tạp thì chỉ cần một khâu nào đó trong “cái dây chuyền” trên “gặp vấn đề” hoặc sự
liên kết giữa các CQTHTT không đồng bộ sẽ làm ảnh hưởng đến cả hệ thống. Mà quan
trọng nhất là kết quả cuối cùng của hoạt động tố tụng. Cách thức tổ chức như vậy vô
hình chung đặt các cơ quan tư pháp về một phía và đặt những người tham gia tố tụng,
đặc biệt là bị can, bị cáo, người bào chữa về phía còn lại tạo thành hai cực đối lập
nhau. Điều này dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền của các cơ quan tư pháp mà hậu quả
là tình trạng án oan, án sai còn khá nhiều.

Giai đoạn xét xử là giai đoạn trọng tâm của quá trình tố tụng. Việc phán
quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào các kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ
sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cớ, ý kiến của KSV, của người bào chữa, bị
cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để
đưa ra bản án, quyết định đúng pháp luật. Việc thực hiện đúng những yêu cầu trên sẽ
18
đảm bảo cho phiên toàn được tiến hành công bằng và quyền, lợi ích hợp pháp của các
chủ thể tố tụng được bảo đảm. Tuy nhiên, hình thức tố tụng thiên về thẩm vấn đã làm
giảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa. Cụ thể:
• Trước khi đưa vụ án ra xét xử, CQĐT đã có nhiều thời gian để tiến hành
thẩm vấn, đặt các câu hỏi cho bị can nhằm tìm ra sự thật của vụ án. Đến
giai đoạn xét xử, theo trình tự TTHS thì HĐXX hỏi trước, sau đó đến
KSV, cuối cùng mới đến người bào chữa. Luật cũng quy định Thẩm
phán phải nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi đưa vụ án ra xét xử. Do vậy,
khi đặt câu hỏi, Thẩm phán chủ yếu đặt ra những câu hỏi xoay quanh
những vấn đề mà Thẩm phán còn thắc mắc, chưa nắm chắc sau khi
nghiên cứu hồ sơ; có khi Thẩm phán còn đặt câu hỏi nhằm khẳng định sự
buộc tội của VKS là có cơ sở. Như vậy, ngoài VKS mang chức năng
công tố thì nay lại xuất hiện một chủ thể buộc tội. Quyền lợi của bị cáo
cò cón được đảm bảo không? Trong khi đó, chủ thể đối lập, người có khả
năng đảm bảo quyền và lợi ích của bị cáo thì lại hỏi sau cùng, sau cả
VKS. Có lẽ khi này việc người bào chữa xét hỏi chỉ mang tính hình thức
là nhiều. Trong thực tế, quyền xét hỏi của người bào chữa có thể bị
HĐXX cắt bớt do thời gian xét xử đã có dự kiến trước.
• Việc tranh luận giữa bên gỡ tội và bên buộc tội tại phiên tòa cũng là một
điều đáng bàn. Như đã nói ở trên, việc VKS và Tòa án dường như đứng
về một phía cộng với việc Tòa án khó thực hiện được vai trò chủ động
điều tra công khai tại phiên tòa theo luật định, mà chủ yếu xét xử theo hồ
sơ vụ án do CQĐT và VKS chuẩn bị nên HĐXX thường nghiêng về ý
kiến và quan điểm của VKS hơn là người bào chữa. Tạo nên tình trạng

