Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

Một số giải pháp đề xuất để khắc phục vấn đề thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (265.99 KB, 28 trang )

TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
Chương 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG 8
2.1. Nguyên nhân gây ra tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động của ngân
hàng 8
2.2. Thực trạng vấn đề thông tin bất cân xứng trong hoạt động ngân hàng 10
2.2.1. Tổng quan về hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
10
2.2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. 12
2.3. Những hậu quả ảnh hưởng của bất cân xứng thông tin trong hoạt động ngân hàng18
2.3.1. Đảo nợ 18
2.2.2. Khoản tiền vay sử dụng sai mục đích 19
Chương 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VẤN ĐỀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG 20
3.1. Giải pháp tư nhân 20
3.1.1. Phát tín hiệu (signaling) – minh bạch thông tin (disclosure requirement) 20
3.1.2. Sử dụng tổ chức tín dụng độc lập 23
3.2. Giải pháp của chính phủ 24
3.2.1. Các điều kiện cấp tín dụng 24
3.2.2. Quy định về đảm bảo tiền vay 25
3.2.3. Quy định về việc thẩm định, xét duyệt cho vay và giám sát thu hồi vốn vay 25
3.2.4. Hạn chế cạnh tranh 26
3.2.5. Giám sát 26
KẾT LUẬN 27
LỜI MỞ ĐẦU
1. Mục tiêu đề tài
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo với bàn tay vô hình luôn mang lại nhiều lợi ích
nhất cho xã hội. Tuy nhiên chính phủ vẫn phải tham gia vào thị trường và khiến cho


lợi ích xã hội bị suy giảm bởi đôi khi thị trường vẫn có những thất bại của nó. Một
trong những thất bại thị trường chính là vấn đề bất cân xứng thông tin, đó là trạng
thái mà ở đó thị trường không đạt được sự phân phối các nguồn lực tối ưu. Và ngày
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
nay, vấn đề thông tin bất cân xứng gần như xuất hiện ở hầu khắp các thị trường và
đòi hỏi mỗi thị trường cần có các cơ chế đặc thù riêng trong việc xử lý thông tin bất
cân xứng nhằm hạn chế tác động của nó đến hoạt động của các bên tham gia cũng
như hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Do vấn đề cấp bách của đề tài nên nhóm xin
chọn nghiên cứu về vấn đề thông tin bất cân xứng trong hoạt động kinh tế hiện nay.
2. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên nhóm chúng tôi xin giới
hạn nghiên cứu vấn đề thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng của hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích số liệu dựa trên các tài
liệu tìm được, kết hợp với nền tảng lý thuyết từ các giáo trình Kinh tế học vi mô và
tổng hợp ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng để đưa ra các
đánh giá và nhận định.
4. Bố cục đề tài
Đề tài được chia thành 3 phần chính :
Chương 1 : Cơ sở lý luận
Chương 2 : Thực trạng vấn đề thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng tại hệ
thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương 3 : Một số giải pháp đề xuất để khắc phục vấn đề thông tin bất cân xứng
trong hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 2
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm về thông tin bất cân xứng
Thông tin không hoàn hảo là tình trạng mà một hay nhiều người tham gia thị

trường không có đủ những thông tin họ cần để ra quyết định. Và khi trong quá trình
giao dịch mà có một bên có thông tin đầy đủ và tốt hơn so với bên còn lại thì xảy ra
tình trạng thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information), có nghĩa là thông tin bất
cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông
tin nhưng thông tin không chính xác. Điều này khiến cho bên có ít thông tin hơn có
những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều
thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa
vụ giao dịch.
1.2. Hậu quả của vấn đề thông tin bất cân xứng
Hai hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi
(adverse selection) và tâm lý ỷ lại (moral harzard). Lựa chọn bất lợi là hành động xảy
ra trước khi ký kết hợp đồng của bên có nhiều thông tin có thể gây tổn hại cho bên ít
thông tin hơn. Tâm lý ỷ lại là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau
khi ký kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn.
1.2.1. Sự lựa chọn ngược (Adverse Selection)
Lựa chọn ngược (lựa chọn đối nghịch hay lựa chọn bất lợi) là một tình trạng
kinh tế có thể nảy sinh do tồn tại tình trạng thông tin bất cân xứng, người lựa chọn
thứ tốt lại chọn phải thứ không tốt hay nói cách khác chọn được cái không như mong
muốn. Đây chính là thất bại thị trường.
Lựa chọn bất lợi là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực
hiện giao dịch hay nói cách khác trước khi ký hợp đồng (Nguyễn Trọng Hoài, 2006).
Thông thường trong hoạt động mua bán, người bán là người nắm rõ thông tin về sản
phẩm của mình và do đó chi phí lựa chọn bất lợi là do người mua chịu. Lựa chọn bất
lợi xảy ra ở hầu khắp các thị trường mà biểu hiện của nó có thể được nhận thấyở các
thị trường tiêu biểu như thị trường mua bán đồ cũ, thị trường lao động, thị trường bảo
hiểm, thị trường chứng khoán, thị trường tín dụng,
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 3
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
 Lựa chọn bất lợi trong thị trường sản phẩm cũ
Thị trường mua bán đồ cũ (hay những sản phẩm chất lượng kém) được nhà

kinh tế học người Mỹ - George Akerlof nghiên cứu và gọi là “Lemon Market”. Trên
thị trường lemon, người bán là phía có đủ thông tin về chất lượng hàng hóa trong khi
người mua là phía không có đủ thông tin. Người bán biết đến sự tồn tại của vấn đề
thông tin bất cân xứng này và nó kích thích họ mạo hiểm bán hàng hóa cũ mất chất
lượng với giá như hànghóa chất lượng còn tốt. Người mua cũng biết đến sự tồn tại
của vấn đề thông tin phi đối xứng nên cố gắng để khỏi bị mua “hớ” bằng cách chọn
mua các hàng hóa cũ giá trung bình với lập luận rằng trong trường hợp bị mắc lừa thì
cũng không đến nỗi thiệt hại lắm. Hậu quả là, cả hàng hóa cũ chất lượng tốt và giá
cao với hàng hóa mất chất lượng được bán với giá cao như của hàng còn tốt đều khó
bán được. Xét trên bình diện toàn xã hội, cả người bán lẫn người mua đều không
được lợi; phúc lợi xã hội bị giảm. Đây là một minh chứng của việc cơ chế thị trường
không phải lúc nào cũng tối đa hóa phúc lợi. Nói cách khác, đây là một thất bại thị
trường. Lúc này lựa chọn bất lợi xảy ra khiến cho những sản phẩm duy nhất trên thị
trường sẽ là sản phẩm chất lượng thấp.
 Lựa chọn bất lợi trong các thị trường khác:
o Thị trường lao động: Trong thị trường lao động, việc thuê lao động là một
quyết định đầu tư không chắc chắn. Tính không chắc chắn ở đây là việc thuê lao
động mà người tuyển dụng không biết được khả năngđóng góp, khả năng tạo ra
năng suất của người lao động là bao nhiêu. Vì thế việc thuê lao động có thể thuê
được lao động có chất lượng hoặc không. Kết quả là cả người lao động có trình độ
thấp và trình độ cao đều được thuê với mức lương trung bình. Với mức lương đó,
người lao động có trình độ cao trở nên khó tìm việc hơn do tính cạnh tranh cũng như
mức ương không tương xứng trong khi người lao động có trình độ thấp lại dễ dàng
được nhà tuyển dụng chấp nhận do không đòi hỏi quá nhiều. Như vậy, nhà tuyển
dụng rơi vào tình trạng lựa chọn bất lợi do không có đầy đủ thông tin và đưa ra
những quyết định sai lầm khi tuyển dụng lao động có trình độ thấp với mức lương
cao hơn mức lương mà họ đáng được nhận.
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 4
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
o Lựa chọn bất lợi trong thị trường bảo hiểm: Trong thị trường bảo hiểm, bên