không bình đẳng giữa KSV và người bào chữa. HĐXX cũng mất đi tư
cách làm người đứng giữa hai bên, nhận định, xem xét và đưa ra quyết
định. Thật tai hại nếu hồ sơ vụ án không khách quan, bị bóp méo ngay từ
những giai đoạn đầu thì rất khó tránh khỏi việc xét xử oan sai, không
đúng sự thật.
- 6L2.55/j5N/n/G<$ xuất phát từ những hạn chế trong các quy định
pháp luật tố tụng hình sự.
Tuy đã có nhiều tiến bộ hơn so với BLTTHS 1988, nhưng BLTTHS 2003
vẫn còn một số hạn chế, cụ thể xét ở đây là các vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa
vụ của người bào chữa:
• Điều 56 BLTTHS 2003 quy định người bào chữa có thể là luật sư; người
đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên
nhân dân. Tuy nhiên, trong thực tiễn tố tụng hình sự ở nước ta, việc xem
19
xét thủ tục chứng nhận tư cách người bào chữa và các nguyên tắc, phạm
vi tham gia tố tụng của luật sư là có quy định cụ thể về tiêu chuẩn, điều
kiện hành nghề. Hai chủ thể còn lại không được quy định trong bất kì
văn bản hướng dẫn nào dẫn đến việc CQTHTT thường rất lúng túng khi
xác định điều kiện và cấp giấy chứng nhận để họ thực hiện quyền và
nghĩa vụ bào chữa. Nguyên nhân này khiến cho người đại diện hợp pháp
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân tham gia
bào chữa còn rất ít. Mà thực tế, cho dù có một số bào chữa viên nhân dân
có tham gia với tư cách người bào chữa nhưng những đóng góp của họ
trong việc bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo rất thấp do trình độ chuyên
môn còn nhiều hạn chế.
• Các quyền của người bào chữa đã được quy định tại điều 58 BLTTHS
nhưng lại chưa có các hướng dẫn cụ thể hóa những điều luật đó. Đây
chính là “lý do” để CQĐT, VKS hạn chế khả năng tham gia vào các hoạt
động điều tra của người bào chữa với lý do “gây ra những khó khăn
trong việc phát hiện tội phạm, bảo đảm bí mật điều tra, bảo quản chứng

cứ”.
- 6L2.55/j5N/nRG$ xuất phát từ ý thức và tác phong làm việc của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Như đã phân tích ở trên, dù BLTTHS đã có quy định,nhưng hiện nay vẫn
còn tồn tại rất một quan niệm không đúng của các CQTHTT khi cho rằng sự tham gia
của người bào chữa là không cần thiết.
• Trước hết là về quyền của người bào chữa là được tham gia tố tụng từ
khi khởi tố bị can, trong trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn
cấp, phạm tội quả tang thì từ khi có quyết định tạm giữ. Quy định này
đúng vì chỉ từ khi có quyết định khởi tố bị can hay áp dụng các biện
pháp tạm giữ thì mới xuất hiện hành vị buộc tội của Nhà nước đối với
một con người cụ thể và khi đó mới cần bào chữa. Tuy nhiên, trên thực
tế lại xảy ra trường hợp CQĐT để tránh “đánh rắn động cỏ”, sau khi thu
thập tương đối đầy đủ chứng cứ buộc tội, khi quá trình điều tra gần kết
thúc mới ra quyết định khởi tố bị can (khởi tố nhằm áp dụng biện pháp
tạm giam) thì sự có mặt của người bào chữa trong giai đoạn điều tra hầu
như không còn ý nghĩa. Đây là vấn đề rất khó giải quyết cả về mặt lý
luận lẫn thực tiễn bởi nó liên quan đến sự cân bằng giữa áp lực phải giải
quyết vụ án nhanh chóng, khách quan, đúng pháp luật và việc đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
• Quyền của người bào chữa có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ;
khi lấy cung bị can và nếu ĐTV đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị
20
can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác. Sự có mặt của người
bào chữa trong các buổi lấy lời khai, hỏi cung không những giúp người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo tự tin hơn khi khai báo mà còn ngăn ngừa sự vi
phạm tố tụng của cán bộ hỏi cung. Thực tiễn quy định này còn vướng
mắc là quy định không rõ ràng, trừu tượng nên việc áp dụng nó hoàn
toàn phụ thuộc vào sự “cảm thông” của ĐTV. Có trường hợp ĐTV
không cho người bào chữa hỏi mà chỉ “ngồi nghe” hỏi cung. Thậm chí