cung cấp dịch vụ bảo hiểm chấp nhận mức trả bảo hiểm cao cho khách hàng ít nguy
cơ. Song họ lại có ít thông tin về thứ họ được đề nghị bảo hiểm hơn so với người
mua bảo hiểm. Nếu người mua bảo hiểm cung cấp những thông tin không trung
thực, thì công ty bảo hiểm có thể sẽ ký hợp đồng trả tiền cao cho đối tượng bảo
hiểm nhiều nguy cơ. Ví dụ, người mua bảo hiểm nhân thọ có thể dấu thông tin về
tình trạng sức khỏe tồi (ung thư) của mình, cam đoan với công ty bảo hiểm rằng
mình có sức khỏe tốt, dẫn tới công ty bảo hiểm có thể đi ký hợp đồng bảo hiểm
nhân thọ cho một người sắp chết.
o Lựa chọn bất lợi trong thị trường chứng khoán: Điều mà bất kỳ nhà đầu tư nào
cũng mong muốn là lợi nhuận, đối với thị trường chứng khoán lợi nhuận được thể
hiện thông qua việc mua cổ phiếu giá thấp bán với giá cao (lợi vốn) hoặc đạt được
giá trị cổ tức (lợi tức) kỳ vọng mà nhà đầu tư dự kiến. Nếu kết quả đầu tư của nhà
đầu tư không hiệu quả tức nhà đầu tư vi phạm những điều đã nói trên, thì ít nhiều đã
tồn tại thông tin bất cân xứng trong hoạt động đó và hệ quả của nó là chi phí lựa
chọn bất lợi mà nhà đầu tư phải gánh chịu.
o Lựa chọn bất lợi trong thị trường tín dụng: trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng, ngân hàng cho khách hàng vay vốn nhưng lại thiếu thông tin về khách hàng
cũng như về khả năng hoàn trả nợ của khách hàng (do đó có thể cho những doanh
nghiệp sắp phá sản vay vốn). Chính vì vậy mà các ngân hàng thường phải định ra
một mức lãi suất cho vay giống nhau, mức lãi suất này sẽ hấp dẫn được những
khách hàng chất lượng thấp, khiến cho lãi suất phải tăng lên, và chính mức lãi suất
này lại làm tăng lượng khách hàng chất lượng thấp.
1.2.2. Tâm lý ỷ lại (Moral Harzard)
Tâm lý ỷ lại (Rủi ro đạo đức) là tình trạng cá nhân hay tổ chức không còn động
cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra. Đó là
hậu quả của thông tin bất cân xứng sau khi giao dịch xảy ra. Tâm lý ỷ lại nảy sinh khi
bên có ưu thế thông tin hiểu được tình thế thông tin phi đối xứnggiữa các bên giao
dịch và tự nhiên hình thành động cơ hành động theo hướng làm lợi cho bảnthân bất
kể hành động đó có thể làm hại cho bên kém ưu thế thông tin. Hành vi tha hóa
theohướng như thế của bên có ưu thế thông tin được bên kém ưu thế thông tin cho là

không đứng đắn, là một thứ nguy hiểm, rủi ro cho mình.
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 5
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
 Động cơ hình thành tâm lý ỷ lại:
o Thứ nhất, phải có sự khác biệt về quyền lợi giữa các bên;
o Thứ hai, phải có một cơ sở nào đó để tạo ra trao đổi có lợi hay một hình thức
hợp tác khác nhau giữa các cá nhân (tức là có lý do để đồng ý giao dịch) từ đó
làm lộ ra mâu thuẫn về quyền lợi;
o Thứ ba là phải tồn tại những khó khăn trong việc xác định xem các điều kiện
thỏa thuận có đúng là được tuân thủ và thực hiện hay không
 Những biểu hiện của tâm lý ỷ lại:
o Tâm lý ỷ lại trong thị trường lao động: Những người được tuyển dụng sau khi
vào làm đã không đặt lợi ích công ty gắn với lợi ích cá nhân, không thật sự nhiệt
tình với côngviệc như trong các bản đăng kí. Họ sẵn sàng làm những công việc
mang lại lợi ích riêng cho mình dù có tổn hại đến lợi ích chung của công ty và
công ty chính là phía gánh chịu những thiệt hại phát sinh từ tâm lý ỷ lại đó của
những lao động mà công ty đã tuyển dụng.
o Tâm lý ỷ lại trong thị trường bảo hiểm: Phát sinh từ phía người đi mua bảo
hiểm. Cụ thể là những người mua bảo hiểm có thể sẽ chủ quan hơn, bất cẩn hơn
đối với các khoản đã được bảo hiểm. Chính vì thế mà phía công ty bảo hiểm sẽ bị
thiệt vì phải bồi thường cho những rủi ro không đáng có được sinh ra từ tâm lý ỷ
lại của khách hàng.
o Tâm lý ỷ lại trong thị trường chứng khoán: Ở thị trường chứng khoán, tâm lý ỷ
lại phát sinh nếu những người đại diện điều hành công ty không sử dụng nguồn
vốn hiệu quả và đúng mục đích. Do tính chất của đầu tư trên thị trường là đầu tư
gián tiếp nên việc quản lý, giám sát vốn đầu tư của các nhà đầu tư phải thông qua
một số người đại diện để điều hành công ty. Tâm lý ỷ lại của những người đại diện
đó sẽ gia tăng nếu như tỷ lệ cổ phần mà họ sở hữu thấp bởi vì nếu hoạt động sản
xuất kinh doanh không hiệu quả thì trách nhiệm của họ không cao và sự thiệt hại
trên vốn góp là thấp. Và trong trường hợp những người đại diện vì theo đuổi mục

đích nào đó để làm lợi riêng cho bản thân mà gây tổn hại đến lợi ích của các nhà
đầu tư thì các nhà đầu tư - bên kém ưu thế về thông tin sẽ là người gánh chịu
những rủi ro phát sinh từ tâm lý ỷ lại của những người đại diện đó.
1.2.3. Vấn đề người ủy quyền – người thừa hành (Principal – Agent- PA)
Tình trạng thông tin không cân xứng có thể làm cho người chủ sở hữu của các
hãng (thân chủ) rất tốn kém trong việc giám sát chặt chẽ hành vi của những người
quản lý của hãng (người đại diện). Những người quản lý có thể tìm kiếm những phúc
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 6
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
lợi phụ cao hơn cho bản thân họ hoặc theo đuổi mục tiêu tối đa hóa doanh thu, cho dù
những cổ đông muốn tối đa hóa lợi nhuận. Thông tin bất cân xứng làm cho người đại
diện khó cưỡng chế thi hành, đánh giá hay khuyến khích công việc, trong nó hội đủ
cả lựa chọn ngược và tâm lý ỷ lại.
1.3. Một số giải pháp lý thuyết khắc phục tình trạng thông tin bất cân xứng
Lựa chọn ngược và tâm lý ỷ lại là hậu quả của thông tin bất cân xứng. Vậy giải
pháp chính là chọn những những cách thức khác nhau nhằm làm giảm đi sự bất cân
xứng thông tin cho các bên tham gia giao dịch xuất phát trên các nguyên tắc sau:
o Cơ chế phát tín hiệu: Cơ chế phát tín hiệu là việc bên có nhiều thông tin có thể
phát tín hiệu đến những bên ít thôngtin một cách trung thực và tin cậy. Với việc phát
tín hiệu này, người bán những sản phẩm chấtlượng cao phải sử dụng những biện
pháp được coi là quá tốn kém với người bán hàng hóachất lượng thấp.
o Cơ chế sàng lọc: bất cứ hàng hóa nào cũng đều có những đặc tính khác nhau
như chất lượngkhác nhau, mẫu mã khác nhau nên cần phải phân loại chúng.
o Cơ chế giám sát: Cơ chế giám sát được áp dụng nhằm mục đích kiểm soát tâm
lý ỷ lại. Ngoài ra tâm lý ỷ lại còn được giảm thiểu bằng cơ chế khuyến khích. Đây
làmột cơ chế rất hữu hiệu trên cơ sở chính sách cây gậy và củ cà rốt.
Dựa trên những cơ chế này, đề xuất một số giải pháp như sau:
1.3.1. Giải pháp tư nhân
 Đối với thị trường sản phẩm cũ: Người mua thu thập thông tin (hỏi chuyên gia,
hỏi người mua trước, mua thông tin, ). Người bán phát tín hiệu chứng minh uy

tín của mình thông qua danh tiếng, thương hiệu, cấp giấy bảo hành,
 Đối với thị trường lao động: Người xin việc phát tín hiệu bằng cách trưng bằng
cấp, đòi mức lương cao, Nhà tuyển dụng sẽ phỏng vấn, đề ra thời gian thử
việc,
 Đối với thị trường bảo hiểm: Công ty bảo hiểm yêu cầu khám sức khỏe, chỉ
định phòng khám với hợp đồng lớn, không chi trả bảo hiểm toàn phần,
 Đối với thị trường tín dụng: Người đi vay phát tín hiệu chứng minh hiệu quả tài
chính của dự án hoặc chứng minh năng lực tài chính của công ty, thẩm định dự
án, khả năng tài chính của người đi vay,
1.3.2. Giải pháp chính phủ
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 7
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
 Thành lập hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng
 Cung cấp thông tin về quy hoạch, dịch bệnh, nhà đầu tư, dự báo về cung cầu thị
trường trong nước và quốc tế,
 Thiết lập thể chế (xây dựng khung pháp lý) để có biện pháp chế tài, xử phạt.
1.3.3. Vấn đề người thân chủ - người thừa hành
Vấn đề này hội đủ cả hai thất bại thị trường từ thông tin bất cân xứng (lựa
chọn ngược và tâm lý ỷ lại), do đó cần có giải pháp khắc phục thích hợp. Người ủy
quyền tạo ra động cơ khuyến khích vật chất để cho mục tiêu người thừa hành và
người ủy quyền phù hợp nhau (trả lương, thưởng theo hiệu quả công việc, thưởng
bằng cổ phiếu, giáo dục ý thức nghề nghiệp, danh hiệu thi đua, ), đồng thời thiết kế
hệ thống kiểm tra (hệ thống giải trình, kiểm soát nghiêm ngặt, )
Chương 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG
2.1. Nguyên nhân gây ra tình trạng thông tin bất cân xứng trong hoạt động của
ngân hàng
Ngân hàng đơn thuần chỉ là một tổ chức kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận.
Cấp tín dụng là một trong những nghiệp vụ kinh doanh chính của các ngân hàng. Có
thể hiểu cấp tín dụng một cách đơn giản là việc ngân hàng cho khách hàng "vay" một

khoản tiền hoặc uy tín của mình trong một khoảng thời gian nhất định. Sau đó khách
hàng có nghĩa vụ hoàn trả "khoản vay" nêu trên cho ngân hàng cộng với khoản "lãi"
kèm theo.
Việc "vay mượn" giữa ngân hàng và khách hàng được lập thành hợp đồng tín
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 8
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
dụng. Cũng giống như các hợp đồng tài chính khác, hợp đồng tín dụng là một dạng
hợp đồng không hoàn chỉnh (incomplete contract). Để một hợp đồng được thực hiện
đầy đủ thì các bên liên quan trong hợp đồng phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
Tuy nhiên, không giống như các hợp đồng hoàn chỉnh (complete contract), việc thực
hiện các hợp đồng không hoàn chỉnh gặp nhiều khó khăn hơn vì có rất nhiều tình
huống có thể xảy ra trong quá trình thực thi hợp đồng mà các bên không lường trước
được. Cũng do chính vấn đề này mà trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu một bên
có nhiều thông tin hơn có thể có những hành vi gây tổn hại đến bên có ít thông tin
hơn. Và chính tình trạng này gây ra những rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân
hàng. Dựa trên thực tế có thể đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như
sau:
 Nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng:
o Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích
và đánh giá khách hàng;
o Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay;
o Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo
chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay;
o Chạy theo số lượng (hoặc theo kế hoạch) mà sao lãng việc coi trọng chất
lượng khoản vay, quá lạc quan và tin tưởng vào sự thành công của phương án kinh
doanh của khách hàng;
o Ngân hàng thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý
hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm địa
phương khác nhau để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ;
o Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số cán bộ tín dụng ngân hàng chưa đủ

tầm và vấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng;
o Ngân hàng không giải quyết hợp lý quan hệ giữa nguồn vốn huy động và
nguồn vốn sử dụng;
o Cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng chưa thực sự lành mạnh, việc chạy theo
quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện trong cho vay, thiếu quan tâm đến chất
lượng khoản vay.
 Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng:
o Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay;
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 9
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
o Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng
quản lý;
o Khách hàng vay vốn tại nhiều tổ chức tín dụng dưới một danh nghĩa hay nhiều
thực thể khác nhau nên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo dõi được dòng tiền
dẫn đến việc sử dụng vốn vay chồng chéo và mất khả năng thanh toán dây chuyền;
o Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch;
o Chưa thực sự thay đổi quan điểm, còn xem vốn ngân hàng là vốn nhà nước
nếu doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả thì ngân hàng chịu, ngân hàng thua lỗ thì
nhà nước chịu;
o Doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng.
 Nguyên nhân khách quan:
o Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây tổn
thất cho khách hàng vay vốn kinh doanh;
o Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới;
o Sự tấn công của hàng nhập lậu;
o Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan
pháp luật cấp địa phương trong việc triển khai;
o Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước+Hệ
thống thông tin quản lý còn bất cập;
o Sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật

liệu đầu vào tăng làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, khó khăn
tài chính dẫn đến không có khả năng trả nợ. Nói một cách đơn giản, là do cơ chế
sàng lọc chưa đủ hiệu lực nên các ngân hàng đã để "lọt" những khách hàng có khả
năng che đậy hành vi và thông tin của họ trong giao dịch vay vốn để thực hiện
những dự án có rủi ro cao, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu cao (nợ xấu tức là các khoản tiền
cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do
doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, )
2.2. Thực trạng vấn đề thông tin bất cân xứng trong hoạt động ngân hàng
2.2.1. Tổng quan về hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam
Từ những phân tích nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng có thể rút ra kết luận rằng thông tin bất cân xứng là một trong những
nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến rủi ro trong các hoạt động tín dụng của ngân
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 10
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
hàng thương mại. Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng luôn là người có ít thông
tin về dự án, về mục đích sử dụng khoản tín dụng được cấp hơn khách hàng. Do đó,
để đảm bảo an toàn trong hoạt động của mình, bản thân các tổ chức tín dụng phải xử
lý thông tin bất cân xứng để hạn chế lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại nhằm cho vay
đúng người, đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để khách hàng vay vốn có hành vi
đúng đắn nhằm đảm việc thu hồi cả gốc và lãi khoản tín dụng đã cấp ra.
 Lựa chọn bất lợi và hoạt động tín dụng
Lựa chọn bất lợi xảy ra trước cho vay, khi ngân hàng bị khách hàng che giấu
một số thông tin dẫn tới việc lựa chọn khách hàng không tốt và cấp tín dụng không
hiệu quả. Khách hàng có độ rủi ro cao thường là những khách hàng tích cực nhất
trong việc xin vay. Hậu quả của sự lựa chọn đối nghịch có thể dẫn đến việc cấp tín
dụng cho khách hàng có rủi ro cao nên trongtrường hợp này các ngân hàng có thể sẽ
cắt giảm cho vay hoặc không tiếp tục cho vay mặc dù trên thị trường vẫn có nhiều
khách hàng tốt.
Đối với hoạt động tài chính ngân hàng, lựa chọn bất lợi sẽ xuất hiện khi nguồn

vốn khan hiếm, lãi suất cho vay bị đẩy lên cao. Theo nguyên tắc "rủi ro cao - lợi
nhuận cao” và nguyên tắc loại trừ, khi nguồn cung tín dụng dồi dào, mức lãi suất cho
vay thấp thì các dự án có suất sinh lợi thấp - rủi ro thấp, đảm bảo khả năng trả nợ một
cách chắc chắn và các dự án có suất sinh lợi cao - rủi ro cao với khả năng trả nợ ít
chắc chắn hơn đều được cấp tín dụng để thực hiện. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi
nguồn vốn khan hiếm, lãi suất cho vay bị đẩy lên cao. Khi đó các dự án an toàn
không được cấp tín dụng mà chỉ có những dự án có mức độ rủi ro cao, với suất sinh
lợi cao được vay vốn để thực hiện. Đây chính là vấn đề lựa chọn bất lợi trong hoạt
động tài chính ngân hàng đã xảy ra. Khi mà chỉ các dự án có độ rủi ro cao được thực
hiện thì nguy cơ vỡ nợ của các tổ chức tài chính là rất cao.
 Tâm lý ỷ lại và hoạt động tín dụng
Trong hoạt động tín dụng, việc giám sát việc sử dụng các khoản tín dụng của ngân
hàngthường vấp phải nhiều khó khăn đến từ cả phía ngân hàng cũng như người đi
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 11
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
vay. Bản thân các ngân hàng có thể gặp phải những rủi ro do tâm lý ỷ lại ở người đi
vay khi ngân hàng khi không giám sát được đầy đủ người đi vay, kích thích người
này dùng khoản vay một cách mạo hiểm quá mức. Tâm lý ỷ lại xảy ra sau cho vay,
khi khách hàng có động cơ đầu tư vào những dự án có độ rủiro cao. Nếu dự án đó
thành công thì khách hàng sẽ thu được lợi rất lớn, ngược lại nếu dự án thất bại thì
ngân hàng sẽ phải gánh chịu hậu quả do khách hàng thua lỗ. Tâm lý ỷ lại cũng có thể
xảy ra khi khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, đầu tư vào dự án kém
hiệu quả, lừa đảo ngân hàng Xung đột về lợi ích giữa người vay và ngân hàng từ
vấn đề tâm lý ỷ lại dẫn đến tình trạng một số ngân hàng quyết định giảm cho vay, ảnh
hưởng đến cả nền kinh tế.
Tâm lý ỷ lại trong các hoạt động giao dịch vay nợ là khá phổ biến. Nó đặt ra câu
hỏi “kiểm soát” đối với các Tổ chức tài chính trong việc giám sát việc sử dụng “đồng
vốn” của khách hàng.
2.2.2. Thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam

2.2.2.1. Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động tín dụng
Ở Việt Nam, hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng nói riêng
được quy định bởi văn bản cao nhất là Luật các tổ chức tín dụng. Ngoài ra còn có các
văn bản hướng dẫn của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các văn
bản liên quan đến hoạt động tín dụng. Các quy định về hoạt động tín dụng tại Việt
Nam được đánh giá là tương đối đầy đủ và theo thông lệ chung với các hướng dẫn rõ
ràng, quyền tự chủ dành cho bên cấp tín dụng trên cơ sở bảo đảm những quy định về
an toàn.
2.2.2. Các biện pháp ngân hàng sử dụng để đánh giá khách hàng
Hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính là một cơ sở cực kỳ quan trọng
giúp cho các bên có liên quan nắm bắt được tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Nếu một hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính không được tổ chức tốt,
không minh bạch và không có độ tin cậy cao sẽ rất khó có thể căn cứ để xem xét "sức
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 12
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
khoẻ" của doanh nghiệp.
Luật kế toán năm 2003 quy định đơn vị kế toán phải thu thập, phản ánh khách
quan, đầy đủ, đúng thực tế và đúng kỳ kế toán mà nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát
sinh. Đơn vị kế toán có trách nhiệm công khai các báo cáo tài chính. Mặt khác, các
chuẩn mực kế toán theo thông lệ chung đã dần được áp dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên
hiện tại, hệ thống tiêu chuẩn kế toán Việt Nam (VAS) vẫn còn những khác biệt so với
với hệ thống tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IAS).
Theo Nghị định về kiểm toán độc lập, trừ một số loại hình doanh nghiệp phải
thực hiện kiểm toán như bảo hiểm, ngân hàng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, doanh nghiệp nhà nước, số còn lại (chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động
theo luật doanh nghiệp), nhà nước chỉ khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện kiểm
toán các báo báo tài chính. Mặt khác, tại hầu hết các tổ chức tín dụng chưa yêu cầu
khách hàng đến xin cấp tín dụng phải có báo cáo tài chính được kiểm toán.
Tuy nhiên việc sử dụng các báo cáo tài chính để làm căn cứ thẩm định dự án
của các tổ chức tín dụng chưa có đủ độ tin cậy như phát biểu của Phó tổng giám đốc

Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - ông Lê Đào Nguyên: ''Các DN vừa và
nhỏ thường xây dựng báo cáo tài chính mang tính chất đối phó với cơ quan thuế; báo
cáo chính thức (báo cáo được pháp luật công nhận) thường thấp hơn tình trạng thực
tế, không đảm bảo đủ điều kiện vay vốn ngân hàng''.
Những vấn đề nêu trên đã tạo ra kẽ hở để một doanh nghiệp có nhiều hệ thống
sổ sách báo cáo kế toán (thường là 3). Một dùng để báo cáo thuế (kết quả kinh doanh
thấp hơn thực tế). Một dùng để vay vốn ngân hàng (kết quả báo cáo thường hơn thực
tế). Một dùng cho nội bộ (số liệu thực). Với tình trạng như vậy, khi doanh nghiệp gặp
khó khăn thì ngân hàng rất khó nhận biết tình trạng thực của doanh nghiệp là như thế
nào.
Trung tâm tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC) là tổ chức
duy nhất thực hiện công tác thu thập thông tin của các khách hàng có quan hệ tín
dụng với tất cả các tổ chức tín dụng. Cơ chế thu thập thông tin của CIC theo quy chế
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 13
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
hoạt động thông tin tín dụng do Ngân hàng Nhà nước ban hành. Trong đó quy định
các tổ chức tín dụng theo định kỳ có trách nhiệm báo cáo các thông tin liên quan đến
khách hàng cho CIC và các tổ chức tín dụng được quyền khai thác thông tin của CIC.
Trên thực tế, các thông tin hiện có của CIC có độ cập nhật không cao và các
chỉ tiêu còn chung chung. Những thông tin cần thiết để xác định lịch sử, độ tin cậy
của ban điều hành doanh nghiệp hầu như không có. Mặt khác, do chưa thực sự ý thức
về tầm quan trọng của tính cập nhật và chính xác về thông tin nên các tổ chức tín
dụng chưa có sự quan tâm đúng mức đến các thông tin, dữ liệu khi báo cáo cho CIC.
Khi thẩm định doanh nghiệp, rất ít ngân hàng lấy thông tin từ CIC.
2.2.2.3. Biểu hiện của bất cân xứng thông tin trong hoạt động tín dụng
Các kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính, thẩm định dự án tiên tiến
chưa được áp dụng và phổ biến rộng rãi tại Việt nam do điều kiện về công nghệ và
những người am hiểu về nó còn rất hạn chế. Vì vậy việc áp dụng đại trà gặp rất nhiều
khó khăn. Chính những nguyên nhân trên khiến cho hoạt động tín dụng của ngân
hàng gặp phải những rủi ro rất lớn. Điều này thể hiện ở tỷ lệ nợ xấu của các ngân

hàng hiện nay đang ngày càng tăng lên. Trong 8 tháng đầu năm 2011, tỷ lệ nợ xấu
của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã đạt đến con số gần 3,2% trên tổng dư nợ
cho vay, tức là khoảng 84800 tỷ đồng (trong đó đạt con số cao nhất là Agribank với
nợ xấu xấp xỉ 6,7%), và dự báo đến cuối năm 2011 có thể đạt tới con số 5%. Nguyên
nhân của tình trạng này bao gồm các nguyên nhân khách quan và chủ quan đã phân
tích ở trên, và một nguyên nhân khác nữa là do lãi suất huy động vốn quá cao dẫn đến
lãi suất cho các doanh nghiệp vay tăng lên, các doanh nghiệp mạnh sẽ không chấp
nhận mức lãi suất quá cao, họ có khả năng tìm đến những nguồn vốn khác. Nghi vấn
đặt ra đối với những doanh nghiệp dám chấp thuận mức lãi suất cao. Phần lớn sự
chấp thuận đó xuất phát từ sự thiếu vốn trầm trọng, năng lực tài chính hạn chế, độ tín
nhiệm thấp nên không tiếp cận được những nguồn vốn khác. Và tất nhiên, nguy cơ nợ
xấu ngân hàng tăng lên từ nhóm đối tượng này. Nguyên nhân chủ quan còn là hệ quả
của việc thiếu thông tin về người đi vay của các ngân hàng thương mại cũng như
thiếu cơ chế giám sát quá trình thực hiện dự án sau khi vay. Đây đều là hệ quả của
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 14
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
vấn đề thông tin bất cân xứng gây nên. Nợ xấu ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động
kinh doanh của cả chủ nợ và doanh nghiệp. Chủ nợ mất nhiều thời gian, công sức thu
hồi nợ. Trong khi đó, doanh nghiệp gần như mất khả năng trả nợ, chủ nợ có nguy cơ
mất trắng. Tuy nhiên, việc loại trừ nợ xấu gần như là điều không thể. Việc phản ánh
tình trạng nợ xấu trong báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại càng đầy đủ
và chi tiết càng phản ánh tình trạng tín dụng, càng tăng cường đảm bảo thông qua
việc trích lập các khoản dự phòng chính xác và mang tính thực tế. Mặt khác, các ngân
hàng không thể xóa bỏ hoàn toàn nợ xấu mà chỉ có thể hạn chế nó bằng cách khắc
phục các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng, trong đó nguyên nhân cơ bản là do sự
bất cân xứng thông tin.
2.2.2.4. Khó khăn của ngân hàng trong hoạt động tín dụng
Để giảm bớt rủi ro cho mình, khi cho vay các ngân hàng đòi hỏi việc thế chấp
tài sản đảm bảo cho các khoản vay. Việc đăng ký tài sản đã có quy định, nhưng nhìn
chung việc thực hiện chưa được triệt để và rộng khắp. Nguyên nhân của vấn đề này là

do thực tế khách quan có rất nhiều loại tài sản không thực hiện đúng các trình tự, thủ
tục và không có đầy đủ các giấy tờ cần thiết nên việc đăng ký chứng nhận quyền sở
hữu là rất khó. Đặc biệt là các bất động sản tại khu vực nông thôn, rất nhiều hộ làm
nhà tự phát mà không có bất kỳ một giấy tờ nào. Đối với những loại này, chỉ là những
công cụ, phương tiện phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân mà rất khó
biến thành tài sản đưa vào chu chuyển trong nền kinh tế.
Do hệ thống đăng ký tài sản hoạt động không hiệu quả nên hoạt động tín dụng
ở Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn. Liệu ngân hàng có thể tin được khách hàng sẽ
đảm bảo có đủ nguồn vốn "tự có" tham gia vào dự án như cam kết hay không?
Mặt khác văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng rất nhiều đến
hoạt động tín dụng ngân hàng. Nếu cộng đồng các doanh nghiệp có một văn hoá kinh
doanh tốt, trên cơ sở chiến lược phát triển dài hạn sẽ là một thuận lợi rất lớn cho hoạt
động tín dụng ngân hàng. Vì khi đó, các doanh nghiệp rất coi trọng chữ tín của mình.
Việc xây dựng, bảo vệ và phát triển thương hiệu là một trong những mục tiêu sống
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 15
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
còn của doanh nghiệp. Ngược lại, nếu các doanh nghiệp không có chiến lược phát
triển dài hạn mà kinh doanh theo kiểu "đánh quả" sẽ gây khó khăn rất lớn cho hoạt
động tín dụng ngân hàng. Vì khi đó, các mối quan hệ dài hạn dựa trên uy tín dường
như ít được thiết lập và các ngân hàng buộc phải sử dụng những giải pháp phòng
ngừa rủi ro khác.
Do những điều kiện thực tiễn cộng với thời gian chuyển sang kinh tế
thị trường chỉ mới khoảng hai thập kỷ, văn hoá, tập quán kinh doanh của doanh
nghiệp chưa được hình thành. Nhiều doanh nghiệp có tư tưởng kinh doanh theo kiểu
"đánh quả". Do đó, đây là một khó khăn rất lớn đối với các ngân hàng trong việc sàng
lọc, lựa chọn khách hàng.
Kết quả thẩm định doanh nghiệp, dự án, giám sát hoạt động của doanh nghiệp
phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ tín dụng.
Căn cứ vào quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn
kèm theo, tất cả các ngân hàng đều xây dựng cho mình quy trình tín dụng tách bạch