có người bào chữa còn không được tham gia khi hỏi cung bị can. Chẳng
hạn như vụ án ở Long An năm 1998, bị cáo Hồ Lê Đăng Khoa đã bị
buộc tội giết chết hai cô gái và làm bị thương ba cô gái khác. Khoa mới
mười ba tuổi, cha mẹ còn sống ở tại địa phương nhưng trong biên bản
hỏi cung không có chữ kí của luật sư hay cha mẹ của bị cáo. Hai cô giáo
do CQĐT chỉ định làm giám hộ cho biết là không hề có mặt lúc lấy lời
khai mà chỉ kí vào biên bản ĐTV đã ghi sẵn. Sau đó vụ án đã đình chỉ do
bị can dưới tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Người bào chữa muốn tham gia vào hoạt động hỏi cung thì phải biết
được thời gian, địa điểm hỏi cung. Nhưng phần lớn các ĐTV đều cho
rằng không cần thiết phải thông báo cho luật sư biết kế hoạch hỏi cung bị
can. Trong trường hợp người bào chữa tìm hiểu được thời gian, địa điểm
hỏi cung thì CQĐT cũng không muốn sự có mặt của người bào chữa nên
họ có thể sử dụng những “thủ thuật” nhằm loại bỏ sự tham gia của
người bào chữa, như hẹn ngày hỏi cung khác hoặc tạm hoãn nhiều lần
làm cho người bào chữa khó có thể có mặt khi lấy lời khai.
• BLTTHS có quy định về quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và yêu cầu nhưng
không rõ ràng và cũng không có văn bản quy định rõ ràng quyền này
được áp dụng như thế nào nên CQTHTT rất khó áp dụng trong thực tiễn.
Việc đánh giá những bằng chứng luật sư đưa ra có phải là chứng cứ hay
không còn phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của chủ thể tiến hành tố
tụng. Trong phiên tòa xét xử vụ án Năm Cam vừa qua, luật sư T đã trình
lên HĐXX một giấy nhận nợ giữa hai bị cáo Trương Thị Lan và Tôn
Vĩnh Đắc. Trong phần bào chữa của mình, luật sư T nhiều lần viện dẫn
chi tiết này, xem như một chứng cứ gỡ tội quan trọng. Tuy nhiên, Tòa đã
bác bỏ chứng cứ này của luật sư T vì “trong hồ sơ không hề thể hiện
giấy này”, đó không phải là chứng cứ do CQTHTT thu thập. Mặc dù,
BLTTHS quy định quyền đưa ra tài liệu, đồ vật nhưng không quy định
cho người bào chữa tự mình tiến hành các hoạt động điều tra để thu thập
chứng cứ, vậy người bào chữa lấy chứng cứ đâu để đưa ra trước tòa.