giữa khâu thẩm định và quyết định cho vay. Tuy nhiên với những vấn đề thực tế nêu
trên, việc sàng lọc, lựa chọn khách hàng, dự án, có hiệu quả, đủ độ tin cậy, có mức độ
rủi ro thấp, đảm bảo khả năng trả nợ ngân hàng là một thách thức rất lớn đối với các
tổ chức tín dụng. Độ tin cậy và tính chính xác trong kết quả đánh giá, thẩm định
khách hàng, thẩm định dự án tại các tổ chức tín dụng còn rất nhiều điều phải bàn.
Hầu như không có tổ chức tín dụng nào đủ tự tin quyết định cấp tín dụng chỉ dựa vào
bảng kết quả này mà không dựa vào tài sản đảm bảo hoặc những căn cứ khác.
Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế vẫn là thiết yếu, các tổ chức tín
dụng huy động vốn vẫn phải cung tín dụng, nhưng quyết định cấp tín dụng của các tổ
chức tín dụng căn cứ vào các tiêu chuẩn nào. Liệu các quyết định này có đủ độ tin
cậy, giảm thiểu việc tạo ra nợ xấu hay không là câu hỏi rất lớn đối với từng tổ chức
tín dụng nói riêng hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam nói chung?
Để có thể kiểm tra giám sát, đảm bảo việc sử dụng vốn vay đúng mục đích đòi
hỏi các tổ chức tín dụng phải biết được dòng tiền vào và dòng tiền ra trong quá trình
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 16
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
sử dụng vốn vay của bên vay. Đây là một vấn đề rất lớn đang đặt ra đối với các tổ
chức tín dụngViệt Nam vì việc kiểm soát dòng tiền bảo đảm bên vay sử dụng vốn
đúng mục đích không phải là vấn đề đơn giản vì khác với các nền kinh tế phát triển,
đối với Việt Nam, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt vẫn ở mức rất cao. Đây chính là khó
khăn rất lớn trong việc giám sát chi tiêu của người vay vốn.
Với những vấn đề nêu trên các tổ chức tín dụng không có độ tin cậy và mức
chính xác cần thiết trong việc đánh giá mức độ tín nhiệm, năng lực tài chính của
khách hàng, thẩm định tính hiệu quả của các dự án đầu tư, phương án kinh doanh,
không giám sát được hoạt động của khách hàng một cách chặt chẽ. Điều này đã đẩy
các tổ chức tín dụng đến lựa chọn quyết định cho vay chỉ khi khách hàng có tài sản
đảm bảo. Hành vi này của các ngân hàng có thể giải thích rằng khi không thể nhìn
vào những cái vô hình và khó phân tích như giá trị vô hình của doanh nghiệp, giá trị
của vốn chủ sở hữu, giá trị thực của các khoản phải thu, các khoản tồn kho Tài sản
đảm bảo có vai trò rất lớn trong quyết định cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng Việt

nam hiện nay. Không đơn giản vì nó là chỗ dựa tin cậy trong việc đưa ra quyết định
cấp tín dụng mà hơn thế nữa, tài sản đảm bảo có tác dụng rất tốt trong việc ngăn ngừa
sự xuất hiện của tâm lý ỷ lại sau khi cho vay vì khi thực hiện bất cứ một hành vi nào,
mỗi cá nhân luôn xem xét họ sẽ được gì và mất gì. Nếu hành vi luôn mang lại lợi ích
mà không bị tổn thất gì thì họ sẽ thực hiện, ngược lại nếu hành vi luôn tạo ra tổn thất
mà không có lợi ích gì cho bản thân thì họ sẽ không thực hiện. Đối với loại còn lại,
hành vi được thực hiện khi lợi ích lớn hơn chi phí và ngược lại hành vi sẽ không được
thực hiện. Tác dụng của tài sản đảm bảo nằm ở điểm này.
Khi những khoản tín dụng được cấp mà không có tài sản đảm bảo, phần vốn
của bên vay tham gia rất ít hoặc không tham gia vào dự án đầu tư, thì xu hướng tất
yếu là bên vay sẽ thực hiện các dự án có mức độ rủi ro cao để đem lại lợi nhuận cao
vì nếu dự án thất bại thì cái mà họ mất là không đáng kể, ngược lại nếu dự án thành
công thì lợi ích của họ là rất lớn. Hành vi của bên vay sẽ hoàn toàn ngược lại khi họ
phải đem thế chấp các tài sản hiện có của mình để được cấp tín dụng. Khi tài sản
được thế chấp, cầm cố tại các tổ chức tín dụng thì người vay sẽ bị mất nó nếu khoản
vay của họ được đầu tư không cẩn thận và xảy ra rủi ro. Chính vì vậy mà họ phải thận
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 17
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
trọng hơn khi thực hiện quyết định đầu tư của mình. Điều này cũng xảy ra đối với các
doanh nghiệp có giá trị thực của vốn chủ sở hữu lớn, hoạt động trong môi trường
tương đối tốt với luật phát sản được thực thi hiệu quả. Trong trường hợp này, mặc dù
được vay vốn không cần đảm bảo, nhưng người vay vẫn rất thận trọng trong quyết
định đầu tư của mình vì nếu xảy ra rủi ro, dẫn đến tình trạng phá sản thì họ sẽ bị mất
nhiều nhất vì họ là đối tượng cuối cùng được nhận những gì còn lại trong quá trình
thực hiện phá sản doanh nghiệp.
Khi cái thứ yếu trở thành quan trọng, việc quyết định cho vay không được căn
cứ trên tính khả thi và hiệu quả của dự án đầu tư, phương án kinh doanh mà căn cứ
vào tài sản đảm bảo sẽ tác dụng không tốt đến hoạt động tín dụng ngân hàng và có
thể tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro rất lớn. Mặt khác, với những bất cập, khó khăn
trong việc thi hành án, xử lý các loại tài sản đảm bảo, thực thi luật phá sản, thực chất,

tài sản đảm bảo có thể chỉ là "lá bùa" tạo ra sự yên tâm cho việc quyết định cấp tín
dụng của các ngân hàng.
2.3. Những hậu quả ảnh hưởng của bất cân xứng thông tin trong hoạt động ngân
hàng
2.3.1. Đảo nợ
Doanh nghiệp ABC hoạt động sản xuất kinh doanh tổng hợp (xây lắp, sản xuất
vật liệu xây dựng, đầu tư bất động sản…) cho rằng thị trường bất động sản đang ấm
dần lên, nếu đầu tư ngay thì khả năng sẽ có lợi trong tương lai. Nhưng hiện tại, ABC
không có đủ vốn, việc vay vốn ngân hàng để đầu tư vào bất động sản là không thể
được vì ngân hàng đánh giá đây là loại hình kinh doanh quá rủi ro. Làm thế nào để
ABC có tiền để đầu tư vào dự án bất động sản nêu trên? Hiện tại ABC đang là nhà
thầu thi công công trình có quy mô lớn. ABC vay vốn ngân hàng để mua nguyên vật
liệu của công ty XYZ (ABC chuyển tiền trả cho XYZ). XYZ là nhà phân phối chính
của ABC. XYZ tiếp tục ký hợp đồng mua sản phẩm của ABC, XYZ chuyển tiền
ngược trở lại cho ABC. Bây giờ tiền của ABC là doanh thu chứ không phải là vốn
vay. Vậy là ABC có thể dùng khoản tiền này để thực hiện đầu tư dự án bất động sản
nêu trên. Điều gì sẽ xảy ra nếu thời gian sau đó thị trường bất động sản bị đóng băng.
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 18
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
Việc chuyển tiền, thanh toán nêu trên có thể thực hiện tinh vi hơn qua một vài doanh
nghiệp nữa. Đây cũng là cách mà một số doanh nghiệp có thể thực hiện để thay
những khoản nợ quá hạn bằng những khoản nợ mới mà trong giới tài chính ngân
hàng gọi là đảo nợ.
2.2.2. Khoản tiền vay sử dụng sai mục đích
Doanh nghiệp ABC trúng thầu xây dựng một công trình hạ tầng H. ABC ký
hợp đồng phụ với các đơn vị thành viên của mình hoặc một số đơn vị khác làm B cho
mình. Các đơn vị này lại ký hợp đồng tiếp với các đơn vị khác nữa làm B Khi đó,
tất cả các đơn vị có hợp đồng xây dựng công trình H đem đến các ngân hàng vay vốn.
Do không có hệ thống thông tin kiểm tra một cách đầy đủ, khả năng tất cả các hợp
đồng thi công nêu trên đều được vay vốn là có thể xảy ra. Những khoản tiền vay được

vượt quá nhu cầu phục vụ cho việc thi công dự án H đã bị sử dụng sai mục đích.
Luật doanh nghiệp ra đời là một thành công ngoài mong đợi, tuy nhiên với
những thủ tục đăng ký thành lập dễ dàng cũng có những mặt trái của nó. Một người
không có đồng nào trong tay muốn thành lập một doanh nghiệp có vốn tự có khổng lồ
là điều không phải là khó khăn. Người này chỉ cần "vay nóng" ở đâu đó một khoản
tiền tương ứng với mức vốn tự có cần thiết đem gửi vào ngân hàng xin giấy xác nhận
có tiền gửi tại ngân hàng là có thể đến Sở kế hoạch và đầu tư xin cấp giấy phép thành
lập doanh nghiệp sau đó rút số tiền nêu trên ra đem trả lại Trên cơ sở giấy phép kinh
doanh nêu trên, doanh nghiệp có thể hoạt động "đánh quả" trong một thời gian, sau
đó giải thể, xoá hoàn toàn dấu vết. Sau một thời gian, nếu có cơ hội, người này sẽ
thành lập một doanh nghiệp mới để tiếp tục một chu kỳ khác.
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 19
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
Chương 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC VẤN ĐỀ THÔNG
TIN BẤT CÂN XỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN
HÀNG
Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng luôn đi kèm với các rủi ro mà nguồn
gốc phát sinh các rủi ro này là do sự bất cân xứng về thông tin với biểu hiện là hành
vi lựa chọn ngược và tâm lý ỷ lại. Để hạn chế những hành vi này, ngân hàng, khách
hàng và chính phủ đều phải có những chính biện pháp để bảo vệ quyền lợi của chính
mình.
3.1. Giải pháp tư nhân
3.1.1. Phát tín hiệu (signaling) – minh bạch thông tin (disclosure requirement)
3.1.1.1. Hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính.
Hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính là một cơ sở cực kỳ quan trọng
giúp cho các bên có liên quan nắm bắt được tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Nếu một hệ thống thông tin kế toán và báo cáo tài chính không được tổ chức tốt và
không minh bạch và có độ tin cậy cao sẽ rất khó có thể căn cứ để xem xét "sức khoẻ"
của doanh nghiệp.
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 20

TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
Theo Nghị định về kiểm toán độc lập, trừ một số loại hình doanh nghiệp phải
thực hiện kiểm toán như bảo hiểm, ngân hàng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, doanh nghiệp nhà nước, số còn lại (chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động
theo luật doanh nghiệp), nhà nước chỉ khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện kiểm
toán các báo báo tài chính.Mặt khác, tại hầu hết các tổ chức tín dụng chưa yêu cầu
khách hàng đến xin cấp tín dụng phải có báo cáo tài chính được kiểm toán.
3.1.1.2. Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu
 Hệ thống thông tin phục vụ đánh giá xếp loại khách hàng
o Một hệ thống thông tin đầy đủ về khách hàng như: lịch sử hình thành và quá
trình phát triển, năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm, đội ngũ điều hành là cơ sở hết
sức quan trọng giúp cho việc thẩm định, xếp loại, lựa chọn khách hàng trong hoạt
động của các tổ chức tín dụng.Nếu hệ thống này không đầy đủ sẽ ảnh hưởng rất lớn
đến khả năng đánh giá, thẩm định khách hàng của các ngân hàng.
Hiện nay, Trung tâm tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC) là
tổ chức duy nhất thực hiện công tác thu thập thông tin của các khách hàng có quan hệ
tín dụng với tất cả các tổ chức tín dụng. Cơ chế thu thập thông tin của CIC theo quy
chế hoạt động thông tin tín dụng do Ngân hàng Nhà nước ban hành. Trong đó quy
định các tổ chức tín dụng theo định kỳ có trách nhiệm báo cáo các thông tin liên quan
đến khách hàng cho CIC và các tổ chức tín dụng được quyền khai thác thông tin của
CIC.
 Hệ thống thông tin nội bộ của ngân hàng (kiểm toán nội bộ) :
Để có thông tin tốt hơn cho người gởi tiết kiệm và thị trường, chính phủ có thể
yêu cầu các ngân hàng phải tuân theo 1 quy trình kiểm toán tiêu chuẩn và phải công
bố rộng rãi tới khách hàng và giúp thị trường tiếp cận được với chất lượng của các
danh mục ngân hàng và những biểu hiện của rủi ro. Minh bạch thông tin rủi ro của
ngân hàng và chất lượng của các danh mục có thể sẽ tốt hơn cho các cổ đông, người
cho vay, và người gởi tiết kiệm để đánh giá và giám sát ngân hàng và phản ứng lại để
ngăn ngừa những hành vi rủi ro quá đáng.
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 21

TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
3.1.1.3. Hệ thống thông tin phục vụ cho việc thẩm định dự án
Ngoài hệ thống thông tin dùng để đánh giá khách hàng, khi thẩm định dự án,
phương án kinh doanh, các tổ chức tín dụng cần phải có hệ thống thông tín nhằm xác
định, kiểm tra các thông số đầu vào và đầu ra của dự án, nhất là các thông số về thị
trường các nguyên liệu đầu vào và thị trường đàu ra của sản phẩm…
3.1.1.4. Hệ thống đăng ký tài sản
Một hệ thống đăng ký quyền sở hữu tài sản rõ ràng là vô cùng quan trọng cho
phát nền kinh tế nói chung, hoạt động tín dụng ngân hàng nói riêng. Nếu tất cả các tài
sản được đăng ký và xác nhận quyền sở hữu, thì người chủ sở hữu tài sản đó có thể
đem tài sản này thế chấp, cầm cố vay vốn ngân hàng. Hay nói cách khác, nếu tất cả
các tài sản (nhất là các bất động sản) được đăng ký quyền sở hữu (hay quyền sử
dụng) khi đó mới thực sự là tài sản, nếu không chỉ là một công cụ của người có nó vì
việc chuyển nhượng, thế chấp, cầm cố sẽ gặp nhiều khó khăn hơn.
Chứng minh có lợi nhuận giữ lại: Đây cũng là vấn đề rất khó khăn đối với
ngân hàng vì lợi nhuận của doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào các khoản phải
thu, các loại chi phí chờ phân bổ…Với hệ thống sổ sách kế toán không đủ độ minh
bạch, không có kiểm toán thì rất khó có thể xác định được doanh nghiệp lãi thật hay
lãi giả.
Hệ thống đăng ký giao dịch đảm bảo: Để tránh tình trạng khách hàng sử dụng
một tài sản thế chấp, cầm cố vay vốn nhiều ngân hàng hoặc tạo điều kiện cho khách
hàng có một tài sản có giá trị lớn có thể vay vốn nhiều tổ chức tín dụng, hiện nay có
các cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm bao gồm: Cơ quan đăng ký quốc gia giao
dịch bảo đảm và chi nhánh; Cơ quan đăng ký tàu biển và thuyền viên khu vực; Cục
Hàng không dân dụng Việt Nam; Sở Địa chính hoặc Tài nguyên mô trường; Ủy ban
nhân dân xã, phường, thị trấn. Mỗi cơ quan nêu trên thực hiện đăng ký giao dịch đảm
bảo mỗi loại tài sản theo quy định.
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 22
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
3.1.2. Sử dụng tổ chức tín dụng độc lập