21
Người bào chữa thường chỉ dựa vào những chứng cứ do cơ quan điều tra
thu thập để cãi trước tòa. Thực tế là người bào chữa chưa thực sự được
tham gia một cách thuận lợi ở giai đoạn điều tra nên dù phát hiện ra
những tình tiết, căn cứ gỡ tội cho bị can, người bào chữa cũng ít có điều
kiện đưa ra tại cơ CQĐT. Mặt khác nhiều người bào chữa chưa tin tưởng
và còn e ngại CQĐT “ém” đi hoặc “giải hóa” bằng chứng do mình đưa
ra. Do vậy người bào chữa thường chờ đến khi ra tòa mới đưa những
chứng cứ mới do mình tự thu thập để HĐXX xem xét, quyết định.
• Về quyền được thông báo quyết định truy tố (điều 166 BLTTHS), quyền
được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án (điều 182
BLTTHS) và các quyết định khác. Những quyền này nằm ở giai đoạn
trước khi xét xử có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ tham gia phiên tòa
của người bào chữa. Nhưng trên thực tế chưa có một cơ chế nào đảm bảo
quyền này cho người bào chữa. Hầu như các vụ án có người bào chữa
chỉ định, tòa mới mời luật sư bào chữa cho bị cáo và có thông báo quyết
định truy tố, đưa vụ án ra xét xử cho luật sư được biết. Còn các trường
hợp bị can, bị cáo nhờ người bào chữa thì chủ yếu tự bản thân tìm hiểu
lúc nào phiên tòa mở thì tham gia hoặc thông báo thông qua bị can, bị
cáo. Cuối năm 2002, luật sư Trương Anh Dũng được người nhà thân chủ
báo một tin “khẩn” khó ngờ: “Toà đang xét xử vụ án luật sư đã nhận
bào chữa, Luật sư vội vàng chạy đến phiên tòa thì phiên tòa cũng vừa
kết thúc. Ông chỉ vừa kịp thoáng nhìn nét mặt thất vọng của bị cáo”.
Hiện nay nhiều tòa án xem xét việc bị cáo thông báo ngày xử cho người
bào chữa là nghĩa vụ của bị cáo, thậm chí có nhiều tòa không niêm yết
lịch xét xử nên người bào chữa rất khó biết khi nào toà mở phiên tòa.
Trong trường hợp bị can, bị cáo bị tạm giam mà việc gặp bị can, bị cáo
khó khăn thì người bào chữa có thể không được bị can, bị cáo thông báo
ngày xử. Hơn nữa, nếu tòa án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử muộn
cho bị can, bị cáo thì người bào chữa sẽ không có thời gian để chuẩn bị

cho việc tham gia phiên tòa. Một luật sư ở TPHCM tỏ rõ sự cảm kích khi
được một thẩm phán ở Hà Nội sợ rằng quyết định đưa vụ án ra xét xử
gởi đến không kịp nên gọi điện thông báo cho ông ngày xét xử. Tương
tự, nhiều luật sư khác cũng rất hoan nghênh tòa án nhân dân tỉnh Bình
Dương và các tòa án huyện rất chu đáo trong việc chủ động thông báo
ngày mở phiên tào cho luật sư.
Mặc dù theo quy định tại điều 190 BLTTHS nếu người bào chữa vắng
mặt thì tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử, song phải thừa nhận một thực tế
22
rằng không ít các bị cáo ra tòa hết sức ngẩn ngơ khi không thấy “vị cứu
tinh” của mình. Sự lúng túng trong trình bày, lập luận là điều dễ hiểu, vì
trước đó các bị cáo đã giao phó mọi việc cho người bào chữa để đảm bảo
quyền của bị can, bị cáo.
Trong TTHS, vai trò của người bào chữa là hết sức quan trọng. Người bào
chữa không chỉ là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo mà còn có
nhiệm vụ quan trọng là bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Song trên thực tế, không
phải bao giờ ý kiến của người bào chữa cũng được xem trọng và đánh giá đúng mức.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho người bào chữa không thể phát
huy vai trò của mình trên thực tế.
- 6L2.55/j5N/nN3$ xuất phát từ chính bản thân người bào chữa.
Như đã đề cập, mặc dù BLTTHS 2003 quy định ba đối tượng có thể trở
thành người bào chữa là luật sư, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can
bị cáo và bào chữa viên nhân dân. Nhưng trên thực tế, người bào chữa chủ yếu hiện
nay chỉ là luật sư. Theo thống kê, cả nước ta có khoảng 7.200 luật sư. Chia trên dân số
thì có chừng 1 luật sư/12.000 dân. Số lượng luật sư ở nước ta hiện nay chưa đủ để đáp
ứng nhu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng tăng của cơ quan, tổ chức, cá nhân, ngay cả
hoạt động của các CQTHTT. Trên thực tế, chỉ khoảng trên 20% vụ án hình sự trong cả
nước có sự tham gia của luật sư. Ở nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh miền núi,
vùng sâu, vùng xa, số lượng luật sư chưa đủ để bào chữa trong các vụ án bắt buộc có
sự tham gia của luật sư (án chỉ định) mà phải mời các luật sư ở địa phương khác tham