Hiện tại ở Việt nam đã có Trung tâm tín dụng CIC của Ngân hàng Nhà nước
và một số đơn vị khác như các công ty chứng khoán đã làm công tác xếp loại khách
hàng. Tuy nhiên để đảm bảo độ tin cậy, tổ chức này cần phải có các điều kiện sau :
- Tính khách quan: Phương pháp đánh giá tín dụng cần phải chặt chẽ, có hệ thống và
phải căn cứ vào các số liệu quá khứ theo một phương pháp đánh giá nào đó. Ngoài ra,
các kết quả đánh giá cần phải liên tục được rà soát và điều chỉnh kịp thời theo những
thay đổi về tình hình tài chính. Để được các cơ quan chủ quản ngân hàng công nhận,
phương pháp đánh giá đối với mỗi khu vực thị trường, trong đó có việc đối chiếu lại
một cách chặt chẽ (rigorous back testing), cần phải được sử dụng trước đó ít nhất
một năm và nên là ba năm.
- Tính độc lập: Tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cần phải độc lập và không chịu các
sức ép về kinh tế hoặc chính trị có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá. Quá trình
đánh giá càng ít bị ảnh hưởng bởi những mâu thuẫn về lợi ích có thể phát sinh do
thành phần của hội đồng quản trị hoặc cơ cấu cổ đông của công ty gây ra càng tốt.
- Khả năng tiếp cận quốc tế/ Tính minh bạch: Các kết quả đánh giá cần được cung
cấp cho các tổ chức trong và ngoài nước để sử dụng trong các mục đích hợp pháp và
với các điều kiện cung cấp tương đương nhau. Ngoài ra, phương pháp luận chung để
đánh giá tín dụng của các tổ chức đánh giá cần phải được công khai, hầu hết các dự
án vay vốn từ WB hoặc ADB đều công khai trên web rõ ràng phương pháp luận cụ
thể để đánh giá một dự án, điều này sẽ tránh được những che đậy thông tin từ bên
phía khách hàng đặt mục tiêu có nguồn tín dụng bằng mọi giá.
- Về việc cung cấp thông tin: Tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cần cung cấp các
thông tin về phương pháp đánh giá, bao gồm các khái niệm về khả năng không trả
được nợ, khoảng thời gian đánh giá, ý nghĩa của mỗi bậc xếp hạng; tỷ lệ không trả
được nợ trong thực tế ứng với mỗi nhóm xếp hạng; và xu hướng thay đổi các kết quả
đánh giá, ví dụ khả năng từ xếp hạng AA xuống xếp hạng A theo thời gian.
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 23
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH
- Các nguồn lực: Một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cần phải có đủ các nguồn
lực cần thiết để thực hiện việc đánh giá với chất lượng cao. Các nguồn lực này cho

phép các tổ chức này tiếp xúc thường xuyên với cán bộ quản lý và nghiệp vụ tại các
tổ chức đang được đánh giá tín dụng để bổ sung các thông tin quan trọng cho việc
đánh giá tín dụng. Các kết quả đánh giá cần phải dựa trên sự kết hợp các phương
pháp định tính và định lượng. Nguồn lực thẩm định tín dụng cũng nên làm việc theo
nhóm, có nghĩa là bản thân ngân hàng cũng nên có những chuyên gia độc lập thẩm
định từ phía nước ngoài nhằm áp dụng cho những dự án qui mô lớn.
- Tính tin cậy: Trong một chừng mực nhất định, độ tin cậy của các kết quả đánh giá
đạt được nhờ các tiêu chí đã nêu trên. Ngoài ra, lòng tin của các tổ chức độc lập (nhà
đầu tư, nhà bảo hiểm, các đối tác kinh doanh) đối với các kết quả đánh giá của một tổ
chức đánh giá tín dụng độc lập cũng là bằng chứng của độ tin cậy của các kết quả
đánh giá này. Độ tin cậy của một tổ chức đánh giá tín dụng độc lập cũng thể hiện ở
việc các tổ chức này sử dụng các quy trình nội bộ nhằm tránh không cho các thông
tin mật được sử dụng sai mục đích.Để được công nhận, một tổ chức đánh giá tín dụng
độc lập không nhất thiết phải đánh giá các công ty ở hai quốc gia trở lên.
3.2. Giải pháp của chính phủ
Ở Việt Nam, hoạt động ngân hàng nói chung, hoạt động tín dụng nói riêng
được quy định bởi văn bản cao nhất là Luật các tổ chức tín dụng.Ngoài ra còn có các
văn bản hướng dẫn của Chính phủ, của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các văn
bản lien quan đến hoạt động tín dụng. Các quy định về hoạt động tín dụng tại Việt
Nam được đánh giá là tương đối đầy đủ và theo thông lệ chung với các hướng dẫn rõ
ràng, quyền tự chủ dành cho bên cấp tín dụng trên cơ sở bảo đảm những quy định về
an toàn.
3.2.1. Các điều kiện cấp tín dụng
Để được cấp tín dụng, bên được cấp tín dụng phải đảm bảo các điều kiện cần
thiết gồm:
o Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân
sự theo quy định của pháp luật.
o Mục đích sử dụng khoản tín dụng được cấp hợp pháp.
NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 24
TIỂU LUẬN KINH TẾ VI MÔ GVHD: TS. HAY SINH

o Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.
o Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu
quả; hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với
quy định của pháp luật.
o Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định.
3.2.2. Quy định về đảm bảo tiền vay
Theo quy định hiện hành, các tổ chức tín dụng có thể cấp tín dụng cho một
khách hàng thông thường theo các hình thức đảm bảo gồm: Cầm cố, thế chấp bằng tài
sản của khách hàng vay; Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba; Bảo đảm bằng tài sản
hình thành từ vốn vay; Cho vay không có tài sản đảm bảo.
Để có được điều kiện được cấp tín dụng không có tài sản đảm bảo, khách hàng
phải có tình hình tài chính lành mạnh, chứng minh được khả năng trả nợ của mình.
Để có được điều kiện cấp tín dụng có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn
vay, khách hàng phải có vốn tự có tham gia vào dự án cộng với tài sảm đảm bảo tối
thiểu là 15% tổng mức đầu tư của dự án.
3.2.3. Quy định về việc thẩm định, xét duyệt cho vay và giám sát thu hồi vốn vay
Việc thẩm định, xét duyệt cho cấp tín dụng và giám sát thu hồi khoản tín dụng
được cấp phải tuân thủ các quy định như sau:
o Tổ chức tín dụng xây dựng quy trình xét duyệt cấp tín dụng theo nguyên tắc
bảo đảm tính độc lập và phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa
khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng.
o Tổ chức tín dụng xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của dự án đầu tư,
phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời
sống và khả năng hoàn trả khoản tín dụng được cấp của khách hàng để quyết định cấp
tín dụng.
o Việc cấp tín dụng của tổ chức tín dụng và khách hàng phải được lập thành hợp
đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dụng về điều kiện cấp tín dụng, mục
đich sử dụng khoản tín dụng được cấp, phương thức cấp tín dụng, lượng tín dụng
được cấp, lãi suất, thời hạn cấp tín dụng, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm,
phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận.

NHÓM 6 – KTVM ĐÊM 2 25

×