gia đã làm nhiều vụ án phải tạm hoãn, kéo dài, gây khó khăn cho CQTHTT. Sự thiếu
vắng luật sư trong nhiều vụ án hình sự đã không bảo đảm được nguyên tắc tranh tụng,
quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến chất lượng giải
quyết vụ án.
Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ luật sư cũng là điều đáng phải bàn. Số luật
sư thật sự giỏi ở nước ta hiện nay còn ít. Mặt bằng chất lượng trung bình của đội ngũ
luật sư ở mức độ trung bình so với các nước trong khu vực. Chất lượng tham gia tố
tụng của luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu tranh tụng tại phiên toà theo tinh thần cải
cách tư pháp. Các luật sư vẫn còn thiếu kinh nghiệm trong việc thu thập tài liệu, đồ
vật, tình tiết liên quan đến quá trình bào chữa, tranh luận, đưa ra yêu cầu, kiến nghị tại
phiên toà.Vai trò của luật sư với tư cách đối trọng với bên buộc tội là CQĐT, VKS
chưa được thể hiện rõ nét. Trong nhiều vụ án, phần bào chữa của luật sư chỉ vẻn vẹn
vài phút và có khi chỉ là xin HĐXX giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo vì có
nhân thân tốt, phạm tội lần đầu…
Luật sư không giống với những nghề khác. Đặc trưng của công việc liên
quan trực tiếp đến số phận pháp lý của người bị tam giữ, bị can, bị cáo. Vì vậy, đòi hỏi
23
người làm luật sư phải thật sự có cái tâm. Cái Tâm trong nghề luật, chính là lòng trắc
ẩn. Chính vì sự trắc ẩn với con người và thân phận của với số họ. Phải bằng tất cả khả
năng của mình bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người được mình bào
chữa. Theo đuổi nghề luật là sự dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh cho lẽ phải và công
bằng. Và đó, phải tiếc rằng, đó sẽ chính là nỗi khổ và sự thiệt thòi, nếu có mà mình
phải chịu đựng. Đơn giản nhất là không dứt được hay ngủ ngon giấc nếu các rắc rối
của khách hàng vẫn chưa được giải quyết; phức tạp hơn là các phiền toái do bị gây sức
ép bởi các đối tượng liên quan nào đó muốn bạn bóp méo sự thật và đi chệch con
đường công lý. Không có luật sư nào thành đạt và có uy tín xã hội mà không phải là
người có tâm lớn. Đó cũng chính là niềm tự hào hay vinh quang của nghề luật. Bởi thế,
luật sư cũng như bác sỹ, nhà giáo, xưa nay vốn là những nghề được người đời nể
trọng.
Thực tế hiện nay, vẫn còn một số luật sư coi nhẹ vấn đề đạo đức, thực hiện

những hành vị làm ảnh hưởng hình ảnh người luật sư. Một số luật sư còn có thái độ
ứng xử nghề nghiệp chưa đúng mực trong quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng và luật sư đồng nghiệp, làm ảnh hưởng đến uy tín của đội ngũ
luật sư nói chung. Một số luật sư chưa thực sự quan tâm và có ý thức trách nhiệm
trong việc tuân thủ thực hiện các quy định của Luật luật sư, tìm hiểu và thực hiện pháp
luật có liên quan như lao động, thuế, tài chính, thống kê Thực tế này dẫn đến tình
trạng một số luật sư có hành vi vi phạm các quy định của Luật luật sư về trách nhiệm,
nghĩa vụ của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và các quy định của pháp luật khác có
liên quan. Việc tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề của luật
sư vẫn chưa được nhận thức một cách đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác đối với
mỗi cá nhân luật sư trong hành nghề và trong cuộc sống. Trên thực tế, vẫn còn một số
luật sư vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thậm chí có luật sư vi phạm pháp luật nghiêm
trọng đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự (thoả hiệp với một số cán bộ thoái hoá,
biến chất trong các cơ quan tiến hành tố tụng để làm sai lệch vụ án hoặc chạy án).
Trong thời gian qua (2007 – 2011), đã có 53 luật sư, người tập sự hành nghề luật sư bị
xử lý kỷ luật, trong đó 30 trường hợp bị xoá tên khỏi danh sách luật sư, người tập sự
hành nghề luật sư.
Một số ít luật sư có biểu hiện lệch lạc về tư tưởng chính trị, dễ bị các phần tử
phản động ngoài nước và cơ hội chính trị trong nước lôi kéo. Thực tế thời gian qua đã
xuất hiện một số luật sư viết bài trên các phương tiện thông tin đại chúng thể hiện quan
điểm sai trái, ảnh hưởng không tốt đến an ninh quốc gia. Có 02 luật sư thuộc Đoàn luật
sư thành phố Hà Nội là Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân và 01 luật sư thuộc
Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh là Lê Công Định bị truy cứu TNHS về tội tuyên
24
truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây cũng là lý do khiến
nhiều người xem nhẹ vai trò của người luật sư, người bào chữa.
Tất cả những nguyên nhân trên đã kết hợp tương tác lẫn nhau khiến cho
người bào chữa không thực hiện đúng sứ mệnh thiêng liêng của mình là bảo vệ pháp
luật và công lý. Cần có những giải pháp để giải quyết thực trạng đó và nâng cao vai trò
của người bào chữa.

& fNY9]<g556/0/S75N/<\5
- Nâng cao tính tranh tụng trong hoạt động TTHS.
Hiện nay, vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa đang là vấn đề
nóng bỏng được Đảng và nhà nước, cũng như dư luận rất quan tâm. Mặc dù luật TTHS
Việt Nam vẫn quy định trong phiên tòa có phần xét hỏi kết hợp với tranh luận, nhưng
hiện nay nếu chỉ thiên về xét hỏi thì sẽ không đảm bảo được kết quả khách quan của
vụ án. Hơn nữa, người bào chữa tham gia vào các phiên tòa hình sự ngày càng phổ
biến hơn. Ngoài ra nhận thức pháp luật của nhân dân ngày càng được nâng cao. Do
vậy, vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa để đi dến giải quyết của vụ án
được đảm bảo hơn. Trong tình hình thực tế đó chúng tôi có một số đề xuất như sạu:
• Trong trình tự xét hỏi KSV hỏi chính, HĐXX cũng hỏi nhưng chỉ hỏi để
làm sáng tỏ các tình tiết còn mâu thuẫn chưa được sáng tỏ trong vụ án.
Khi KSV tham gia hỏi chính thì HĐXX có thời gian để nghe được hai
bên gỡ tội và buộc tội thực hiện việc xét hỏi. Điều này sẽ tránh được
trường hợp HĐXX chỉ lo hỏi những điều mà mình thắc mắc khi nghiên
cứu hồ sơ làm tốn thời gian và hạn chế việc xét hỏi của người bào chữa.
Ngoài ra BLTTHS nên bổ sung thêm: “Người bào chữa được quyền sử
dụng các đồ vật, công cụ để minh họa cho quan điểm bào chữa của
mình”. Quy định này sẽ tạo điều kiện cho người bào chữa thể hiện quan
điểm của mình một cách dễ dàng ở phiên tòa.
• Để xóa bỏ tình trạng “án bỏ túi”, “án tại hồ sơ”, “án chỉ đạo”, để việc
tranh luận giữa hai bên buộc tội và gỡ tội được diễn ra công bằng,
HĐXX chỉ dựa vào kết quả của việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa
khi đưa ra phán quyết. Việc này tránh được trường hợp HĐXX chỉ
nghiêng về ý kiến của VKS mà bỏ qua ý kiến của người bào chữa. Đồng
thời, khi tham gia tranh luận HĐXX không được hạn chế thời gian tranh
luận của người bào chữa, trong trường hợp HĐXX đồng ý với ý kiến
tranh luận của người bào chữa thì phải ghi vào bản án, trường hợp
HĐXX bác bỏ ý kiến đó thì phải giải thích lý do cho người bào chữa
hiểu.

25

×